Những Quần Đảo Thần Tiên

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Honolulu
Honolulu

❊ ❊ ❊

(…) Honolulu là thị trấn tiêu biểu của Thái Bình Dương. Chòi lá mọc sát bên những dinh thự bằng đá, những cửa hàng lộng lẫy cửa kính lấp lánh chen lấn những căn nhà đổ nát; xe điện chạy rầm rầm trên đường. Các xe Ford, Buick, Packard sắp hàng bên lề. Tiệm nào cũng chứa đầy những sản phẩm của nền văn minh Mĩ. Cách ba bốn nhà lại có một ngân hàng, năm sáu nhà lại có một công ty hàng hải.

Đủ các hạng người chen vai nhau trên đường phố. Người Mĩ bất chấp thời tiết, đóng những bộ đồ cao, cổ cồn cao, hồ cứng, mũ nỉ mềm, mũ rơm và mũ trái dưa[1]; người Canaque nước da cà phê sữa, tóc quăn, chỉ bận một chiếc sơ mi và một cái quần, nhưng bạn lai thì bảnh bao lắm: cà vạt lòe loẹt, giày vẹc ni; đàn ông Nhật khúm núm mỉm cười, bận bộ đồ trắng chải chuốt, đi trước, phía sau là vợ bận kimono đèo một đứa bé trên lưng. Trẻ em Nhật quần áo màu mè, đầu cạo nhẵn, coi y như những con búp bê kì dị. Và đây là người Trung Hoa, đàn ông béo phị, giàu có, bận đồ Mĩ coi kì cục; nhưng đàn bà thì rất xinh đẹp, tóc đen, vấn chặt, gọn tới nỗi không khi nào xổ ra được, áo trắng hoặc đen hoặc màu nhang. Sau cùng là người Phi Luật Tân, đàn ông đội nón rơm rất rộng, đàn bà bận áo bằng vải mousseline màu vàng ánh, cổ tay rộng phình ra.

Đây là chỗ Đông Tây gặp nhau. Những dân tộc rất trẻ chen vai với những dân tộc rất cổ. Có thể thiếu thi vị nhưng có cái hoàn toàn bất ngờ. Tất cả những con người kì dị ấy ngôn ngữ khác nhau, ý nghĩ khác nhau mà sống lẫn lộn với nhau; họ thờ những vị thần khác nhau, có những bảng giá trị khác nhau, nhưng hết thảy đều có chung hai sự đam mê: tình dục và ăn uống. Nếu bạn nhận xét họ thì thấy họ có những sinh lực dị thường. Không khí thì mát mẻ, trời thì xanh mà không hiểu vì sao trong đám mây có cái gì say đắm nồng nàn, nó bật bật như mạch của một người lên cơn sốt. Mặc dầu đường phố có vẻ trang nghiêm vì có cảnh sát bản xứ đứng trên một cái bục ở góc đường, cầm dùi cui trắng để điều khiển giao thông, nhưng vẻ trang nghiêm đó chỉ là bề ngoài còn phía sau là tối tăm, bí mật. Bạn thấy rợn mình, nhói ở tim như thể giữa ban đêm trong cảnh tĩnh mịch của rừng già bỗng nghe thấy trống văng vẳng ở xa, dồn giã không ngớt.

Tôi sở dĩ tả dài dòng không khí kì cục của Honolulu vì theo tôi chính không khí ấy làm cho câu chuyện tôi sắp kể đây thêm phần lí thú. Đây là một chuyện thư phù, bùa ngải. Trong cái xứ nếu không thực văn minh thì cũng tiến bộ này, một chuyện như vậy nhất định phải làm cho tôi ngạc nhiên. Trong xã hội có điện thoại, xe điện, báo chí, những việc cực vô lí đó làm sao có thể xảy ra được, hoặc có thể ngờ rằng xảy ra được như anh bạn dắt tôi coi Honolulu, cũng như tôi cảm thấy cái đặc điểm nổi bật của xứ này là những cái rất vô lí.

Anh ta là một người Mĩ, tên là Winter; một người quen ở New York viết cho tôi một bức thư giới thiệu với anh, tuổi vào khoảng từ bốn mươi đến năm mươi, tóc thưa, đen, đã lốm đốm ở thái dương, mặt mỏng, gầy, nét sắc. Cặp kính đồi mồi lớn làm cho cặp mắt anh có vẻ điềm đạm, nghiêm trang thật ngộ nghĩnh. Cao lớn và tính tình giản dị. Anh sinh ở Honolulu. Thân phụ anh có một tiệm lớn bán nón và đủ thứ hàng – từ cây vợt ten-nít tới vải dầu, mà một người sang trọng có thể hỏi mua. Công việc buôn bán phát đạt, cho nên cụ thân sinh bất bình lắm khi anh không chịu nối nghiệp nhà mà đòi làm kép hát. Anh đóng trò hai chục năm, đôi khi ở New York, nhưng thường thường là theo các gánh hát nay đây mai đó vì tài năng tầm thường. Sau cùng anh sáng suốt chịu nhũn rằng bán những cây treo vớ của đàn bà ở Honolulu còn hơn là đóng những vai nhỏ trên sân khấu ở Cleveland (Ohio). Thế là bỏ sân khấu về buôn bán. Sau bao nhiêu năm vật vờ, trôi nổi, chắc anh thấy sung sướng lắm khi được lái một chiếc xe hơi lớn và sống trong một ngôi nhà đẹp gần một sân gôn (golf). Vì trước đã đóng trò, nên anh khéo quản lí công việc. Nhưng anh không thể đoạn tuyệt với nghệ thuật được và từ khi thôi làm kép hát, anh học vẽ. Anh đưa tôi tới căn phòng vẽ của anh, tôi coi nhiều bức họa: không dở, nhưng thật không ngờ, anh chỉ vẽ những tranh tĩnh vật rất nhỏ, độ tám phân chiều cao và mười phân chiều dài, nét cực kì tinh xảo. Những bức vẽ trái cây của anh khiến ta nhớ tới tranh của Ghirlandajp. Tôi phục sự kiên nhẫn và sự khéo tay của anh, và tôi đoán rằng anh đóng trò mà thất bại chỉ vì anh nghiên cứu quá kỹ các thuật sân khấu, nên hóa ra tỉ mỉ, không đủ mạnh bạo để làm xúc động khán giả.

Cái vẻ nửa như chủ nhân, nửa mỉa mai của anh khi anh giới thiệu Honolulu với tôi, có cái gì ngộ ngộ. Chắc anh nghĩ thầm rằng khắp nước Mĩ không có nơi nào bằng Honolulu. Anh dắt tôi đi coi các nhà cửa, dinh thự, và khi tôi khen các công trình kiến trúc ấy thì anh nở mũi ra; nhưng anh cũng thấy thái độ ấy có vẻ khôi hài. Anh chỉ cho tôi biệt thự của bọn phú gia.

- Đây là dinh cơ của dòng họ Stubb. Xây cất tốn hàng trăm ngàn Mĩ kim đấy. Dòng họ ấy vào hàng đáng trọng nhất ở Honolulu. Ông cụ Stubb lại đây truyền giáo bảy chục năm trước.

Anh do dự một chút rồi ngó tôi bằng cặp mắt long lanh sau cặp kính, bảo:

- Những gia đình sang trọng nhất ở đây đều là những gia đình truyền giáo. Nếu ông thân sinh hay cụ tổ của anh không cải giáo cho tụi mọi ở đây thì anh chẳng được ai coi ra gì cả.

- Vậy ư?

- Anh thuộc thánh kinh đấy không?

- Thuộc kha khá.

- Trong đó câu “Cha mẹ ăn nho xanh thì con cái ghê răng”[2]. Nhưng ở Honolulu này thì khác. Cha mẹ đem đạo Ki tô lại cho dân Canaque thì con cái chiếm đất họ.

Tôi nói nho nhỏ:

- Tôi giúp anh thì trời sẽ giúp anh.

- Đúng vậy. Cái thời mà thổ dân ở đây theo đạo Ki tô thì họ có đạo nào khác để theo đâu. Bọn vua chúa đem đất dâng cho các nhà truyền giáo để tỏ lòng cung kính; rồi các nhà truyền giáo lại mua thêm đất nữa để gây sản nghiệp trên thiên đường. Đầu tư kiểu đó, nhứt định là có lời. Một nhà truyền giáo nói ngưng làm áp phe, bảo truyền giáo là làm áp phe, thì theo tôi có gì là phạm thượng để mở một địa ốc cục, nhưng đó là trường hợp lệ ngoại. Thường thường tới phần con mới lãnh phần thương mại của cơ sở truyền giáo. A, có một ông bố năm chục năm trước đây để truyền đạo thì thật là có phúc lớn biết bao.

Anh nhìn xuống đồng hồ.

- A, nó ngưng rồi, vậy là tới giờ uống cốc tai rồi.

Chúng tôi rảo bước theo một con đường tối hai bên trồng bông bụt đỏ để trở về thành phố.

- Anh biết tiệm cà phê Liên Hiệp không?

- Chưa.

- Chúng mình lại đấy nào.

Tôi đã nghe nói rằng nơi đó nổi tiếng nhất Honolulu. Tôi tò mò bước vô (…) phòng vuông, rộng, có ba lối vô đối diện với cái “ba”, hai góc ngăn thành những phòng nhỏ. Tương truyền hồi xưa người ta xây cất như vậy để cho vua Kalakaua có thể ngồi uống rượu mà thần dân không thấy. Thử tưởng tượng trong một phòng đó, Robert Louis Stevenson ngồi trước chai rượu với ông chúa da đen như bồ hóng đó, ngộ đấy chứ. Có một bức chân dung của ông bằng sơn dầu đóng trong một cái khung lộng lẫy vàng son bên cạnh hai tấm ảnh của nữ hoàng Victoria (…)

Nơi này như cách biệt hẳn với thế giới đông đúc chen lấn ở ngoài đường, mà thuộc về một thế giới đã qua rồi. Có cái hương vị của dĩ vãng. Ánh đèn mờ mờ ảm đạm, không khí có vẻ bí mật thật hợp với những cuộc giao dịch mờ ám. Tôi nhớ lại cái thời tối tăm mà những con người tàn bạo coi rẻ mạng mình, làm những việc dữ tợn phi thường để cho cuộc đời khỏi buồn chán vì đơn điệu.

Khi tôi vô thì phòng chật ních. Một bọn làm áp phe tụ họp ở ba bàn tính việc làm ăn; trong một góc, hai người Canaque uống rượu. Hai ba kẻ khác, có lẽ là quản lý, chơi xúc xắc với nhau. Còn lại thì đều là hạng đi biển: thuyền trưởng, phó thuyền trưởng, xếp máy. Phía sau “ba” hai người lai to lớn, bận đồ trắng, da đen, mặt mày nhẵn nhụi, tóc dày, quăn, mắt lớn, sáng, đương nhanh nhẹn khuấy thức cốc tai Honolulu mà nhờ nó quán này nổi tiếng.

Anh Winter hình như quen già nửa khách trong quán. Khi chúng tôi bước tới “ba”, một người thấp, mập, đeo kính, đương đứng một mình: “Mời anh uống một li”. Anh đáp:

- Không, để tôi đãi thuyền trưởng chứ.

Anh quay lại phía tôi:

- Tôi xin giới thiệu thuyền trưởng Butler với anh.

Người đó bắt tay tôi. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện nhưng tôi ít để ý tới ông ta vì mải ngó những người chung quanh. Uống xong hai cốc tai, chúng tôi chia tay nhau. Lên ngồi trong xe rồi, Winter bảo tôi:

- May quá, gặp được Butler. Tôi định cho anh biết lão ta, anh thấy con người ấy ra sao?

- Tôi chưa có ý kiến gì cả.

- Anh có tin những cái thần bí không?

Tôi mỉm cười:

- Tôi cũng không biết nữa.

- Cách đây một hay hai năm gì đó đã có một chuyện kì dị xảy ra đến cho lão: tôi muốn lão kể lại cho anh nghe.

- Loại chuyện nào vậy?

Winter không đáp câu hỏi của tôi, mà nói tiếp:

- Tôi không thể giảng được nó, nhưng chuyện đã xảy ra thực sự. Anh thích nghe những chuyện đó không?

- Chuyện nào mới được chớ?

- Chuyện thư phù, bùa ngải ấy mà.

- Ai mà không thích?

Winter suy nghĩ một lát:

- Tôi không muốn kể lại. Anh phải nghe tận miệng Butler mới được. Tối nay anh làm gì?

- Chẳng làm gì cả.

- Từ bây giờ tới tối tôi ráng chộp được lão và hỏi xem chúng ta có thể xuống thuyền lão được không.

Winter cho tôi biết vài chi tiết. Butler đã suốt đời lênh đênh trên Thái Bình Dương. Đã gặp những thời khá hơn bây giờ vì làm phó thuyền trưởng rồi thuyền trưởng một chiếc tàu chạy dọc theo bờ biển California, nhưng rồi để tàu đắm và nhiều hành khách chìm nghỉm.

Winter bảo:

- Chắc là tại rượu.

Dĩ nhiên người ta điều tra và rút bằng cấp của lão, từ đó lão trôi nổi khắp nơi, làm ở miền Nam Hải mấy năm, bây giờ chỉ huy một chiếc thuyền buồm chạy từ Honolulu tới các đảo chung quanh. Chủ thuyền là một người Trung Hoa, mướn lão vì có thể trả công thấp – lão không có bằng cấp mà lại được tiếng là có một người da trắng giúp việc cho mình.

Biết chuyện rồi tôi mới ráng nhớ lại nét mặt của lão. Cặp mắt tròn màu lơ sau cặp mắt kính cũng tròn, thấp, mập, mặt như trăng rằm, mũi tẹt, tóc hung hung, ngắn, mặt đỏ, nhẵn nhụi, không râu; ngón tay mũm mĩm có đồng tiền ở những khớp xương, chân ngắn và mập. Tính tình vui vẻ, tai nạn bi thảm trước kia hình như không lưu lại một dấu vết nào trong tâm hồn lão cả (…) Khi tôi nghĩ tới cảnh đắm tàu đó, nỗi kinh hoàng và tiếng kêu thất thanh của những người sắp chết chìm, rồi cuộc điều tra, nỗi chua xót của những người khóc thân nhân, những lời mạt sát mà lão phải đọc trên báo, nỗi nhục nhã của lão, thì tôi ngạc nhiên nhớ lại rằng lão vẫn vui vẻ, tục tĩu như một học sinh, nói về những gái điếm ở Hawaii và ở xóm Bình khang Iwelei, và khoe những thành công trong các cuộc dan díu lăng nhăng của mình. Tôi tưởng lão không làm sao còn cười giỡn được nữa chứ, vậy mà trái lại, vẫn toe toét để lộ hàm răng trắng ngà, nét đẹp nhất trong con người lão. Nghĩ tới tính tình vui vẻ vô tư đó, tôi bắt đầu để ý tới lão, muốn tìm hiểu xem lão vào hạng người nào, mà quên mất chuyện thư phù, bùa ngải kia đi.

Winter đã sắp đặt mọi việc rồi, và sau bữa tối, chúng tôi ra bờ biển. Một chiếc ca nô chèo tay đã đợi sẵn để đưa chúng tôi ra chiếc thuyền buồm đậu ở hải cảng, gần cái đập ngăn sóng. Khi ghé vào mạn thuyền, chúng tôi nghe thấy tiếng ukalele[3]. Chúng tôi leo thang để lên thuyền.

Winter đi trước bảo:

- Chắc lão ở trong cabin.

Phòng cabin nhỏ, tồi tàn, bẩn thỉu, có một cái bàn kê sát vách và một cái ghế dài, rộng, hình vòng cung mà tôi đoán là để cho hành khách nào khờ dại lỡ mua giấy rồi, nằm đỡ vậy. Một ngọn đèn dầu leo lét tỏa lét tỏa ánh mờ mờ. Một thiếu nữ bản xứ đương chơi chiếc ukalele và Winter uể oải dựa lưng vào một chiếc ghế, đầu ngả trên vai cô ả, một tay ôm ngang lưng nàng.

Winter mỉa mai bảo:

- Thuyền trưởng cứ tự nhiên cho.

Butler đứng dậy bắt tay chúng tôi:

- Hai ông vô đi, uống gì đây.

Trời nực, nhìn qua cửa sổ chúng tôi thấy vô số sao lấp lánh trên nền trời gần như vẫn còn xanh. Thuyền trưởng Butler bận một chiếc áo thun để hở hai cánh tay mập, trắng, và một chiếc quần dơ không thể tưởng tượng nổi. Đi chân không, đầu đội một chiếc mũ phớt cũ không còn thành hình gì nữa, tóc quăn.

- Để tôi giới thiệu với hai ông cô em của tôi. Có phải mơn mởn đào tơ không này?

Chúng tôi bắt tay một thiếu nữ rất xinh. Nàng cao hơn Butler và chiếc áo choàng mà các nhà truyền giáo thế hệ trước đã bắt thổ dân bận cho được đứng đắn một chút, không che được hết cái vẻ tuyệt mĩ của thân thể nàng. Sau này khi đã cao tuổi, nàng sẽ sồ sề, nhưng bây giờ thì nàng thật nhanh nhẹn, duyên dáng. Làn da ngăm ngăm của nàng như trong suốt, cặp mắt rất đẹp, tóc đen và rậm quấn chung quanh đầu thành một cái bím lớn. Khi mỉm cười chào một cách tự nhiên và dễ thương, nàng để lộ hai hàm răng trắng, nhỏ, rất đều đặn. Quả là một giai nhân. Butler say mê nàng: mắt không rời nàng một giây, lúc nào cũng quấn quít bên cạnh nàng. Điều đó dễ hiểu, chỉ đáng ngạc nhiên là thiếu nữ nọ có vẻ cũng yêu lão ta nữa: cặp mắt long lanh kia thì không thể lầm được, mà cặp môi hé mở kia rõ ràng như thèm khát. Tôi ngạc nhiên mà cũng hơi cảm động, tự thấy mình lại phá đám họ. Tình xuân của họ đương dào dạt mà người lạ vô đây làm gì. Tôi hận rằng Winter đã dắt tôi tới. Và tôi có cảm tưởng rằng cái cabin dơ dáy này đã biến đổi hẳn, bây giờ nó đáng là cái tổ ấm cho cặp tình nhân yêu nhau say đắm ấy. Không bao giờ tôi quên được cái thuyền đậu trong hải cảng Honolulu, dưới vòm trời mênh mông đầy sao ấy, chung quanh chen chúc những tàu, mà lại có vẻ cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Tôi thích tưởng tượng những cặp tình nhân ban đêm lênh đênh trên Thái Bình Dương, từ một đảo có rừng thẳm núi cao này, tới một đảo khác. Một làn gió nhẹ, mát, lãng mạn phe phẩy bên má tôi.

Vậy mà Butler chẳng có một vẻ nào lãng mạn cả, khó mà thấy được lão có một nét gì gợi tình. Ăn bận như vậy lão càng hóa ra mập thêm, và cặp kính tròn trên khuôn mặt trăng rằm kia khiến lão có vẻ một em bé dễ thương. Lão lại làm cho ta nhớ tới một thầy tu hoàn tục. Câu chuyện của lão mặn mà nhờ nhiều đặc ngữ Mĩ, chỉ vì tôi sợ không diễn được trọn cái “hương vị” của nó, nên tôi xin chép lại bằng dụng ngữ của tôi. Lão không nói một câu nào mà không chửi thề, tuy thân mật đấy, chỉ chướng tai đối với những người cả thẹn, nhưng đem in ra thì thô tục quá. Lão vui tính, có lẽ một phần vì vậy mà thành công với phụ nữ (…) và tôi nhận thấy lão có duyên nữa (…).

Khi chúng tôi mới vô, lão đã rung chuông, và bây giờ một người bếp Trung Hoa bưng vô thêm li và ve soda. Trông thấy tên bếp đó, tôi giật mình, chưa bao giờ tôi thấy người nào xấu xí như vậy. Lùn tịt, béo phị mà lại thọt, bộ quần áo trước kia trắng, nay dơ dáy trông mà tởm, tóc bù xù hoa râm, thêm một chiếc mũ đi săn cũ nữa, coi thật lố bịch. Mặt rộng, vuông, bẹt như bị một cú đấm trời giáng, và rỗ chằng rỗ chịt. Tởm nhất là nó sứt môi, môi trên toác ra, thành một góc nhọn ở dưới cái mũi, để lộ ra một chiếc răng nanh lớn, nhọn, vàng khè. Coi thật rùng rợn, ở mép phải ngậm một điếu thuốc lá, không hiểu sao, tôi có cảm giác là thấy một con quỉ.

Nó rót Whisky rồi khui một ve soda. Butler bảo:

- Đừng pha nhiều John.

Không đáp, nó làm thinh chìa cho chúng tôi mỗi người một li rồi quay ra.

Butler nhăn bộ mặt phị và bóng láng, bảo:

- Tôi thấy hai ông đã để ý tới tên bếp Trung Hoa của tôi.

Tôi nói:

- Đi đêm, tôi không muốn gặp nó đâu.

- Nó xấu xí thật (không hiểu sao Butler có vẻ thích chí đặc biệt khi nói câu đó). Nhưng được một điểm này đặc biệt, mỗi khi nhìn mặt nó, chúng ta thấy khát liền, muốn nốc một li.

Bỗng tôi thấy một trái bầu khô treo ở tường, phía trên cái bàn và tôi đứng dậy để nhìn cho kỹ. Tôi đã ráng tìm mua một trái thật cổ, và ngoài các viện tàng cổ ra, tôi chưa thấy trái nào so sánh được với trái này.

Butler ngó tôi bảo:

- Một lão chúa đảo cho tôi để đền ơn tôi đấy. Món quà ấy đáng gọi là quý.

 Tôi đáp:

- Phải, đáng quý đấy.

Tôi định bụng sẽ kín đáo trả giá, vì theo tôi nghĩ là lão giữ vật đó làm gì. Nhưng hình như lão đoán được ý nghĩ của tôi, nên nói tiếp:

- Có ai trả tôi một vạn Mĩ kim tôi cũng không bán đâu.

Winter bảo:

- Phải, bán nó thì ông sẽ mang tội.

Tôi hỏi:

- Tại sao vậy?

Winter hỏi Butler:

- Phải trái bầu đó liên quan tới câu chuyện của ông không.

- Nhất định rồi.

- Vậy thì kể cho chúng tôi nghe đi nào.

- Đêm còn “non” quá mà.

Chúng tôi uống rất nhiều Whisky nữa trong khi Butler kể cuộc đời trôi nổi của lão ở San Francisco hồi xưa và ở vùng Nam Hải. Sau cùng, mãi đến khi đêm đã “già” rồi óc tò mò của tôi mới được thỏa mãn. Lúc đó thiếu nữ đã ngủ, thân hình co quắp trên chiếc ghế, đầu gối vào một cánh tay, ngực nhẹ nhàng đưa lên đưa xuống theo hơi thở. Khi ngủ, vẻ đẹp của nàng bớt tươi đi, sa sầm lại.

Butler kể, lão gặp nàng tại một trong những đảo lão lui tới mỗi khi có hàng chở bằng một chiếc thuyền cũ kỹ, ọp ẹp. Người Canaque ít ham làm việc cho nên thương mại do bọn Trung Hoa cần cù và bọn Nhật Bản xảo quyệt nắm hết. Cha thiếu nữ đó có một mảnh đất trồng chuối và khoai sọ, và một chiếc thuyền đánh cá nữa. Có bà con xa với người phó thuyền trưởng nên một buổi chiều nhàn rỗi, hắn đưa thuyền trưởng Butler lại chơi căn chòi tồi tàn của mình. Họ mang theo một ve Whisky và một cây ukalele. Vốn trơ trẽn, Butler thấy thiếu nữ nào có nhan sắc cũng tán tỉnh liền. Lão nói trôi chảy thổ ngữ nên chỉ một lát sau lão làm cho thiếu nữ hết e lệ. Tối đó họ ca hát, nhảy múa với nhau và về khuya thì họ đã ngồi sát nhau, một cánh tay của lão ôm ngang lưng thiếu nữ. Có công việc phải ở lại đảo mấy ngày mà Butler không phải hạng người vội vã nên không muốn đi sớm làm chi. Cuộc sống ở cửa biển nhỏ này thật dễ chịu mà đời còn dài. Sáng và chiều lão bơi lội chung quanh chiếc thuyền. Tại bãi biển có một tiệm bán nến, dầu, xà bông, sơn… và thủy thủ có thể lại đấy uống Whisky. Gần suốt ngày Butler la cà ở đó, đánh Cribaye[4] với người chủ quán lai. Buổi tối lão với người phó lại nhà của thiếu nữ xinh đẹp nọ, hát một vài bản xuân tình và kể truyện. Chính cha nàng ngỏ ý muốn gả con cho lão. Họ thân mật trả giá với nhau trong khi nàng nép mình vào lão, siết chặt bàn tay lão, dịu dàng tươi cười đưa tình để thúc lão nhận lời. Lão mê cô ả rồi. Vốn thích cảnh đầm ấm trong gia đình nên ở trên thuyền, lão nhiều khi thấy cô độc. Có cô bé tươi đẹp này thì chiếc thuyền cũ kĩ cũng vui thêm được nhiều. Mà lão cũng có óc thực tế nữa: cần có một người mang vớ cho, săn sóc quần áo cho. Đưa cho bọn Trung Hoa giặt, quần áo mau rách lắm. Người bản xứ giặt kĩ hơn, thỉnh thoảng ghé Honolulu đi dạo với một chiếc quần trắng bảnh bao, cũng thú nhất.

Chỉ còn vấn đề giá cả thôi. Người cha thiếu nữ đòi hai trăm rưỡi Mĩ kim; Butler không keo cú, nhưng không có sẵn số tiền ấy. Cái mặt mịn màng của thiếu nữ áp vào mặt lão như thế kia thì lão nỡ nào mặc cả cho được. Lão xin đưa ngay một trăm rưỡi Mĩ kim, còn một trăm nữa trả trong ba tháng. Đêm đó họ bàn cãi với nhau rất lâu mà chưa tới thỏa hiệp nào cả. Về thuyền, lòng lão bừng bừng lên, ngủ không được. Chợp mắt đi thì mơ thấy thiếu nữ, tỉnh dậy thì thấy cảm giác cặp môi dịu dàng, đa tình ngọt ngào của nàng đè trên môi mình. Lão tự rủa mình lần trước ghé Honolulu đã thua xì tẩy trong một đêm tới nỗi gần hết tiền. Hồi hôm, lão chỉ yêu cô bé thôi, bây giờ như điên như cuồng rồi.

Lão nói với người phó thuyền trưởng: done

- Bananas[5] này, thế nào tôi cũng mua thiếu nữ ấy cho kỳ được. Đi cho lão già đó hay rằng tối nay sẽ đem tiền lại. Quyết định rồi. Sáng sớm mai chúng ta có thể nhổ neo.

Tôi không hiểu người phó lại có tên kì cục ấy. Tên thật của hắn là Wheeler, một tên Anh, nhưng hắn chẳng có lấy một giọt máu trắng trong huyết quản. Cao lớn, cân đối, bụng bắt đầu bự, nhưng nước da đen hơn các người Hawaii. Đã khá lớn tuổi, tóc quăn rậm đã ngả muối tiêu, hãnh diện với mấy chiếc răng vàng ở hàm trên lắm. Hắn lé mắt nặng, nên mặt có vẻ lầm lì. Butler tính thích giỡn, thấy cái tật đó là một nguồn đẹp vô tận để chế nhạo hắn, mà biết rằng hắn dễ phật ý lắm, nên lão càng đùa dai. Bananas trái với đa số thổ dân, ít nói lắm, nhưng Butler vốn vui tính cũng không ghét hắn. Khi lênh đênh trên biển, lão muốn có một người bạn để trò chuyện, mà ngày này qua ngày khác phải sống với một kẻ không bao giờ mở miệng như Bananas thì thánh cũng không chịu được. Lão tìm đủ cách để chọc tức hắn, nghĩa là chế giễu hắn một cách tàn nhẫn nhưng cười một mình thì còn gì thú nữa, cho nên theo lão thì dù tỉnh, Bananas cũng không đáng là bạn của một người da trắng được. Nhiều khi đi biển, lão say rượu tới nỗi lên tới boong là té lăn đùng xuống giường ngủ, những lúc ấy đã có Bananas để điều khiển chiếc thuyền thay cho lão tới khi lão tỉnh thì còn gì hơn nữa.

Nhưng dù sao, Bananas cũng là thằng tướng lầm lì cho nên có thiếu nữ nọ để chuyện trò thì tuyệt. Với lại mỗi khi lên bờ sẽ bớt say rượu vì biết rằng có nàng đợi mình về.

Lão lại kiếm chủ tiệm bán nến và trước một li rượu mạnh lão hỏi vay tiền. Một thuyền trưởng có thể giúp được nhiều cho một con buôn, và sau mười lăm phút thương lượng nho nhỏ với nhau, Butler nhét vào túi quần một cuộn giấy bạc, và đêm đó khi lão trở về thì dắt theo cô em nọ.

Những lời tiên đoán của Butler bây giờ xảy ra đúng. Lão vẫn uống rượu nhưng không quá độ nữa. Sau khi lênh đênh trên biển vài ba tuần, gặp lại bạn bè, họp nhau buổi tối thì thú đấy, nhưng về thuyền hú hí với cô em, thú cũng không kém. Lão tưởng tượng khi về cabin, cúi xuống tính hôn thì cô bé uể oải mở mắt ra, đưa hai tay lên bá cổ mình, thắng một ván poker cũng không bằng. Nhờ vậy lão để dành được ít tiền và tính vốn rộng rãi, lão mua quà tặng nàng: lược cán bạc để nàng chải mớ tóc mây, một dây chuyền vàng và một chiếc cà rá hồng ngọc. Chà! Đời lên hương quá.

Một năm trôi qua, một năm trọn mà lão chưa chán nàng. Lão vốn không phải hạng người phân tích tình cảm của mình, nhưng trường hợp này đặc biệt, lại không thể không ngạc nhiên. Chắc cô nàng có cái duyên gì dị thường. Lão biết mình mê nàng hơn bao giờ nữa, và đôi khi lão muốn cưới nàng làm vợ.

Một hôm tới bữa trưa và bữa trà bánh buổi chiều, không thấy mặt mũi Bananas đâu cả. Bữa đầu lão không để ý tới nhưng bữa sau lão hỏi người bếp Trung Hoa:

- Phó thuyền trưởng đâu, sao không vô uống trà?

- Hông uống.

- Đau ư?

- Hông piếc.

Hôm sau Bananas ló mặt, nhưng lầm lì hơn bao giờ nữa. Ăn trưa xong, Butler hỏi thiếu nữ về việc đó. Nàng mỉm cười nhún vai, vai nàng sao xinh thế. Nàng bảo Bananas mê nàng, tán tỉnh, nhưng bị nàng đuổi nên đổ quạu như vậy. Butler có óc hài hước và không ghen: Bananas mà mê gái thì còn khôi hài gì bằng. Mắt lé như vậy thì nước non gì. Tới giờ uống trà lão vui vẻ trêu tức hắn, lão nói trống không, chung chung, làm bộ như không biết gì cả, nhưng châm chích hắn một cách tế nhị. Thiếu nữ thấy lão cười ha hả, cho như vậy là không nên, và xin lão đừng nói thêm gì nữa. Lão ngạc nhiên vì thái độ hiên ngang của nàng. Nàng bảo rằng lão không biết tính tình người đồng chủng của nàng: khi họ nổi điên lên thì cái gì cũng dám làm hết. Butler cười vang lên:

- Nếu nó còn lởn vởn bên cạnh em thì em dọa nó là sẽ mách anh, nó sẽ không dám nữa đâu.

- Sao không đuổi nó đi còn hơn không?

- Không khi nào! Anh biết nhận định một thủy thủy giỏi. Nhưng nếu còn quấy phá em thì anh sẽ cho nó một trận để nó nhớ đời.

Thiếu nữ đó có lẽ khôn hơn đa số những người đàn bà khác. Nàng biết rằng một người đàn ông khi đã quyết định gì rồi mà mình càng lí luận với họ thì họ càng thêm ngoan cố, nên nàng không nói nữa. Chiếc thuyền tồi tàn đó lướt trên mặt biển phẳng lặng, len lỏi qua các đảo thần tiên, mà viên thuyền trưởng không ngờ rằng trên thuyền một bi kịch đương ầm ĩ.

Thiếu nữ càng chống cự thì lòng dục của Bananas càng bừng bừng lên, tới nước hắn mất khôn hoàn toàn để tình dục mù quáng sai khiến. Hắn hết vui vẻ, nhã nhặn với nàng mà tỏ ra tàn bạo. Còn thiếu nữ mới đầu khinh hắn sau hóa ra ghét cay ghét đắng hắn; hắn có năn nỉ thì nàng chửi rủa tàn nhẫn cay độc. Cuộc chiến đấu tiếp tục một cách âm thầm và khi Butler hỏi nàng còn bị Bananas quấy rầy nữa không thì nàng đáp không.

Nhưng một đêm ở Honolulu, Butler trở về thuyền đúng lúc. Hừng đông hôm sau phải nhổ neo. Trên bờ, lão đã uống nhiều rượu bản xứ, nên say mèm. Vừa chèo, lão vừa ngạc nhiên vì những tiếng động bất thường. Lão leo vội nhảy lên cầu thang, thấy Bananas điên cuồng đương đập thình thình cửa cabin, quát tháo với thiếu nữ, bảo nếu không mở cửa thì hắn sẽ giết chết.

Butler nói:

- Mày làm gì đó?

Bananas bỏ quả nắm ra, nhìn viên thuyền trưởng một cách hằn học, dã man rồi làm thinh quay đi.

- Đứng lại, mày làm gì ở cái cửa đó?

Nổi điên lên và ương ngạnh, hắn trừng trừng ngó Butler.

- Tao dạy cho mày chừa cái thói phá đám tao, thằng mọi lé này.

Lão thấp hơn Bananas tới ba tấc, yếu hơn hắn, nhưng quen đánh lộn với bọn thủy thủ bản xứ nên trong túi luôn thủ sẵn một bàn tay sắt. Một người có tư cách đàng hoàng chắc không dùng khí giới ấy, nhưng lão đâu phải hạng người như vậy. Xuất kì bất ý, lão vung bàn tay sắt, trúng hàm Bananas. Hắn quị xuống như một con bò mộng bị một nhát rìu.

Butler bảo:

- Để cho nó một bài học.

Bananas nằm ngay đơ. Thiếu nữ rút then, mở cửa bước ra.

- Nó chết rồi?

- Không.

Butler kêu hai thủy thủ lại khiêng Bananas lên giường của hắn. Lão xoa tay khoái trí, cặp mắt tròn long lanh sau cặp kính. Nhưng thiếu nữ làm thinh một cách kì dị. Rồi nàng ôm chầm lấy Butler như để che chở lão khỏi bị một tai họa vô hình nào đó.

Hai ba ngày sau Bananas lại đi đứng như thường, ra khỏi cabin. Mặt mấy chỗ sưng vù lên và mặc dầu da hắn đen mà cũng thấy những vết bầm tái mét. Butler thấy hắn len lén đi trên boong, gọi hắn lại. Hắn lặng lẽ lại gần.

Butler sửa lại cặp kính trên sống mũi, vì mồ hôi nhễ nhại tuột xuống:

- Nghe nè Bananas. Tao không đuổi mày vì vụ đó đâu, nhưng bây giờ mày biết rằng tao đã đập thì đập dữ, đừng quên điều đó và đừng lôi thôi nữa.

Rồi lão mỉm cười rất tươi, đó là nét quyến rũ nhất của lão – chìa tay ra. Bananas bắt tay lão, nhếch mép, cặp môi sưng co rúm lại coi y như con quỷ. Viên thuyền trưởng cho rằng vụ ấy giải quyết xong rồi, và buổi tối khi cả ba người cùng ngồi ăn, lão lại chế nhạo hắn. Hắn nhai rất khó khăn, mặt sưng, nhăn nhó vì đau, coi thật tởm.

Tối hôm đó, đương ngồi trên boong thượng ngậm ống vố, Butler hơi rùng mình, lão càu nhàu:

- Đêm hè mát mẻ như vầy sao mình ớn lạnh? Có bị nóng sơ sơ rồi. Cả ngày hôm nay trong mình thấy làm sao ấy.

Trước khi đi ngủ, lão uống vài viên kí ninh. Sáng hôm sau thấy dễ chịu, nhưng vẫn còn hơi lừ khừ như sau một đêm trác táng. Lão nghĩ bụng chắc tại gan yếu, và lão uống một viên thuốc. Cả ngày hôm ấy không buồn ăn, và buổi tối bệnh tăng lên. Lão dùng phương thuốc riêng của lão; mạnh hơn uống hai ba li Whisky nóng, nhưng chẳng thấy đỡ gì, sáng hôm sau soi gương, thấy vẻ mặt hốc hác đâm lo.

- Chuyến này về tới Honolulu mà không hết thì phải đi bác sĩ Denby mới được. Chắc chắn ông ta sẽ trị được cho mình.

Lão không ăn gì nữa, chân tay rã rời. Lão ngủ li bì mà thức dậy không thấy khỏe khoắn, trái lại thấy kiệt quệ; con người thấp bé mà cương quyết đó, trước kia không bao giờ chịu nằm nghỉ ở giường, bây giờ phải gắng sức lắm mới bước xuống sàn được. Vài ngày sau, lão mệt quá. Đành chịu nằm liệt ở giường vậy. Lão bảo:

- Thằng Bananas điều khiển chiếc thuyền được. Nó đã có lần điều khiển rồi.

Lão mỉm cười nhìn lại hồi chưa biết cô em này, có nhiều đêm trác táng với bạn bè, về phòng nằm mệt nhoài, không buồn nói năng gì nữa. Lão thấy nàng băn khoăn, lo lắng vì mình nên ráng an ủi nàng, bảo chưa bao giờ đau ốm đến một ngày, rồi đây sống ở ngoài trời một tuần, thì sẽ mạnh lại như thường.

Nàng bảo:

- Tại sao anh không đuổi Bananas đi, em có cảm tưởng nó làm cho anh bị bệnh như vậy.

- May mà anh không đuổi nó, nếu đuổi thì bây giờ ai điều khiển thuyền này? Anh biết giá trị của một thủy thủ giỏi.

Cặp mắt xanh của lão nhấp nháy, nhưng con ngươi đã mờ, lòng trắng đã vàng:

- Bộ em ngờ rằng nó muốn đầu độc anh hẳn?

Nàng không đáp, nhưng nói chuyện riêng với người bếp Trung Hoa một hai lần, và coi kĩ thức ăn của Butler. Lão bây giờ ăn rất ít, khó khăn lắm mới đổ cho lão nuốt được ít muỗng súp, mỗi ngày vài ba lần. Rõ ràng là lão đau nặng, sút cân rất nhanh, khuôn mặt phinh phính bây giờ xanh xao và hốc hác. Không đau đớn gì cả, chỉ mỗi ngày mỗi yếu ớt, suy mòn mà thôi. Lão kiệt quệ, chuyến đi này lâu khoảng bốn tuần và khi thuyền về tới Honolulu thì lão đâm ra hơi lo ngại. Nằm liệt giường nửa tháng rồi, yếu quá không đi được nữa, đành mời bác sĩ xuống thuyền khám bệnh cho. Bác sĩ không thấy cơ thể có gì đau cả. Nhiệt độ bình thường, ông ta bảo:

- Này thuyền trưởng, thú thật tôi không hiểu nổi ông đau vì cái gì, coi vội vàng như vậy thì không tìm ra được. Ông nên lại dưỡng đường chúng tôi mới có thể dò ra bệnh được. Tôi biết chắc cơ thể ông không có một bộ phận nào đau cả, và theo tôi vô nằm dưỡng đường ít tuần thì sẽ khỏi.

- Tôi không thể rời thuyền của tôi được.

Lão giảng: Bọn chủ nhân Trung Hoa kì cục lắm, nếu lão rời thuyền vì đau thì có thể bị đuổi mà lão không muốn mất chỗ làm. Hễ còn ở dưới thuyền thì lão được tờ hợp đồng che chở, mà người phó thuyền trưởng của lão vào hạng rất giỏi. Với lại, lão không muốn rời cô em của lão. Không sao kiếm được một nữ điều dưỡng tận tâm hơn. Cứu được lão thì chỉ có nàng thôi. Ai cũng có lúc phải chết, thôi xin để yên cho lão. Bác sĩ trách móc gì lão cũng không nghe, sau cùng ông chịu thua lão, do dự một chút và bảo:

- Để tôi kê cho ông một cái toa xem có công hiệu không. Ông phải nằm ở giường ít lâu nữa.

- Bác sĩ khỏi lo. Tôi làm sao dậy được, yếu như con sên.

Nhưng lão cũng như bác sĩ không tin gì mấy ở cái toa đó, và khi bác sĩ về rồi, lão đốt nó để châm một điếu xì gà. Lão không còn thấy thích cái gì nữa, miệng nhạt, hút thuốc vô chỉ để tỏ rằng mình chưa đến nỗi đau nặng quá thôi. Buổi chiều, hai người bạn thuyền trưởng hai chiếc tàu buôn không đường chạy nhất định, lại thăm lão: họ uống Whisky, hút xì gà Phi Luật Tân, bàn về bệnh của lão. Một người nhớ ra rằng một người phó của mình cũng có những triệu chứng kì dị như vậy, mà không có một bác sĩ nào ở Mĩ trị nổi. Sau uống thử một thứ thuốc quảng cáo trên nhật báo. Chỉ hai ve, khỏe mạnh lại như thường. Bệnh của Butler làm cho lão sáng suốt dị thường, nghe bạn nói lão như đọc được ý nghĩ của họ. Họ cho rằng lão sắp chết tới nơi. Khi họ ra về rồi, lão đâm hoảng.

Thiếu nữ thấy lão yếu quá rồi. Tới lúc phải hành động gấp. Nàng đã mấy lần khuyên lão mời một thầy lang bản xứ[6] mà lão không nghe. Lần này nàng năn nỉ lão. Cặp mắt mất hết tinh thần, lão nghe mà do dự. Lạ thật bác sĩ Mĩ đó sao mà không đoán được bệnh của mình. Nhưng lão không muốn cho thiếu nữ nghĩ rằng mình kinh hoàng. Lão sở dĩ bằng lòng cho thằng mọi mắc dịch đó lại coi bệnh chỉ là để cho nàng yên tâm thôi. Lão bảo nàng muốn làm cái quái gì thì làm.

Tối sau, thầy lang bản xứ tới. Trong ánh sáng le lói của một ngọn đèn dầu, Butler đương nằm một mình, nửa thức nửa ngủ. Cánh cửa khe khẽ mở ra, thiếu nữ rón rén bước vô. Phía sau nàng có một người lặng lẽ lẻn vô theo. Butler thấy vẻ bí mật đó, mỉm cười, nhưng lão yếu quá rồi, nụ cười không hiện trên môi mà chỉ chập chờn trong cặp mắt. Thầy lang bé nhỏ, già, gầy ốm, nhăn nheo, mặt như mặt khỉ. Khòm lưng, có u bướu như một cây cổ thụ. Coi không ra hình thù con người, nhưng cặp mắt rất sáng, chiếu rực như những ngọn đèn đỏ trong căn phòng mờ mờ tối. Mình để trần, bận một chiếc quần cáu ghét, rách tả tơi. Chú ta ngồi xổm ngó viên thuyền trưởng mười phút, rồi rờ lòng bàn tay cùng gan bàn chân của lão. Thiếu nữ hoảng hốt nhìn chú ta. Không thốt một lời. Rồi chú bảo đưa cho chú một đồ vật gì mà thuyền trưởng đã mang trên người. Thiếu nữ đưa cho chú chiếc mũ phớt mà Butler không lúc nào rời ra. Đỡ chiếc mũ, chú ta lại ngồi xuống sàn, hai tay nắm chặt nó, rồi gật gà gật gù thầm thì líu lo. Sau cùng chú ta thở dài, liệng cái mũ đi, mồi một ống vố rút từ túi quần ra. Thiếu nữ lại ngồi sát bên, chú nói nho nhỏ một lời nào đó khiến nàng giật nảy mình lên. Họ thì thào rất nhanh với nhau trong vài phút rồi đứng dậy. Nàng đưa tặng một số tiền, mở cửa và chú lặng lẽ bước ra y như hồi vô. Nàng trở lại bên cạnh thuyền trưởng, cúi xuống ghé tai lão bảo:

- Có kẻ trù cho anh chết.

Lão bực mình, đáp:

- Đừng nói bậy nào.

- Thực đấy. Như bệnh Trời đấy. Vì vậy mà bác sĩ Mĩ phải bó tay. Những người đồng chủng của em làm được điều ấy. Em đã thấy những trường hợp như vậy rồi. Trước em cứ tưởng họ không trù nổi một người da trắng.

- Anh làm gì có kẻ thù.

- Có chứ, Bananas.

- Tại sao nó lại muốn cho anh chết.

- Đáng lẽ anh phải đuổi nó đi, trước khi nó thư anh.

- Nếu chỉ do bùa phép của nó thì anh cam đoan với em ít ngày nữa là sẽ ngồi dậy được, ăn uống như thường.

Thiếu nữ làm thinh một lát, chăm chú nhìn Butler, sau cùng bảo:

- Anh có biết rằng anh sắp chết không?

Hai người bạn thuyền trưởng của lão cũng nghĩ như vậy mà không nói ra. Lão run run, mặt mày tái mét.

- Bác sĩ bảo anh không có gì đáng lo. Nghỉ ngơi ít bữa thì hết.

Nàng kề môi vào tai lão, như sợ không khí cũng nghe được.

- Anh sắp chết, sắp chết, sắp chết rồi. Nội trong tuần trăng này thôi.

- Để coi.

- Nội trong tuần trăng này, nếu Bananas không chết trước thì anh sẽ chết.

Lời nói, nhất là những cử chỉ mạnh mẽ, bí mật của thiếu nữ làm cho lão hơi xao xuyến, nhưng vốn can đảm lão bình tĩnh lại được ngay, trong mắt lão có vẻ như mỉm cười.

- Để anh thử vận của anh xem.

- Chỉ còn mười hai ngày nữa là có trăng non.

Giọng nói của nàng có cái gì đó làm cho lão hơi bực mình.

- Này, đừng có nói chuyện con nít đó nữa. Anh không thể tin được nữa, mà đừng gây sự với thằng Bananas. Nó xấu xí thật, nhưng phó thuyền trưởng như nó là bậc nhất đấy.

Lão muốn nói thêm nữa, nhưng mệt quá rồi. Thình lình lão thấy đuối hơn. Ngày nào cũng vào giờ này là bệnh của lão tăng lên. Thiếu nữ nhìn lão một phút rồi lẻn ra ngoài. Trăng đã hơi khuyết rực rỡ trên vòm trời không mây, vạch trên mặt biển đen một con đường lấp lánh như bạc. Nàng hoảng hốt nhìn mặt trăng vì biết tới cuối tuần trăng người yêu của nàng sẽ chết. Đời sống của Butler ở trong tay nàng. Nàng có thể cứu lão được, chỉ có nàng là có thể cứu lão được, nhưng kẻ thù quỉ quyệt lắm, nàng phải quỉ quyệt hơn nó nữa. Nàng cảm thấy có ai ở phía sau nàng, nàng run sợ, không quay lại cũng biết rằng trong bóng tối cặp mắt thèm khát, nảy lửa của Bananas đương ngó nàng. Nàng không biết hắn có phép gì. Hắn đọc được ý nghĩ của nàng không? Nếu được thì nàng chịu thua trước rồi. Nàng gom hết nghị lực lại, trút bỏ hết ý nghĩ trong đầu ra. Nàng có thể làm cho hắn chết, mà hắn chết thì người yêu của nàng mới sống được. Nàng biết rằng nếu làm cách nào cho hắn soi bóng xuống mặt nước chứa trong một trái bầu khô, rồi lắc quả bầu, mặt nước rung động, bóng của hắn vỡ ra, thì hắn sẽ chết đi vì sét đánh, vì cái bóng đó chính là hồn phách hắn. Nhưng hắn biết cái họa đó hơn ai hết. Vậy phải dùng mưu mẹo nào đó cho hắn không hề nghi ngờ một chút mà nhìn vào quả bầu. Phải làm cho hắn không hề nghĩ rằng có một kẻ thù rình cơ hội để hại hắn. Nàng đã biết phải làm gì rồi, nhưng thời gian gấp quá. Bỗng nàng cảm thấy rằng hắn đã đi chỗ khác. Nàng thở ra nhẹ nhàng.

Bốn mươi tám giờ sau thuyền ra khơi và chỉ còn mười ngày nữa là có trăng non. Thuyền trưởng Butler coi hốc hác ghê gớm, chỉ còn xương với da, cử động một chút cũng phải có người đỡ. Gần như nói không ra tiếng. Mà nàng vẫn nhất định chưa làm gì cả, biết rằng phải kiên nhẫn mới được. Tên Bananas đó xảo quyệt lắm. Tới một đảo nhỏ trong quần đảo, người ta dỡ hàng xuống. Lúc này chỉ còn có bảy ngày nữa thôi. Đã tới lúc phải hành động rồi. Nàng lấy một số đồ vật trong cabin, gói thành một gói đặt ở phòng nhỏ trên boong, nơi nàng và Bananas dùng bữa. Bữa tối nàng bước vô thì hắn quay mặt đi, vậy là hắn đã thấy gói ấy. Cả hai đều làm thinh, nàng đoán rằng hắn đã ngờ nàng chuẩn bị để rời thuyền. Hắn nhìn nàng có vẻ chế nhạo. Như để giấu không cho thuyền trưởng biết mình có ý định gì, nàng lần lần lén gom hết những đồ của nàng và một số quần áo của Butler lại để đem qua phòng nhỏ. Sau cùng Bananas không làm thinh được nữa, trỏ một bộ đồ trắng, hỏi:

- Còn cái kia, cô tính làm gì?

Nàng nhún vai:

- Tôi tính về đảo của tôi.

Hắn cười, mặt nhăn nhó coi thấy gớm. Thuyền trưởng sắp chết, cô ả vơ vét cho hết để dông đây.

- Nếu tôi không cho cô lấy những đồ ấy thì cô nghĩ sao? Những đồ ấy của thuyền trưởng mà.

- Anh dùng làm gì những thứ đó.

Có một quả bầu khô treo trên tường (chính là quả bầu tôi đã thấy khi vô cabin và đã nói ở đoạn trên). Nàng gỡ nó xuống. Nó đầy bụi. Nàng rót nước trong một cái ve vào rồi lấy ngón tay rửa:

- Cô lấy cái đó làm gì?

- Để bán lấy năm chục Mĩ kim.

- Muốn lấy thì phải trả tiền tôi.

- Trả anh bao nhiêu?

- Thì cô biết rồi đấy.

Nàng khẽ mỉm cười, liếc tình hắn rồi quay phắt ngay đi. Hắn hổn hển vì lòng dục bừng bừng. Nàng khẽ nhún vai. Như con thú dữ hắn chồm tới ôm chặt lấy nàng. Nàng cười ngặt nghẽo, đưa hai cánh tay tròn trĩnh, mềm mại ra bá cổ hắn và say mê hiến thân cho hắn.

Sáng hôm sau hắn còn ngủ say, nàng phải lay hắn dậy. Những tia nắng đầu tiên đã rọi vào phòng. Hắn ôm nàng vào lòng rồi bảo rằng thuyền trưởng chỉ sống được một hay hai ngày nữa là cùng, chủ thuyền không dễ gì tìm được người da trắng khác để thay, nếu hắn chịu nhận một số lương thấp hơn thì sẽ được lên thay và như vậy nàng có thể ở lại với hắn được. Hắn đắm đuối nhìn nàng. Nàng nép mình vào hắn, hôn môi hắn theo kiểu Âu Mĩ mà Butler đã chỉ và nàng hứa sẽ ở lại. Hắn sướng mê tơi.

Lúc này phải ra tay đây, không còn dịp nào khác nữa.

Nàng đứng dậy, lại cái bàn để sửa lại đầu tóc. Không có gương, nàng phải soi bóng trong cái bầu đựng nước, và gọi Bananas tới, chỉ vô trong cái bầu:

- Có cái gì ở dưới đáy bầu này.

Không nghi ngờ gì hết, hắn nhìn vào mặt nước.

Hình bóng mặt hắn phản chiếu lên. Nhanh như chớp nàng thọc mạnh hai tay vào cái bầu[7], đụng tới đáy, nước bắn lên tung tóe. Hình ảnh của Bananas bị tan vỡ. Hắn rú lên một tiếng, lùi lại nhìn thiếu nữ. Nàng đứng thẳng người có vẻ căm thù mà đắc thắng. Một tia kinh hoàng hiện lên trong cặp mắt Bananas. Thân hình nặng nề của hắn quằn quại trong cơn hấp hối, rồi hắn co rúm cả người lại, té đánh bịch xuống sàn, y như uống phải một thứ thuốc độc rất mạnh. Toàn thân hắn run lên rồi hắn nằm ngay đơ. Nàng thản nhiên cúi xuống đặt tay lên tim hắn, và vuốt mắt cho hắn. Hắn chết thực rồi.

Nàng trở vô cabin của Butler. Cặp má của lão đã hơi có sắc hồng, lão lo ngại ngó nàng, thì thào:

- Có gì xảy ra vậy?

Đã bốn mươi tám giờ rồi lão mới thốt được mấy lời ấy.

Nàng đáp:

- Có gì đâu.

- Anh thấy trong người làm sao ấy.

Rồi lão nhắm mắt lại, ngủ thiu thiu. Lão ngủ một giấc suốt một ngày một đêm. Khi tỉnh dậy, lão đòi ăn. Hai tuần sau lão khỏi hẳn.

***

Khi Winter và tôi trở lên bờ thì đã quá nửa đêm. Chúng tôi đã uống không biết bao nhiêu li Whisky Soda.

Winter hỏi:

- Anh cho chuyện đó ra sao?

- Anh hỏi gì vậy? Nếu anh muốn biết ý kiến tôi thì tôi không có ý kiến nào hết.

- Lão thuyền trưởng tin lắm đấy.

- Dĩ nhiên, nhưng đó không phải là điều tôi quan tâm tới nhất, chuyện ấy có thực hay không, nó có ý nghĩa gì, cái đó không làm sao cho tôi suy nghĩ bằng điều này: Tại sao mà một chuyện như vậy có thể xảy ra cho hạng người như vậy? Con người thấp bé thô bỉ đó sao có thể làm cho thiếu nữ đẹp đẽ đó say mê như vậy được nhỉ? Trong khi nghe lão kể chuyện, tôi nhìn nàng ngủ mà nảy ra những ý kì cục về sức mạnh huyền diệu của ái tình.

Winter bảo:

- Nhưng đâu phải thiếu nữ ấy.

- Anh nói cái gì vậy?

- Anh có để ý tới người bếp Trung Hoa không?

- Dĩ nhiên, tôi chưa thấy một người nào xấu xí dễ sợ như nó.

- Chính vì vậy mà Butler dùng nó. Cô ả trong truyện đã cuốn gói dông với người bếp Trung Hoa cũ năm ngoái rồi. Thiếu nữ này mới ăn ở với lão khoảng hai tháng nay.

- A, thế này thì lạ lùng thật, vô phương hiểu nổi.

- Lão ta cho rằng dùng tên bếp này thì khỏi lo gì hết. Nhưng ở vào địa vị lão, tôi không vững bụng đâu. Tôi không biết người Trung Hoa có cái thuật gì đó, khi họ đã quyết tâm quyến rũ một người đàn bà nào thì nhất định họ sẽ thành công.

Nhan đề tiếng Anh: Honolulu

❀ ❀ ❀

[1] Bowlers (Chapeau melon).

[2] Y hệt câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” của ta.

[3] Một nhạc khí không rõ thuộc loại đàn hay sáo.

[4] Có lẽ là một thứ bài.

[5] Bananas có nghĩa là chuối.

[6] Nguyên văn: native doctor, nhưng “thầy pháp” thì phải hơn.

[7] Ở những đảo đó, có thứ bầu tròn, lớn gần bằng trái bí rợ có thể cắt, phơi khô dùng làm đĩa, tô, bình, cả thùng đựng nước nữa.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.