“Oi weh! Nó sáng chói làm sao, cái vẻ đẹp tuyệt trần này!” Hanneh Hayyeh reo lên đầy phấn khích khi ngắm nhìn căn bếp vừa được sơn mới. Bà đắm chìm trong ánh mắt đầy thành kính và ngưỡng mộ hướng về bức chân dung người con trai mặc quân phục; đôi mắt giống hệt mắt bà, lấp lánh sự hăng hái và niềm vui sống, đang nhìn lại bà.
“Aby sẽ chẳng phải hổ thẹn khi trở về mái nhà xưa,” bà vui sướng vỗ tay—những bàn tay phồng rộp vì chổi sơn và chai sạn vì lao động nặng nhọc. “Giờ thì nó có thể mời tất cả những người bạn sang trọng nhất mà nó quen trong quân đội đến nhà rồi.”
Mùi sơn ngào ngạt đến nghẹt thở, nhưng bà hít hà vào ngực từng luồng vẻ đẹp ẩn giấu. Suốt bao tuần qua, bà đã mơ về nó và cảm nhận được trong từng hộp sơn kiếm mua được, trong từng nhát củi quẹt chổi, niềm hạnh phúc tột cùng của sự tận tụy vì đứa con trai mà bà tôn sùng.
Từ tận những năm tháng đầu tiên bắt đầu nhận giặt là lụa là và vải vóc hảo hạng cho bà Preston, ước mơ của Hanneh Hayyeh từ lâu đã là sở hữu một căn bếp sơn trắng y hệt như trong dinh thự cũ ở Quảng trường Stuyvesant. Giờ đây, căn bếp của riêng bà đã là một giấc mơ trở thành hiện thực.
Hanneh Hayyeh chạy vội vào chỗ chồng, một người đàn ông gù lưng, bị đè nặng bởi những lo toan đang tựa người vào giường, đôi chân sưng phồng duỗi ra, bần thần đếm từng xu tiền kiếm được trong ngày.
“Jake Safransky!” bà hào hứng kêu lên, “ông phải vào đây ngắm nghía chỗ sơn cọ của tôi trước khi đi ngủ đi chứ.”
“Oi, để tôi yên. Cho tôi nghỉ ngơi một lát đi.”
Quá ngây ngất trong niềm vui thành quả nên không chấp nhận câu trả lời từ chối, bà lôi tuột ông ra cửa. “Nu? Ông thấy thế nào? Tôi có biết thế nào là đẹp không chứ?”
“Thế cô ném bao nhiêu tiền vào đống sơn đó hả?”
“Tiền của tôi làm ra chứ,” bà vừa nói vừa dùng vạt tạp dề lau mồ hôi trên mặt. “Từng xu một do chính tay tôi kiếm được từ việc giặt thuê kiếm thêm đấy.”
“Nhưng lẽ ra cô phải để dành cho những ngày khốn khó chứ. Đến lúc trời trở lạnh và cái xe đẩy hàng không tự đẩy ra ngoài được nữa thì cô tính sao?”
“Tôi tự biết tằn tiện bóp mồm bóp miệng cho bản thân rồi. Tôi làm điều này để vinh danh con trai tôi. Tôi muốn thằng Aby của tôi ngẩng cao đầu với thiên hạ. Tôi muốn nó có thể mời cả Tổng thống nước Mỹ đến nhà mà chẳng phải hổ thẹn.”
“Cô sẵn sàng giật cả nải chuối trên xe đẩy của một lão mù đem về cho thằng Aby cơ mà. Cô thì biết gì về việc giữ chặt từng đồng xu, gom góp từng cắc bạc lẻ như người nghèo phải làm chứ.”
“Tôi sống trên đời này được cái tích sự gì nếu không có lấy một chút vẻ đẹp trong đời? Tôi chẳng dám bớt ra mười xu để đi xem chiếu bóng dẫu thèm rỏ dãi. Chưa bao giờ tôi tự thưởng cho mình một ly soda kem ngay cả trong dịp lễ tết. Dọn dẹp, tô điểm cho nhà cửa vì thằng Aby là niềm vui duy nhất của tôi đấy.”
“Ừ, nhưng đấy có phải nhà cô đâu. Nhà của chủ nhà cơ mà.”
“Tôi không sống ở đây chắc? Tôi thấm đẫm niềm vui từ từng tấc đất trong căn bếp này. Chà, tôi chỉ muốn hôn lên lớp sơn trắng tuyệt vời trên tường ấy chứ. Nó thắp sáng đôi mắt tôi chẳng khác nào ánh nắng ngập tràn căn phòng.”
Ánh nhìn của bà chuyển từ bức tường vừa sơn xong sang chậu phong lữ bên bệ cửa sổ, rồi quay lại khuôn mặt người chồng.
“Jake!” bà kêu lên, lay mạnh người ông, “ông đui mù cả rồi à? Sao ông có thể nhìn cách vẻ đẹp nhảy múa từ mọi ngóc ngách mà không nhảy cẫng lên vì hạnh phúc cơ chứ?”
“Tôi chỉ nghĩ đến số tiền cô ném vào ngôi nhà của chủ nhà thôi. Nhìn tôi đây này! Tôi đen đúa vì lo lắng, còn cô thì chẳng bận tâm lấy một chút. Trong đầu cô chỉ toàn mơ mộng làm sao để ra dáng người Mỹ và nướng sạch từng xu kiếm được vào việc tu sửa nhà cửa giống như người giàu.”
“Tôi chán ngấy cảnh sống như con heo với cái mũi cắm xuống đất, lúc nào cũng chỉ biết bóp mồm bóp miệng vì miếng cơm manh áo và tiền thuê nhà. Chừng nào thằng Aby còn ở bên nước Mỹ, tôi muốn biến mình thành một người Mỹ. Tôi sẵn sàng với tay hái những vì sao trên trời vì mong ước của Aby.”
Hai má hóp lại của bà ửng đỏ và đôi mắt bừng sáng khi bà đảo mắt nhìn quanh.
“Khi ngắm nghía quanh nhà do chính đôi tay tôi sửa sang lại, tôi quên mất mình chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt. Nó khiến tôi cảm thấy mình cũng là một con người đàng hoàng giống như bà Preston. Nó nâng tôi dậy với những hoài bão cao cả.”
“Sao cô không đi lấy đại một tên triệu phú đi? Lúc nào cô cũng muốn làm ra vẻ giống như bà Preston có hàng triệu đô la nằm trong ngân hàng ấy.”
“Nhưng chính bà Preston mới là người làm cho tôi cảm thấy mình bình đẳng với bà ấy,” Hanneh Hayyeh kiêu hãnh đáp. “Bà ấy chẳng trò chuyện cởi mở với tôi như thể tôi là bạn của bà ấy sao? Bà Preston nói cuộc chiến này là để cho tất cả mọi người có cơ hội ngẩng cao đầu như một con người. Nó là để kéo những kẻ ở tầng lớp trên có tất cả lại gần với những người ở tầng lớp dưới chẳng có gì. Bà ấy vừa kể cho tôi nghe một từ mới—dân chủ. Nó làm tôi bừng cháy cả người. Dân chủ có nghĩa là mọi người ở nước Mỹ đều bình đẳng với nhau như một.”
“Och! Thôi ngay cái trò mơ mộng hão huyền trong đầu đi. Ngậm cái miệng lại với những điều ngu ngốc ấy đi. Đàn ông tóc dài thì trí lực ngắn,” ông lầm bầm dứt lời rồi đi thẳng lên giường.
Vào cái giờ buôn chuyện bận rộn của sáng hôm sau, khi cửa hàng thịt đông nghịt những phụ nữ mặc áo khoác trong nhà và váy ngủ trùm khăn choàng, Hanneh Hayyeh len lỏi vào đám đông đang tranh cãi ồn ào của hàng xóm.
“Sao mà trông cô lúc nào cũng hừng hực thế?”
“Sao mà lúc nào cô cũng sùng sục thế?”
“Con mụ này lúc nào cũng sục sôi vì sự kỳ diệu của thằng con trai mình.”
“Cả thế giới chắc phải đứng im để lắng nghe xem con trai nó viết thư về báo tin gì cơ đấy.”
“Nó tưởng con trai nó là người lính duy nhất trong quân đội Mỹ không bằng.”
“Thằng Benny nhà tôi cũng là một kỳ quan vĩ đại về sự thông minh đấy, nhưng tôi có điên rồ cuồng tín như cái mụ này đâu.”
Tiếng la ó của những người hàng xóm vang lên từ mọi ngóc ngách, nhưng Hanneh Hayyeh làm ngơ trước tất cả, cứ thế lao người về phía trước.
“Cô chen lấn xô đẩy cái gì mà dữ dội thế hả? Cô có mua được thịt trước đâu nào. Phải thế không, ông Sopkin, ai cũng phải đợi đến lượt mình chứ?”
Ông Sopkin ngước lên giữa lúc đang lóc một góc thịt. Ông lau con dao vào chiếc tạp dề dính mỡ và nhoài người qua quầy.
“Nu? Hanneh Hayyeh đấy à?” khuôn mặt hồng hào của ông rạng rỡ. “Cô lại có thư của thằng Aby bé nhỏ ở Pháp gửi về à? Có tin vui gì ngon lành mang đến cho chúng tôi thế?”
“Không—không phải thư,” bà bật lại với một cái phất tay đầy thiếu kiên nhẫn. “Tin vui là tôi đã sơn xong căn bếp của mình rồi—và tất cả các người phải đến ngắm xem nhà tôi sáng lóa lên chẳng khác nào cung điện ấy.”
Ông Sopkin tiếp tục thái thịt.
“Oi weh!” Hanneh Hayyeh hụt hơi, khẩn khoản kêu lên. “Dừng cái vụ thịt thà lại rồi mau chóng đến đây đi. Cửa hàng có chạy mất đi đâu được mà sợ! Chỉ mất có một phút thôi. Bước một bước là tới nhà tôi ở trên lầu rồi.” Bà vung hai tay lên. “Và tất cả mọi người phải đi cùng đấy.”
“Cô nghĩ tôi kiếm sống bằng cách ngắm nghía những kỳ quan mà cô bày vẽ ra trong nhà chắc?” người bán thịt phản đối với một tia lấp lánh tinh nghịch trong mắt.
“Kiếm tiền đâu phải là tất cả trong đời. Căn bếp mới sơn của tôi sẽ thắp sáng trái tim anh ngập tràn niềm vui đấy.”
Thấy ông Sopkin vẫn chẳng mảy may nhúc nhích, bà bắt đầu nài nỉ, ve vãn theo kiểu đàn bà.
“Oi weh! Ông Sopkin! Đừng có keo kiệt thế chứ. Đến xem một tí thôi nào. Khách hàng của anh có chạy mất dép đâu mà lo. Có mất khách thì họ cũng phải quay lại thôi, vì anh đâu phải kẻ lột da người ta. Anh cân thịt sòng phẳng cơ mà.”
Làm sao ông Sopkin có thể chống lại những lời nịnh nọt đầy quyến rũ ấy cơ chứ?
“Hanneh Hayyeh!” ông cười lớn. “Cô đúng là điên nặng rồi, nhưng chẳng ai có thể từ chối bất cứ điều gì mà cô đã cắm cổ định làm cả.”
Ông vứt con dao xuống quầy. “Mọi người ơi!” ông gọi lớn; “chúng ta hãy chiều ý cô ấy một chuyến, sang ngắm nghía xem cô ấy có cái gì để trưng bày nào.”
“Oi weh! Tôi chẳng có thời gian đâu,” một người kêu lên phản đối. “Tôi bỏ mặc đứa con nhỏ khóa trái cửa ở nhà một mình kìa.”
“Còn tôi bỏ quên cả nồi thức ăn đang sôi sùng sục trên bếp. Chắc giờ này cháy khét lẹt hết rồi.”
“Thế mà các người lại có đủ thời gian đứng tụ tập ở đây buôn chuyện như một bầy khỉ cả tiếng đồng hồ,” ông Sopkin quở trách. “Việc này chỉ mất có một phút thôi. Các người lạ gì Hanneh Hayyeh nữa. Chúng ta chẳng tài nào dứt ra khỏi cô ấy được cho đến khi làm theo những gì đầu óc cô ấy muốn đâu.”
Vừa cằn nhằn vừa ra hiệu tay chân, tất cả đều lũ lượt kéo theo sau ông Sopkin khi Hanneh Hayyeh dẫn đầu đoàn người. Họ nối đuôi nhau đi qua hành lang của một khu nhà tập thể tối tăm, nồng nặc mùi hôi thối, leo lên hai tầng cầu thang quanh co, ọp ẹp. Khi Hanneh Hayyeh vừa mở cửa, những tiếng kêu trầm trồ kinh ngạc và vui sướng lập tức vang lên: “Oi! Oi!” và “Ay! Ay! Takeh! Takeh!”
“Vàng rực rỡ tỏa sáng từ mọi góc phòng kìa!”
“Giống như nhà có lễ hội ấy!”
“Chẳng cần thắp đèn ga mà vẫn sáng choang!”
“Ước gì tôi cũng có cơ ngơi lộng lẫy thế này!”
“Cô thì có bận tâm lo lắng gì trên đầu đâu, nên mới rảnh rỗi tâm trí mà bày vẽ ra cái điều phù phiếm thế này.”
Ông Sopkin đứng há hốc miệng, chết trân vì kinh ngạc trước sự biến hóa này.
Hanneh Hayyeh đắc ý lay tay áo ông. “Nu? Sao ông chẳng nói gì thế?”
“Lộng lẫy không thể tả được! Trắng làm sao mà lại sạch sẽ làm sao! Chói lóa cả mắt! Chủ nhà mà vớ được người thuê thế này thì phải phát huy chương hoặc cho thuê nhà miễn phí mới phải lẽ. Tôi đã thấy mấy căn phòng này trước kia và giờ tôi đang nhìn lại nó đây. Đúng là một trời một vực giữa hai căn nhà.”
“Các người không định vào trong à?” Hanneh Hayyeh khẩn khoản nài nỉ những người hàng xóm.
“Lạy Chúa tôi! Lại để chân giẫm lên cái sàn nhà mới sơn này á?”
“Shah!” người bán thịt lên tiếng, cởi chiếc tạp dề ra rồi trải phăng xuống sàn. “Tất cả các người cứ bước chân lên tạp dề của tôi đi. Đằng nào nó cũng bẩn rồi.”
Họ chen chúc bước lên chiếc tạp dề được trải sẵn và thi nhau thốt lên những lời ca ngợi.
“Mong cho cô sống để nhìn thấy con trai mình cưới vợ ngay trong căn bếp này, và mong tất cả chúng tôi đều được mời đến dự đám cưới!”
“Mong cho cô sống để cùng ăn bánh uống rượu ở đây trong những ngày lễ của đám cháu chắt!”
“Mong cho cô gặp may mắn để phất lên giàu có rồi dọn khỏi đây sang ngôi nhà chính chủ của riêng mình!”
“Amen!” Hanneh Hayyeh thì thầm đáp lại. “Mong cho tất cả chúng ta đều quên đi những nỗi lo tiền nhà!”
Bà Preston chăm chú theo dõi từng cử động của Hanneh Hayyeh với niềm thích thú sâu sắc khi cô lấy quần áo giặt từ trong giỏ ra và trải lên giường. Những ngón tay thô ráp, chai sạn vì lao động của Hanneh Hayyeh mơn man, vuốt ve đầy trìu mến trên từng món đồ. Cứ như thể những thớ vải ẩn chứa một sự sống ngầm tinh tế nào đó thấm sâu vào tận đầu ngón tay bà.
“Hanneh Hayyeh! Chị đúng là một nghệ sĩ!” Giọng nói trầm ấm của bà Preston mang theo sự cung kính thấm sâu vào tận đáy lòng người phụ nữ kia. “Chị giặt là những món đồ ren và lụa batiste của tôi không ai sánh bằng. Cứ như thể chị đã thổi một phần linh hồn mình vào trong đó vậy.”
Người đàn bà đóm đóm đến từ khu ổ chuột há hức uống lấy từng giọt vẻ đẹp và sự tử tế tỏa ra từ con người bà Preston. Không một nét tao nhã văn minh nào của người bạn kính yêu lại thoát khỏi tầm mắt của Hanneh Hayyeh. Ánh nhìn của bà lướt từ đôi giày tinh xảo lên mái tóc hoàn hảo trên cái đầu được giữ ngay ngắn.
“Đồ đạc của bà có sự tinh tế quá đỗi. Tôi thèm thuồng cái cảm giác sờ vào chúng lắm. Tôi nâng niu chúng nhẹ nhàng trong tay cứ như thể tôi đang cầm nắm làn không khí mỏng manh vậy.”
Hanneh Hayyeh vừa nói vừa làm điệu bộ minh họa, và bà Preston, vốn quen giữ vẻ điềm đạm kín đáo, liền đặt bàn tay trắng trẻo, mịn màng của mình lên bàn tay nhăn nheo, thô ráp của Hanneh Hayyeh đầy trìu mến.
“Oi-i-i-i! Bà Preston! Lúc nào bà cũng làm cho tôi cảm thấy mình thật lớn lao!” Hanneh Hayyeh nói, làn sương nước mắt đọng lại trong đôi mắt đượm buồn. “Mỗi khi từ biệt bà ra về là tôi chỉ muốn ngồi sụp xuống mà khóc. Tôi không sao thốt lên lời bằng ngôn từ được. Nó nghẹn ngào trong cổ họng—sao mà bà tốt với tôi thế—Bà chẳng giống một phu nhân giàu có chút nào cả. Bà chân thành từ tận đáy lòng. Bà khiến một kẻ vô danh hèn kém nhất cũng cảm thấy mình là một con người.”
“Chị không phải là một ‘kẻ vô danh,’ Hanneh Hayyeh ạ. Chị là một nghệ sĩ—một nữ thợ giặt nghệ sĩ.”
“Ý bà nghệ sĩ là sao chứ?”
“Một người nghệ sĩ là người tràn ngập tình yêu với cái đẹp đến mức họ phải thể hiện nó ra bằng cách này hay cách khác. Chị thể hiện nó qua việc giặt giũ cũng giống như một họa sĩ vẽ nó lên bức tranh vậy.”
“Vẽ tranh á?” Hanneh Hayyeh thốt lên. “Ước gì bà có thể đến ngắm xem tôi đã sơn cọ căn bếp của mình như thế nào! Nó thắp sáng cả khu nhà tập thể dài rộng cả mấy dãy phố. Người bán tạp hóa, người bán thịt và tất cả hàng xóm láng giềng đã nhảy cẫng lên vì kinh ngạc và sung sướng khi thấy tôi làm cho căn nhà sáng lóa lên thế nào.”
“Và tất cả là để mừng Aby trở về nhà ư?” Bà Preston mỉm cười, tâm trí thoáng hướng về đứa con trai của chính mình, viên đại đội trưởng trẻ tuổi nhất trong trung đoàn mà ngày về nhà cứ bị hoãn lại từ tuần này sang tuần khác.
“Mọi việc tôi làm đều là vì thằng Aby của tôi,” Hanneh Hayyeh thì thầm, hai tay ôm lấy ngực như thể đang cảm nhận lại nhịp đập thuở thơ ấu của nó trong tim mình. “Nhưng chuyện sơn phết này thì đã nung nấu trong đầu tôi từ nhiều năm nay rồi. Bà có nhớ cái thời chiếc bàn ủi nóng rơi trúng chân tôi và bà đã đến thăm, mang cho tôi một cái chậu hoa màu đỏ được bọc xung quanh bằng giấy crêp màu xanh không? Cái chậu hoa đó đã mở toang bầu trời trong căn bếp của tôi đấy.” Những lời nói tuôn trào từ cõi lòng sục sôi của bà. “Ngay lập tức tôi thấy trước mắt mình cách làm thế nào để tô điểm cho căn bếp sáng lóa như một phòng khách bằng cách sơn tường và may rèm mới cho cửa sổ. Nó giống như được nhìn thấy khuôn mặt của bà mỗi khi tôi ngắm nhìn những bông hoa của bà vậy. Tôi thường trò chuyện với nó cứ như thể nó có thể nghe, có thể cảm và có thể thấy vậy. Và tôi đã nhủ với nó rằng: ‘Tao sẽ cho mày thấy những gì ở trong tao. Tao sẽ cho mày biết là tao thừa hiểu thế nào là cái đẹp.’”
Khuôn mặt bà bừng sáng bởi một niềm nhiệt huyết khiến nó trông trẻ trung lạ thường, tựa như gương mặt của một thiếu nữ.
“Tôi đã nài nỉ lão chủ nhà cho phép sơn lại căn bếp, nhưng lão chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi. Thế nên tôi nhận ra rằng nếu còn hy vọng tu sửa nhà cửa, tôi sẽ phải tự bỏ tiền túi ra thôi. Và tôi bắt đầu gom góp từng cắc bạc lẻ để dành tiền mua sơn. Khi thấy thợ sơn, tôi luôn chặn họ lại hỏi xem mua ở đâu và mua thế nào cho rẻ nhất. Ngày cũng như đêm, bức tranh ấy cứ cháy bỏng trong tôi—căn bếp của tôi ngập tràn sắc trắng y như nhà bà, cho đến khi nào làm xong tôi mới thôi nghỉ ngơi.”
Dù được giáo dưỡng kỹ càng, dù mang trong mình sự kiềm chế của tổ tiên dòng dõi Anglo-Saxon, bà Preston vẫn vô cùng chấn động trước niềm đam mê sục sôi vì cái đẹp của Hanneh Hayyeh. Bà nhìn sâu vào đôi mắt của người phụ nữ Dois thái gốc Nga như thể đang uống lấy bí quyết từ ánh sáng ẩn giấu bên trong ấy.
“Tôi rất háo hức muốn ngắm căn bếp tuyệt vời của chị đấy,” bà nói khi Hanneh Hayyeh chào tạm biệt ra về.
Hanneh Hayyeh rảo bước về nhà, tâm trí quay cuồng trong nỗi mong chờ hân hoan về chuyến thăm đã hứa hẹn của bà Preston. Bà tự hỏi làm thế nào để có thể sẻ chia niềm vui khi có sự hiện diện của bà Preston với người bán thịt và tất cả hàng xóm. “Mình sẽ nướng một chiếc bánh shtrudel,” bà tự nhủ thầm. “Họ sẽ kéo đến hết để thưởng thức miếng bánh, rồi thế nào cũng được ngắm nhìn bà Preston cho mà xem.”
Vừa mỉm cười vừa lẩm bẩm một mình, bà tiếp tục công việc giặt giũ. Khi cúi người bên chậu giặt quần áo, bà mường tượng ra chiếc bánh shtrudel nóng hổi, bốc nghi ngút khói vừa ra lò cùng những tiếng trầm trồ thích thú khi bà Preston và hàng xóm nếm thử nó. Bỗng nhiên có tiếng gõ cửa. Lau vội đôi bàn tay xà phòng vào vạt tạp dề, bà vội vã chạy ra mở cửa.
“Oi! Ông chủ nhà! Mời ông bước vào trong nhà đi chứ,” bà giục giã. “Tôi có sẵn tiền thuê nhà cho ông đây, nhưng tôi muốn ông ngắm nghía xem tôi đã làm cho căn hộ của mình sáng lóa lên thế nào.”
Chiếc áo khoác kiểu hoàng tử Albert ôm lấy cái bụng phệ của ông Benjamin Rosenblatt chẳng hề bó sát bằng lớp da bọc trên khuôn mặt cạo râu nhẵn nhụi. Miệng ông ta mím chặt. Ngay cả đôi mắt nhỏ lồi ra cũng ánh lên một vẻ lạnh lùng, chặt chẽ.
“Tôi không có thời gian đâu. Thời gian là tiền bạc,” ông ta nói, chìa bàn tay như móng vuốt ra chờ tiền thuê nhà.
“Nhưng tôi chỉ phiền ông nửa phút thôi mà.” Và Hanneh Hayyeh kéo xềnh xệch người chủ nhân của cõi vương triều bà qua ngưỡng cửa. “Nu? Tôi sơn khéo không chứ? Và tất cả những thứ này tôi làm trong lúc thiên hạ đang ngủ say, sau khi đã đi làm vất vả suốt cả ngày về đấy.”
“Rất đẹp,” ông Benjamin Rosenblatt ban ơn đáp nghĩa bằng một cái liếc mắt nhanh chóng quanh phòng. “Cô quả thực đã làm một công việc tốt. Nhưng tôi phải đi đây. Biên lai của cô đây.” Và những ngón tay chộp lấy tiền thuê nhà của Hanneh Hayyeh trông hệt như chiếc kìm nhổ răng.
Hai tuần sau, Jake Safransky và vợ là Hanneh Hayyeh đang ngồi ăn bữa tối thì người quản lý tòa nhà bước vào đưa cho một mảnh giấy nhắn.
“Từ chủ nhà,” hắn nói, đưa nó cho Hanneh Hayyeh rồi bỏ đi thẳng.
“Chủ nhà á?” bà hốt hoảng kêu lên. “Có chuyện gì được cơ chứ?” Với đôi tay run lẩy bẩy, bà xé toạc tờ giấy nhắn. Mẩu giấy tuột khỏi tay bà.
Khuôn mặt bà tái xanh, đôi mắt trố lên vì kinh hoàng.
“Oi weh!” bà kêu lên khi ngã khuỵu lưng vào tường.
“Gewalt!” chồng bà hét lên, chộp lấy bàn tay mềm nhũn của vợ, “trông cô cứ như vừa bị sét đánh chết ấy.”
“Oi-i-i! Đồ sát nhân! Lão tăng tiền nhà tôi thêm năm đô la một tháng rồi.”
“Đáng đời cô lắm! Tôi đã bảo cô phải nghe lời tôi rồi cơ mà. Lão tưởng chúng ta có tiền giấu trong ngân hàng khi thấy cô vung lắm đô la vào việc sơn cọ nhà cửa thế cơ chứ.”
Bà quay phắt lại trút giận lên chồng. “Ông vẫn còn đang xé xác tôi ra đấy à? Đồ keo kiệt hút máu! Sao tôi có thể tưởng tượng nổi là lão lại cảm ơn tôi theo cách đem tiền túi ra sơn sửa nhà cho lão cơ chứ?”
Bà với lấy chiếc khăn choàng, quàng lên đầu rồi lao thẳng đến văn phòng chủ nhà.
“Oi weh! Ông chủ nhà! Lương tâm ông để đâu hả? Sao ông lại nỡ tăng tiền nhà của tôi trong khi thừa biết con trai tôi vẫn đang ở tận bên Pháp? Mà ngay cả với số quần áo giặt thuê kiếm thêm, tôi cũng chẳng đủ sống khi giá cả thực phẩm đắt đỏ thế này cơ mà?”
“Căn hộ này đáng giá thêm năm đô la,” ông Rosenblatt thiếu kiên nhẫn đáp. “Tôi có thể kiếm người thuê khác bất cứ phút nào.”
“Xin ông rủ lòng thương! Tôi cầu xin ông đấy! Tôi biết vắt kiệt ở đâu ra thêm năm đô la cho ông đây?”
“Điều đó không dính dáng gì đến tôi. Cô không trả được thì người khác sẽ trả. Tôi phải lo cho cái thân tôi chứ. Ở nước Mỹ này ai nấy đều tự lo thân lấy hết.”
“Ông không mảy quan tâm đến chuyện tôi đã dùng tiền mồ hôi nước mắt để sơn sửa nhà cửa cho ông sao?”
“Cô có làm vì tôi đâu. Cô tự làm cho mình đấy chứ,” ông ta nhếch mép cười khẩy. “Nhà cửa trông thế nào chẳng hề quan trọng với tôi, miễn là tôi thu được tiền nhà đúng hạn. Cô muốn có một ngôi nhà sang trọng nên cô tự sơn đấy thôi. Thế thôi nhé.”
Chỉ với một cái phất tay, ông ta tống cổ bà ra ngoài.
“Tôi van vái lương tâm ông đấy! Hãy nghĩ đến Chúa đi!” Hanneh Hayyeh vắt giật hai tay. “Căn nhà của ông chẳng đáng giá hơn khi có người thuê dọn dẹp và sơn phết đẹp đẽ như tôi đã làm sao?”
“Tất nhiên rồi,” gã chủ nhà gầm gừ. “Bởi vì căn hộ được sơn mới nên tôi mới kiếm được nhiều tiền hơn từ nó chứ. Tôi hết thời gian đứng đôi co với cô rồi.”
Gã quay sang cô thư ký và tiếp tục đọc thư cho cô ta đánh máy.
Hanneh Hayyeh ngây người bước ra khỏi văn phòng. Cổ họng khô khốc nghẹn đắng khi bà lảo đảo bước đi trong vô định, tay chân khua khoắng và lẩm bẩm một mình.
“Oi weh! Mồ hôi, tiền bạc tôi đổ dồn vào căn hộ để rồi tất cả trôi sông trôi biển thế này sao. Rồi tôi sẽ bị tống cổ ra đường và phải bỏ lại tất cả vẻ đẹp của mình. Thế rồi tôi lấy đâu ra tiền chuyển nhà? Khi bắt đầu dọn đi, tôi lại phải tốn tiền thuê người chuyển nhà, tiền căng dây phơi mới, tiền mua kệ mới và móc treo mới, chưa kể tiền thuê nhà nữa chứ. Tôi buộc phải ở lại đây thôi. Nhưng lấy đâu ra năm đô la dâng hiến cho tên cướp ngày ấy đây? Chắc tôi phải đi tìm Moisheh Itzek lão thợ cầm đồ, hay là hỏi xin bà Preston nhỉ? Không—Bà ấy lại tưởng tôi coi bà ấy như bạn chỉ để moi tiền giúp đỡ thì sao. Oi weh! Tôi phải quay cuồng bấu víu vào đâu với cõi lòng đắng cay này đây?”
Một cách máy móc, bà dừng chân trước cửa hàng thịt. Gục đầu xuống chiếc ghế trống, bà vùi mặt vào khăn choàng rồi òa khóc nức nở bằng những tiếng kêu xé lòng, xé ruột: “Khốn khổ thân tôi! Đắng cay thay cho tôi!”
“Hanneh Hayyeh! Đã có chuyện gì xảy ra với cô thế?” ông Sopkin hốt hoảng kêu lên.
Sự đồng cảm của ông đã khơi nguồn cho tận cùng đáy vực sự khốn khổ của bà.
“Oi-i-i! Đen đủi thay cho số phận tôi! Tối tăm mặt mày cho tôi rồi!”
Người bán thịt và đám đông hàng xóm xúm lại gần sát quanh bà.
“Gewalt! Có chuyện gì thế? Tin dữ từ thằng Aby ở Pháp gửi về à?”
“Oi-i-i! Tên sát nhân! Tên trộm cướp! Mật của lão phải vỡ tung ra như mật của tôi đang vỡ đây này! Tim lão phải tan nát như tim tôi đang tan nát đây này! Tôi chẳng còn con đường nào khác ngoài việc bị tống cổ ra vạ ổ gà rác rưởi ngoài kia. Lão chủ nhà tăng tiền nhà của tôi năm đô la một tháng. Lão còn xát muối vào vết thương của tôi khi bảo rằng tăng tiền vì căn hộ tôi tự sơn sửa có giá trị hơn nhiều.”
“Quân chó má! Lũ chủ nhà hút máu! Chúng nó đúng là bọn sa hoàng mới ở nước Mỹ này!”
“Thế cô định làm gì bây giờ?”
“Tôi còn biết làm gì nữa? Thằng Aby có thể về từ nước Pháp bất cứ ngày nào, và nó cần phải có một mái nhà để trở về. Tôi sẽ phải bớt đi miếng thịt ly sữa trong khẩu phần ăn để gom góp lại năm đô la phụ trội đó đây. Mọi người ơi! Hãy cho tôi một lời khuyên đi! Tôi còn biết làm gì khác nữa chứ? Nếu một con sói hoang chồm vào người giữa đêm đen, liệu khóc lóc có cứu được cô không?”
Với một cử chỉ tuyệt vọng ê chề, bà ngã sấp người xuống ghế. “Gottuniu! Nếu trên đời này còn chút công lý và lòng thương xót, thì xin hãy tra tấn tên chủ nhà y như cách hắn đang tra tấn tôi đây! Xin hãy để lửa thiêu đốt hắn và nước dìm chết hắn! Xin hãy xé nát da thịt hắn từng mảnh và nghiền nát xương hắn trong hàm răng của loài chó hoang!”
Hai tháng sau, một Hanneh Hayyeh gầy gò, hốc hác đang đứng trong bếp gấp đống quần áo giặt của bà Preston vào giỏ thì người quản lý tòa nhà—kẻ sai vung của bạo chúa—đưa cho bà một mảnh giấy nhắn khác.
“Từ chủ nhà,” hắn nói bằng thứ giọng đều đều vô cảm.
Hanneh Hayyeh tái mặt đi. Nhìn nụ cười nhếch mép đểu cáng của hắn, bà thừa biết đó lại là trát tăng tiền thuê nhà lần thứ hai.
Mắt bà tối sầm lại. Bà chết tráng đến mức chẳng thể suy nghĩ gì nổi. Bản năng đầu tiên của bà là chạy đi tìm chồng; nhưng thứ bà cần lúc này là sự đồng cảm—chứ không phải những lời chì chiết cằn nhằn. Và rồi trong màn đêm tăm tối ấy, bà nhìn thấy một ánh sáng—khuôn mặt của người bạn thân thiết, bà Preston. Bà vội vã chạy đến chỗ bà ấy.
“Oi—bạn ơi! Lại tăng tiền nhà tôi rồi,” bà thở hổn hển, lao vào phòng như một con thú hoang bị săn đuổi.
Bà Preston vô cùng sửng sốt trước vẻ ngoài bơ phờ, hoảng loạn của Hanneh Hayyeh. Lần đầu tiên bà nhận ra những tàn phá cằn cỗi do lo lắng và đói khát hằn in lên người đối phương.
“Hanneh Hayyeh! Cố gắng bình tĩnh lại nào. Cách bọn chủ nhà lợi dụng tình hình thế này thực sự là không thể dung tha được. Chắc chắn phải có lối thoát thôi. Chúng ta sẽ tìm cách xoay sở ổn thỏa mà.”
“Xoay sở thế nào được chứ?” Hanneh Hayyeh gắt lên.
“Chúng tôi sẽ lo cho chị khoản tiền nhà chị cần.” Giọng bà Preston tràn ngập sự trấn an và tự tin.
Đôi mắt Hanneh Hayyeh bừng lên những tia lửa giận. Cổ họng nghẹn đăc không thốt nên lời, hơi thở bà khựng lại trong giây lát.
“Tôi không cần lòng bố thí! Bà tưởng tôi đến để xin ăn chắc? Không—tôi cần công lý!”
Bà co ro người lại như muốn né tránh ngọn roi đang giơ cao của kẻ bức hại. “Bà có hiểu cảm giác của tôi không?” Giọng nói phát ra từ tận sâu thẳm nỗi sợ hãi tột cùng của bà. “Cứ như thể lão chủ nhà đẩy tôi vào góc tường rồi bảo rằng: ‘Tao cần tiền, không thì tao vắt kiệt sự sống của mày!’ Tôi không có tiền, thế là hắn cướp đi sinh mạng của tôi.
Lần trước, khi hắn tăng tiền nhà, tôi đã phải nhịn ăn thịt nhịn uống sữa. Thế giờ tôi còn có thể nhịn cái gì được nữa đây?”
Tiếng kêu xé lòng đã lay động bà Preston mạnh mẽ hơn bất kỳ lời nói suông nào.
“Có những lúc tôi thèm miếng thịt đến mức kiệt quệ, chỉ muốn xé nát cả thế giới này ra. Đói khát và cay đắng đang biến tôi thành một con thú hoang rồi. Tôi không còn là Hanneh Hayyeh ngày xưa nữa đâu.”
Cơn rùng mình làm rung chuyển Hanneh Hayyeh cũng truyền sang cả bà Preston. “Tôi biết giá cả thời điểm này thật quá khó khăn để chịu đựng,” bà lắp bắp, đầy vẻ kinh hoàng.
“Đã từng có thời người nghèo còn mua được những thứ rẻ tiền,” giọng nói đều đều tiếp tục vang lên. “Nhưng giờ thì chẳng còn gì rẻ mạt nữa cả. Khoai tây—gạo—cá—thậm chí cả bánh mì khô cũng đắt đỏ. Nhìn giày của tôi đi này! Một người từng rất chỉn chu gọn gàng như tôi mà giờ đây không còn nổi tiền sửa đôi giày rách nữa. Một đôi giày hay một miếng vá nhỏ giờ chỉ dành cho giới triệu phú thôi.”
“Phải làm gì đó thôi,” bà Preston thốt lên, lần đầu tiên trong đời hoàn toàn rối trí. “Nhưng trong lúc này, Hanneh Hayyeh, chị phải nhận số tiền này để vượt qua cơn hoạn nạn đã.” Bà nói với giọng kiên quyết khi chìa tờ tiền ra.
Hanneh Hayyeh đẩy phăng số tiền ra.
“Tôi bị tổn thương chưa đủ sao mà bà còn phải xát muối vào lòng tôi bằng sự bố thí nữa hả? Bà muốn mua chuộc im lặng để tôi nuốt trôi cái sự bất công đang thiêu đốt da thịt mình chắc? Tôi cần công lý cơ.”
Những lời nói của người phụ nữ ấy tựa như những viên đạn xuyên thủng sự an ổn tĩnh tại trong cuộc sống của bà Preston. Với một nỗi dằn vặt tội lỗi, bà nhận ra rằng trong khi những đĩa dâu tây kem tươi vẫn đang được dọn lên trên bàn ăn nhà bà vào tháng Giêng, thì Hanneh Hayyeh chắc chắn đã phải nhịn đói qua nhiều bữa trong suốt mấy tháng qua.
“Chúng ta không thể thay đổi trật tự sự việc chỉ sau một đêm,” bà Preston ngập ngừng, cảm thấy hoang mang và bất lực trước sự khước từ viện trợ của Hanneh Hayyeh.
“Thay đổi mọi thứ á? Phải có một sự thay đổi chứ!” Hanneh Hayyeh gào lên với một sự dữ dội mới bùng phát. “Thế giới này như hiện tại thì không thể sống nổi nữa rồi. Ước gì thằng Aby của tôi về thật nhanh. Nhưng cho đến khi nó về, tôi sẽ chiến đấu cho đến khi cả nước Mỹ này phải dừng lại mà lắng nghe tôi. Chẳng phải bà luôn bảo với tôi rằng một kẻ hèn mọn nhất dưới đáy xã hội cũng có điều gì đó để dâng hiến cho nước Mỹ hay sao? Và đó là những gì tôi có để dâng hiến cho nước Mỹ—hơi thở cuối cùng trong cơ thể tôi để đòi công lý. Tôi sẽ đánh thức nước Mỹ dậy khỏi giấc ngủ mê mờ của nó. Tôi sẽ tự mình đến gặp Tổng thống mang theo bức ảnh quân nhân của thằng Aby và hỏi ngài rằng có phải mọi cuộc chiến tranh này sinh ra là để thả rông một lũ hút máu khoét sạch tủy sống của người dân hay không?”
“Hanneh Hayyeh,” bà Preston xúc động nói, “những bộ luật này còn lâu mới công bằng, nhưng đó là tất cả những gì chúng ta có cho đến lúc này. Hãy cho chúng tôi thời gian. Chúng ta còn quá trẻ. Chúng ta vẫn đang học hỏi. Chúng tôi đang cố gắng hết sức mình rồi.”
Chết lặng vì đau khổ, người phụ nữ dưới khu ổ chuột nhìn thẳng vào đôi mắt bà Preston.
“Và cả bà nữa—cả bà cũng đứng về phía chủ nhà ư?—Oi—tôi hiểu rồi! Có lẽ bà cũng có bất động sản đứng tên qua mấy kẻ trung gian môi giới chứ gì.”
Một tiếng thở dài mang theo sự buông xuôi của tuyệt vọng cùng cực thoát ra từ lồng ngực bà.
“Chẳng còn gì có thể làm tổn thương tôi được nữa rồi—Thế mà trong những giấc mơ, bà luôn hiện lên trong tôi như một thiên thần của tình yêu và cái đẹp. Bà luôn ra điều làm bộ với tôi rằng bà chỉ đứng về phía dân chủ mà thôi.”
Nước mắt trào ra khóe mắt bà Preston. Nhưng bà không hề có cử động nào để bào chữa hay đáp lời, còn Hanneh Hayyeh lẳng lặng bước đi.
Vài ngày sau, cả khu phố xôn xao bàn tán trước tin Hanneh Hayyeh đã ra tòa để đối chất về trát lệnh trục xuất.
Từ những ô cửa sổ, bậc thềm, từ hành lang và cửa hàng thịt, hàng xóm láng giềng đang xúm lại bàn tán, khoa tay múa chân chờ đợi Hanneh Hayyeh trở về.
Tuyệt vọng và vô hồn, Hanneh Hayyeh lê bước lết thết về tiệm thịt. Tất cả đều dạt ra nhường chỗ cho bà ngồi xuống băng ghế. Bà ngã quỵ xuống như một đống giẻ rách, không thốt ra một tiếng động nào, cũng chẳng cựa quậy mảy may.
Người bán thịt lôi ra một chai rượu mạnh, vội vã rót đầy một ly nhỏ rồi đưa đến trước mặt Hanneh Hayyeh.
“Mau uống đi,” ông ra lệnh.
Kiệt sức vì đói khát và rã rời sau phiên tòa căng thẳng, Hanneh Hayyeh ngoan ngoãn vâng lời như một đứa trẻ.
Chẳng mấy chốc, một người hàng xóm mang vào một tách cà phê nóng; người khác mang bánh mì và cá trích trộn hành tây.
Căng thẳng, nín thở, với sự tò mò bị nén chặt đang chực trào trên môi, họ kiên nhẫn đợi cho đến khi Hanneh Hayyeh nuốt hết ngụm cà phê và ăn đủ để lấy lại chút ít sức lực.
“Nu? Kết quả phiên tòa thế nào hả cô?”
“Quan tòa nói sao chứ?”
“Họ có cho cô tuôn một tràng như đã hứa không?”
“Tên sát nhân đó có mặt ở đấy để cãi cọ gì không?”
Hanneh Hayyeh lắc lắc đầu rồi bắt đầu lẩm bẩm một mình bằng thứ giọng đều đều, vô hồn như thể đang tiếp tục dòng suy nghĩ nội tâm.
“Quan tòa cũng nói y như bà Preston nói: chủ nhà có quyền tăng tiền nhà hoặc tống cổ chúng tôi ra đường.”
“Oi weh! Nếu ngay cả Hanneh Hayyeh với ngọn lửa bùng cháy trong miệng mà không đòi được quyền lợi, thì chúng ta còn biết trông cậy vào đâu nữa?”
“Chúng ta phải đi tìm ai bây giờ? Ai sẽ đứng ra nói thay cho chúng ta nữa đây?”
“Sinh mạng chúng ta nằm gọn trong tay chúng nó rồi.”
“Chúng muốn bóp nghẹt chúng ta thế nào mà chẳng được!”
“Chẳng ai quan tâm. Chẳng ai nghe thấu tiếng kêu oan của chúng ta!”
Giữa thứ âm thanh hỗn độn đó, lóe lên trong giác quan đã tê dại của Hanneh Hayyeh hình bóng ảo ảnh mà với bà lại chính là chân lý duy nhất của cõi lòng đầy hoài bão—
“Oi-i-i-i! Căn bếp tuyệt đẹp của tôi!” bà thở dài như trong mộng mị.
Khuôn mặt người bán thịt đỏ bừng vì giận dữ. Đôi mắt ông sắc lẹm như lưỡi thép phóng ra. “Tôi sẽ chẳng thèm bố thí cho tên cướp ấy sự vừa lòng khi bỏ đi cái cơ ngơi sơn sửa lộng lẫy của cô đâu,” ông quay sang nói với Hanneh Hayyeh. “Tôi sẽ đập nát tất cả ra cho bõ tức. Cô chẳng còn gì để mất cả. Đồ sát nhân máu lạnh! Tôi sẽ dạy cho hắn một bài học! ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’”
Hanneh Hayyeh với mái tóc bù xù, quần áo xộc xệch, những móng tay cào cấu sâu vào da đầu, trân trân nhìn bằng ánh mắt đờ đẫn, bất lực của một kẻ mất trí. Với đôi mắt vô hồn, nàng đứng dậy và cứ thế mù quáng bước thẳng về nhà.
Vừa bước vào căn bếp, bà đụng độ ngay người chồng đang hớt hải chạy vào.
“Oi weh! Oi weh!” ông ta rên rỉ. “Tôi đã bảo trước rồi mà, đời cô thế nào cũng chuốc lấy kết cục thảm hại. Mọi người đang chỉ trỏ phỉ nhổ vào mặt tôi kìa! Tất cả cũng tại cô, một mụ điên rồ yideneh, một con ăn mày đói khát, lại cứ gieo vào đầu cái ý tưởng rồ dại là phải sở hữu một căn bếp sơn trắng y hệt như nhà bà Preston. Giờ thì cô nhớ đời cái việc không biết nghe lời chồng rồi nhé. Giờ thì chuẩn bị nằm lì ra đường để thiên hạ cười chê, phỉ nhổ đi.”
“Cút! Cút ngay khỏi tầm mắt tôi! Cút khỏi nhà tôi!” Hanneh Hayyeh thét lên. Trong cơn cuồng nộ, bà vớ lấy chiếc bàn ủi hất thẳng về phía cánh cửa vừa sập lại khi lão ta hộc tốc chạy trốn xuống lầu.
Đó là đêm cuối cùng trước ngày cưỡng chế trục xuất.
Hanneh Hayyeh ngẩn ngơ nhìn quanh căn bếp bằng đôi mắt nhòa lệ. “Sẽ có kẻ chẳng có gì ngoài tiền bước vào đây và tận hưởng niềm vui từ tất cả vẻ đẹp này—thứ đã đánh đổi bằng máu từ tận đáy tim tôi. Đây có phải nước Mỹ nữa không? Thằng Aby của tôi chiến đấu vì cái gì cơ chứ? Hóa ra tất cả chỉ là một giấc mơ thôi sao—hàng triệu con người từ muôn phương và mọi thời đại hằng mong ước, hy vọng và cầu nguyện rằng nước Mỹ là thế này ư? Chẳng lẽ tôi vừa tự đánh thức mình khỏi giấc mơ để thấy bản thân quay trở lại thời kỳ đen tối ở nước Nga dưới ách độc tài của sa hoàng?”
Khuôn mặt đầy khao khát và yêu cái đẹp của bà trở nên méo mó vì căm hận.
“Không—lão chủ nhà sẽ chẳng thể hòng hốt trọn thành quả đâu! Tôi sẽ dạy cho lão một bài học. ‘Mắt đền mắt’—”
Với một cơn cuồng nộ man dại, bà vớ lấy chiếc rìu chặt củi bắt đầu cạo rách lớp sơn, đập vỡ cả những mảng vữa trên tường. Bà cạy tung cả những tấm ván sàn nhà ra. Bà tháo tung các vòi ga, vặn ga hết cỡ để khói đen bốc lên bôi nhọ lớp trần nhà được sơn trắng. Suốt cả đêm dài, bà điên cuồng đập phá trong cơn cuồng loạn tột độ.
Kiệt quệ hoàn toàn, bà ngã sụp xuống chiếc ghế dài, nhưng đôi mắt không sao chợp lại nổi. Các dây thần kinh căng như dây đàn. Cơ thể đau nhức rã rời, và bà cảm nhận được cả linh hồn mình bên trong cũng đang quằn quại đau đớn—như một sinh mạng đã bị giết chết nhưng mãi chẳng chịu buông xuôi.
Ánh xám xịt đầu tiên của buổi bình minh lọt qua ô cửa thông gió của căn bếp. Căn phòng lờ mờ ánh sáng, và khi những tia nắng mai mạnh dần lên, vươn xa hơn, từng thứ một trong số những vật dụng bị bà tàn phá trong đêm bắt đầu bừng tỉnh, như thể chúng vừa lấy lại được ý thức. Bà nhìn chiếc tủ đựng chén đĩa, từng là báu vật nay đã bị cạo rách và biến dạng; chiếc hộp trồng hoa phong lữ bị nhổ bật gốc trên bệ cửa; những bức tường loang lổ. Thật không thể chịu đựng nổi sự hoang tàn, đổ nát đang trân trân nhìn thẳng vào bà.
“Chẳng lẽ chính tay mình đã làm ra nông nỗi này sao?” bà tự hỏi lòng mình. “Thứ quỷ quái nào đã sục sôi trong tôi thế này?”
Bà nhận được gì từ cơn khát thèm trả thù cuồng nộ ấy chứ? Bà tưởng rằng sẽ làm cho lão chủ nhà tức tối, nhưng hóa ra chính linh hồn bà mới là kẻ bị tàn sát. Những bức tường đang giương mắt nhìn bà trong cảnh điêu tàn kia đâu chỉ là những bức tường vô tri. Chúng có sự sống—chúng đang đập nhịp đập của chính da thịt bà. Mỗi tấc vữa nát vụn tương ứng với một vết sẹo hằn sâu trên trái tim bà. Bà đã tự tay tiêu hủy thứ phải mất bao năm tháng cầu nguyện và mong mỏi mới gầy dựng nên được. Nhưng vẻ đẹp bị tàn phá ấy cũng giống như linh hồn bà vậy, dẫu đã bị giết chết, vẫn cứ quằn quại nhức nhối với nỗi đau chưa bao giờ nguôi ngoai của sự sống. “Oi weh!” bà rên rỉ, lắc lư thân người qua lại. “Quá nhiều vẻ đẹp đã lụi tàn rồi—”
Trung sĩ Abraham Safransky, với ánh mắt kiên định cùng dáng điệu hiên ngang của những chàng trai vừa trở về từ chiến trường hải ngoại, đang khéo léo len lỏi qua dòng người đông đúc ướt át trên phố Delancey với sự thạo đời của một kẻ sinh ra tại những con phố này và bản lĩnh vững vàng của Quân đội Hoa Kỳ. Vừa bước xuống tàu, với tấm giấy phép nghỉ phép hai mươi bốn giờ nằm gọn trong túi áo, anh vội vã chạy đi thăm gia đình sau gần hai năm xa cách.
Trên vai áo trái của Trung sĩ Safransky là phù hiệu Nữ thần Tự do. Ba sọc phục vụ quân ngũ bằng vàng trên tay trái và hai sọc thương tích bên tay phải được tôn lên bởi Huân chương Phục vụ Xuất sắc đính trước ngực áo trái do Chính phủ Hoa Kỳ trao tặng.
Khi hình dung ra niềm vui vỡ oà của người mẹ khi anh tạo bất ngờ cho bà trong căn bếp tinh tươm sạch sẽ, người lính bước rảo chân chạy nước kiệu.
Bỗng nhiên anh khựng lại; trên vỉa hè trước cửa nhà họ là một đống đồ đạc gia đình trông vô cùng quen thuộc, và ngay bên lề đường là một người phụ nữ đang co ro, cúm núm, hoàn toàn gục ngã.—Lạy Chúa tôi—mẹ anh! Mẹ ruột của anh—và toàn bộ tài sản mọn mạt của họ bị vứt bỏ ngổn ngang dưới làn mưa lạnh giá.