Những Trái Tim Khao Khát

Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phép Màu

❊ ❊ ❊

Giống như mọi kẻ chẳng có gì trong tay, tôi sống bằng những giấc mơ. Chẳng có gì ngoài nỗi khát khao tình yêu, tôi đã phá vỡ mọi bức tường đá bằng sức mạnh của sự cháy bỏng cho đến khi đặt chân được đến nước Mỹ. Và những gì đến với tôi khi trở thành một người Mỹ còn vượt quá những gì tôi dám hình dung trước mắt, ngay cả trong giấc mơ.

Tôi từng là con gái của một người nhà Melamid nghèo khó ở Savel, Ba Lan. Ở làng tôi, một cô gái không có hồi môn chẳng khác nào một người đã chết. Loại đàn ông duy nhất thèm ngó ngàng tới một đứa con gái không tiền của là kẻ góa vợ mang theo cả bầy con, hay kẻ nào đó bị gù lưng hoặc chống nạng.

Lại có cả người gác nước trong làng với đôi mắt đỏ hoe, rớm lệ, và những nốt mụn cóc trên đôi môi nứt nẻ. Rồi gã lao công ở nhà tắm công cộng với chiếc mũi tẹt và những chiếc móng tay dài, đen đúa với đủ thứ bụi bẩn trên đời bám víu bên dưới. Biết đâu một trong những kẻ kỳ dị ấy cuối cùng lại rủ lòng thương mà ban ơn cưới tôi. Nghĩ đến họ thôi là toàn thân tôi đã run lên bần bật và lạnh toát cả xương tủy.

Cơn đói tình yêu cũng cồn cào chẳng khác nào cơn đói bánh mỳ. Cuộc đời chẳng có chút ý nghĩa nào với tôi. Trái tim tôi trống rỗng. Chẳng có gì tôi làm là thực tế nếu thiếu đi tình yêu. Tôi thường trải qua những đêm dài đẫm nước mắt trên gối, cầu nguyện với Chúa: “Con muốn tình yêu! Con muốn tình yêu! Con không thể sống—con không thể thở nổi nếu thiếu tình yêu!”

Và suốt cả ngày, tôi cứ tự hỏi bản thân: “Tại sao mình lại sinh ra? Ít gì cái việc lê lết hết ngày này qua tháng khác, hoài phí bản thân vào việc ăn, ngủ, mặc? Mọi thứ có ý nghĩa gì nếu không có tình yêu?” Và trái tim tôi khao khát đến mức tôi không thể ngừng cảm nhận và mơ mộng rằng thế nào đi nữa, ở một nơi nào đó, chắc chắn có một người tình đang chờ đợi mình. Nhưng bằng cách nào và ở đâu tôi có thể tìm thấy người tình của mình mới là nỗi niềm khao khát cháy bỏng trong tim tôi cả ngày lẫn đêm.

Rồi bức thư của Hanneh Hayyeh, con gái Zlata, đến đã thổi bùng trong tôi ngọn lửa lên đường sang Mỹ tìm kiếm người tình.

“Nước Mỹ là xứ sở của tình yêu,” bức thư của Hanneh Hayyeh viết. “Ở Mỹ, những kẻ triệu phú đem lòng yêu những cô gái nghèo khó nhất. Những bà mai mối đã lỗi thời, và một cô gái có thể tự lấy được chồng mà chẳng phải lo lắng chuyện hồi môn.”

“Lạy Chúa trên cao!” Trái tim tôi bắt đầu đập loạn nhịp. “Thật tuyệt vời biết bao khi được sống ở nơi mà người đàn ông bạn lấy không phụ thuộc vào việc bố bạn có thể đặt lên bàn bao nhiêu tiền! Giá mà tôi được đến Mỹ! Ở đó—ở đó có người tình đang chờ đợi tôi.”

Bức thư ấy tạo ra một ngày hội trên khắp làng Savel. Người hàng thịt, người bán tạp hóa, người thợ giày, tất cả đều gác lại công việc và đổ xô đến nhà chúng tôi để nghe bố tôi đọc tin tức từ Miền Đất Vàng.

“Hãy vểnh tai lên mà nghe niềm hạnh phúc lớn lao của tôi đây,” bức thư của Hanneh Hayyeh mở đầu. “Tôi, Hanneh Hayyeh, sẽ kết hôn với Solomon Cohen, ông chủ xưởng may áo sơ-mi, nơi tôi từng làm việc suốt cả ngày để khuyên nút áo. Giá mà các người được tận mắt chứng kiến cách người đàn ông ấy đang tan chảy cả cõi lòng vì tôi! Anh ấy hôn tôi sau mỗi bước chân tôi đi. Mong ước duy nhất trong tim anh ấy là biến tôi thành một quý bà. Thử nghĩ mà xem, anh ấy đang mua cho tôi một cây đàn piano! Tôi sẽ được học đàn piano cứ như thể tôi xuất thân từ gia đình triệu phú vậy.”

Hỏa mù và sấm chớp như bùng nổ giữa đám đông.

“Hanneh Hayyeh mà cũng thành quý bà ư!” Họ huých cùi chỏ và nháy mắt với nhau khi nhìn vào thân hình phì nhiêu nhẽo nhợt của Zlata, người mẹ của cô ta, rồi lại hình dung ngay trước mắt hình ảnh Hanneh Hayyeh với đôi môi dày, đỏ mọng cùng vóc dáng béo ú hệt như một thùng men nở căng phồng.

“Ở Mỹ có một đạo luật gọi là ‘phụ nữ là trên hết’,” bức thư viết tiếp. “Trên xe điện, đàn ông phải đứng dậy nhường chỗ cho phụ nữ. Đàn ông ẵm bồng trẻ con, xách hộ đồ đạc cho phụ nữ, và thậm chí còn giúp rửa bát. Ở Mỹ không có đủ phụ nữ để mà lấy. Và đàn ông thì chạy theo phụ nữ, chứ không giống như ở Ba Lan, phụ nữ phải chạy theo đàn ông.”

Trời đất quỷ thần ơi! Thật là một sự náo động bắt đầu bùng cháy khắp cả ngôi làng khi họ nghe về vận may của Hanneh Hayyeh!

Các đại lý bán vé của các hãng tàu thủy, thấy bức thư của Hanneh Hayyeh đang tác động như men rượu trong không khí hướng về nước Mỹ, đã treo những tấm biển lớn ở tất cả các chợ phiên: “Hãy đi đến Mỹ, Thế giới Mới. Năm mươi rúp một vé.”

“Năm mươi rúp! Chỉ năm mươi rúp thôi sao! Và ở đó người tình đang chờ bạn!” Trái tim tôi gào thét.

Ối chao ôi! Tôi khao khát được đến Mỹ biết bao sau chuyện đó!

Cả ngày lẫn đêm, tôi cứ dằn vặt và trăn trở tìm cách để đến được với người tình ở bên kia bán cầu.

“Nu, Zalmon?” Mẹ tôi nói, quay bố tôi hướng về điều tôi đang mong mỏi. “Những gì con bé Sara Reisel nói không phải là không có lý. Ở Savel, không có của hồi môn, nó chẳng có cơ hội nào lấy được chồng, và nếu chúng ta còn chần chừ đợi thêm nữa thì nó sẽ quá tuổi để lấy chồng ở bất cứ đâu.”

“Nhưng chúng ta lấy đâu ra năm mươi rúp bây giờ?” bố tôi hỏi. “Sao bà không tự vắt óc ra mà hái mặt trăng cho con gái mình đi?”

Tôi cũng chẳng thể nghĩ ra cách nào để kiếm tiền hơn họ. Nhưng tôi khao khát được đi đến chết đi được, tôi cảm giác như mình có thể với tay kéo tiền từ trên trời xuống vậy.

Có một đêm tôi không tài nào chợp mắt nổi. Tôi nằm trong bóng tối và sự tĩnh mịch, trái tim đang đập cuồng dã của tôi bùng cháy những giấc mơ về người tình. Tôi giơ đôi bàn tay khao khát ra và cầu nguyện với người tình xuyên qua màn đêm: “Ôi, tình yêu, tình yêu! Làm sao tôi có thể kiếm được năm mươi rúp để đến với anh đây?”

Sáng hôm sau, tôi thức dậy như một kẻ đang nghẹt thở vì thiếu không khí. Chúng tôi ngồi xuống ăn sáng, nhưng tôi chẳng nuốt nổi thứ gì. Tôi thấy đầu mình rũ xuống đôi bàn tay vì kiệt sức.

“Sao con không thử ăn chút gì đi?” mẹ tôi nài nỉ, bước lại gần tôi.

“Ăn ư?” tôi thét lên, vùng dậy như một kẻ phát cuồng. “Con ăn sao nổi? Con ngủ sao nổi? Con thở sao nổi trong cái bầu không khí chết chóc này? Con muốn đi Mỹ. Con phải đi, và con nhất định sẽ đi!”

Mẹ tôi bắt đầu vặn vẹo đôi tay. “Ối chao ôi! Tim gan tôi ơi! Lưỡi dao kề tận cổ rồi. Chủ nhà đang hò hét đòi tiền nhà chưa trả, thế mà con lại định đốn ra nước Mỹ ư?”

“Mày mất trí rồi à?” bố tôi quát lên.

“Mày đang mơ mộng những ngọn đồi vàng trên mây xanh đấy à? Lấy đâu ra năm mươi rúp để mua vé hả?”

Tôi liếc nhìn Yosef, cậu em trai của tôi. Trong đầu nó chẳng bao giờ có nổi một ý nghĩ khôn ngoan nào; nhưng nếu có điều gì điên rồ, viển vông mà nó đã dấn thân vào, thì nó có thể phá vỡ cả tường đá để đạt cho bằng được. Yosef đảo mắt nhìn quanh nhà. Mọi thứ đều cũ kỹ và nghèo nàn, chẳng có lấy một thứ gì để đem đi cầm cố lấy tiền—chẳng có gì ngoại trừ cuốn Saifer Torah của bố—những Cuộn Kinh Thánh—và đôi chân nến bằng bạc của mẹ, món quà cưới từ bà ngoại chúng tôi.

“Sao không bán cuốn Saifer Torah và đôi chân nến đi?” Yosef nói.

Chẳng ai ngoài em trai tôi dám thốt lên một điều táo tợn đến thế.

“Cái gì? Một người Do Thái mà lại đem bán Saifer Torah hay chân nến ngày Sabát ư?” Bố tôi trừng trừng nhìn chúng tôi bằng đôi mắt rực cháy như những cái giếng lửa. Hai bàn tay ông bấu chặt vào ngực. Ông không nói nên lời. Ông chỉ nhìn cuốn Saifer Torah, rồi lại nhìn chúng tôi bằng ánh mắt nóng bỏng như than hồng chiếu thẳng vào tấm thân trần trụi của chúng tôi. “Cái gì?” ông thảng thốt. “Ta phải bán đi cuộc đời mình, bán đi tâm hồn truyền từ đời này sang đời khác ư? Bán cuốn Saifer Torah của ta á? Thà trời sập xuống còn hơn!”

Một sự tĩnh lặng tựa như sấm sét chuẩn bị giáng xuống bao trùm lấy căn phòng. Ai nấy đều nghe thấy tiếng trái tim của những người xung quanh đang đập thình thịch.

“Tôi già rồi mà còn phải chứng kiến cái ngày đen tối này sao?” bố tôi rên rỉ, nghẹt thở vì những nhịp thở dồn dập. “Đứa con trai ruột thịt của tôi, đứa con trai Kadish của tôi—Kadish bảo tôi bán Cuốn Sách Thánh mà tổ tiên chúng ta đã đổ cả sông máu để truyền lại cho con cháu.”

“Sao bố cứ phải làm lớn chuyện lên thế nhỉ?” em trai tôi nói. “Chẳng phải trong kinh Talmud có viết rằng để giúp con gái mình gả chồng, người đàn ông có thể bán cả thứ linh thiêng nhất—thậm chí là cả Cuốn Sách Thánh cơ mà?”

“Ở Mỹ có phép màu chắc? Liệu ở độ tuổi của nó và không có của hồi môn thì nó có kiếm được chồng ởển đấy không?”

“Nếu Hanneh Hayyeh, người lớn tuổi hơn Sara Reisel và nhan sắc chẳng bằng một nửa,” em trai tôi nói, “còn có thể vớ được một ông chủ xưởng, thì Sara Reisel sao lại không thể chọn lấy cho mình một người? Và với vận may của nó, tất cả chúng ta sẽ được đưa sang Mỹ.”

Bố tôi không đáp. Tôi chờ đợi, nhưng ông vẫn im lặng.

Cuối cùng, tôi bật khóc nức nở với tất cả dòng nước mắt đã bị nghẹn ứ trong lòng bao nhiêu năm nay: “Cuốn Saifer Torah già cỗi treo trên tường ấy đối với bố còn quan trọng hơn cả hạnh phúc trăm năm của con sao? Sách Talmud bảo bố hãy bán đi thứ linh thiêng nhất để giúp con gái lấy chồng, nhưng bố—bố lại yêu bản thân mình hơn cả đứa con ruột thịt!”

Rồi tôi quay sang mẹ. Tôi đập mạnh tay xuống bàn và thét lên bằng một giọng khiến bà run rẩy và sợ hãi: “Có lẽ mẹ yêu đôi chân nến bằng bạc hơn cả hạnh phúc của con gái mình nhỉ? Con có thể kết hôn với ai ở cái xó này, con hỏi mẹ đấy, chỉ có thể là—gã lao công nhà tắm, hay kẻ gác nước thôi sao? Con nói cho mẹ biết, con sẽ tự tử nếu hai người không giúp con rời khỏi đây! Con không thể chịu đựng thêm cái sự chết chóc ở đây một phút nào nữa. Con phải đi khỏi đây. Và hai người phải hy sinh tất cả để giúp con đi. Tất cả những gì con cần là một cơ hội. Con có thể làm tốt hơn Hanneh Hayyeh gấp triệu lần. Con có đầu óc. Con có trí tuệ. Con cảm thấy mình có thể kết hôn với người đàn ông vĩ đại nhất nước Mỹ.”

Mẹ tôi nín khóc, cầm đôi chân nến trên bệ lò sưởi lên và vuốt ve chúng. “Nó giống như một khúc ruột cắt ra từ da thịt ta vậy,” bà nói. “Chúng ta đã lớn lên cùng thứ này, các con và ta, rồi mẹ ta và mẹ của mẹ ta. Thứ này và cuốn Saifer Torah là những vật duy nhất làm thắp sáng ngôi nhà trong ngày Sabát.”

Bà không nói tiếp được nữa, lời nói nghẹn đắng trong cổ họng. Tôi vẫn còn hình dung ra dáng vẻ của bà lúc ấy, hai tay nâng niu đôi chân nến, và đôi mắt bà hướng về phía chúng tôi. Nhưng khi ấy trong đầu tôi chẳng có gì ngoài ý nghĩ phải đi Mỹ.

Bà bước lại chỗ bố tôi, người đang ngồi ôm đầu, chết lặng vì đau khổ. “Zalmon!” bà nức nở. “Dù có phải bấu víu đến giọt máu dưới móng tay tôi cũng xin dâng hết, miễn là con tôi có được cơ hội để lấy chồng cho đàng hoàng. Tôi sẽ đem cầm đôi chân nến—”

Ngay cả đôi mắt của Yosef em tôi cũng ngấn lệ, thế là nó vội vàng nhảy chồm lên bắt đầu huýt sáo và di chuyển quanh phòng. “Đâu cần phải bán chúng,” nó kêu lên, cố làm cho không khí nhẹ nhàng trở lại. “Mọi người có thể đem cắm chúng chỗ Moisheh Itzek, tay cho vay nặng lãi ấy, và ngay khi Sara Reisel lấy được chồng, nó sẽ gửi tiền về để chuộc chúng ra, rồi thể nào chúng ta cũng sẽ sống để mang theo chúng sang Mỹ.”

Chưa bao giờ tôi thấy bố trông buồn rầu đến thế. Trông ông như một người đang cạn kiệt sinh lực. “Ta sẽ không chống lại hạnh phúc của các con nữa,” ông nói bằng một giọng đều đều. “Ta chỉ mong điều này sẽ mang lại vận may cho con và con sẽ nhanh chóng lấy chồng, để chúng ta có thể chuộc cuốn Saifer Torah về.”

Chưa đầy một tuần sau, cuốn Saifer Torah và đôi chân nến đã được đem cầm cố và tấm vé đã được mua. Cả ngôi làng râm ran tin tức tôi sắp sang Mỹ. Khi tôi đi ngoài đường, mọi người chỉ trỏ vào tôi cứ như thể tôi không còn là Sara Reisel ngày trước nữa.

Ai nấy đều hỏi tôi đủ thứ câu chuyện.

“Nói cho tao nghe cảm giác đi Mỹ thế nào đi? Mày còn chợp mắt nổi vào ban đêm như những người khác không?”

“Khi sang Mỹ lấy chồng rồi, mày còn nhớ tới chúng tao không?”

Lạy Chúa trên cao! Đêm thứ Sáu cuối cùng trước khi tôi đi Mỹ! Có lẽ đó là lần cuối cùng chúng tôi được quây quần bên nhau đọng lại trong mắt mọi người. Mọi chuyện diễn ra dường như thật khác biệt so với tất cả những lần khác. Tôi cảm giác như mình đang chuẩn bị dứt bỏ sự sống khỏi cơ thể.

Vắng bóng cuốn Saifer Torah, ngôi nhà trở nên tối tăm và trống trải. Ánh mặt trời, bầu trời, cả vầng thái dương rực rỡ đều tỏa ra từ Cuốn Sách Thánh treo trên tường ấy, và khi nó bị mang đi, nó để lại một khoảng trống nhói buốt trong tim, tựa như có một điều gì đó tốt đẹp vừa tuột khỏi cuộc đời chúng tôi.

Tôi vẫn còn thấy trước mắt hình ảnh bố đội chiếc mũ của giáo sĩ Rabbi, với đôi mắt nhìn đăm đăm vào cõi xa xăm; cách ông cất giọng hát bài kinh chúc tụng trên ly rượu khi chuyền tay nhau chiếc ly để mỗi người nhấp một ngụm. Những giọt nước mắt trào ra từ đôi mắt cô em gái út lăn dài trên má rồi rơi tõm vào ly rượu. Thấy vậy, mẹ tôi, người từ nãy đến giờ vẫn lau nước mắt, bỗng òa khóc nức nở. “Shah! Shah!” bố nghiêm giọng ra lệnh, đứng phắt dậy khỏi ghế và bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. “Đêm Sabát đấy, là lúc mọi người Do Thái phải vui vẻ. Đây là cách các người bày tỏ lòng tôn kính với Chúa trong ngày duy nhất mà Ngài dành riêng cho các người sao?”

Ngày hôm sau, vốn là ngày Sabát, bố như nâng niu chúng tôi trong lòng bàn tay, và ai nấy đều cư xử rất mực nề nếp. Một người lạ bước vào sẽ chẳng thể nhận ra điều gì bất thường đang diễn ra, ngoại trừ việc chúng tôi đi lại vô cùng lặng lẽ và mỗi người chìm đắm trong thế giới riêng, cứ như thể có ai đó sắp chết đang lơ lửng bầu không khí trên đầu chúng tôi.

Vào buổi sáng ngày lên đường, tất cả mọi người tề tựu quanh nhà tôi để tiễn tôi ra ga. Ai nấy đều muốn giúp một tay xách đồ đạc. Cuộc di chuyển ra nhà ga chẳng khác nào một đám tang. Chẳng ai kìm nén được cảm xúc của mình thêm nữa. Mọi người nhào vào cổ tôi ôm hôn, cứ như thể đây là ngày cuối cùng tôi sống trên đời vậy.

“Hãy nhớ rằng con xuất thân từ giống nòi Do Thái. Hãy nhớ cầu nguyện mỗi ngày,” bố nói, đặt hai tay lên đầu tôi như một lời chúc phúc trong Ngày Chuộc Tội.

“Chỉ mong sao chúng ta sớm được đoàn tụ,” đó là những lời cuối cùng của mẹ khi bà lấy tà khăn choàng lau nước mắt.

“Chỉ xin chị đừng quên là em muốn học hành, và hãy đón em sang ngay khi chị lấy được chồng nhé,” Yosef nói, mỉm cười tạm biệt trong khi mắt ngấn lệ.

Khi nhìn thấy đoàn tàu đang lao tới, tôi thà đánh đổi tất cả để được ở lại Savel với mọi người mãi mãi còn hơn! Tôi muốn thét lên: “Hãy lấy lại vé của tôi đi! Tôi không cần nước Mỹ nữa! Tôi không cần người tình nào nữa hết!”

Nhưng ngay khi vừa bước lên tàu, dẫu đôi mắt tôi vẫn ngước lại nhìn những gương mặt ở lại phía sau, và tai tôi vẫn văng vẳng những lời chào tạm biệt cùng những cuộc chia ly, thì những suy nghĩ về nước Mỹ lại bắt đầu len lỏi vào trái tim tôi. Tôi mường tượng ra cảnh chẳng bao lâu nữa mình sẽ có người tình và trở nên giàu có như Hanneh Hayyeh. Và với vận may của tôi, mọi người ở Savel rồi sẽ đều được hạnh phúc. Những người sắp chết sẽ ngừng chết và mọi nỗi buồn đau, phiền muộn trên đời sẽ được xóa sạch bởi niềm hạnh phúc của tôi.

Tôi chẳng còn thiết gì ngày hay đêm. Tôi chẳng thấy đại dương. Tôi chẳng thấy bầu trời. Tôi chỉ nhìn thấy người tình ở nước Mỹ đang tiến lại gần, gần mãi đến mức tôi có thể cảm nhận rõ ánh mắt anh đang cúi xuống gần sát mình khiến tôi hoảng sợ và bắt đầu run lên. Trái tim tôi nhói buốt vì niềm hạnh phúc ngập tràn khi được ở gần anh, đến nỗi tôi vội lùi lại, quay mặt đi và bắt đầu bắt chuyện với những con người đang chen lấn xô đẩy nhau trên boong tàu.

Nu, cuối cùng tôi cũng đến được nước Mỹ.

Mười tiếng đồng hồ bên máy khâu tại một xưởng may áo sơ-mi, đó là khi tôi còn may mắn kiếm được việc làm. Và đầu óc tôi lúc nào cũng khô kiệt vì phải chắt chiu, bóp mồm bóp miệng và lo lắng gửi chút tiền về nhà từ khoản tiền công ít ỏi kiếm được. Tất cả những gì đập vào mắt tôi suốt cả ngày chỉ là những cô gái và máy móc—chẳng có gì khác nữa. Và ngay cả khi đã đi làm về phòng trọ, tôi cũng chỉ có thể trò chuyện với những cô gái ở nhà trọ tập thể dành cho nữ công nhân, hoặc tự giam mình trong căn phòng tối tăm, cô độc. Không gia đình, không bạn bè, chẳng có ai để giới thiệu tôi với bất kỳ ai! Những người đàn ông duy nhất tôi nhìn thấy là những kẻ lướt qua tôi trên đường phố và trên xe điện.

“Đây có phải là ‘xứ sở tình yêu’ không?” tiếng lòng tôi gào thét. “Những giấc mơ từng chân thực biết bao với tôi ở quê nhà đâu rồi?”

Thường thì giữa lúc đang làm việc, tôi chỉ muốn dừng tất cả các máy móc lại và gào lên với thế giới này nỗi nặng nhọc đang đè nặng lên tim mình. Đôi lúc khi đi trên đường phố, tôi có cảm giác muốn chạy tới chỗ người đàn ông đầu tiên mình gặp và thét lên với anh ta: “Ôi, tôi cô đơn quá! Tôi cô đơn quá!”

Một ngày nọ, tôi đọc được mẩu quảng cáo của Zaretzky, ông mai mối, trên tờ báo Do Thái “Tageblatt”. “Thử vận may thì có hại gì cơ chứ?” tôi tự nhủ. “Mình không thể cứ thế mà chết già như một bà cô ế ẩm được. Tình yêu bùng cháy trong tim quá lớn để có thể đứng ngoài lề như một khối đá và chỉ biết nhìn người khác hạnh phúc. Mình muốn rứt ra khỏi sự chết chóc này. Mình đang ở trong một ngôi mộ sống. Mình phải tự vực dậy bản thân. Chẳng có ai lo hộ, biết đâu ông mai mối sẽ giúp được.”

Khi tôi bước lên phố Delancey để tìm ông Zaretzky, cả con đường như quay cuồng theo từng bước chân. Tôi chẳng nhìn thấy đám đông nào cả. Tôi chẳng thấy những người bán hàng rong đẩy xe đẩy với những món hàng hời. Tôi chẳng nghe thấy tiếng ồn ào hay bất cứ thứ gì khác. Đôi mắt tôi hướng lên bầu trời, thầm cầu khấn: “Gottuniu! Xin hãy ban cho con dẫu chỉ một chút ít vận may thôi!”

“Nu? Nu? Cô cần gì?” ông Zaretzky hỏi khi tôi bước vào.

Mặt tôi đỏ bừng lên vì xấu hổ trước cái cách ông ta nhìn tôi. Tôi ngẩng cao đầu. Tôi quá tự trọng để nói cho ông ta biết mình đến vì mục đích gì. Trước khi bước vào, tôi đã định kể cho ông ta nghe mọi chuyện. Nhưng khi nhìn vào mặt ông ta và bắt gặp ánh mắt lạnh lùng sắc lạnh ấy, tôi không thể thốt nổi một lời. Tôi đứng ngây người ra như một kẻ đần độn chẳng thể cử động nổi lưỡi. Tôi mang trái tim mình đến gặp ông mai mối, nhưng thứ tôi thấy trước mặt lại là một hòn đá. Hòn đá đang nói chuyện với tôi—nhưng—nhưng—ông ta đích thị là một hòn đá!

“Cô đang tìm một shidduch (mối mai mối) à?” ông ta hỏi.

“Vâng,” tôi đáp, kiêu hãnh nhưng lòng đầy tan nát.

“Cô biết tôi thu năm đô-la phí bước chân vào cửa đấy nhé,” ông ta ngã giá.

Lòng tôi lạnh ngắt. Vấn đề không chỉ là phải đưa cho ông ta năm đô-la, số tiền gần bằng cả tuần lương, mà còn là sự trơ trẽn của một kẻ chỉ nhăm nhăm vì tiền. Nhưng tôi đành bất lực—tôi như bị thôi miên nằm trong tay ông ta vậy. Và tôi đã đưa cho ông ta năm đô-la.

Tôi lủi thủi đi về phía cửa, nhưng ông ta gọi giật tôi lại.

“Đợi đã, đợi đã. Lại đây ngồi xuống. Tôi đã gạn hỏi gì cô đâu.”

“Về chuyện gì cơ ạ?”

“Tôi phải biết cô dành dụm được bao nhiêu tiền trước khi có thể giới thiệu cô với bất cứ ai chứ.”

“Ô—h—h! Mọi chuyện chỉ phụ thuộc vào tiền thôi sao?”

“Tất nhiên rồi. Trên đời này chẳng có chuyện gì chuyển động mà không có tiền cả,” ông ta nói, bốc một nhúm thuốc hít bằng những ngón tay đen sì, đầy lông rồi hít thẳng vào mũi.

Tôi liếc nhìn cái cổ ngắn ngủn và gương mặt đỏ lựng, nhầy nhụa mỡ của ông ta. “Thế mà người ta lại tìm đến hắn ta để kiếm tìm tình yêu,” tôi tự nhủ, rùng mình khiếp đảm. Ồ, trong lòng tôi đang cuồn cuộn ngọn lửa giận dữ, nhưng tôi vẫn hỏi tiếp: “Chẳng lẽ ở Mỹ tôi không thể lấy được một người đàn ông mà không có tiền hay sao?”

Ông ta sắc sảo liếc nhìn tôi một cái. Gottuniu! Thật là một ánh nhìn! Tôi tưởng chừng mình đang sụt lún xuống sàn nhà.

“Đầy rẫy những cô gái trẻ có tiền đang nài nỉ đàn ông rước lấy họ kìa. Thế thì cô còn mong đợi gì nữa? Đã không còn trẻ, chẳng lấy gì làm hoạt bát, lại còn chẳng có xu dính túi nữa chứ? Nhưng dù sao đi nữa, để tôi xem mình có thể làm gì cho cô.”

Ông ta lấy ra một cuốn sổ nhỏ từ túi áo ghi-lê và lật tìm tên.

“Cô làm nghề gì bằng đôi tay của mình thế?” ông ta hỏi, quay sang tôi. “Biết đâu là thợ may hay thợ làm tóc có thể phụ giúp kiếm kế sinh nhai cho chồng—”

Tôi không thể nghe thêm được nữa. Trước mắt tôi tối sầm lại, tiếng nói nghẹn lại trong lồng ngực.

“Nếu cô muốn nghe lời khuyên lẽ phải từ một người bạn, thì tôi đang có một đám rất tốt cho cô đây,” ông ta nói, lẽo đẽo theo sau tôi ra cửa. “Trong danh sách của tôi có một kẻ góa vợ có không quá năm hay sáu đứa con. Hắn ta có một cơ ngơi hoành tráng, một quầy bán cá trích trên phố Hester. Hắn không đòi hỏi tiền bạc gì cả, và cũng chẳng phản đối nếu người phụ nữ đã có tuổi, miễn là biết nấu ăn ngon cho hắn.”

Làm sao tôi lết được về phòng mình thì tôi chẳng nhớ nổi nữa. Nhưng suốt hai ngày hai đêm, tôi cứ nằm bất động trên giường, chẳng màng đậy dịch. Tôi đảo mắt nhìn quanh những bức tường trống hoác, ngẩn ngơ tự hỏi, tự ngẫm nghĩ: “Mình đang ở đâu thế này? Đây là thế giới ư? Đây là nước Mỹ sao?”

Bỗng nhiên tôi vùng dậy khỏi giường. “Tự thương thân trách phận thì giải quyết được gì chứ?” tôi thét lên. “Nếu thế giới đạp đổ bạn xuống và coi bạn chẳng ra gì, thì bạn phải tự bật dậy và khẳng định giá trị bản thân.” Một ngọn lửa bùng lên trong tôi, thôi thúc tôi phải vượt lên trên thế giới này bởi vì tôi đã bị chính thế giới vùi dập.

“Hãy tự biến mình thành một con người,” tôi tự nhủ. “Bắt đầu học tiếng Anh đi. Hãy biến mình thành một người Mỹ nếu muốn sống ở Mỹ. Con gái Mỹ không đi tìm bà mai mối. Con gái Mỹ không chạy theo đàn ông: nếu không lấy được chồng, họ không nghĩ là tận thế; họ chuyển tâm trí sang những việc khác.”

“Tỉnh lại đi!” tôi tự nhủ. “Bạn muốn tình yêu đến với mình ư? Sao bạn không ban phát tình yêu cho những người khác đi? Hãy yêu thương phụ nữ và trẻ em, mọi người ngoài đường phố và trong xưởng thợ. Hãy yêu thương kẻ nhặt rác và gã nát rượu, kẻ xấu xa và người dung mạo kém cỏi. Tất cả những kẻ bị thế giới vùi dập, bạn hãy nâng niu và ôm chặt lấy họ vào lòng bằng tình yêu thương.”

Vừa thốt lên những điều đó, tôi cảm thấy những mạch nước ngầm tình yêu bị nghẹn ứ suốt cả cuộc đời nay đang tuôn trào khỏi cơ thể và bao trùm lấy tôi. Một thứ ánh sáng kỳ lạ, tuyệt diệu tựa nụ cười của người tình tan chảy khắp người tôi, và sự ấm áp từ vòng tay người tình len lỏi ôm lấy tôi.

Đêm đầu tiên đến lớp học, tôi có cảm giác muốn nhào vào cổ tất cả mọi người và ôm hôn họ. Tôi chỉ muốn hôn lên những cuốn sách và những chiếc ghế dài. Thật là một niềm hạnh phúc lớn lao biết bao khi được học đọc và học viết những từ tiếng Anh.

Vì tôi bắt đầu học muộn hơn vài tuần so với ngày khai giảng, giáo viên bảo tôi cứ ở lại sau buổi học để ông giúp tôi bắt kịp những bài học đã bỏ lỡ. Ngay khoảnh khắc nhìn vào khuôn mặt ông, tôi lại dâng trào cảm xúc tuyệt vời ấy: “Đây mới chính là một con người! Đây mới là nước Mỹ!” Guơng mặt ông bừng sáng lên với những tư tưởng cao cả. Trong đôi mắt ấy tỏa ra một thứ ánh sáng đẹp đẽ đến mức sưởi ấm trái tim tôi, khiến tôi cứ muốn len lén ngước nhìn ông.

Ban đầu, khi đến lượt mình phát biểu trong lớp, tôi hồi hộp đến mức các từ ngữ cứ dính chặt và xoắn lại trong vòm họng khiến tôi chẳng thể thốt lên nổi ý mình. Nhưng thầy giáo không hề để ý đến sự bấp bênh của tôi. Ông chỉ nhận ra rằng tôi có điều muốn nói, và ông đã giúp tôi diễn đạt nó. Bằng cách nào hay ông đã làm gì thì tôi không rõ. Tôi chỉ cảm nhận được cái nhìn thấu hiểu từ ông đang lan tỏa vào trong tôi hệt như từng ngụm không khí trong lành cho kẻ đang hấp hối vì ngạt thở.

Mãi lâu sau, khi tôi đã cảm thấy tự do và thoải mái hơn trong việc trò chuyện riêng với ông sau giờ học, tôi ngắm nghía tất cả những cuốn sách trên bàn làm việc của ông. “Oi weh!” tôi thưa với ông, “giá mà con chỉ biết được một nửa những gì có trong sách của thầy, con chắc sẽ chẳng thể ngồi yên một chỗ trên ghế giống như thầy đâu. Con sẽ bay bổng lên tận mây xanh vì niềm vui sướng khi có được chừng ấy kiến thức.”

“Tại sao em lại khao khát học hỏi đến vậy?” ông hỏi tôi.

“Bởi vì con muốn tự làm cho mình thành một con người,” tôi đáp. “Từ khi con phải đi làm với mức lương chết đói và chẳng còn trẻ trung gì nữa, con cứ bứt rứt khôn nguôi được bước chân vào những nơi mà việc một cô gái đã lớn tuổi và không có tiền không bị coi là cái tội.”

Bàn tay ông vươn về phía tôi. “Tôi sẽ giúp em,” ông nói. “Nhưng trước tiên em phải học cách làm chủ được bản thân mình.”

Lòng tốt thật đẹp đẽ biết bao tỏa ra từ trái tim ông qua những lời nói ấy! Giọng nói của ông, cùng với sự nhân hậu ánh lên từ đôi mắt, khiến tôi chỉ muốn òa khóc, nhưng tôi ráng nén nước mắt lại cho đến tận lúc về nhà. Và suốt cả đêm hôm ấy, tôi khóc ướt đẫm gối: “Đồ ngốc! Mày bị làm sao thế? Mày khóc cái gì chứ?” Nhưng rồi tôi tự nhủ, “Tôi không kìm được. Thầy ấy thật tuyệt vời làm sao!”

Thầy giáo vượt trội hơn tôi quá nhiều nên trong mắt tôi ông chẳng còn là một con người nữa. Ông là một vị Thần. Khuôn mặt ông thắp sáng cả xưởng làm việc u ám của tôi, và giọng nói của ông ngân vang trong tâm trí tôi đi đến bất cứ đâu. Lắng nghe giọng nói của ông chẳng khác nào thứ thuốc tiên chữa lành cơn sốt đang hừng hực cháy trong lòng tôi. Và rồi tôi sẽ lặp đi lặp lại những lời nói của ông trong đầu, sống cùng chúng như thể đó là một thứ tôn giáo vậy.

Thường thì khi ngồi bên máy khâu những chiếc áo sơ-mi, tôi lại quên bẵng đi việc mình đang làm. Tôi thấy mình chìm đắm trong những giấc mơ viển vông. “Ach!” tôi tự hỏi, “điều gì đẹp đẽ đến thế trong đôi mắt ông ấy đã khiến một kẻ vô danh tiểu tốt thấp kém nhất cũng cảm thấy mình là một con người? Có điều gì ở ông ấy mà khi nụ cười ấy hướng về tôi, tôi lại có cảm giác được nâng bổng lên tận mây xanh, rời xa mọi sự lạnh lùng và xấu xa của thế giới này? Gottunui!” tôi thầm cầu khấn, “giá như con có thể mãi mãi níu giữ lấy ánh sáng của những tư tưởng cao cả tỏa ra từ ông ấy. Giá như con có thể mãi mãi lắng nghe âm thanh giọng nói của ông trong tim mình, con sẽ chẳng cần gì hơn trong cuộc đời này nữa. Con sẽ hạnh phúc hơn cả một chú chim bay lượn giữa trời cao.

“Thưa thầy,” có lần tôi nói với ông, “giá mà thầy có thể dạy con cách làm sao để có một trái tim lạnh lùng và một cái đầu tỉnh táo giống như thầy!”

Ông chỉ mỉm cười với tôi và nhìn đăm đăm ra khoảng không xa tít tắp. Sự bình thản của ông tựa như sự bảo đảm chắc chắn của tiền trong ngân hàng. Rồi ông quay lại nhìn tôi, nói rằng: “Tôi không hề có một trái tim lạnh lùng và một cái đầu tỉnh táo như tôi vẫn cố tỏ ra đâu. Tôi bị trói buộc. Tôi là tù nhân của những khuôn khổ lễ giáo.”

“Thầy cố tỏ ra—thầy bị trói buộc ư?” tôi bật thốt lên. “Thầy, người không phải chịu cảnh quản đốc hay chủ xưởng—thầy, người không phải bán thân mình để đổi lấy tiền lương—thầy, người chỉ làm việc vì tình yêu và chân lý—thầy mà cũng là tù nhân sao?”

“Đúng là tôi không có những tên chủ xưởng giống như em,” ông đáp. “Nhưng tôi vẫn không được tự do. Tôi bị trói buộc bởi nền giáo dục chính thống và những truyền thống câu nệ hình thức. Dù em làm việc trong một xưởng thợ, thực ra em lại tự do hơn tôi. Em không bị kìm nén bởi nỗi sợ hãi và sự xấu hổ khi bộc lộ cảm xúc giống như tôi. Em có thể dạy tôi nhiều điều hơn tôi có thể dạy em. Em có thể dạy tôi cách sống thật tự nhiên.”

“Con không tự nhiên như thầy nghĩ đâu,” tôi nói. “Con sợ lắm.”

Ông mỉm cười nhìn tôi qua đôi mắt. “Em sợ điều gì chứ?”

“Con sợ trái tim mình,” tôi đáp, cố nén dòng máu đang dồn dập dâng lên khuôn mặt. “Con cứ khao khát đến bứt rứt để trở nên điềm tĩnh và thực tế như những người Mỹ chính cống. Nhưng con biết làm sao đây? Trái tim con cứ bay bổng đi mất như một chú chim hoang dã. Làm sao con có thể học được cách giữ chân mình trên mặt đất như những người Mỹ chính cống đây?”

“Nhưng tôi không muốn em phải cắm rễ trên mặt đất giống như người Mỹ chúng tôi. Đó chính là nét đẹp và sự kỳ diệu ở con người em. Người Mỹ chúng tôi đã bám quá sâu vào mặt đất rồi; chúng tôi rất cần năng lực bay bổng của em. Giá mà em biết được mình có thể dạy cho người Mỹ chúng tôi nhiều điều đến nhường nào. Em chính là niềm hy vọng của những thế kỷ mai sau. Em là trái tim, là nhịp đập sáng tạo của nước Mỹ tương lai.”

Tôi bước đi trên đường về nhà mà như mọc cánh. Thầy giáo nói rằng tôi có thể giúp đỡ ông; rằng tôi có những giá trị để trao tặng cho người Mỹ. “Nhưng làm sao mình có thể dạy được ông ấy cơ chứ?” tôi tự hỏi; “tôi, người chưa từng có cơ hội học hỏi bất cứ điều gì ngoại trừ những gì ông ấy truyền dạy. Và tôi thì có gì để trao cho người Mỹ cơ chứ, một kẻ chẳng là gì ngoài những giấc mơ, những khát khao và cơn đói tình yêu?”

Khi trường học đóng cửa để nghỉ hè, tôi cảm giác như toàn bộ sự sống trên thế giới này đều ngừng lại. Tôi không còn lớp học để ngóng trông, không còn cơ hội để gặp gỡ thầy giáo nữa. Đối mặt với khoảng trống trải của kỳ nghỉ dài đằng đẵng, mọi ánh sáng trong mắt tôi vụt tắt, và toàn bộ sức lực ở đôi tay, ngón tay cũng tiêu tan biến mất.

Suốt gần một tuần lễ, tôi sống như kẻ thiếu không khí để thở. Chẳng còn trường lớp gì nữa. Một đêm nọ, từ xưởng làm việc trở về nhà, tôi quăng mình lên giường. Tôi muốn khóc, muốn trút bỏ khối nặng ngàn cân đang đè nén lồng ngực, nhưng tôi chẳng thể khóc nổi. Những giọt nước mắt nghẹn ứ tựa như cát nóng đang thiêu đốt đôi mắt tôi.

“Oi-i-i! Con không thể chịu đựng thêm cái sự trống rỗng này nữa,” tôi rên rỉ. “Sao mình không tự tử quách đi cho rồi? Sao chẳng có chuyện gì giáng xuống đầu mình thế này? Chẳng có lao phổi, chẳng có sốt rét, bệnh dịch hay cái chết nào chịu đến để giải cứu mình khỏi cái thế giới khủng khiếp này. Mình cứ phải chịu đựng và nghẹt thở bên trong chính mình cho đến khi phát điên lên mất thôi.”

Tôi vùng dậy khỏi giường, đẩy toang cửa sổ, và bắt đầu đánh vật với bầu không khí câm lặng nơi khe thoáng giữa các tòa nhà.

“Mày bị điên rồi à?” tôi tự gào lên với mình. “Mày đang mất trí đấy. Mày đang lùi bước trở lại những thói quen cũ kỹ mà mày đã phải chật vật trèo lên bằng việc học hành. Học hành ư? Mình nhận được gì từ bao năm đèn sách chứ? Chẳng được cái tích sự gì. Chẳng có gì cả. Mình vẫn giậm chân tại chỗ trong cái xưởng may với mấy chiếc áo sơ-mi ấy. Thầy giáo có thèm đếm xỉa gì đến mình một khi lớp học đã kết thúc đâu cơ chứ.”

Một ngọn lửa bùng lên trong tôi, dằn vặt rằng ông ấy đã quên béng mất tôi rồi. Và tôi hầm hầm viết ngay một bức thư gửi cho ông:

“Thầy tự gọi mình là thầy giáo ư? Là bạn ư? Sao thầy có thể cao chạy xa bay về vùng quê rồi gạt phăng tôi ra khỏi trái tim và tâm trí mình hệt như một cuốn sách đã đọc xong bị vứt xó trên kệ của một lớp học đã đóng cửa? Sao thầy có thể thản nhiên tận hưởng kỳ nghỉ hè ở miền quê trong khi tôi đang oằn mình trong xưởng thợ bóc lột? Thầy chẳng dạy tôi được điều gì cả. Thầy chỉ làm tan nát trái tim tôi mà thôi. Toàn bộ những cuốn sách thầy từng cho tôi có tác dụng quái gì cơ chứ? Chúng chẳng hề bảo cho tôi biết làm thế nào để được hạnh phúc trong một nhà máy. Chúng chẳng chỉ cho tôi cách làm sao để sinh tồn giữa chốn trống rỗng này, hay làm thế nào để tìm thấy một điều gì đó tốt đẹp giữa đống bùn nhơ và sự xấu hổ mà tôi phải tiêu mòn cuộc đời ở đó. Tôi cần cuộc sống. Tôi cần con người. Tôi không thể sống khép mình trong tâm trí như thầy được.”

Tôi gửi đi bức thư trong cơn điên cuồng lúc viết mà chẳng màng suy nghĩ; nhưng chỉ một giây sau khi thả nó vào thùng thư, lý trí mới sực tỉnh trong đầu. Tôi quay về, vò đầu bứt tai kêu lên. “Mình đã làm cái quái gì thế này? Đồ điên rồ (Meshugeneh)!”

Bước lên cầu thang, tôi thấy cửa phòng mình đang mở toang. Tôi bước vào. Trời đất ơi sập xuống rồi sao! Mình đang mơ đấy à? Thầy giáo của tôi đang ngồi trên chiếc rương đựng đồ của tôi kìa! Thầy giáo đến thăm tôi ư? Tôi, trong căn phòng tồi tàn này ư? Trong một phút, trước mắt tôi tối sầm lại và tôi chẳng còn biết mình đang ở đâu nữa.

“Tôi buộc phải đến,” ông nói, ánh sáng từ thiên đường tỏa rọi vào tôi qua đôi mắt ông. “Tôi cảm thấy cô đơn trống vắng biết bao khi thiếu vắng em. Tôi đã định nói với em điều gì đó trước khi lên đường nghỉ hè, nhưng những lời ấy cứ nghẹn lại không sao thốt ra được. Kể từ khi đi vắng, tôi đã viết cho em rất nhiều thư, nhưng tôi không dám gửi, bởi vì chúng giống hệt con người cũ ích kỷ mà tôi đang muốn rứt bỏ.”

Ông đặt bàn tay mát lạnh, vững chãi của mình vào tay tôi. “Em có thể cứu lấy tôi,” ông nói. “Em có thể giải thoát tôi khỏi xiềng xích của những kìm nén trường tồn theo năm tháng. Em có thể vực tôi dậy khỏi những lối mòn chết chóc của một trí tuệ khô cằn. Thiếu vắng em, tôi chỉ là đống tro tàn khô khốc của những hoài bão không thành hiện thực. Em chính là ngọn lửa, là ánh nắng và là niềm khao khát. Em khiến cho cuộc sống trở nên biến ảo, tốt đẹp và tràn ngập những điều kỳ diệu mỗi ngày.”

Tôi không sao thốt nên lời. Lòng tôi rực cháy trước những lời lẽ của ông. Rồi, tựa như những cơn cuồng phong trong đại não, những lời nói bỏng rát của gã mai mối bỗng ào ạt dội về: “Đã không còn trẻ, chẳng lấy gì làm hoạt bát, lại còn chẳng có xu dính túi nữa chứ!”

“Em trẻ trung hơn cả tuổi trẻ,” ông nói, hôn lên đôi bàn tay tôi. “Mỗi ngày trong quãng tuổi trẻ chưa từng được sống của em sẽ được trải nghiệm lại trong tình yêu, nhưng đó là một tình yêu mà tuổi trẻ bình thường chẳng bao giờ có thể thấu hiểu nổi.”

Và rồi chuyện đó diễn ra thế nào tôi cũng chẳng nhớ rõ nữa; chỉ biết rằng vòng tay ông đang siết chặt lấy tôi. “Sara Reisel, hãy nói cho anh biết, em có yêu anh không,” ông nói, hôn lên mái tóc, lên đôi mắt và đôi môi tôi.

Tôi chỉ biết khóc nức nở và run lên vì hạnh phúc trước những cái chạm của ông. “Phép màu!” trái tim tôi thét lên; “phép màu của nước Mỹ cuối cùng đã trở thành hiện thực!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.