(4-6-1982)[1]
Quần đảo Malvinas (theo cách gọi của người Argentina, còn phía Anh gọi là Falkland), cách Argentina 32km về phía Đông nhưng cách nước Anh tối 12.874km về phía Nam; nằm trên vĩ tuyến khoảng 52°0; bao gồm khoảng 200 đảo nhỏ với tổng diện tích là 12.200km2, trong đó lớn nhất là đảo Malvinas Đông (Falkland Đông)[2] và Malvinas Tây (Falkland Tây)[3]. Dân số Malvinas tại thời điểm diễn ra cuộc tranh chấp khoảng 1.800 người. Trung tâm hành chính quần đảo là thành phố cảng Port Stanley nằm ở phía Đông đảo Malvinas Đông.
Địa hình Malvinas chủ yếu là đồi núi (đỉnh cao nhất là 706m), đồng cỏ và đầm lầy. Bờ biển bị chia cắt nhiều bởi sông, ngòi. Khí hậu mang tính chất đại dương ôn hòa; lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 600mm. Kinh tế Malvinas chủ yếu dựa vào chăn nuôi cừu, xuất khẩu len, dạ và khai thác hải sản. Thềm lục địa dự báo có trữ lượng dầu mỏ lớn.
Quần đảo Malvinas được người Tây Ban Nha phát hiện lần đầu tiên vào năm 1591, còn người Anh phải tới năm 1764 mới chính thức chiếm giữ. Đến năm 1820, người Argentina lấy lại quần đảo từ tay người Anh. Năm 1833, một lần nữa, người Anh đổ bộ lên quần đảo, trục xuất người Argentina, thiết lập chế độ thuộc địa dưới quyền cai trị của Toàn quyền Anh với cơ quan chính quyền chủ yếu là Hội đồng lập pháp và Hội đồng hành pháp. Từ đó, người Argentina bắt đầu cuộc đấu tranh kéo dài hơn 150 năm đòi chủ quyền đối với quần đảo này.
Năm 1965, Đại hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ra Nghị quyết chuyên đề về phi thực dân hóa quần đảo Malvinas. Đó là cơ sở để Argentina buộc Anh phải ngồi vào bàn đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo này. Trong các năm 1970-1972, hai nưóc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán và ký Hiệp định về việc bãi bỏ những hạn chế trong lĩnh vực hàng hải giữa Argentina với quần đảo. Tuy nhiên, từ tháng 8 năm 1973, khi biết Malvinas có trữ lượng dầu mỏ lớn (có thể gấp 10-15 lần so với Biển Bắc), Anh đơn phương chấm dứt các thỏa thuận đã đạt được, đồng thời thành lập ủy ban đặc biệt; sử dụng các tàu hải quân ra nghiên cứu quần đảo, bất chấp sự phản đối cua Argentina. Quan hệ giữa hai nước vì thế trở nên hết sức căng thẳng.
Tháng 2 năm 1982, Anh và Argentina nối lại đàm phán nhằm giải quyết tranh chấp nhưng không đạt được kết quả, thêm vào đó, do áp lực chính trị và những bất ổn trong nước, Chính phủ Argentina quyết định sử dụng sức mạnh quân sự đánh chiếm lại quần đảo này. Về phía Anh, được sự cổ súy của Đảng Bảo thủ và được sự ủng hộ của các nước đồng minh trong khối NATO, Chính phủ nưốc này cũng quyết định giải quyết tranh chấp bằng vũ lực.
Ngày 13 tháng 3 năm 1982, Chính phủ Argentina ra tối hậu thư đòi Anh trả lại chủ quyền đối với quần đảo này, nhưng không được Anh chấp thuận. Trước tình hình trên, ngày 19 tháng 3, Argentina lên kế hoạch đánh chiếm đảo Georgia Nam ở phía Đông Malvinas trên 1.000 hải lý (khoảng 1.852km). Ngày 2 tháng 4, Hải quân Argentina chiếm toàn bộ đảo Georgia Nam, sau đó tiến hành đổ bộ đường biển và làm chủ hoàn toàn quần đảo Malvinas.
Về phía Anh, từ ngày 27 tháng 3, lực lượng hải quân bắt đầu được triển khai xuống biển Nam Đại Tây Dương để gây áp lực với Argentina và sẵn sàng hỗ trợ cho quần đảo Malvinas. Mặt khác, Chính phủ Anh đã tiến hành cuộc vận động ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của Mỹ, các nước đồng minh châu Âu và Liên Hợp Quốc về chủ trương dùng sức mạnh quân sự giành lại quần đảo.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Sau khi thực hiện đánh chiếm thành công quần đảo, Argentina tổ chức động viên quân dự bị để củng cố sức mạnh cho lực lượng đồn trú trên đảo, nâng tổng số quân tại Malvinas lên tới 4.000 quân gồm lực lượng lính thủy đánh bộ, tăng thiết giáp và lính dù. Đến ngày 10 tháng 4 năm 1982, Argentina đã thành lập xong Bộ chỉ huy tác chiến chiến trường Nam Đại Tây Dương, bao gồm:
Bộ chỉ huy Hải quân Nam Đại Tây Dương có 30 tàu chiến và máy bay trực thăng cùng một số máy bay bổ trợ khác.
Bộ chỉ huy Không quân chiến lược có 8 lữ đoàn không quân chiến đấu, 1 lữ đoàn không quân bổ trợ.
Các lực lượng khác thuộc Bộ chỉ huy tác chiến chiến trường Nam Đại Tây Dương gồm có 2 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn hải quân đánh bộ.
Tổng quân số trên chiến trường này có khoảng 41.200 người, 234 xe tăng, 200 xe thiết giáp, 262 khẩu pháo và súng cối.
Tính tới ngày 20 tháng 5 (thời điểm Anh bắt đầu thực hành đổ bộ đường biển lên đảo), quân Argentina đồn trú trên quần đảo có trên 12.000 quân, 17 xe tăng hạng nhẹ AMX-13, 77 xe thiết giáp, 66 khẩu pháo, súng cối và 20 máy bay tăng cường từ đất liền ra.
Về phía Anh
Tại phiên họp khẩn cấp của Nghị viện Anh nhằm vạch ra phương hướng đối phó với tình hình mới, Thủ tướng Anh M. Thatcher tuyên bố, mục tiêu của Chính phủ là phải thiết lập lại chủ quyền của Anh đốì với quần đảo này. Ngay lập tức, Bộ Tham mưu Hải quân Anh bắt đầu lên kế hoạch quân sự mang mật danh "Phối hợp hành động" (Co-operation). Với kế hoạch này, Anh ý định dùng sức mạnh quân sự để phong tỏa quần đảo buộc Chính phủ Argentina phải rút quân, trong trường hợp phía Argentina không chấp nhận áp lực này, Anh sẽ tiến hành chiến dịch đổ bộ đường biển đánh chiếm quần đảo.
Thực hiện kế hoạch đề ra, Anh đã tập trung vào khu vực Nam Đại Tây Dương toàn bộ lực lượng Binh đoàn 317, do Chuẩn Đô đốc Woodward chỉ huy. Binh đoàn này gồm các tàu mặt nước hiện đại nhất của hải quân Anh (mới đóng hoặc mới được hiện đại hóa trong những năm 70 của thế kỷ XX). Theo các tài liệu nước ngoài, trên một số tàu chiến Anh còn có cả vũ khí hạt nhân trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu để đối phó với tình huống khẩn cấp. Hạt nhân của Binh đoàn 317 gồm 2 tàu sân bay chống ngầm. Hai tàu này cùng với các tàu hộ tống hình thành cụm chiến đấu tàu sân bay. Bên cạnh lực lượng chủ yếu trên, Binh đoàn 317 còn có các đơn vị không quân của hải quân, hải quân đánh bộ và lục quân. Ngoài Binh đoàn 317, tham gia tác chiến tại khu vực Nam Đại Tây Dương còn có Binh đoàn 324, do Phó Đô đốc I. Hecbet - Tư lệnh lực lượng tàu ngầm chỉ huy. Lực lượng này gồm 4 tàu ngầm nguyên tử và 1 tàu ngầm điêzen.
Như vậy, để thực hiện Kế hoạch "Phối hợp hành động" Anh đã tập trung ở Nam Đại Tây Dương khoảng 117 tàu chiến các loại, trong đó có 4 tàu ngầm nguyên tử, một tàu ngầm điêzen, 2 tàu sân bay, 11 tàu khu trục và 14 tàu tuần dương. Ngoài ra, Anh còn sử dụng có 2 tàu đổ bộ trực thăng và 6 tàu đổ bộ LST. Tổng quân số tham gia chiến dịch này có khoảng 8.500 sĩ quan và binh sĩ, hơn 150 máy bay, 30 xe tăng, 100 khẩu pháo 105mm và súng cối 81mm, v.v...
Theo dự kiến, kế hoạch "Phối hợp hành động" được thực hiện trong 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất, triển khai lực lượng đánh chiếm đảo Nam Georgia và thành lập căn cứ tiền tiêu trên.
Giai đoạn thứ hai, tiến hành phong tỏa đường biển và đường không, đồng thời dùng lực lượng không quân và pháo hạm làm suy yếu hệ thống phòng thủ, gây tâm lý hoang mang cho các binh sĩ Argentina đang phòng thủ trên đảo.
Giai đoạn thứ ba, tiến hành chiến dịch đổ bộ đường biển đánh chiếm quần đảo.
Như vậy, xét về tương quan lực lượng, trong Kế hoạch 'Phối hợp hành động", phía Anh nắm ưu thế vượt trội cả về binh lực lẫn vũ khí trang bị. Điều đáng nói là trong chiến dịch này là phía Argentina hoàn toàn không có tàu ngầm nguyên tử. Hơn thế nữa, hầu hết các tàu mặt nước của Argentina đều thua kém các tàu chiến của Anh về tính năng chiến đấu cũng như trang bị vũ khí kỹ thuật. Không những vậy, phía Anh còn nắm chắc các thông số kỹ - chiến thuật cũng như phương thức và thủ đoạn chiến đấu của các loại vũ khí, khí tài mà Argentina hiện có.

III. DIỄN BIẾN
Ngày 8 tháng 4, Anh tuyên bố, kể từ ngày 12 tháng 4 sẽ thiết lập vùng phong tỏa có bán kính 200 hải lý tính từ trung tâm quần đảo Malvinas. Trong phạm vi phong tỏa, hải quân Anh có quyền tự do đi lại và được phép tiến công bất kỳ tàu chiến nào của Argentina. Trước tuyên bố cứng rắn của phía Anh, Chính phủ Argentina lập tức trả đũa bằng việc tuyên bố cũng sẽ thiết lập vùng phong tỏa với bán kính 200 hải lý kể từ trung tâm quần đảo Malvinas.
Mặc dù bị Argentina phản đối, nhưng trong các ngày từ 12 đến 29 tháng 4, Anh sử dụng tàu ngầm nguyên tử để giám sát, kiểm soát và theo dõi việc đi lại của các tàu chiến đối phương tại vùng biển bị coi là "phong tỏa". Ngoài ra, giới lãnh đạo quân sự Anh còn có thêm thông tin từ Trung tâm thông tin quan sát đại dương của Mỹ (hệ thông này bao trùm toàn bộ Đại Tây Dương).
Ngày 16 tháng 4, đội tàu đổ bộ đường biển của Anh gồm 6 tàu chiến và 4 tàu bảo đảm chở 230 quân đổ bộ xuất phát từ đảo Ascension. Ngày 25 tháng 4 năm 1982, lực lượng hải quân đánh bộ Anh đã tối khu vực đảo Georgia Nam và tái chiếm thành công hòn đảo này để thiết lập căn cứ tiền phương.
Đến ngày 29 tháng 4, Binh đoàn tác chiến 317 của Anh tới khu vực chiến sự - vùng phong tỏa 200 hải lý, và từ ngày 30 tháng 4, Anh bắt đầu thực hiện phong tỏa đường biển, đường không trên thực tế đối với quần đảo Malvinas nhằm tiêu diệt và đẩy các tàu thuyền của Argentina ra khỏi khu vực, cắt đứt liên lạc và tiếp tế chi viện giữa đất liền với quần đảo, gây áp lực tâm lý đối với binh sĩ Argentina đồn trú trên đảo.
Trước hành động của quân Anh, phía Argentina đã sử dụng tàu ngầm Saint Louis và tàu mặt nước của mình để chống phong tỏa. Vũ khí chủ yếu của tàu là ngư lôi SST-1 (Đức) và ngư lôi chống ngầm MK-37 (do Mỹ chế tạo). Ngày 4 tháng 5, sau đòn tiến công một tàu chiến lớn bằng ngư lôi SST-1 nhưng không có kết quả, tàu Saint Louis bị tàu này săn đuổi liên tục trong 20 giờ, nhưng cuối cùng đã thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ngày 8 tháng 5, tàu sử dụng một ngư lôi MK-37 tiến công mục tiêu đã xác định là tàu ngầm, nhưng không ghi nhận được tiếng nổ như ngư lôi mà chỉ có tiếng động giống như kim loại va vào nhau tạo nên. Ngày 11 tháng 5, tàu Saint Louis phát hiện tàu frigat gần cảng Saint Carlos và phóng một ngư lôi từ căn cứ nhưng cũng thất bại. Nguyên nhân thất bại được xác định không chỉ do trục trặc kỹ thuật đơn thuần mà còn bởi trình độ huấn luyện chưa cao của kíp thủy thủ, lại do một thuyền trưởng mới được bổ nhiệm chỉ huy. Tuy nhiên, phía Anh cũng không giành được thắng lợi vì họ không tiêu diệt được tàu ngầm của đốì phương.
Argentina chỉ có một tàu ngầm nên không thể đạt hiệu quả như mong muốn, buộc giới lãnh đạo quân sự nước này phải tổ chức cả 3 nhóm tàu mặt nước để tiến công các tàu sân bay của Anh: nhóm phía Băc gồm tàu sân bay Veinticinco de Mayo được hai tàu khu trục mới kiểu Hercules hộ tống; nhóm trung tâm gồm 3 tàu hộ vệ lớp Druymond; nhóm phía Nam gồm tàu tuần dương Belgrano được 2 tàu khu trục cũ hộ tống.
Giới chỉ huy quân sự Anh giao nhiệm vụ phát hiện và bám sát nhóm tàu phía Bắc (có tàu sân bay) cho tàu ngầm nguyên tử Splendid, sẵn sàng chờ mệnh lệnh tiến công tiêu diệt tàu sân bay của Argentina. Tuy nhiên, do thời tiết giông bão nên nhóm phía Bắc và nhóm trung tâm đã trở về căn cứ, chỉ còn nhóm phía Nam hoạt động trên biển. Tàu ngầm nguyên tử thứ hai của hải quân Anh Cokero được lệnh bám sát nhóm này. 20 giò ngày 2 tháng 5, tàu Cokero đã thực hành đòn tiến công, phóng 3 ngư lôi Mk-8 vào tàu tuần dương Belgrano khi tàu này đang hành trình với khoảng 10 hải lý/giờ, 2 quả đã trúng mục tiêu và đánh chìm tàu tuần dương Belgrano làm thiệt hại 368 thủy thủ. Đó là tàu mặt nước đầu tiên trong lịch sử bị tàu ngầm nguyên tử đánh chìm.
Việc để mất tàu tuần dương vừa là tổn thất to lớn đối với hải quân Argentina, đồng thời cũng cho thấy hải quân nước này chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc chiến trên biển, nhất là đối phó với tàu ngầm nguyên tử. Nhằm tránh các tổn thất tương tự, giới lãnh đạo quân sự Argentina quyết định giữ các tàu chiến tại căn cứ. Sự thụ động của hải quân Argentina đã ảnh hưởng rõ rệt tới hoạt động của không quân dẫn đến hậu quả là quân Anh đã dễ dàng hơn trong việc phong tỏa đường biển và đường không đối với quần đảo. Các tàu ngầm nguyên tử tuần tiễu phía Tây vùng phong tỏa bán kính 200 hải lý, một chiếc trong số đó đã hoạt động ngầm dưới nước 90 ngày liên tục, còn trên mặt nước, các tàu chiến phối hợp chặt chẽ với máy bay và máy bay lên thẳng từ tàu sân bay Hermes và Invicible cũng như các tàu hộ tống kiểm soát khu vực cách 86 hải lý về phía Đông Bắc quần đảo, tức là khu vực hoàn toàn nằm trong tầm với của không quân Argentina.
Quân Anh sử dụng rộng rãi máy bay trên tàu sân bay vào mục đích trinh sát và tiêu diệt các tàu thuyền, máy bay đốĩ phương tìm cách vượt qua vùng phong tỏa cũng như đánh phá các đường băng trên các sân bay ở thành phố cảng Port Stanley và Goose Green trên đảo Malvinas Đông cùng các mục tiêu khác trên đảo. Các máy bay triển khai trên đảo Ascension cũng tham gia vào các trận oanh tạc. Bộ chỉ huy Anh còn thường xuyên cử các toán biệt kích - thám báo vào các khu vực khác nhau của quần đảo để nắm tình hình phòng thủ chống đổ bộ, tìm ra các điểm yếu hay sơ hở.
Hải quân Argentina không có những hành động quyết liệt nhằm chống lại phong tỏa của địch, mà chủ yếu là hoạt động bằng các tốp tàu chiến nhỏ hoặc tàu thuyền bảo đảm, tiến hành trinh sát tiếp tế và cứu các phi công bị bắn rơi. Tuy nhiên, các hoạt động này nhìn chung đều thiếu kiên quyết nên hiệu quả rất thấp. Chỉ có không quân Argentina tiếp tục cuộc chiến chống trả các lực lượng Anh. Biết được các tàu sân bay sẽ là mục tiêu chủ yếu của không quân Argentina nên Bộ chỉ huy Anh đã tổ chức phòng thủ dày đặc, nhiều lớp và có chiều sâu lớn đối với các mục tiêu này.
Trong giai đoạn phong tỏa, tổng cộng Anh mất 6 tàu chiến và tàu bảo đảm, 6 máy bay và máy bay lên thẳng. Tổn thất của Argentina là hai tàu chiến, 7 tàu và xuồng bảo đảm, 14 máy bay và máy bay lên thẳng. Khi đã trở nên rõ ràng là phong tỏa không thể buộc được Argentina phải đầu hàng, Anh quyết định triển khai đổ bộ đường biển. Ý định của hải quân Anh là sử dụng tàu pháo và máy bay chi viện hỏa lực, lợi dụng lúc tối trời để bất ngờ đổ bộ thê đội một bằng phương thức đổ bộ thẳng đứng, đưa lực lượng chủ yếu lên bờ đánh chiếm bàn đạp. Sau khi lên bờ, quân đổ bộ thực hành tiến công theo chính diện, kết hợp chi viện hỏa lực từ trên không và các hoạt động nghi binh.
Việc đổ bộ được tiến hành theo ba thê đội, trong đó lực lượng chủ yếu nằm trong thê đội một. Thê đội hai bao gồm một bộ phận lực lượng cùng vũ khí, trang bị nặng và hàng hóa. Thê đội ba là lực lượng dự bị. Địa điểm đổ quân được lựa chọn là khu vực Saint Carlos, nằm ở phía Tây Bắc đảo Malvinas Đông. Nhìn chung, khu vực được lựa chọn này rất có lợi cho quân Anh và bất lợi cho phía Argentina. Khu vực nghi binh đổ bộ là Port Darwin và Port Bay. Thời gian đổ quân được dự định vào lúc trời tối nhằm loại trừ hoàn toàn hỏa lực của không quân Argentina vì đây vẫn là mối đe dọa thực tế phải tính tới đối với quân đổ bộ. Ngoài ra, việc đổ quân ban đêm sẽ hạn chế sự kháng cự của binh sĩ Argentina bởi vì họ có rất ít thiết bị nhìn đêm, do đó có thể đạt được yếu tố bất ngờ chiến thuật. Còn đối với binh sĩ Anh do được trang bị thiết bị nhìn đêm nên bóng tối không phải là trở ngại lớn.
Ngày 19 tháng 5, Anh bắt đầu chuẩn bị trực tiếp cho đổ bộ đường biển. Khi bắt đầu đổ bộ, Binh đoàn tác chiến 317 có 30 tàu chiến và 25 tàu bảo đảm. Trên mặt boong các tàu có khoảng 40 máy bay Sea Harrier, gần 8.000 binh sĩ hải quân đánh bộ và bộ binh. Số sĩ quan hải quân đánh bộ và bộ binh trên các tàu vận tải dân sự đã được chuyển sang các tàu đổ bộ. Đêm 19 rạng sáng ngày 20 tháng 5, các toán biệt kích, thám báo được trực thăng đổ lên một số vị trí để trinh sát địa hình và tổ chức của đối phương.
Quân Anh được tổ chức thành 3 đoàn đổ bộ đường biên (1 đoàn chủ yếu và 2 đoàn nghi binh). Đoàn chủ yếu bao gồm các tàu đổ bộ mang trực thăng Fearless và Intrepid, 5 tàu frigat (nhóm tàu chi viện hỏa lực), 1 tàu đổ bộ chở xe tăng LST và một tàu tiếp tế. Trên các tàu này có 30 trực thăng và 16 xuồng đổ bộ.
Cụm lực lượng Argentina trên quần đảo lúc này gồm 12.000người. Lực lượng không quân (có khoảng 150 máy bay) được triển khai trong đất liền, chỉ có một bộ phận nhỏ trên quần đảo. Lực lượng hải quân cũng tập trung ở các khu vực ven bờ. Như vậy, rõ ràng là Bộ chỉ huy Argentina hoàn toàn không có ý định cũng như không có đủ khả năng tổ chức kháng cự quyết liệt đối với quân Anh.
Ngày 20 tháng 5, Chính phủ Anh ra lệnh cho Tư lệnh các lực lượng vũ trang Anh ở Nam Đại Tây Dương - Chuẩn Đô đốc Woodward bắt đầu đổ bộ đường biển. Sau khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị, cả 3 đoàn đổ bộ đường biển bắt đầu triển khai và đến cuối ngày 20 tháng 5 đã vượt qua quãng đường 80-90 hải lý tới cách các khu vực đổ quân 30-50 hải lý. Trước khi đổ quân, không quân và pháo hạm tiến hành hỏa lực chuẩn bị mãnh liệt vào các địa điểm như các thành phố cảng Port Darwin, Port Stanley và Port Bay để nghi binh lừa địch, phân tán đối phó cua đối phương. Các xuồng cao tốc kiểu Cutter tiếp tục đo bộ các toán biệt kích - thám báo lên các đảo khiến cho quân Argentina rất khó phán đoán được ý định đổ bộ của đối phương; đồng thời cảm thấy chỗ nào đốì phương cũng có thể đổ bộ được. Pháo trên các tàu khu trục, frigat cùng với máy bay Harrier sử dụng tên lửa có điều khiển, bom 454kg và 227kg tập kích hỏa lực vào các mục tiêu trên bờ tại các khu vực nghi binh. Các tổ hợp tên lửa phòng không Roland và Tigercat tại Port Stanley là trở ngại đáng kể đối với các máy bay của Anh. Theo số liệu của Argentina, chỉ riêng tên lửa Roland đã bắn rơi 4 máy bay.
Quân Anh đổ bộ lực lượng chủ yếu vào rạng sáng ngày 21 tháng 5 diễn ra hoàn toàn bất ngờ đối với Argentina. Vào lúc 2 giờ theo giờ địa phương, Anh sử dụng trực thăng, thực hành đổ bộ thẳng đứng lên một chính diện khá hẹp tại khu vực bờ biển phức tạp của vùng Saint Carlos ở phía Tây Bắc đảo Malvinas Đông. Để giữ bí mật, Anh hoàn toàn không tổ chức hỏa lực chuẩn bị trực tiếp dù họ có tới 5 tàu frigat sẵn sàng cho mục đích này. Mặc dù các điều kiện thời tiết lúc này rất phức tạp nhưng nhờ các xuồng đổ bộ cũng như không có đối kháng của đối phương (do đạt được yếu tố bất ngờ chiến thuật) nên cuộc đổ bộ diễn ra với nhịp độ khá cao. Sau 5 giờ ngày 21 tháng 5, quân Anh đã đổ bộ xong thê đội một (khoảng 1.000 quân, 16 xe tăng nhẹ, 14 pháo 105mm, 14 súng cối 81mm, 30 tổ hợp tên lửa phòng không Blowpipe lên khu vực bàn đạp rộng khoảng 10km2, tổ chức được hệ thống phòng không và chống tăng. Chỉ duy nhất một trong bốn địa điểm đổ bộ có sự kháng cự của quân Argentina, phía Anh mất 2 trực thăng. Tại các khu vực nghi binh chỉ tiến hành các hành động đánh lừa và kết thúc ngay sau khi nhận được thông báo về thành công của đoàn đổ bộ chủ yếu. Trong quá trình tác chiến trên bộ, quân đổ bộ đã sử dụng rộng rãi các thiết bị nghe nhìn ban đêm, trong khi đó các tàu frigat và máy bay Sea Harrier thường xuyên trực ban trên không để chi viện cho quân đô bộ.
Ngày hôm sau, thê đội hai với khoảng 2.000 quân, được trang bị các tổ hợp tên lửa phòng không Rapier, pháo 105mm, súng cối 81mm và xe tăng hạng nhẹ Scorpion được đổ bộ lên khu vực bàn đạp. Trong ngày tiếp theo, quân Anh mở rộng khu vực bàn đạp lên 18km2 và nâng quân số trên đảo lên tới 5.000 người và sau 5 ngày tiến công đánh chiếm được khu vực rộng tới 150km2. Việc đổ bộ thê đội ba được thực hiện bằng tàu và trực thăng trong quá trình tác chiến của quân đổ bộ trên đảo.
Về phía Bộ chỉ huy Argentina bị quân Anh đánh lừa nên chỉ tới sáng ngày 21 tháng 5, khi thê đội một đã lên bờ xong và đang củng cốcông sự, trận địa, mới có phản ứng đầu tiên. Các máy bay được giao nhiệm vụ đánh vào các tàu chi viện hỏa lực, nhưng do phải cất cánh từ đất liền nên thời gian hoạt động của chúng ở khu vực tác chiến chỉ còn khoảng 2-3 phút, vì vậy buộc phải sử dụng hai thủ đoạn duy nhất là hành động theo đợt sóng và các đòn đánh tập trung.
Ngày 25 tháng 5 là ngày lễ của Argentina, 72 máy bay thực hành đòn đánh tập trung mãnh liệt nhất vào Binh đoàn tác chiến 317. Các máy bay Skyhawk và Mirage đã đánh chìm tàu khu trục Coventry và đánh bị hỏng tàu khu trục Broadsword. Một liên đội máy bay Super Etendard thực hành tiến công các tàu sân bay sau khi phóng hai tên lửa vào mục tiêu các máy bay hạ độ cao tối thiểu để trở về đất liền. Các tàu và máy bay lên thẳng của Anh đã kịp thời thả màn nhiễu dày đặc, bảo vệ được tàu sân bay Hermes, nhưng một chiếc tên lửa sau khi bay qua màn nhiễu đã bắn vào tàu chở máy bay Atlantic Conveyor, nằm cách tàu sân bay Hermes 4 hải lý, làm tàu này hỏng nặng và bị chìm 5 ngày sau đó cùng với nhiều tổn thất bao gồm: 11 máy bay lên thẳng và nhiều khí tài, trang bị kỹ thuật khác như các giàn bom, thanh ghi đường băng, 4.500 lều bạt.
Ngày 28 tháng 5, sau khi tập trung đủ và triển khai xong lực lượng, quân Anh thực hành tiến công dọc theo bờ biển phía Bắc và Nam đảo Malvinas Đông, hình thành thế hai gọng kìm nhằm mục đích đánh chiếm Port Stanley đang được quân Argentina chốt giữ. Cuộc tiến công theo bờ biển phía Bắc gặp nhiều phức tạp do địa hình bị chia cắt nhiều. Vì vậy, thành phần lực lượng này bao gồm các đơn vị được huấn luyện kỹ lưỡng về tác chiến trong những điều kiện địa hình phức tạp thuộc Lữ đoàn hải quân đánh bộ số 3. Ngày 29 tháng 5, nhằm hỗ trợ cho hướng này, quân Anh sử dụng trực thăng đổ thêm lực lượng xuống khu vực hải cảng nhỏ Tin Inlet, sau đó lực lượng này đã tham gia chi viện đánh chiếm hải cảng.
Trên hướng phía Nam, quân đổ bộ tiến công theo con đường đất nốỉ giữa Saint Carlos với Port Darwin và sân bay Goose Green. Đến ngày 29 tháng 5, khoảng 700 quân dù thuộc Tiểu đoàn 2 đã chiếm được các khu vực nói trên sau nhiều trận đánh rất khốc liệt. Các máy bay của Anh bắt đầu di chuyển tới sân bay Goose Green, tạo điều kiện thuận lợi để quân đổ bộ tiếp tục tiến công về phía Port Stanley theo rìa Bắc đảo Malvinas Đông. Các hoạt động tác chiến tiến công của quân Anh đều diễn ra chủ yếu vào ban đêm và thường sau các màn hỏa lực pháo binh cấp tập và oanh kích bom của không quân. Còn các máy bay lên thẳng thường lợi dụng đêm tối để đổ bộ cấp chiến thuật.
Nhằm đạt ưu thế so với đối phương về sinh lực cũng như trang bị trước khi đánh chiếm thành phố cảng Port Stanley là nơi tập trung cụm lực lượng chủ yếu của Argentina, quân Anh tiếp tục thực hành hai cuộc đổ bộ đường không với khoảng 3.000 binh sĩ vào Blap Koup và Phritroi. Tàu nữ hoàng Elizabeth II chở quân tới khu vực, sau đó chuyển tải sang các tàu đổ bộ và phà biển để đổ quân lên bờ.
Sau khi thực hành đổ bộ xong, từ ngày 2 tháng 6, lực lượng quân Anh tiến hành bao vây, cô lập toàn bộ cụm lực lượng đồn trú trên đảo của Argentina cả trên bộ cũng như trên biển. Tới ngày 8 tháng 6, quân Anh đã có trên 8.500 người trên đảo. Cũng trong ngày này, quân Argentina gây nên tổn thất rất nặng nề và nhạy cảm cho quân Anh: tàu frigat Plymouth bị hỏng tại vùng Saint Carlos, 1 xuồng đổ bộ bị đánh chìm tại eo biển Choizen Soun. Cách quần đảo 450 hải lý về phía Bắc, tàu chở dầu cực lớn Hercules có lượng giãn nước 220.000 tấn cũng bị đánh chìm. Theo số liệu của Anh, cũng trong ngày này, phía Argenina mất 23 máy bay. Vì vậy, hoạt động của không quân Argentina sau đó bị suy giảm rõ rệt.
Cũng trong thời gian này, các trận chiến quyết liệt diễn ra trên các cửa ngõ vào Port Stanley. Anh sử dụng rộng rãi tàu pháo để chi viện hỏa lực cho tiến công trên bộ. Ngày 12 tháng 6, tàu khu trục Glemangan bị 4 tên lửa Exocet AM-40 được phóng từ các bệ trên bờ tiến công và bị thương nặng. Trận tiến công quyết định vào Port Stanley diễn ra chủ yếu vào ngày 12 tháng 6 và được pháo, máy bay chi viện rất tích cực. Ngày 14 tháng 6, quân Anh đánh chiếm cảng Port Stanley, thủ phủ của Malvinas, buộc quân Argentina phòng thủ trên đảo phải đầu hàng. Quân Anh hoàn toàn làm chủ quần đảo.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Trong cuộc chiến này, quân Anh giành thắng lợi hoàn toàn. Hải quân Anh mất 8 tàu (2 tàu trục, 4 tàu frigat, 2 tàu đổ bộ và 1 tàu chở máy bay), 11 tàu khác bị hỏng; không quân mất 10 máy bay và 24 trực thăng. 255 người chết và 777 bị thương. Theo một số liệu chưa thật đầy đủ, cuộc chiến tranh nhằm chiếm lại quần đảo Malvinas tiêu tốn của Anh khoảng 1,5 tỷ bảng Anh (tương đương 2 tỷ USD) theo thời giá lúc đó.
Hải quân Argentina thiệt hại 7 tàu (1 tàu tuần dương, 1 tàu ngầm, 1 tàu hộ vệ, 3 tàu vận tải, 1 tàu đánh cá) và 2 xuồng nhỏ. Về không quân, tổn thất của Argentina là 142 máy bay (trong đó có 23 chiếc bị bắn rơi trong các trận không chiến, 5 chiếc khác bị các tổ hợp tên lửa phòng không bắn hạ). Phía Argentina có 690 người chết và 14.500 bị bắt làm tù binh[4].
Thắng lợi của quân Anh trong trận Malvinas góp phần quyết định chấm dứt chiến tranh Anh - Argentina, nhưng vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây vẫn còn tồn tại.
Cuộc chiến giữa Anh và Argentina tại quần đảo Malvinas năm 1982 là cuộc chiến trên biển lớn nhất sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có sử dụng rộng rãi hải quân và không quân. Trong đó, có thể khẳng định, lực lượng hải quân đóng vai trò quyết định giành thắng lợi trong toàn bộ cuộc chiến tranh. Theo sách báo nước ngoài, thắng lợi của quân Anh là do những nguyên nhân sau đây:
Về tổng thể, Anh đã tạo nên ưu thế lực lượng hơn hẳn đối phương nhiều lần, được tổ chức toàn diện và chu đáo, hội tụ được các điều kiện cần và đủ để đánh chắc thắng. Yếu tố quan trọng thứ hai là việc tổ chức chỉ huy tập trung và thống nhất các lực lượng trên chiến trường. Chức năng chỉ huy tối cao trên chiến trường được giao cho hải quân - lực lượng giữ vai trò quyết định đối với kết cục cuộc chiến tranh, chứ không nhất thiết là lực lượng trực tiếp kết thúc chiến tranh. Ba là, Anh đã tập trung và triển khai một cách nhanh chóng các lực lượng tác chiến và bảo đảm tác chiến, hình thành cụm lực lượng viễn chinh liên quân đủ mạnh trên chiến trường. Bốn là, nước Anh có được sự giúp đỡ toàn diện trên quy mô lớn của Mỹ và các nước đồng minh NATO, cả về vũ khí, trang bị cũng như hỗ trợ bảo đảm trinh sát, bảo đảm vật chất... cho phép Anh tập trung mọi nỗ lực trên một hướng chiến trường trọng điểm. Năm là, hải quân Anh đã tổ chức phong tỏa đường biển, đường không có hiệu quả trên chiến trường, cắt đứt mọi sự chi viện, tiếp tế từ đất liền, làm suy yếu sức mạnh của lực lượng đồn trú của đối phương. Sáu là, quân Anh đã đạt được bất ngờ chiến thuật trong đổ bộ đường biển - yếu tố rất quan trọng bảo đảm thắng lợi khi tổ chức và thực hành đổ bộ đường biển. Cuối cùng là những khiếm khuyết nghiêm trọng của Argentina trong tổ chức phòng thủ quần đảo Malvinas, đặc biệt là việc đánh giá sai khả năng và ý định chiến lược của đối phương. Bộ máy tổ chức chỉ huy của quân đội Argentina trong chiến tranh quá cồng kềnh, chồng chéo và kém hiệu quả; để bị bất ngờ chiến thuật trong phán đoán nguy cơ đổ bộ đường biển. Sự thụ động của quân đội Argentina nảy sinh bởi chủ trương cố thủ các trọng điểm mà không tích cực phản kích và phản kích sớm cũng như phản đột kích chiến dịch. Và đặc biệt nghiêm trọng hơn khi quân Anh tổ chức phong tỏa và đổ bộ đường biển, Argentina đã không dám tung lực lượng hải quân ra chi viện phòng thủ đảo.
Đó là những nguyên nhân rất căn bản đưa đến thắng lợi của quân Anh và thất bại của Argentina trong trận chiến ở Malvinas. Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh này cũng cho thấy nhiều phát triển mới trong khoa học và nghệ thuật quân sự được sử dụng trong các tàu ngầm nguyên tử, các máy bay cất - hạ cánh theo phương thức thẳng đứng, công nghệ hồng ngoại bảo đảm cho đổ bộ đường biển được vận dụng rộng rãi trong tác chiến.
Trận chiến trên biển ở Malvinas là thực tiễn sinh động của tác chiến trên biển của nửa sau thế kỷ XX, để lại nhiều bài học trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học quân sự, đặc biệt là về nghệ thuật quân sự. Từ thực tiễn cuộc chiến ở Malvinas, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, về công tác chuẩn bị (đất nước và lực lượng vũ trang). Cả hai bên tham chiến đều bước vào cuộc chiến một cách vội vã, đều phải xuất phát trong trạng thái chuẩn bị gấp gáp. Cuộc chiến trên biển ở Malvinas thêm một lần nữa khẳng định, con người là yếu tố quyết định trong chiến tranh. Vũ khí trang bị càng hiện đại càng đòi hỏi cao hơn đối với con người cả về ba mặt: tinh thần, thể lực và kỹ năng chiến đấu. Cả ba mặt này phải qua đào tạo và rèn luyện công phu trong thực tế trên biển mới có được. Sau cuộc chiến trên biển ở Malvinas, các chuyên gia quân sự ở nhiều nước đều cho rằng, để đáp ứng được đòi hỏi của chiến tranh trên biển hiện đại, ngay cả các cường quốc hải quân cũng cần đầu tư nhiều hơn nữa cho việc huấn luyện lực lượng vũ trang trong thời bình và thường xuyên duy trì nó ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu thích hợp.
Thứ hai, về đánh giá đối tượng tác chiến. Khi quyết định sử dụng biện pháp quân sự để giành lại quần đảo Malvinas, các nhà lãnh đạo quân sự Argentina đã không đánh giá đúng quyết tâm và khả năng của đốì phương. Về phía Anh, họ đã đánh giá đúng ý định chiến lược, hiểu rõ được hy vọng của các nhà lãnh đạo quân sự Argentina muôốn giải quyết vấn đề bằng đàm phán sau khi đã chiếm được Malvinas. Vì vậy, họ mới có thể vừa triển khai lực lượng vừa chuẩn bị chiến tranh mà không bị giáng trả khi lực còn chưa đủ, thế còn chưa vững. Ở chiến trận Malvinas, đánh giá sai đối phương là một trong những nguyên nhân thất bại của Argentina, đánh giá đối phương không đầy đủ đã làm cho quân Anh phải trả giá đắt cho thắng lợi của mình.
Thứ ha, vêề phương pháp tác chiến. Trong cuộc chiến trên biển ở Malvinas đã diễn ra hai hình thức đối kháng chủ yếu là phong tỏa – chống phong tỏa và đổ bộ đường biển - chống đổ bộ đường biển. Đối với quân Anh, đổ bộ đường biển là hoạt động chiến đấu then chốt, còn phong tỏa là nhằm tạo điều kiện cho đổ bộ đường biển. Nhiều chuyên gia quân sự cho rằng, hai hoạt động đối kháng này sẽ là phổ biến trong các cuộc chiến tranh (xung đột quân sự) trên biển nhằm tranh chấp các hải đảo xa bờ trong tương lai. Quân Anh đã tiến hành phong tỏa quần đảo Malvinas khi mới chỉ có thê đội một của lực lượng viễn chinh có mặt ở chiến trường, nhưng họ đã thành công vì đã thực hiện "tránh mạnh đánh yếu" và "dùng mạnh đánh yếu". Cuộc đổ bộ đường biển được quân Anh chuẩn bị chu đáo và tiến hành rất bài bản và có những bước phát triển trong nghệ thuật tác chiến trên biển. Cuộc đổ bộ được tiến hành bằng một số trận đổ bộ với mục đích, thời gian và địa điểm khác nhau, theo ý định và kế hoạch thông nhất, nhằm đạt được mục đích chiến tranh là giành lại đảo Malvinas Đông với mục tiêu chủ yếu là thành phố cảng Stanle, đồng thời là thủ phủ của đảo. Thất bại của Argentina cho thấy, trong tác chiến phòng thủ đảo, phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến vòng trong của lực lượng phòng thủ đảo với tác chiến vòng ngoài của các lực lượng trên biển, trên không.
Thứ tư, về công tác bảo đảm tác chiến trên biển. Thắng lợi của quân Anh không thể tách rời thành công của họ trong việc tổ chức và thực hiện các công tác bảo đảm, bao gồm bảo đảm vật chất kỹ thuật, ngụy trang (ngoại giao giả, tung tin giả, hoạt động giả...) và tác chiến điện tử.
Thứ năm, về vai trò của các binh chủng của hải quân và tổ chức chỉ huy tác chiến trên biển. Cuộc chiến tranh trên biển ở Malvinas một lần nữa khẳng định: muốn giành thắng lợi trong tác chiến trên biển phải tiến hành tác chiến hiệp đồng binh chủng của hải quân, trước hết là hiệp đồng bộ ba lực lượng cơ động trên biển bao gồm không quân của hải quân, tàu ngầm và tàu mặt nước. Và nói đến nguyên nhân thắng thua ở Malvinas không thể không nói đến tổ chức chỉ huy lực lượng của hai bên. Người Anh tổ chức chỉ huy lực lượng theo nguyên tắc tập trung thống nhất còn người Argentina tổ chức chỉ huy theo mô hình phân tán quyền lực. Thực tế đã chứng minh cách tổ chức chỉ huy của người Anh là có hiệu lực, vận hành đơn giản và phù hợp với chức năng, sở trường của các quân chủng. Thành công của người Anh còn có phần đóng góp to lớn của Mỹ và NATO về phương tiện.
Những vấn đề rút ra từ cuộc chiến tranh Malvinas cho thấy, đối với các quốc gia nhỏ yếu thì lực lượng đồn trú trên các đảo xa bờ chỉ có thể làm chức năng người lính gác nơi tiền tiêu, chủ yếu là khẳng định chủ quyền quốc gia. Muốn tổ chức phòng thủ có hiệu quả các đảo xa bờ cần phải có lực lượng hải quân, không quân đủ mạnh, đồng thời phải có cách đánh phù hợp. Những vấn đề rút ra từ cuộc chiến tranh Malvinas có giá trị rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của ta hiện nay.
Người viết: Thượng tá PHÙNG THỊ HOAN
[1] Hầu hết các tài liệu đều gọi là cuộc chiến tranh Malvinas hay cuộc xung đột Anh - Argentina để tránh nhầm lẫn với trận Malvinas trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong khuôn khổ và tiêu chí của cuốn sách này, chúng tôi gọi là trận vì chỉ chọn những chi tiết điển hình nhất trong hoạt động tác chiến trên biển bởi đây là cuộc chiến tranh trên biển lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới hai và việc lựa chọn trận hải chiến tại Malvinas để nghiên cứu là hết sức cần thiết trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.
[2] Còn có tên gọi khác là Soledas.
[3] Còn có tên gọi khác là Grand Malvinas.
[4] Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2015, tr, 390.