(31.5.1916)
Đến hết năm 1915, sau hơn một năm tham gia cuộc thế chiến thứ nhất, nước Đức vẫn chưa gịành được một thắng lợi quân sự quyết định nào để xoay chuyển tình thế có lợi cho mình. Trên chiến trường bộ, họ phải cầm cự với quân Nga ở phía Đông và dừng lại trước tuyến phòng thủ phía Đông Paris của quân Pháp[1]. Trên chiến trường biển, hải quân Đức gây cho phe Hiệp ước một sốthiệt hại về người và phương tiện chiến tranh, nhưng chưa phá được sự phong tỏa của hải quân Hoàng gia Anh ở Biển Bắc - cửa ngõ ra Đại Tây Dương của nước Đức. Sự phong tỏa này của hải quân Anh khiến nền kinh tế - xã hội thời chiến của nước Đức phải gánh thêm nhiều khó khăn. Lượng hàng nhập cảng vào Đức năm 1915 giảm 55% so với mức trước chiến tranh; lượng thịt cung cấp cho quân nhân và người dân Đức năm 1915 do đó cũng giảm so với năm 1914. Cụ thể, khẩu phần thịt cho một quân nhân Đức giảm từ 285 gram xuống 132 gram; lượng thịt mỗi người dân có được cũng giảm từ 145 gram xuống 135 gram[2].
Trước tình hình đó, bước sang năm 1916, giới lãnh đạo Đức chủ trương đẩy mạnh tấn công quân sự, giành thắng lợi quyết định ở mặt trận phía Tây. Theo đó, từ tháng 2 năm 1916, quân đội Đức mở cuộc tấn công vào tuyến phòng thủ của quân Pháp ở Verdun - phía Đông Bắc Thủ đô Paris. Không chỉ vậy, các nhà chiến lược quân sự Đức còn định mở các cuộc tấn công Đại hạm đội Anh trên Biển Bắc.
Trong khi nước Đức chủ trương đẩy mạnh chiến tranh, thì ở Anh, giới lãnh đạo nước này cũng định tăng cường hoạt động quân sự, giành ưu thế trên chiến trường. Thực hiện chủ trương đó, ở trên bộ, lục quân Anh được trang bị xe tăng đột kích - một loại vũ khí mới trong chiến tranh. Ớ trên biển, Đại hạm đội của Anh tăng cường tìm kiếm, tiêu diệt hải quân Đức ở vùng Biển Bắc và đảm bảo đường giao thông giữa Anh với đồng minh Nga.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Để đối phó với Đại hạm đội của Anh trên Biển Bắc, Đức quyết định dùng Hạm đội Đại Dương của mình. Hạm đội Đại Dương được biên chế các loại tàu nổi, tàu ngầm và có các khinh khí cầu Zeppelin hỗ trợ trinh sát đường không. Riêng về tàu nổi, đến tháng 5 năm 1916, hạm đội này có 109 chiếc, trong đó, có 16 thiết giáp hạm hiện đại lớp Dreadnought, 6 thiết giáp hạm loại cũ (tiền Dreadnought,) 5 tuần dương hạm chủ lực, 11 tuần dương hạm hạng nhẹ và 61 tàu khu trục cổ nhỏ[3]. Các tàu tuần dương chủ lực và thiết giáp hạm của Đức được bọc thép dày ở phần thân và sàn tàu. về hệ thông vũ khí, trong sô 27 thiết giáp hạm và tuần dương hạm có 14 tàu được trang bị pháo cỡ nòng 300mm, 13 tàu trang bị pháo cỡ nòng 280mm. Ngoài ra, các tàu lớn của Đức còn được trang bị các pháo có cỡ nòng tối 150mm. Các ụ pháo trên các tàu chiến Đức có các hệ thống hỗ trợ ngắm bắn cho phép có thể ngắm bắn ngay cả trong điều kiện ánh sáng yếu; đạn pháo gắn ngòi nổ chậm đảm bảo đạn nổ khi chạm mục tiêu. Bên cạnh đó, các tàu khu trục Đức được trang bị nhiều súng và ngư lôi để phục vụ cho cả nhiệm vụ phòng thủ và tấn công.
Mặc dù Hạm đội Đại Dương của Đức được trang bị tương đối hiện đại, nhưng nhìn chung so với Đại hạm đội Anh, hạm đội này vẫn thua kém nhiều về số lượng tàu chiến. Thật vậy, đến tháng 5 năm 1916, Đại hạm đội của Anh có 151 tàu chiến các loại; trong đó, có 28 thiết giáp hạm hiện đại lớp Dreadnought, 9 tuần dương hạm chủ lực, 8 tuần dương hạm hạng nặng cũ, 26 tuần dương hạm hạng nhẹ, 5 tàu khu trục cỡ lớn, 73 tàu khu trục cỡ nhỏ, 1 tàu rải mìn và 1 hàng không mẫu hạm.
Các tàu chiến chủ lực của Anh tuy không được bọc giáp dày ở thân và thượng tầng như các tàu cùng hạng của Đức nhưng chúng lại được phủ giáp dày ở các tháp pháo, ở đầu và đuôi tàu. Về vũ khí, các tàu chủ lực Anh mang nhiều pháo có cỡ nòng lớn hơn pháo hạm của tàu chủ lực Đức. Trong số 37 thiết giáp hạm và tuần dương hạm chủ lực trên, có 6 tàu trang bị pháo cỡ nòng 380mm, 15 tàu trang bị pháo cỡ nòng 340mm, 15 tàu mang pháo cỡ nòng 300mm và 1 tàu mang pháo cỡ nòng 275mm.
Trước sự chênh lệch lực lượng bất lợi cho mình, các nhà chiến lược quân sự Đức chủ trương diệt một bộ phận Đại hạm đội của Anh để tạo cân bằng lực lượng, tiến tới giành thắng lợi quyết định trên Biển Bắc. Theo đó, ban đầu, phía Đức định tập dùng khinh khí cầu và tàu ngầm tấn công vùng duyên hải và vùng biển gần bờ Đông nước Anh (khu vực Sunderland) nhằm kéo một bộ phận hải quân Anh ra khơi cho các tàu mặt nước của Hạm đội Đại Dương tiêu diệt.
Vào nửa cuối tháng 5 năm 1916, Đức bắt đầu triển khai kế hoạch quân sự đó. Từ ngày 17 đến ngày 23, khoảng 10 tàu ngầm Đức được điều đến các vị trí chiến đấu. Tuy nhiên, vào những ngày cuối tháng 5 năm 1916, gió ở vùng Biển Bắc không thuận cho việc phóng khinh khí cầu Zeppelin. Chính vì thế, ngày 28 tháng 5 năm 1916, phía Đức từ bỏ ý định đánh vùng duyên hải nước Anh mà chủ trương đánh vào vùng cửa nối biển Baltic với Biển Bắc - ngoài khơi Jutland, Đan Mạch; qua đó, kéo một bộ phận Đại hạm đội của Anh ra để tiêu diệt. Cuộc hành quân đến vùng biển ngoài khơi Jutland được ấn định vào ngày 31 tháng 5. Lực lượng đảm đương việc nhiệm vụ này là các tàu thuộc Hạm đội Đại Dương, gồm 99 chiếc các loại. 99 tàu này chia làm hai bộ phận. Đội tàu trinh sát do Đô đốc Franz von Hipper chỉ huy, gồm 40 tàu chiến các loại, trong đó có 5 tuần dương hạm chủ lực; đại quân đi sau do Đô đốc Scheer trực tiếp chỉ huy, gồm 59 tàu chiến mặt nước các loại, trong đó có 16 thiết giáp hạm hiện đại lớp Dreadnought, 6 thiết giáp hạm tiền Dreadnought[4]. Cánh quân của Đô đốc von Hipper ra khơi trước và khi gặp hải quân Anh, lực lượng này có nhiệm vụ kéo đối phương về phía đại quân của mình ở phía sau để tiêu diệt.
Trong khi phía Đức sớm trù tính những kế hoạch tác chiến trên Biển Bắc, về phía Anh, đến cuối tháng 5 năm 1916, nước này vẫn chưa thống nhất về vấn đề tăng cường hoạt động quân sự trên vùng biển này. Song, chính vào lúc này, lực lượng trinh sát điện tín của Bộ Hải quân Anh bắt được kế hoạch tác chiến mới của Đức ở Biển Bắc. Tuy không giải mã được quy mô, hướng đi và vùng tác chiến nhưng họ biết chính xác về thời gian xuất quân của phía Đức - ngày 31 tháng 5. Đối phó với nỗ lực quân sự đó của phía Đức, Anh dùng lực lượng tàu nổi và một tàu sân bay của Đại hạm đội, tổng cộng 151 tàu. Lực lượng này cũng chia làm hai cánh quân. Đội tàu trinh sát do Đô đốc David Beatty chỉ huy gồm 52 tàu chiến mặt nước các loại, trong đó có 6 tuần dương hạm chủ lực, 1 tàu sân bay mang tên Engadine với 4 máy bay trên boong và 1 hải đội 4 thiết giáp hạm lớp Dreadnought dưới sự chỉ huy của Đô đốc Hugh Ewan Thomas. Đại bộ phận lực lượng tàu mặt nước của Đại hạm đội Anh do Đô đốc John Jellicoe trực tiếp chỉ huy, gồm 99 tàu các loại, trong đó có 24 thiết giáp hạm lớp Dreadnought[5]. Hai cánh quân này của Anh hành quân ngay trong đêm ngày 30 tháng 5 từ hai địa điểm khác nhau. Cánh quân của Beatty xuất phát từ Firth of Forth, Đông Nam Scotland, cánh quân của John Jellicoe khởi hành từ căn cứ Scapa Flow, phía Bắc Scotland, cùng hướng về phía Đông. Đến khoảng 2 giờ chiều ngày 31 tháng 5, trong trường hợp không phát hiện được hải quân Đức trên Biển Bắc, hai bộ phận này hội quân ở một vị trí cách vùng biển Jutland 140km về phía Tây[6].
III. DIỄN BIẾN
Theo các kế hoạch hành quân đã định, từ nửa đêm ngày 30 rạng sáng ngày 31 tháng 5, hai hạm đội của Anh và Đức lần lượt ra khơi; trong đó, Đại hạm đội của Anh nhổ neo sớm hơn, từ 22 giờ ngày 30 tháng 5. Ra Biển Bắc, Đại hạm đội của Anh hướng về phía Đông, trên hai hải trình riêng rẽ. Phía Bắc là đại quân do Đô đốc John Jellicoe trực tiếp chỉ huy; phía Nam là cánh quân trinh sát của Đô đốc Beatty. Trong khi đó, vào khoảng 1 giờ sáng ngày 31 tháng 5, Hạm đội Đại Dương của Đức bắt đầu nhổ neo. Họ men theo bờ biển Đan Mạch, hướng lên phía Bắc. Các cánh quân của hạm đội này đi trên cùng một hải trình, bộ phận trinh sát do Đô đốc Hipper chỉ huy đi phía trước, đại quân của Hạm đội Đại Dương do Scheer chỉ huy đi sau khoảng 80km[7].
Vào lúc 14 giờ ngày 31 tháng 5, hai cánh quân trinh sát của Anh và Đức đều đến cửa ngõ phía Tây của biển Baltic, vùng biển Jutland. Cụm tàu trinh sát của phía Đức giữ hải trình, tiếp tục tiến lên phía Bắc; trong khi đó, cụm tàu trinh sát của Anh bắt đầu chuyển hướng về Đông Bắc để tới nơi hội quân đã định. Nhưng, vào lúc 14 giờ 22 phút, bộ phận trinh sát phía trước của đội tàu trinh sát Anh phát hiện những cột khói tàu ở phía Đông nên họ lại điều chỉnh hướng đi, chuyển hướng về phía Đông Nam để xác định mục tiêu. Tăng cường cho nỗ lực này, vào lúc 15 giờ 8 phút, Đô đốc Beatty, chỉ huy đội tàu trinh sát Anh, cho máy bay trên tàu sân bay đi cùng cất cánh về phía những mục tiêu khả nghi.
Với sự chuyển hướng đó, đến khoảng 15 giờ 30 phút, đội tàu trinh sát Anh chỉ ở cách đội tàu trinh sát Đức khoảng 24km. Ở cự ly này, hai đoàn tàu đối địch dần hiển hiện trước mắt nhau. Nhận thấy các tàu Anh ở phía Tây, Đô đốc Hipper, chỉ huy đội tàu trinh sát Đức, cho đội tàu của mình quay đầu về phía Nam nhằm dụ đội tàu Anh đến chỗ đại quân của mình để tiêu diệt. Trong khi đó, về phía Anh, Đô đốc Beatty lệnh cho lực lượng của mình tăng tốc, bám đuổi các tàu Đức. Lúc này, một bộ phận gồm 4 thiết giáp hạm của đội tàu trinh sát Anh bị tụt hậu nên thực tế lực lượng thực hiện bám đuổi các tàu Đức của phía Anh chỉ có 48 tàu tuần dương và tàu khu trục.
Việc phía Đức quay đầu về Nam và phía Anh thực hiện bám đuổi đã rút ngắn khoảng cách giữa hai lực lượng đối địch nhanh chóng hơn. Vào khoảng 15 giờ 48 phút, khoảng cách giữa hai đội tàu trinh sát đối địch rút xuống còn 14km. Từ đây, các tàu tuần dương và khu trục của hai bên vừa chạy - đuổi vừa bắn pháo và phóng lôi vào nhau. Mở màn, các tàu tuần dương chủ lực của hai bên đấu pháo hạm hạng nặng. Pháo từ các tuần dương hạm chủ lực của phía Đức bắn nhanh, chính xác. Bởi thế, ngay từ những phút đầu giao chiến, phía Anh đã bị thiệt hại đáng kể về người và phương tiện. Ba trong số 6 tuần dương hạm chủ lực của Anh bị trúng đạn. Vào lúc 16 giờ, soái hạm Lion của đội tàu trinh sát Anh bị mất một tháp pháo do trúng đạn pháo 300mm từ soái hạm Lutzow của đội tàu trinh sát Đức. Hai phút sau lúc 16 giờ 2 phút, tuần dương hạm chủ lực Indefatigable bị mất tháp pháo phía trước, nổ buồng đạn và nhanh chóng chìm xuống biển. Trong số 1.019 thủy thủ đoàn của tàu này, chỉ có 2 người được cứu song[8]. Trong khi đó, phía Anh hiệp đồng chiến đấu không chặt chẽ và bắn pháo không chính xác[9] nên trong thòi gian này, họ chỉ làm hư hại một số tàu tuần dương của Đức (tàu Seydlitz của Đức bị mất 1 tháp pháo)[10].
Mặc dù nhiều thiệt hại như vậy, nhưng đội tàu trinh sát của phía Anh vẫn không từ bỏ nỗ lực bám đánh đội tàu trinh sát của phía Đức. Vào lúc 16 giò 15 phút, khi 4 thiết giáp hạm từ phía sau tối hội quân, toàn bộ đội tàu trinh sát của Anh dịch hải trình sang phía Đông, tiến sát đội hình của các tàu Đức, thực hành đánh gần. Các thiết giáp hạm và tuần dương chủ lực của Anh tập trung tấn công các tàu chủ lực của Đức; bên cạnh đó, các tàu khu trục và tuần dương hạng nhẹ của Anh cũng phối hợp tấn công các tàu tuần dương và tàu phóng lôi của Đức. Tuy thế, nỗ lực đó của phía Anh vẫn không mang lại kết quả khả quan. Các thiết giáp hạm Anh bắn trúng 3 trong số 5 tàu tuần dương chủ lực của Đức, song, các cú đánh đó không vào nơi hiểm yếu của đối phương, chúng chỉ bị hư hại nhẹ[11]. Trong khi đó, trước sự tấn công toàn lực của phía Anh, phía Đức cũng huy động toàn bộ đội tàu của mình để đánh trả. Các tàu tuần dương chủ lực của họ vừa tránh ngư lôi bắn vể phía mình vừa nỗ lực bắn chặn các tàu chủ lực của phía Anh; cùng lúc, 15 tàu khu trục và 1 tàu tuần dương hạng nhẹ Đức phối hợp đánh chặn các tàu Anh để bảo vệ các tàu tuần dương đồng đội. Trong nỗ lực đó, phía Đức đã gây thêm thương vong cho phía Anh. Đặc biệt, vào lúc 16 giờ 26 phút, pháo hạm từ hai tàu tuần dương chủ lực Đức (Derfflinger và Seydlitz) bắn trúng hầm đạn của tàu Anh Queen Mary khiến tàu này bị chìm cùng 1.266 thủy thủ[12].
Như thế, dù ưu thế về quân số đội tàu trinh sát của phía Anh vẫn bị đánh thiệt hại nặng. Chính trong tình cảnh này, vào khoảng 16 giờ 42 phút, các tàu tuần dương hạng nhẹ Anh ở phía trước phát hiện đại quân Đức ở xa phía Nam 19km. Do đó, để bảo toàn lực lượng và dụ đối phương về phía đại quân của mình (lực lượng do Đô đốc John Jellicoe chỉ huy), đội tàu trinh sát Anh đảo hải trình, quay đầu về phía Bắc với tốc độ cao nhất. Đảm bảo cho cuộc rút chạy này, Đô đốc Beatty cho các thiết giáp hạm ở phía sau và bố trí một bộ phận các tàu khu trục ở mạn phải đội hình của mình.
Phát hiện phía Anh bỏ chạy, hai cánh quân của phía Đức lập tức truy đuổi. Họ bắn pháo và ngư lôi chặn phá cuộc trốn chạy của đối phương. Nhưng, cuộc rượt đuổi này của phía Đức gặp sự cản trở mạnh mẽ của các thiết giáp hạm và khu trục hạm Anh. Họ bắn chìm hai khu trục hạm Nestor và Nomad và làm bị thương nhẹ một số thiết giáp hạm Anh. Song, bản thân họ cũng bị mất 2 tàu phóng lôi (V27 và V28) và có nhiều tàu chiến khác bị thương. Trong điều kiện đó, đội tàu trinh sát Anh duy trì tốc độ cao, tiến về phía Bắc và đến khoảng 18 giờ, khi phát hiện đại quân của mình từ phía Tây Bắc xuống, họ chuyển hướng về Đông Nam để chuẩn bị hội quân.

Đại quân của Anh nhận tin về sự hiện diện của Hạm đội Đại Dương Đức trên Biển Bắc vào lúc 16 giờ 47 phút. Đối phó với Hạm đội Đại Dương của Đức và yểm trợ cho đội quân trinh sát của mình, Đô đốc Jellicoe, chỉ huy đại quân của Đại hạm đội Anh, lập tức cho lực lượng của mình chuyển hướng về phía Đông Nam. Đi đầu đội quân này là các tuần dương hạm chủ lực thuộc Hải đoàn tuần dương hạm chủ lực số 3. Vào khoảng 18 giờ 14 phút, sau khi hội quân với đội tàu trinh sát của mình, Đô đốc Jellicoe cho triển khai đội hình chiến đấu thành một hàng dọc, hướng về phía Đông, Đông Nam nhằm tiếp cận, tấn công đối phương theo chiến thuật hình chữ T.
Trong khi phía Anh hội quân và triển khai đội hình chiến đấu, ở phía Tây Nam, vào khoảng 18 giờ, hai cánh quân của Đức cũng hội quân để tập trung lực lượng cho cuộc truy kích. Không nhận thấy đại quân Anh từ phía Tây Bắc tới nên sau khi hội quân, Hạm đội Đại Dương của Đức tiếp tục tiến về phía Đông Bắc. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, Hạm đội Đức đối mặt với Đại hạm đội của Anh. Ngay lập tức, pháo hạm từ các tàu Đức nổ súng, tấn công đối phương. Pháo hạm của họ bắn nhanh, chính xác. Do đó, sau vài phút, nhiều tàu Anh đã bị trúng đạn. Ba tuần dương hạm chủ lực của Anh là Invincible, Warrior và Defence bị loại khỏi vòng chiến đấu, trong đó, hai tàu Invincible và Defence bị chìm sau khi nổ hầm đạn. Trong khi đó, về phía Anh, với ưu thê về binh lực, họ cũng gây cho phía Đức thiệt hại đáng kể. It nhất 1 thiết giáp hạm và 3 tuần dương hạm chủ lực của phía Đức bị trúng đạn. Thiết giáp hạm SMS Koning bị trúng 7phát đạn pháo, tuần dương hạm Derfflinger bị trúng 3 phát đạn, tàu Seydlitz bị trúng 1 phát, tàu Lutzow (soái hạm của Hipper) bị trúng 10 phát đạn, ngập nước phía trước, buộc Đô đốc Hipper phải dời sang một tàu khu trục trong đội của mình[13].
Bị nhiều thiệt hại và nhận thấy phải đối mặt với toàn bộ lực lượng của Đại hạm đội Anh, sau 5 phút giao chiến, Hạm đội Đức rút về phía Tây để bảo toàn lực lượng của mình. Cuộc rút lui của Hạm đội Đức không bị Hạm đội Anh truy đuổi. Do đó, vào khoảng 18 giờ 55 phút, phán đoán Hạm đội Anh đã rời xa chiến trường cũ, Đô đốc Scheer cho Hạm đội Đức vòng về phía Đông Bắc để tiếp tục nỗ lực trốn tránh, về cảng nhà. Song, do Hạm đội Anh tiến về phía Nam chậm nên vào khoảng 19 giờ 15 phút, họ lại đối mặt với Hạm đội Anh ở phía Đông Nam. Lần này, Đại hạm đội của Anh tiếp tục dùng chiến thuật chữ T để tiếp cận và tấn công Hạm đội Đức. Pháo hạm của phía Anh bắn nhanh và chính xác, trúng nhiều tàu Đức, trong đó có 6 thiết giáp hạm (SMS Koning, SMS Grosser, SMS Kurfurst, SMS Markgraỷ, SMS Kaỉser, SMS Heoland); trong khi đó, pháo hạm của phía Đức phản ứng chậm và kém hiệu quả hơn những lần giao chiến trước. Họ chỉ bắn trúng hai phát vào thiết giáp hạm HMS Coỉossus của phía Anh[14].
Trước tình hình đó, sau vài phút giao chiến, Đô đốc Scheer lại cho Hạm đội Đức rút về phía Tây. Đảm bảo cho cuộc lui binh lần thứ hai này, phía Đức cho các tàu tuần dương chủ lực và tàu phóng lôi ở lại kìm chân Hạm đội Anh. Về phía Anh, phát hiện quân Đức lại rút chạy, họ vẫn không truy đuổi mà tiến về phía Nam để khóa đường về của đối phương. Trong nỗ lực này, Hạm đội Anh đã gây thiệt hại nặng cho hầu hết các tuần dương chủ lực của phía Đức. Ít nhất 3 tuần dương hạm chủ lực của Đức bị thiệt hại nặng bởi đạn pháo từ tàu Anh. Hai tàu SMS Derffỉỉnger và SMS Seydlỉtz bị cháy, tAu SMS Von der Tann bị hỏng động cơ và bô phận điếu khiển, không còn khả năng cơ động[15]. Đến khoảng 21 giờ, sau khi đã đánh bại một bộ phận Hạm đội Đức, Đô đốc Jellicoe bố trí các tàu tuần dương và khu trục ở hậu quân để cảnh giới cho cuộc hành quân trong đêm của mình.
Việc phía Anh không truy đuổi, tránh giao chiến lớn trong đêm tiếp tục mang lại cơ hội lẩn trốn cho phía Đức. Quả vậy, vào khoảng 21 giờ, nhận thấy Hạm đội Anh ở phía Đông, Đô đốc Scheer mạnh bạo cho Hạm đội Đức chuyển hướng về phía Đông Nam để trở vể càng nhà. Đến trưa ngày 1 tháng 6, Hạm đội Đại Dương của Đức cập cảng Jade thành công. Trong cuộc trốn chạy này, Hạm đội Đức nhiều lần chạm chán với các tàu tuần dương và tàu khu trục Anh. Tuy nhiên, họ chỉ phải đốì phó với các tàu tại chỗ của đối phương, bị thiệt hại thêm một thiết giáp hạm tiền Dreadnought và một số tàu tuần dương và khu trục.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Trận Jutland từ chiều ngày 31 tháng 5 sang rạng sáng ngày 1 tháng 6 là trận hải chiến quy mô hạm đội duy nhất trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong trận này, phía Đức đã tiêu diệt 14 tàu chiến các loại cùng 6.784 thủy thủ đoàn của phía Anh; trong khi đó, phía Anh chỉ diệt được 11 tàu chiến các loại và 3.039 thủy thủ đoàn của Hạm đội Đức. Đáng chú ý, trong số tàu bị tiêu diệt của phía Anh, có 3 tuần dương hạm chủ lực (chiếm 8,4% số tàu chủ lực của Hạm đội Anh); bên cạnh đó, trong số tàu bị tiêu diệt của phía Đức có 1 tàu tuần dương chủ lực và 1 thiết giáp hạm loại cũ, chiếm 7,4% tổng số tàu chiến chủ lực của Hạm đội Đức[16]. Như thế, xét về tàu chủ lực phía Anh chịu nhiều tổn thất hơn phía Đức. Dựa trên tỷ số này, ngay sau trận Jutland, phía Đức tuyên bố họ giành chiến thắng trước hải quân Anh; trong khi đó, dư luận Anh chỉ trích Đại hạm đội của mình vì sự thiệt hại nhiều trong trận đánh này[17].
Song, xét tổng số tàu thiệt hại của mỗi bên, chúng ta thấy, phía Anh bị mất 14 tàu chiến trong tổng số 151 tàu, bằng 9,2%; bên cạnh đó, phía Đức bị mất 11 tàu trong tổng số 99 tàu chiến, bằng 11%. Như vậy, trong trận Jutland, phía Đức bị hao tổn binh lực hơn phía Anh. Ngoài ra, xem xét quá trình hai bên giao chiến, nhiều tàu của phía Đức cũng bị đánh thiệt hại nặng. Hầu hết các tuần dương hạm chủ lực của nước này mất khả năng chiến đấu. Có thể nói trong trận Jutland, lực lượng tàu mặt nước của hải quân đế quốc Đức đã bị suy yếu nghiêm trọng. Mức tổn hại này hẳn cho các nhà chiến lược quân sự Đức thấy rằng lực lượng tàu mặt nước của họ khó có thể đọ sức tay đôi với những tàu mặt nước của hải quân Hoàng gia Anh. Chính vì thế, sau trận Jutland, phía Đức không mạo hiểm đưa lực lượng tàu mặt nước của mình giao chiến với hải quân Anh nữa. Thay vào đó, họ lấy lực lượng tàu ngầm làm công cụ chủ yếu để đối phó với hải quân các nước phe Hiệp ước trên chiến trường này[18]. Nhận xét về thực tế này của phía Đức, một nhà báo Mỹ nói: "Hạm đội Đức đã tấn công người cai ngục nhưng nó vẫn ở trong tù"[19].
Như thế, với trận Jutland, phía Đức không thực hiện được mục tiêu đánh thiệt hại một bộ phận lực lượng Đại hạm đội của Anh để cân bằng lực lượng có lợi cho họ trên Biển Bắc; không chỉ thế, với thiệt hại phải gánh ở Jutland, lực lượng tàu chiến mặt nước không còn là công cụ chủ công, tin cậy cho việc thực hiện các ý đồ tác chiến trên chiến trường biển của Bộ Tham mưu Đức nữa.
Trong khi đó, về phía Anh như đã trình bày, họ bị mất nhiều tàu chiến và người hơn phía Đức; nhiều tàu chiến của Đại hạm đội Anh cũng bị thương trong trận giao chiến này. Nhưng, với lực lượng hùng hậu, thiệt hại ở trận Jutland không ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức chiến đấu của hạm đội này. Sau trận Jutland, Đại hạm đội Anh tiếp tục ra khơi, tuần tra trên Biển Bắc. Như vậy, tuy không diệt được toàn bộ Hạm đội Đức, giành thắng lợi lớn như họ đã có ở trận Traíalgar năm 1805 nhưng phía Anh vừa làm giảm mạnh khả năng chiến đấu của phía Đức trên chiến trường biển, vừa duy trì được năng lực kiểm soát của mình trên vùng tác chiến này.
Có thể nói, trận Jutland khẳng định thêm sức mạnh và quyền bá chủ đại dương của hải quân Hoàng gia Anh; đồng thời, làm giảm năng lực tác chiến trên biển của phía Đức; ở một mức độ nhất định, trận Jutland đã góp phần làm suy yếu một bước khả năng chiến đấu của đế quốc Đức, giúp đưa phe Hiệp ước tiếp tục tiến lên giành chiến thắng chung cuộc.
Những nỗ lực quân sự của Đức trong trận Jutland (và cả trận Coronel năm 1914) cho thấy sức mạnh hải quân Đức có thể gây tổn thương cho hải quân Hoàng gia Anh - lực lượng vốn được xem là bá chủ đại dương. Thế nhưng, kết quả chung cuộc của trận đánh này cũng cho thấy việc gây tổn thương là một chuyện, đánh bại là một chuyện khác. Hải quân Đức đầu thế kỷ XX chưa đủ điêu kiện để đương đầu toàn lực, tay đôi với hải quân Hoàng gia Anh.
Trận Jutland (31-5-1916) để lại nhiều bài học lịch sử quý giá. Trước nhất, về việc chuẩn bị tác chiến, chúng ta thấy, ý định và thời điểm hành quân của phía Đức đã bị phía Anh phát hiện. Hải quân Anh, theo đó, đã chủ động đôi phó với hành động của phía Đức. Chính vì thế, ý định tiêu diệt một bộ phận Hạm đội Anh của các nhà chiến lược quân sự Đức không thành công.
Về chỉ huy tác chiến, trận đánh này cho thấy chỉ huy Hạm đội Đức đã linh hoạt, chủ động chuyển hướng, rút lui nên hạn chế được thiệt hại và đưa hạm đội của mình trở về cảng nhà thành công. Bên cạnh đó, về phía Anh, chỉ huy hạm đội của họ không nắm chắc tình hình của đối phương nên thiếu táo bạo, quyết đoán, bỏ lỡ cơ hội dùng ưu thế binh lực của mình tiêu diệt đối phương. Qua đây, chúng ta thấy, việc nắm chắc tình hình địch, chỉ huy linh hoạt, quyết đoán là một nhân tố mang lại thành công khi lâm chiến.
Về xây dựng lực lượng, chúng ta thấy, nhờ ứng dụng kỹ thuật quân sự hiện đại nên các tàu Đức đã ngắm bắn chính xác vào các vị trí hiểm yếu, gây thiệt hại nặng cho các tàu Anh. Trong thời gian giao chiến từ 15 giờ 48 phút đến 16 giờ 54 phút, phía Đức đã bắn trúng 42 phát đạn pháo các cỡ vào 6 tuần dương hạm chủ lực của phía Anh (HMS Lion, HMS Tiger, HMS Princess Royal, HMS Queen Mary, HMS New Zealand, HMS Indefatigable); trong khi đó, các tuần dương hạm chủ lực và thiết giáp hạm của Anh chỉ bắn trúng 17 phát đạn các cổ vào 4 tuần dương hạm chủ lực của Đức. Dù thế, khi gặp lực lượng áp đảo của phía Anh, ưu thế về kỹ thuật của phía Đức lại không phát huy được. Trong thời gian giao chiến từ 19 giờ 5 phút đến 19 giờ 30 phút, các tàu của Đức bị trúng 37 phát đạn; trong khi đó, các tàu Anh chỉ bị trúng hai phát[20]. Như thế, sự tiến bộ về chất trong lực lượng quân sự vẫn cần sự đảm bảo nhất định về lượng.
Người viết: Thiếu tá NGUYỄN VĂN TRÍ
[1] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 291.
[2] N.p. Hovvard, The Social and Polotical consequences oỉthe Allied food blockade of Germany, 1918-1919, https://libcom.org/files/blockade%20 Germany_0.pdf, p. 164; http://www.nationalarchives.gov.uk/pathways/ firstworldwar/spotlights/blockade.htm.
[3] Trevor N. Dupy, The Encyclopedia of military history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 965.
[4] Trevor N. Dupy, The Encyclopedia of military history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 964; http://www.historylearningsite.co.uk/battle_of Jutland.html.
[5] Trevor N. Dupy, The Encydopedia of mỉlitary history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 965.
[6] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/sytem/files/pdf_Baftte_c/Ji7i/and.pdf.
[7] http://wvwv.edinburghs-war. ed. ac. uk/sytem/files/pdf_Battle_of Jutland.pdf
[8] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_ Jutland.pdf.
[9] Bảy phút sau khi khai hỏa pháo hạm của phía Anh mới nhằm trúng một tàu Đức. Dẫn theo: http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_ Jutland.pdf.
[10] Vincent J. Esposito, A Concise history of world warl, Ibid, p. 243.
[11] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_Jutland.pdf.
[12] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_Jutland.pdf; John Buchan, The Battle ofJutland, Thomas Nelson & Son, Ltd, London, New York, Paris, http://archive.org/details/battleofJutlandbOObch, p. 12-13.
[13] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_Jutland.pdf; Trevor N. Dupy, The Encyclopedia of military history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 966.
[14] http://www.edinburghswar.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battle_of_Jutland.pdf.
[15] Trevor N. Dupy. The Encyclopeơta of rruUtềry history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 967.
[16] Trevor N. Dupy, The Encyclopedia of military history, from 3500 BC to the present, Ibid, p. 967.
[17] Nick Hevvitt, http://www.telegraph.co.uk/history/world-war-one/inside- first-world-wai7part-eighƯ10742085/battlè-Jutland-facts.html.
[18] Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Quân đội một số nước NATO trong Chien tranh lạnh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nộỉ, 2011, tr. 171.
[19] Nick Hevvitt, http://www.telegraph.co.uk/history/world-war-one/inside- first-woríd-war/part-eighƯ10742085/battle-Jutland-facts.html.
[20] http://www.edinburghs-war.ed.ac.uk/system/files/pdf_Battie_of_Jutland.pdf.