Những Trận Hải Chiến Nổi Tiếng Thế Giới

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TRẬN TRAFALGAR

❊ ❊ ❊

(21.10.1805)

Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Anh và Pháp phát triển ngày càng mạnh mẽ. ở Anh, ngành sản xuất dạ của các nhà máy tăng từ 75 nghìn tấm năm 1788 lên 490 nghìn tấm năm 1817; về sản xuất gang, nếu như năm 1702 nước Anh sản xuất được 18 nghìn tấn thì đến năm 1802 sản lượng gang của nước này đã đạt 250 nghìn tấn; về than đá, năm 1750, các mỏ than của Anh sản xuất được hơn 4 triệu tấn, đến năm 1795, sản lượng than đá đạt 10 triệu tấn[1]. Bên cạnh đó, ở Pháp, vào cuối thế kỷ XVIII, sản lượng công nghiệp của nước này đã đóng một vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Năm 1789, ngành ngoại thương Pháp thu 1.826 triệu livre sản phẩm nông nghiệp và gần 525 triệu livre sản phẩm công nghiệp[2].

Sự phát triển kinh tế ấy thúc đẩy hai nước tham gia các cuộc chiến tranh giành giật thị trường của nhau.

Nếu như các cuộc chiến tranh ở ngoài châu Âu đã cho phía Anh thêm quyền kiểm soát ở nhiều vùng đất, hòn đảo thuộc Ấn Độ Dương, Bắc Mỹ và biển Caribbean[3] thì các cuộc chiến ở châu Âu lại cho Pháp mở rộng quyền kiểm soát ở phần Tây của châu lục này, trong đó gồm cả các nước Tây Bắc Âu (Hà Lan, Bỉ và một phần nước Đức). Thực tế ấy không chỉ là sự nới rộng thị trường cho Pháp mà còn tạo cho họ những bàn đạp chiến lược để tiến đánh nước Anh[4]. Hơn thế, phát huy thắng lợi đạt được, tháng 3 năm 1802, Pháp còn buộc Anh ký Hòa ước Amiens, theo đó, Anh phải trả cho Pháp và các đồng minh Pháp nhiều vùng đất mà họ chiếm được từ năm 1793 đến năm 1801.

Trong hoàn cảnh đó, cả Anh và Pháp đã ký Hòa ước Amiens, nhưng hai nước vẫn chủ trương tiếp tục chiến tranh. Nước Anh muốn chiến tranh để bảo vệ an ninh quốc gia của mình, đồng thời giành lại những thuộc địa đã mất; Pháp muốn tiến hành để tiêu diệt nước Anh và tiến tới bá chủ thế giới. Theo đuổi các ý đồ đó, ngày 16 tháng 5 năm 1803, Anh tuyên chiến với Pháp. Đáp lại, ngày 23 tháng 5 năm 1803, Napoléon tuyên bố cho quân đổ bộ qua eo biển Manche đánh chiếm nước Anh.

Trước khi tiến hành cuộc chiến chống nước Anh, Pháp tổ chức "Đại quân", đồng thời liên minh với Tây Ban Nha để sử dụng lực lượng hải quân hai nước chống Anh. Đáp lại, Anh lập tức cho hải quân phong tỏa các hải cảng của Pháp và Tây Ban Nha; đồng thời xúc tiến liên minh với các nước châu Âu chống Pháp. Do bị Anh phong tỏa các hải cảng nên việc tổ chức huấn luyện của quân đội Pháp gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc hợp quân giữa Pháp và Tây Ban Nha cũng bị đình trệ. Đến giữa năm 1805, một bộ phận hải quân hai nước mới liên kết thành hạm đội ở cảng Cádiz (Tây Ban Nha) do Đô đốc người Pháp Villeneuve chỉ huy (Pierre Charles Jean Baptiste Silvestre de Villeneuve). Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Anh cũng đã kịp thời thuyết phục được Nga và Áo đứng về phía mình để thành lập liên minh chống Pháp. Sau khi biết liên minh Anh - Pháp - Áo được thành lập, Pháp phải tạm gác ý định đánh chiếm nước Anh, thay vào đó, ngày 27 tháng 8, Napoléon điều "Đại quân" từ khu vực eo biển Manche đi về phía Nam, tiến đánh liên quân Nga - Áo. Để hỗ trợ cho mũi tiến quân này, ngày 28 tháng 9, Hạm đội liên hợp Pháp - Tây Ban Nha được lệnh rời cảng Cadiz tiến về Địa Trung Hải.

Việc Pháp chuyển hướng tấn công vào liên quân Áo - Nga chỉ tạm thời giúp nước Anh giải tỏa được mối đe dọa trước mắt, nhưng về lâu dài, Pháp vẫn là mối hiểm họa tiềm tàng đối với lợi ích và an ninh quốc gia của họ. Vì vậy, để loại bỏ mối hiểm họa ấy, nước Anh đã tập trung mọi nguồn lực để phát triển quân đội và lực lượng hải quân nhằm đánh bại hải quân Pháp và đồng minh.

II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ

Thực hiện ý đồ đánh bại lực lượng hải quân Pháp và đồng minh, từ đầu tháng 10 năm 1805, Anh đưa hàng chục tàu chiến cùng hàng nghìn thủy thủ tới tăng cường cho hạm đội của mình ở ngoài khơi cảng Cádiz. Sau khi được bổ sung, số tàu chiến Anh thuộc Hạm đội Cádiz đã tăng từ 22 lên 33 chiếc. Tuy nhiên, đến giữa tháng 10 năm 1805, do hoạt động của lực lượng hải quân Pháp ở vùng Địa Trung Hải leo thang, Anh đã phải điều 6 tàu chiến của hạm đội này tới eo biển Gibraltar. Vì vậy, vào thời điểm diễn ra trận Trafalgar, hải quân Anh ngoài khơi phía Tây Nam Tây Ban Nha chỉ còn lại 27 tàu chiến và 6 tàu hộ tống, được trang bị 2.500 khẩu pháo và 20.000 thủy thủ đoàn[5]. Các tàu chiến Anh hoạt động tại vùng biển Tây Nam Tây Ban Nha phần lớn là tàu cũ. Song, chúng đều là những tàu lớn, được trang bị mạnh, trong đó có 3 tàu hạng nhất ba sàn, mỗi tàu được trang bị tới 100 khẩu pháo. Đó là các tàu: Victory, Royal Sovereign và Britania. Ngoài 3 tàu chiến trên, trong hạm đội còn có 4 tàu hạng hai ba sàn, được trang bị 98 khẩu pháo. Tất cả các pháo trang bị trên tàu chiến Anh có sức chịu nhiệt, bắn nhanh và đảm bảo độ chính xác cao; các thủy thủ đều là những người từng trải qua trận mạc và có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Điểm nổi bật trong đội hình chiến đấu của quân Anh là có Phó Đô đốc Horatio Nelson - người đã mang về chiến thắng cho hải quân Anh trong trận chiến với hải quân Pháp ở sông Nile năm 1798 (Ai Cập) nắm quyền trực tiếp chỉ huy.

Thực hiện chủ trương tiêu diệt Hạm đội Pháp - Tây Ban Nha, Nelson một mặt thực hiện đòn nghi binh chiến lược bằng việc ém một bộ phận lực lượng gần bờ để trinh sát đối phương, mặt khác, triển khai toàn bộ lực lượng chiến đấu còn lại đến mũi St. Mary, cực Nam Bồ Đào Nha, cách Cádiz khoảng 80km.[6]

Image

Ban đầu, Nelson định tổ chức đội hình chiến đấu thành ba hàng gồm 40 tàu. Trong đó, hàng đầu biên chế 8 tàu, hai hàng sau mỗi hàng 16 tàu. Tuy nhiên, do một bộ phận lực lượng đã phải điều đến eo biển Gibraltar nên ông quyết định điều chỉnh đội hình chiến đấu xuống hai hàng (hai cánh quân). Cánh quân thứ nhất gồm 12 tàu, do Nelson chỉ huy; cánh quân thứ hai gồm 15 tàu chiến, do Phó Đô đốc Cuthbert Collingwood chỉ huy. Theo ý đồ chiến thuật, hai cánh quân này sẽ tiếp cận đội hình liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở phương vuông góc, theo chiến thuật hình chữ "T" và thực hiện lối đánh áp mạn. Cánh quân do Collingwood chỉ huy tấn công vào hậu quân đối phương; cánh quân do Nelson chỉ huy đánh vào đội hình trung tâm; các thuyền trưởng được tự chọn đối tượng tấn công khi tiếp cận đối phương.

III. DIỄN BIẾN

Ngày 19 tháng 10 năm 1805, lợi dụng gió thuận chiều và lực lượng quân Anh chưa được bổ sung khi 6 tàu bị điều đến Gibraltar, liên quân Pháp - Tây Ban Nha được lệnh nhổ neo. Tuy nhiên, do gió thổi nhẹ nên phải đến sáng ngày 20 tháng 10, Hạm đội Pháp - Tây Ban Nha mới ra được khỏi cảng Cádiz. Mặc dù công việc chuẩn bị đã được giữ bí mật, nhưng ngay khi các tàu chiến Anh - Pháp được lệnh nhổ neo, các tàu chiến Anh đã kịp thời phát hiện. Để lừa đối phương ra xa cảng Cádiz và ngăn không cho họ vào Địa Trung Hải, chỉ huy quân Anh ra lệnh cho các tàu chiến nhanh chóng tiếp cận eo biển Gibraltar. Sau đó, quay đầu tiến lên phía Bắc.

Khi Hạm đội Anh đổi hướng lên phía Bắc, các tàu chiến Pháp - Tây Ban Nha cũng vừa lúc tiếp cận đến khu vực phía Bắc eo Gibraltar. Phát hiện Hạm đội Anh ở phía trước, hạm đội liên hợp nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Tuy nhiên, do nhiều lý do, đặc biệt là khả năng hợp đồng chiến đấu, nên sau hai giờ, các tàu chiến liên quân Pháp - Tây Ban Nha vẫn không triển khai được đội hình. Vì chưa triển khai được đội hình chiến đấu nên đến rạng sáng ngày 21 tháng 10, khi cách Hạm đội Anh chừng 14km, Villeneuve buộc phải ra lệnh Hạm đội Pháp - Tây Ban Nha quay đầu hướng về cảng Cádiz. Trên đường trở lại điểm xuất phát, Villeneuve ra lệnh cho các tàu chiến triển khai đội hình hàng một để sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết. Tuy nhiên, cũng như lần trước, mệnh lệnh của ông không thực hiện được. Đến trưa ngày 21 tháng 10, các tàu chiến Pháp - Tây Ban Nha vẫn hành quân theo đội hình hàng hai.

Phát hiện đối phương rút về nơi xuất phát, Hạm đội Anh chia thành hai cánh quân tổ chức truy kích. Cánh thứ nhất do Nelson chỉ huy với 12 tàu, trong đó, có 2 tàu loại 100 pháo, 2 tàu loại 98 pháo, 5 tàu loại 74 pháo và 3 tàu loại 64 pháo. Cánh thứ hai, do Phó Đô đốc Collingwood chỉ huy với 15 tàu chiến, trong đó có 1 tàu loại 100 pháo, 2 tàu loại 98 pháo, 11 tàu loại từ 74 đến 80 pháo và 1 tàu loại 64 pháo[7].

Trưa ngày 21 tháng 10, khi Hạm đội Anh tới mũi Trafalgar và chỉ còn cách liên quân Anh - Tây Ban Nha 2km, Nelson ra lệnh cho hạm đội của mình thực hiện chiến thuật đánh gần. Cánh quân của Nelson tiếp cận lực lượng đi đầu. Cánh quân của Collingwood tiến lên phía trước đánh vào hậu quân đối phương. Phát hiện thấy đối phương đang tìm cách tiếp cận, chỉ huy liên quân Anh - Pháp tổ chức đánh chặn. Ngay lập tức, hai soái hạm Victory và Royal Sovereign của Anh bị các tàu chiến Pháp - Tây Ban Nha bắn chặn. Mặc dù bị bắn trả dữ dội, nhưng hai cánh quân Anh vẫn kiên quyết tiếp cận đối phương. Đến 12 giờ ngày 21 tháng 10, cánh quân thứ hai do Collingwood chỉ huy thực hiện phương án phân tán lực lượng để công kích. Soái hạm Royal Sovereign xuyên vào khoảng giữa hai tàu Santa Ana và Fougueux của liên quân Pháp - Tây Ban Nha, gây hỏng nặng cho tàu Santa Ana, khiến 14 khẩu pháo cùng 400 trăm quân của tàu này bị loại khỏi vòng chiến đấu[8]. Mặc dù soái hạm Royal Sovereign đã tham chiến và gây tổn thất lớn cho đối phương, nhưng phải hơn 20 phút sau các tàu còn lại của cánh quân thứ hai mới tham gia tiến công. Sự phối hợp không kịp thời đã khiến soái hạm Royal Sovereign bị các tàu đối phương bao vây tiến công và mất khả năng cơ động.

Tương tự như vậy, ở cánh quân thứ nhất, soái hạm Victory do Nelson chỉ huy cũng bị các tàu đối phương đánh chặn và gây hư hỏng nặng. Mặc dù vậy, tàu này vẫn kiên quyết tiếp cận đối phương. Đến 12 giờ 12 phút, soái hạm HMS Victory mở hết tốc lực xuyên thẳng vào khoảng tiếp giáp giữa tàu Bucenlaure và Redoutable của Pháp khiến tàu Bucenlaure bị thiệt hại nặng, 400 người bị thương vong, 20 khẩu pháo bị vô hiệu[9]. Sau khi gây thiệt hại nặng cho tàu Bucenlaure, soái hạm Victory tìm cách rút ra ngoài, nhưng bị hỏa lực từ 4 tàu liên quân dồn dập nhả đạn. Nhiều thủy thủ trên tàu tiếp tục bị thương nặng. Khi soái hạm Victory đang bị đối phương bao vây uy hiếp, các tàu chiến còn lại của cánh quân thứ nhất đã kịp thời ứng phó: Tàu Temeraire tiến công tàu Santissima, Trinidad, sau đó quay sang bắn phá tàu Redoutable; tàu Neptune tập trung hỏa lực vào tàu Bucenlaure và Santissima Trinidad; tiếp đó, các tàu Léviathan, Ajax, Conquéraut..., lần lượt tham chiến.

Bị quân Anh tổ chức tiến công, liên quân Pháp - Tây Ban Nha một mặt tổ chức kháng cự, mặt khác điều thêm lực lượng tới ứng chiến. Đến khoảng 2 giờ chiều cùng ngày, họ điều thêm được 5 tàu chiến và tổ chức phản công.

Trước sự phản công quyết liệt của liên quân Pháp - Tây Ban Nha, Anh quyết định dốc toàn bộ lực lượng tổ chức bao vây, tiêu diệt đối phương. Việc hai bên quyết giành thắng lợi quyết định đã làm cho trận hải chiến ngoài khơi Trafalgar trở nên đẫm máu và quyết liệt hơn. Đến 4 giờ chiều ngày 21 tháng 10, lực lượng hai bên đều bị tổn thất nặng. Phía Anh, bị đánh đắm và bị thương 8 tàu cùng gần 200 thủy thủ. Liên quân Pháp - Tây Ban Nha cũng bị đánh chìm và bị thương tới gần 1/2 số tàu còn lại. Tổn thất về sinh mạng cũng lên tới hơn 700 người[10]. Do bị tổn thất nặng trong đợt quyết chiến cuối cùng, đến cuối chiều ngày 21 tháng 10, liên quân Pháp - Tây Ban Nha buộc phải đầu hàng. Phó Đô đốc chỉ huy lực lượng liên quân Pháp - Tây Ban Nha đem được bốn chiến thuyền chạy thoát khỏi vùng chiến sự, nhưng sau đó ít ngày cũng bị quân Anh bắt sống. Những chiến thuyền Pháp sống sót chạy về cảng Cádiz nhưng các thủy thủ đều bị những người Tây Ban Nha bất bình với Chính phủ thân Pháp bắt và giết chết. Cuối cùng chỉ còn lại tàn quân của Đô đốc Villeneuve chạy thoát được về Vịnh Vigo rồi sau đó trở về Pháp và tự sát vào năm 1806.

IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH

Trận Trafalgar ngày 21 tháng 10 năm 1805 kết thúc với thắng lợi thuộc về phía Anh. Trong trận chiến này, liên quân Pháp - Tây Ban Nha bị tổn thất 18 tàu cùng 4.408 người chết và 2.545 người bị thương. Phía Anh tuy giành thắng lợi nhưng tổn thất về người và phương tiện chiến tranh cũng không nhỏ. Chỉ sau hơn 1 ngày giao chiến đã có tới 26 tàu chiến Anh bị đánh hư hỏng nặng, 1.690 người bị thương và 449 người chết, trong đó có cả Phó Đô đốc Nelson.

Thất bại của liên quân Pháp - Tây Ban Nha trong trận Trafalgar đã khiến Napoléon không thực hiện được ý định đưa hải quân vào Địa Trung Hải yểm trợ cho cuộc tấn công vào nước Áo. Sau trận đánh này, Napoléon không tiếp tục dùng hải quân làm công cụ đối đầu với nước Anh. Thay vào đó, ông dùng chiến tranh kinh tế và phong tỏa nhằm cô lập tàu thuyền Anh tiếp cận các hải cảng châu Âu. Như vậy, trận đánh này đã góp phần làm thất bại nỗ lực xây dựng sức mạnh hải quân trên biển nhằm phục vụ cho ý đồ bá chủ thế giới của Napoléon.

Đối với nước Anh, mặc dù chịu thiệt hại không nhỏ trong trận đánh này, nhưng việc đánh bại Hạm đội Pháp - Tây Ban Nha đã góp phần bảo vệ an ninh quốc gia của vương quốc Anh. Thắng lợi ấy cũng giúp Anh duy trì và củng cố vị thế của mình trên thế giới. Từ đây, Hải quân Hoàng gia Anh giữ ngôi vị thống lĩnh đại dương cho đến đầu thế kỷ XX.

Trận Trafalgar một lần nữa khẳng định chất lượng binh lực tham chiến mới là nhân tố quyết định thắng lợi. Thật vậy, trong trận đánh này, mặc dù liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã huy động lực lượng và phương tiện lớn, có thời gian chuẩn bị tương đối dài, nhưng khi thực hành chiến đấu, lực lượng của họ đã bộc lộ nhiều yếu kém.

Về tổ chức và lực lượng, các thủy thủ Pháp và Tây Ban Nha tham gia trận đánh phần lớn đều chưa có kinh nghiệm hàng hải và ít được huấn luyện tác chiến trên biển. Trong đội hình chiến đấu của Tây Ban Nha, chỉ có khoảng 20% thủy thủ được huấn luyện[11], số còn lại đều mới được huy động từ các đơn vị khác tới. Trong điều kiện đó, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã hai lần thất bại trong việc triển khai đội hình chiến đấu, bỏ lỡ cơ hội đánh quân Anh tại eo biển Gibraltar.

Về phương thức tác chiến, trong trận Trafalgar, Pháp vẫn duy trì cách tổ chức đội hình dàn tuyến và thực hiện cách đánh từ xa, trong khi đó, các khẩu pháo của họ có tầm ngắn, phương tiện hỗ trợ bắn chưa được cải tiến nên hiệu quả bắn rất thấp. Trong quá trình chiến đấu, các pháo thủ chủ yếu nhằm vào hệ thống cột buồm trên tàu đối phương làm cho đối phương mất khả năng cơ động. Tuy nhiên, trong điều kiện Anh sử dụng cách đánh áp mạn, phương pháp đó không phát huy tác dụng. Các tàu chiến Anh dù có bị bắn gãy cột buồm và mất khả năng cơ động, nhưng ở cự ly gần, các pháo hạm của họ vẫn có thể tiêu diệt đối phương. Thực tế đã chứng minh, khi hai soái hạm Victory và Royal Sovereign của Anh bị bắn gãy cột buồm vào trưa ngày 21 tháng 10, nhưng khi đã tiếp cận đối phương ở cự ly gần, các khẩu pháo trên hai tàu này vẫn nhả đạn và gây tổn thất nặng cho đối phương.

Trái ngược với quân Pháp - Tây Ban Nha, lực lượng hải quân Anh tham gia trận Trafalgar có ưu thế về nhiều mặt:

Về lực lượng, phần lớn thủy thủ tham gia trận đánh đều đã được huấn luyện bài bản, có nhiều kinh nghiệm hàng hải và khả năng tác chiến trên biển. Chỉ huy lực lượng quân Anh là Phó Đô đốc Nelson - vị lão tướng hải quân, đồng thời là người từng chỉ huy nhiều trận hải chiến trong những năm Anh thực hiện kế hoạch phong tỏa các hải cảng của Pháp và Tây Ban Nha (1803-1805). Với trình độ và kinh nghiệm ấy, khi thực hành chiến đấu, các tàu chiến Anh đã phối hợp chặt chẽ, ăn ý với nhau và thực hiện nhiệm vụ theo đúng kế hoạch.

Về phương thức tác chiến, trong trận Trafalgar, Phó Đô đốc Nelson đã mạnh dạn thay đổi cách tổ chức và bố trí lực lượng. Trước đây, trong tác chiến trên biển, hải quân Anh cũng như nhiều nước châu Âu thường tổ chức đội hình dàn tuyến. Theo đó, toàn hạm đội sẽ dàn thành tuyến để tuần tự nhả đạn. Chiến thuật này đòi hỏi khả năng chỉ huy của người hạm đội trưởng. Tuy nhiên, khi nhận thấy chiến thuật dàn tuyến không đánh tiêu diệt được, Nelson đã mạnh dạn sử dụng chiến thuật hỗn chiến, theo đó, hoạt động của hạm đội được thay thế bằng hoạt động của từng tàu chiến. Các tàu này có thể tự do cơ động, tiếp cận, phá vỡ đội hình của hạm đội đối phương. Chiến thuật hỗn chiến không chỉ mang lại chiến thắng cho Anh trong trận Trafalgar, mà còn góp phần tạo nên phương thức tác chiến mới trong lịch sử hải quân thế giới.

Về vũ khí, lực lượng hải quân Anh được trang bị pháo có khả năng chịu nhiệt, tốc độ bắn nhanh và có độ chính xác cao[12]. Đây là ưu điểm vượt trội so với trang bị và vũ khí của đối phương.

Về chiến thuật, các xạ thủ Anh thực hành bắn tầm gần, nhằm vào thành tấu đối phương để phá hủy thân tàu, pháo hạm và diệt pháo thủ. Với cách đánh đó, các khẩu pháo của phía Anh đã gây thiệt hại nặng cho đối phương và họ buộc phải đầu hàng.

Người viết: Thiếu tá, ThS NGUYỄN VĂN TRÍ

[1] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giói cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 38, 63.

[2] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giói cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 38, 63.

[3] Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, tr. 38, 63.

[4] Ê. Taclê, Napoleon Bonapart, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1963, tr.154.

[5] John Rechard Hale, Pamous sea fights from Salamis to Tsu-Shima, Ibid, p. 184.

[6] John Rechard Hale, Famous sea tights from Salamis to Tsushima, Ibid, p. 183-184.

[7] John Rechard Hale, Famous sea íights from Salamis to Tsushima, Ibid, p.199.

[8] http://www.nelson-society.com/html/documents/TheBattleOfirafalgar.pdf; Archibald Wiiberforce, The great battles of all nations from Marathon to the Surrender of Cronje, Vol.2, Ibid, p. 553.

[9] John Rechard Hale, Famous sea íights from Salamis to Tsushima, Ibid, p. 198-199.

[10] Gregory Fremont-Barnes, Victory vs Redoutable, Ships of the line at Trafalgar 1805, Ibid, p. 44; Dr lan Speller, The war at sea in the age of Napoleon and the development of maritime strategy, Ibid, p. 3.

[11] Helmut Pemsel, A history of war at sea, Naval Institute press, Annapolis, Maryland, 1979, p. 84.

[12] Dr lan Speller, The war at sea in the age of Napoteon and the development of marìtime strategy, Ibid, p. 3-4.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.