(27-28.5.1905)
Vào cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản thi hành chính sách "Đại lục", mở rộng chiến tranh sang Triều Tiên và vùng Đông Bắc Trung Quốc. Năm 1894, chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ với thắng lợi về Nhật Bản. Một năm sau đó, Nhật Bản buộc Trung Quốc phải ký Hiệp ước Mã Quan, theo đó, Trung Quốc chấp nhận để Nhật chiếm Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông. Vào thời điểm đó, nước Nga vốn có nhiều quyền lợi ở vùng này nên không chấp nhận Hiệp ước Mã Quan. Năm 1896, bằng áp lực quân sự, Nga buộc Trung Quốc phải chấp nhận để họ được quyền xây dựng tuyến đường sắt tại vùng Đông Bắc. Tiếp đó, năm 1898, Nga đề nghị Trung Quốc không thực hiện Hiệp ước Mã Quan và trả cho Nhật Bản 300 nghìn lạng bạc trắng để chuộc lại Liêu Đông và cho Nga thuê với thời hạn 25 năm, đồng thời để Nga được quyền xây dựng căn cứ hải quân Lữ Thuận.
Việc Nga và Nhật bằng mọi giá luôn tranh giành ảnh hưởng tại Lữ Thuận nói riêng và bán đảo Liêu Đông nói chung xuất phát từ vị trí địa chiến lược quan trọng của nó. Đối với Nga, có được Lữ Thuận có nghĩa là họ có lối ra biển Hoàng Hải, có chỗ đứng vững chắc để bảo vệ vùng lãnh thổ Viễn Đông xa xôi của mình, đồng thời mở rộng được ảnh hưởng xuống khu vực Nam Á. Đối với Nhật, có được Lữ Thuận sẽ giúp người Nhật phá được thế "ốc đảo" vốn thiên nhiên đã gán cho họ, đồng thời thực hiện được tham vọng mở rộng bành trướng lên vùng Đông Bắc Trung Quốc mà nhiều triều đại Nhật Bản từng tham vọng.
Sau khi thuê được Liêu Đông, Chính phủ Sa Hoàng đã đầu tư một khoản tài chính khổng lồ để xây dựng căn cứ hải quân Lữ Thuận. Quá trình xây dựng được bắt đầu từ năm 1901 và đến khi cuộc chiến tranh Nga - Nhật xảy ra vào tháng 2 năm 1904 nó vẫn chưa được hoàn thiện. Mặc dù vậy, chỉ trong vài năm, người Nga cũng đã kịp xây dựng tại đây hàng chục pháo đài cùng hệ thống phòng thủ ven biển hết sức kiên cố. Họ cũng đã kịp thời chuyển ra đây hầu hết các loại vũ khí, khí tài hiện đại nhất của Nga lúc bấy giờ, đồng thời chuyển hàng vạn dân binh ra định cư và tổ chức các trận địa đề kháng trên hầu khắp bán đảo. Chính vì lẽ đó, Lữ Thuận được coi là chiếc mỏ neo tại vùng Viễn Đông của Nga, được Trung Quốc và nhiều nước châu Âu đánh giá coi là "pháo đài bất khả kháng".
Quyết định tuyên chiến với Nga để lấy lại Lữ Thuận và Liêu Đông, người Nhật biết họ đang phải đối đầu với một cường quốc quân sự được xếp vào hàng mạnh nhất châu Âu lúc bấy giờ. Trái lại với nước Nhật, mặc dù đã cố gắng dồn sức cho việc phát triển đất nước, đặc biệt là cho nền công nghiệp quốc phòng, nhưng về cơ bản nền kinh tế của Nhật vẫn còn mang đậm dấu ấn của thời phong kiến, quân đội và hải quân chưa một lần được thử thách và chạm trán với một cường quốc quân sự châu Âu nào. Vì vậy, bước vào trận chiến với nước Nga, Bộ chỉ huy tối cao quân Nhật quyết định huy động tối đa lực lượng, kể cả lực lượng hải quân. Chỉ trong một thời gian ngắn, Nhật đã điều tới vùng Viễn Đông hàng chục vạn quân và hàng trăm tàu chiến. Với lực lượng đó, Bộ chỉ huy quân Nhật đề ra chiến lược "Đánh nhanh, thắng nhanh", trong vòng 8 giờ phải chiếm được Lữ Thuận để đối phương không có đủ thời gian ứng cứu, đồng thời tránh cho Nhật không bị rơi vào một cuộc chiến kéo dài và tiêu hao.
Thực hiện phương án tác chiến, ngày 8 tháng 2 năm 1904, không tuyên chiến, Nhật huy động một lực lượng lớn tàu chiến, bất ngờ tiến công hải đoàn Thái Bình Dương của Nga đang neo đậu tại cảng Lữ Thuận, đánh chìm 2 tàu khu trục và 1 tàu tuần dương của Nga, các tàu chiến còn lại của Nga chống trả một cách yếu ớt rồi bỏ chạy. Bị quân Nhật tiến công liên tiếp và đứng trước nguy cơ bị bao vây tiêu diệt, tháng 3 năm 1904, Chính phủ Nga Hoàng quyết định điều Đô đốc Makarov về chỉ huy Hải đoàn Thái Bình Dương. Quân Nga dần giành lại thế chủ động và mở các đòn phản công, chọc thủng vòng vây quân Nhật. Nhưng thật không may, ngày 13 tháng 4 năm 1904, trong khi truy khích quân Nhật, chiếc kỳ hạm Petropavlovsk do chính Makarov chỉ huy đã trúng thủy lôi của Nhật khiến ông cùng hàng chục sĩ quan tham mưu hy sinh. Đô đốc Whitev lên thay, Hai đoàn Thái Bình Dương lại một lần nữa quyết định rút lui vào cảng Lữ Thuận và tổ chức phòng thủ.
Biết Hạm đội Thái Bình Dương của Nga rút vào Lữ Thuận, Nhật huy động thêm lực lượng và tàu chiến, tổ chức bao vây phong toả, chặn mọi đường tiếp tế của quân Nga vào Lữ Thuận và cả Liêu Đông. Trong hơn 6 tháng bị phong toả, do nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cạn dần, cộng vào đó, lại bị bệnh dịch lây lan, nên sức chiến đấu của quân Nga giảm đi đáng kể. Lợi dụng thời cơ đó, ngày 16 tháng 8 năm 1904, Bộ chỉ huy quân Nhật huy động 130.000 quân, 400 khẩu pháo, mở cuộc tiến công đổ bộ lên Lữ Thuận. Cuộc chiến giành giật Lữ Thuận kéo dài trong gần 3 tháng. Nga lần lượt thất bại. Đến đầu tháng 1 năm 1905, hàng loạt vị trí then chốt trên tuyến phòng thủ Lữ Thuận rơi vào tay quân Nhật. Hải đoàn Thái Bình Dương của Nga cũng chỉ còn lại 7 tàu, bao gồm cả tàu phóng lôi, ca nô và thuyền.
Tin xấu liên tiếp bay về Bộ chỉ huy quân Nga tại Petrograd (nay là Saint Peterburg), tháng 10 năm 1904, Nga Hoàng choáng váng quyết định phái Hải đoàn Baltic do Đô đốc Rozhestvensky - Tham mưu trưởng lực lượng hải quân Nga chỉ huy đi ứng cứu cho Lữ Thuận. Ngày 11 tháng 10 năm 1904, hải đoàn này được lệnh rời căn cứ Tallin tiến về phía Tây, qua biển Đan Mạch, vào eo biển Manche, xuống Đại Tây Dương. Vào thời điểm đó, Anh là đồng minh của Nhật nên không cho Hạm đội Nga đi qua kênh đào Suez vào biển Hoàng Hải, nên Nga buộc phải đưa hải đoàn của mình vòng qua châu Phi xuống mũi Hảo Vọng, qua Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Sau hơn 7 tháng vượt biển với hành trình 18.000 hải lý, ngày 20 tháng 5 năm 1905 đội tàu Nga đến Thượng Hải (thời điểm đó cảng Lữ Thuận đã rơi vào tay Nhật, Đô đốc Rozhestvensky buộc phải đưa Hạm đội Nga trở về Vladivostok).
Theo kế hoạch hành quân, Hải đoàn Nga có thể qua 3 eo biển để trở lại căn cứ Vladivostok. Đó là các eo biển: La Perouse (nằm giữa Nhật Bản với Sakhalin của Nga); Tsugaru (nằm ở miền Trung Nhật Bản) và eo biển Đối Mã nằm giữa đảo Lưu Cầu của Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên. Sau khi bàn bạc kỹ với các sĩ quan tham mưu, Đô đốc Rozhestvensky quyết định chọn phương án di chuyển ngắn nhất là đi qua eo biển Đối Mã để gây bất ngờ cho hải quân Nhật. Ngày 27 tháng 5 năm 1905, các tàu chiến Nga tiến vào eo biển Đối Mã, bị quân Nhật phục kích. Trận hải chiến bùng nổ.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Trước khi bước vào trận chiến với quân Nga, Bộ chỉ huy quân Nhật đứng đầu là Đô đốc Togo ra lệnh cho các sĩ quan tham mưu nghiên cứu kỹ các trận đánh giữa quân Nga và quân Nhật diễn ra trên biển Hoàng Hải trước đây, đặc biệt là các trận Liêu Dương (8.1904); Lữ Thuận (8.1904 - 1.1905); trận Phụng Thiên (2-3.1905), v.v... Trên cơ sở phân tích dữ liệu và các sự kiện, Bộ chỉ huy quân Nhật kết luận: trong phần lớn các trận đánh, các tàu chiến Nga đều triển khai theo đội hình hàng dọc đơn tuyến, các tàu chiến có vận tốc khác nhau chạy nối đuôi nhau với khoảng cách không lớn. Phương thức tác chiến chủ yếu thiên về phòng thủ. Cách tổ chức đội hình chiến đấu như vậy không chỉ hạn chế khả năng bọc lót cho nhau mà còn làm giảm đáng kể tốc độ di chuyển cũng như khả năng cơ động của các tàu chiến. Từ kết luận đó, Bộ Tham mưu quân Nhật quyết định sử dụng một hải đội gồm 6 tàu có tốc độ cao; được trang bị hỏa pháo có sức công phá lớn tiến công nhanh vào đội hình trung tâm. Hải đội còn lại gồm 6 tàu, chia làm hai mũi tổ chức đánh chặn đầu và khóa đuôi. Các tàu còn lại bao vây vòng ngoài sẵn sàng ứng chiến khi cần thiết. Khi đội hình chiến đấu của đối phương bị rối loạn, các tàu chiến này có nhiệm vụ bao vây, ngăn chặn đường rút lui, tạo điều kiện cho các lực lượng từ bên trong tiến hành truy kích, tiêu diệt lực lượng đối phương.
Khác với kế hoạch tác chiến của quân Nhật, Hải đoàn Nga tiến vào eo biển Đối Mã chỉ nhằm rút về căn cứ Vladivostok. Với mục tiêu đó, Đô đốc Zinovy Rozhestvensky chỉ đặt nhiệm vụ cho hải đoàn tìm mọi cách vượt qua eo biển Đối Mã để tiến về Vladivostok nhằm tránh sự phát hiện của đối phương. Nga không đề ra kế hoạch tác chiến cụ thể. Các tàu chiến được bố trí theo đội hình tùy tiện và không được giao nhiệm vụ riêng. Bên cạnh đó, cả trước, trong và sau trận đánh, Hải đoàn Nga không hề tiến hành các hoạt động trinh sát nhằm tìm hiểu lực lượng và thế bố phòng của đối phương. Có thể nói, bước vào trận Đối Mã, quân Nga hoàn toàn trong thế bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật.
Tham gia trận Đối Mã, Nga huy động 38 tàu, thuyền các loại, trong đó có 12 tàu chiến gồm: 7 thiết giáp hạm (4 tàu vừa đóng mới, 3 tàu cũ), mỗi tàu được trang bị 12 khẩu pháo; 3 tuần dương hạm phòng thủ bờ, mỗi tàu được trang bị 10 khẩu pháo; 2 tàu tuần dương hạng nặng Oslyabya được trang bị 10 khẩu pháo và tàu tuần dương hạng nặng mang tên Đô đốc Nakhimov được trang bị 8 khẩu pháo. Ngoài số tàu chiến trên, trong đội hình chiến đấu của quân Nga còn có 2 tàu tuần dương hạng nhẹ Dmitri Donskoy và Vladimir Monomakh cùng một số tàu khu trục, tàu hộ tống và tàu hậu cần. Mặc dù đã qua quá trình nâng cấp và hiện đại hóa, nhưng về cơ bản các tàu chiến Nga vẫn thuộc thế hệ cũ và rất lạc hậu. Phần lớn các tàu chỉ có tốc độ chỉ từ 5 đến 8 hải lý/giờ. Vũ khí trang bị trên tàu chủ yếu là pháo có cỡ nòng từ 130 đến 180mm, tốc độ bắn chỉ từ 16 đến 18 phát/phút, đạn có sức công phá không lớn.
Khác với các tàu chiến Nga, ngay từ những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XIX, Nhật chủ trương xây dựng quân đội và hải quân mạnh để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh với Nga nhằm giành lại quyền làm chủ vùng Viễn Đông. Trên cơ sở học tập kinh nghiệm xây dựng hải quân của nước Anh, trong những năm từ 1898 đến 1904, Chính phủ Nhật đầu tư không ít sức người và sức của để thực hiện chương trình phát triển hải quân. Trong khoảng thời gian đó, Nhật đã đóng mới được 107 chiến hạm với tổng trọng tải khoảng 200.000 tấn, gồm 6 tàu chiến chủ lực, 5 thiết giáp hạm, 9 tuần dương hạm, 24 khu trục hạm, 63 tàu phóng lôi được trang bị nhiều pháo có cỡ nòng 150mm, 203mm, 254mm, 305mm.
Để giành ưu thế trong trận Đối Mã, Nhật huy động tới 50 tàu trong số các tàu chiến kể trên, trong đó có 4 tàu khu trục hạng nặng, mỗi tàu được trang bị 12 đại bác cờ lớn, 8 tàu tuần dương, mỗi tàu được trang bị 8 khẩu pháo. Ngoài đội hình chiến đấu kể trên, quân Nhật còn huy động hàng chục tàu phóng lôi và tàu hộ tống. Như vậy, nếu xét về tương quan lực lượng thì số tàu trực tiếp tham gia chiến đấu giữa Nga và Nhật trong trận Đối Mã là ngang nhau. Tuy nhiên, do các tàu chiến Nhật đều thuộc thế hệ mới, có tốc độ cao (từ 12 đến 18 hải lý/giờ), được trang bị các loại vũ khí hiện đại nên hoàn toàn giành ưu thế trong trận đánh[1].

III. DIỄN BIẾN
Đêm ngày 25 tháng 5 năm 1905, Hải đoàn Nga từ Thượng Hải chia làm 3 hải đội tiến vào eo biển Đối Mã với tốc độ chỉ 5 hải lý/giờ. Nga sử dụng 3 chiếc Svyetlana, Almaz, Ural đi trước dò đường, tiếp đến là tàu thiết giáp có tàu khu trục đi kèm hai bên, theo sau là tàu chở lương thực, y tế, sửa chữa. Giữa đêm tối, các tàu chiến Nga lần mò đi về hướng Bắc nhằm tránh được sự theo dõi của phía Nhật. Thế nhưng, vài ngày trước đó khi nhận được thông tin các tàu chiến Nga đang tiến vào eo biển Đối Mã, lực lượng gián điệp Nhật tại Thượng Hải đã báo cáo về nước. Ngay sau đó, Tư lệnh Hạm đội liên hợp Nhật (Đô đốc Togo) cử một số tàu tuần dương hạng nhẹ đi trinh sát, còn hạm tàu chia làm 3 nhóm chốt chặn trên ba ngả đường.
Hạm đội chính đóng trong vịnh Masampo sử dụng thiết giáp hạm đánh đón đầu, đoàn tàu tuần dương quay về phía sau đánh các tàu hậu cần, tàu khu trục của Nga.

Đêm ngày 26 tháng 5 năm 1905, các tàu Nga bắt đầu tiến vào eo biển Đối Mã với tốc độ chỉ 5 hải lý/giờ. Đến 22 giờ, toàn bộ hải đoàn tiến sát đến đảo Kvenpat và đến nửa đêm tiếp cận đến vùng lãnh hải do quân Nhật đang tổ chức tuần tra. Do đêm tối và sương mù dày đặc, các tàu chiến Nga lần lượt vượt qua khu vực tuần tra. Tuy nhiên, đến 2 giờ 28 phút sáng ngày 27 tháng 5, tàu tuần dương Shinano Maru phát hiện ánh đèn trên tàu hoa tiêu Orel. Ngày lập tức, tàu này tiếp cận và bám sát mục tiêu. Đến khoảng 4 giờ 20 phút, khi còn cách tàu Orel khoảng 1 hải lý, chỉ huy tàu Shinano Maru nhận ra đó là tàu chiến Nga và nhanh chóng thông báo về Bộ chỉ huy. Sau khi nhận được thông báo tàu Nga đang ở toạ độ 203, Đô đốc Togo trên kỳ hạm Mikasa chỉ huy hơn 40 tàu chiến tiến ra biển chặn đánh quân Nga. Tới 13 giờ 40 phút chiều ngày 27 tháng 5, các tàu chiến Nhật tiếp cận tàu chiến Nga. Đô đốc Togo hạ lệnh trương kỳ hiệu và phát lệnh khai hỏa.
Khi chiến sự nổ ra, Hải đoàn Nga đang di chuyển từ hướng Nam về hướng Bắc, Hạm đội Nhật từ hướng Bắc về hướng Nam. Nhằm phát huy ưu thế hỏa lực và tốc độ tàu Đô đốc Togo hạ lệnh cho Hạm đội Nhật chuyển hướng tiếp cận để các tàu chiến của ông có cùng hướng di chuyển với các tàu Nga. Đến chiều ngày 27 thang 5, hai đội tàu Nga – Nhật đối diện nhau và tạo thành hai đường thẳng. Việc Hạm đội Nhật chuyển hướng 180 hình chữ U thành công đã đặt hai hạm đội vào thế song song cách nhau 6.200m. Đến 14 giờ 10 phút, tàu chiến Nhật bắt đầu nhả đạn vào Hải đoàn Nga. Do trận đánh diễn ra ở khoảng cách gần, cộng vào đó, do các tàu chiến Nhật có tốc độ đến 16 hải lý/giờ, trong khi đó các tàu Nga chỉ có thể di chuyển với tốc độ 8 hải lý (một phần vì vướng các tàu vận tải đi theo) nên Đô đôc Togo lợi dụng ưu thế này cắt ngang Hạm đội Nga theo hình chữ "T", sau đó tổ chức chia cắt, đánh đòn phủ đầu và bao vây Hạm đội Nga.
Nhờ có ưu thế về tốc độ và uy lực hỏa pháo trên các tàu chiến, trong thời gian ngắn các tàu chiến Nhật đã lần lượt đánh chìm nhiều tàu chiến Nga. 14 giờ 30 phút ngày 27 tháng 5, tàu tuần dương hạng nặng Oslyabya bị trúng đạn tạo nên đám cháy lớn trên boong. Nửa giờ sau tàu chìm khiến cả đội hình chiến đấu Nga rơi vào rối loạn. Lợi dụng thời cơ đó, các tàu chiến có tốc độ cao của Nhật tiến hành đánh chia cắt, buộc các tàu chiến còn lại phải quay đầu về hướng Nam. Trong lúc đang tìm cách thoát khỏi sự bao vây của quân Nhật thì kỳ hạm Suvosov bị trúng đạn, Đô đốc Rozhestvensky và một số sĩ quan tham mưu bị trọng thương và buộc phải rời đài chỉ huy. Đến 19 giờ 30 phút, kỳ hạm Suvosov bị trúng thủy lôi và bị chìm. Đô đốc Rozhestvensky bị bắt, Chuẩn Đô đốc Negobatov trên tàu đại đế Nicolai I năm quyền chỉ huy Ham đội Nga. Mặc dù biết các tàu chiến Nhật đang tổ chức đánh chặn đầu ở phía Bắc, nhưng khi lên nắm quyền chỉ huy, Negobatov vẫn ra lệnh cho các hải đội Nga lợi dụng đêm tối và sương mù phân tán lực lượng di chuyển về phía Bắc để tiếp tục hành trình tiến về Vladivostok. Nắm được ý đồ đó, Đô đốc Togo ra lệnh cho hàng chục tàu phóng lôi và tàu khu trục lùng sục trên biển. Đến 20 giờ, Hạm đội Nga bị lộ khi bật đèn pha trong quá trình hành quân. Ngay lập tức Nhật tổ chức tiến công. Chiến hạm Navarin (Nga) bị trúng 4 quả ngư lôi và chìm xuống biển cùng 622 thuỷ thủ đoàn. Khi tàu Navarin bị đánh chìm, đội hình chiến đấu của Nga nhanh chóng tản ra các hướng để tránh hỏa lực của đối phương. Đến khoảng 22 giờ, lực lượng này tái tập hợp và tiếp tục hành trình tháo chạy lên phía Bắc. Do bị đón lõng từ nhiều hướng, trong đêm ngày 27 tháng 5, Nga còn mất thêm 1 tàu thiết giáp và 2 tàu tuần dương bọc thép. Thiệt hại của Nhật trong các trận giao tranh đêm ngày 27 tháng 5 là các tàu phóng lôi số 34, 35, 69 bị chìm, một số tàu khu trục và phóng lôi khác bị hư hỏng nhẹ nhưng phải rời vị trí chiến đấu.
Rạng sáng ngày 28 tháng 5, khi phát hiện các tàu chiến Nga đang tháo chạy lên phía Bắc, Đô đốc Togo hạ lệnh cho các tàu khu trục có tốc độ cao đuổi theo và vây đoàn tàu Nga tại khu vực phía Bắc đảo Takeshima, buộc quân Nga một lần nữa phải quay đầu về phía Nam. Trong tình thế đó, Chuẩn Đô đốc Negobatov ra lệnh cho các tàu chiến Nga thực hiện lối đánh cảm tử. Tuy nhiên, do tốc độ tàu chậm và hỏa lực pháo không phát huy được trong đêm tối nên cách đánh của quân Nga không phát huy được tác dụng. Không những vậy, một số tàu của Nga còn bị các tàu phóng lôi của Nhật đánh chìm. Đến 2 giờ sáng ngày 28 tháng 5, một số tàu chiến Nga quyết định mở đường máu thoát lên phía Bắc, số còn lại tháo chạy về phía Nam và ẩn náu tại cảng Thượng Hải và Manila (Philippines) nhưng đều bị chính quyền sở tại bắt giữ.
10 giờ 34 phút sáng ngày 28 tháng 5, nhận thấy tình hình đã trở nên tuyệt vọng, đồng thời để bảo toàn tính mạng cho thuỷ thủ đoàn, Chuẩn Đô đốc Negobatov đã lệnh cho 4 chiến hạm dưới quyền đầu hàng Nhật, riêng tàu tuần dương hạm Ushakov từ chối đầu hàng bị bắn chìm. Tới 10 giờ 53 phút ngày 28 tháng 5, quân Nhật chấp nhận đầu hàng của Nga, nhưng trong đêm 28 tháng 5 các tàu chiến Nhật vẫn được lệnh tiếp tục săn lùng, truy đuổi đánh đắm và bắt thêm được một số tàu chiến Nga. Kết thúc trận Đối Mã, chỉ có hai chiếc khu trục và 1 tàu tuần dương hạng nhẹ của Nga chạy thoát được về cảng Vladivostok.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Kết thúc trận Đối Mã, phía Nga bị thương vong và bị bắt hơn 10.000 quân, 28 tàu bị đánh chìm, 8 tàu bị bắt, trong đó có 209 sĩ quan, 75 thợ máy và nhân viên kỹ thuật, 4.761 hạ sĩ quan. Hạm đội liên hợp Nhật thương vong 700 quân, bị chìm 3 tàu phóng lôi[2]. Sau trận Đối Mã, Nga hoàn toàn thất bại trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) và buộc phải ký Hiệp ước Portsmouth, theo đó, Nga mất quyền độc chiếm Lữ Thuận; phải nhượng cho Nhật phần phía Nam bán đảo Sakhalin và chấp nhận để Nhật chiếm đóng Triều Tiên. Bên cạnh đó, Nga còn phải chấp nhận trao trả Mãn Châu cho Trung Quốc; chuyển toàn bộ phần đường sắt phía Nam Mãn Châu cho Nhật[3].
Thất bại của Nga trong trận Đối Mã xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, bước vào trận đánh, phía Nga vẫn đánh giá thấp lực lượng đối phương và chuẩn bị trận chiến rất sơ sài. Như đã đề cập ở trên, mục tiêu chủ yếu của Hải đoàn Nga khi tiến vào eo biển Đối Mã là để rút về căn cứ hải quân Vladivostok. Vì vậy, Nga không hề chuẩn bị kế hoạch cho trận đánh. Khác với phía Nga, sau khi giành thắng lợi trong trận Lữ Thuận (1.1905), Bộ chỉ huy quân Nhật khẳng định, Nga sẽ điều lực lượng tới tăng viện, nên Togo đã lên kế hoạch cụ thể để đối phó. Khi Hải đoàn Nga tiến vào eo biển Đối Mã, phía Nhật hoàn toàn nắm thế chủ động, buộc quân Nga phải đánh theo cách đánh của họ và cuối cùng bị rơi vào thế vây tiêu diệt.
Thứ hai, xét trên tương quan lực lượng, hai bên có số lượng tàu chiến ngang nhau. Tuy nhiên, các tàu chiến Nga tham gia trận Đối Mã chủ yếu là tàu thiết giáp hạm thế hệ cũ, tốc độ chậm, trang bị vũ khí lạc hậu, trong khi đó các tàu chiến Nhật vừa đóng mới, có trọng lượng nhẹ, công suất lớn và có khả năng cơ động cao. Bên cạnh đó, các tàu này còn được trang bị các loại vũ khí, trang bị tương đối hiện đại như: ngư lôi, pháo tầm xa[4] có tốc độ bắn nhanh, những phương tiện liên lạc mới như điện tín, điện báo và các đài radio thu phát tín hiệu, v.v... Điểm khác biệt chủ yếu giữa các tàu chiến Nga và Nhật tham gia trận Đối Mã là trong hạm tàu của Nhật có nhiều loại tàu chiến khác nhau. Với quan niệm cho rằng, trong tác chiến trên bộ, lực lượng bộ binh luôn được pháo binh, kỵ binh, công binh, v.v... yểm trợ, người Nhật đã tổ chức Hạm đội hải quân theo kiểu tương tự. Theo đó, ngoài các thiết giáp hạm có trọng tải lớn, được trang bị các loại pháo tầm xa, Nhật còn cho đóng các tàu có trọng tải nhỏ như: tàu tuần dương, có nhiệm vụ tìm kiếm và truy kích đối phương; tàu phóng lôi có nhiệm vụ tiến công đối phương ở cự ly gần; tàu hộ tống có nhiệm vụ bảo vệ các tàu khu trục, v.v... Nhờ sự đa dạng của các loại tàu chiến, quân Nhật có thể tiếp cận đối phương ở mọi góc độ, cự ly và luôn giành quyền chủ động trong chiến đấu.
Điểm khác biệt nữa trong đội hình chiến đấu của Nhật là các khẩu pháo trang bị trên tàu được sử dụng đạn mới. Loại đạn này được cải tiến dựa trên trên 3 nền tảng công nghệ mới. Đó là: thứ nhất, đầu đạn dùng thuốc nổ Shimose có sức công phá lớn. Nhiệt tỏa ra từ vụ nổ cao hơn nhiều so với các loại đầu đạn thông thường; thứ hai, vỏ đầu đạn được làm bằng loại hợp kim mỏng, bền giúp giảm trọng lượng đầu đạn, đồng thời phát huy tối đa áp lực nổ; thứ ha, ngòi nổ Ijuin cho phép đầu đạn nổ khi chạm mục tiêu thay vì chỉ nổ khi xuyên qua lớp vỏ tàu. Một cải tiến nữa đối với các khẩu pháo là chúng có tốc độ bắn nhanh (trên 10 phát/phút); được hỗ trợ bởi các thiết bị định hướng và xác định cự ly; có thể bắn từ các vị trí bị che khuất và có khả năng tập trung hỏa lực. Với tất cả những cải tiến trên, các tàu chiến Nhật có ưu thế gần như tuyệt đối về hỏa lực. Các đầu đạn pháo tuy không xuyên thủng lớp vỏ thép dày của thiết giáp hạm, nhưng chúng phá hủy hầu hết các trang thiết bị trên boong khiến các tàu hoàn toàn mất khả năng chiến đấu.
Thứ hai, khi tham gia trận Đối Mã, phần lớn sĩ quan và thủy thủ Nga, kể cả Đô đốc Rozhestvensky và Chuẩn Đô đốc Negobatov đều là nhưng người chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Mặc dù được huấn luyện và đào tạo một cách tương đối bài bản tại Trường hải quân Saint Petersburg, nhưng phần đông trong số họ đều chưa một lần tham gia trận mạc. Mặt khác, khi được điều từ Hạm đội Baltic sang vùng Viễn Đông, môi trường và điều kiện tác chiến cũng hoàn toàn mới. Vì vậy, quân Nga, chưa có điều kiện làm quen với chiến trường, chưa hiểu rõ phương thức tác chiến của đối phương. Trái ngược với quân Nga, lực lượng quân Nhật tham gia trận Đối Mã phần đông là những người đã tham gia cuộc chiến tranh Nga - Nhật ngay từ đầu, họ từng tham gia nhiều trận đánh trong thời gian diễn ra chiến dịch Lữ Thuận. Vì vậy, hàng ngũ sĩ quan và binh sĩ không những quen với trận mạc, chiến trường mà còn biết cả tính cách và phương thức tác chiến của người Nga.
Vượt lên tất cả, thất bại của Nga trong chiến tranh Nga - Nhật nói chung, trong trận Đối Mã nói riêng là do chế độ Sa Hoàng - một chế độ phản động và mất lòng dân đã kìm hãm sự phát triển của đất nước trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có cả lĩnh vực quân sự. Đúng như Lênin đã viết: "Không phải nhân dân Nga mà chính là chế độ chuyên chế đã đưa tới một thất bại nhục nhã"[5]. Thất bại của Nga trong trận Đối Mã còn là do sự lãnh đạo bất tài và việc cầm quân kém cỏi của một tướng lĩnh quân đội Nga. Điều đó không chỉ thể hiện ở tầm chiến lược mà cả tầm chiến thuật.
Thất bại của Nga trong trận Đối Mã không chỉ tác động mạnh đến nước Nga mà còn tác động cả đến môi trường chính trị thế giới. Sau trận Đối Mã nền kinh tế chính trị và xã hội Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, Hạm đội Baltic gần như bị xoá sổ, thế lực của Nga ở Viễn Đông giảm mạnh. Nước Nga từ một cường quốc hải quân trên thế giới trở thành một nước yếu và bị phụ thuộc về chính trị. Sau trận Đối Mã, phong trào phản chiến nổ ra khắp nơi. Đảng công nhân xã hội dân chủ tổ chức nhiều cuộc biểu tình thị uy ở Saint Petersburg, Moscow và nhiều tỉnh thành khác. Khắp đất nước Nga vang lên khẩu hiệu "Đánh đổ chế độ chuyên chế Sa Hoàng"; "Đả đảo chiến tranh". Các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân diễn ra sau trận Đối Mã đã châm ngòi cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1905, giáng một đòn mạnh mẽ vào nền thống trị địa chủ tư sản Nga; làm suy yếu chế độ Sa Hoàng và báo trước cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đối với Nhật, thắng lợi của trận Đối Mã đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế, chính trị, quân sự và nhận thức của người Nhật. Sau trận đánh đó, Nhật Bản độc chiếm Triều Tiên, Mãn Châu và trở hành cường quốc hải quân trên thế giới. Do nhận được nguồn tài nguyên to lớn và dồi dào từ Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật Bản nhanh chóng trở thành cường quốc kinh tế châu Á và là một trong những cường quốc công nghiệp. Cùng với đó, nhận thức của giới lãnh đạo quân sự và chính trị của Nhật Bản cũng đã có những thay đổi căn bản. Họ cho rằng, Nhật Bản là một quốc gia biển. Vì vậy, muốn làm chủ được vận mệnh của mình và trở hành cường quốc hải quân, đồng thời giành quyền thống trị Thái Bình Dương không còn cách nào khác là phải nhanh chóng cải cách lực lượng hải quân. Với nhận thức đó, trong suốt thời Minh Trị, Nhật Bản đã tập trung phần lớn nguồn lực của đất nước để phát triển các hạm đội tàu. Trong vòng hơn 10 năm kể từ sau trận Đối Mã, từ một nước chỉ có vài chục tàu chiến có khả năng tác chiến trên đại dương, Nhật Bản đã có tới 6 hạm đội tàu có thể vươn xa tới bờ Tây Thái Bình Dương. Các tàu chiến Nhật không chỉ được cải tiến theo phương thức "gọn, nhẹ, cơ động" mà còn được trang bị các loại vũ khí hiện đại, trong đó phải kể đến các loại hỏa pháo, thủy lôi và các trang thiết bị thông tin vô tuyến. Những cải cách trong lực lượng hải quân Nhật Bản đã kéo theo những thay đổi trong tư duy xây dựng lực lượng và tác chiến hải quân trên thế giới.
Trận Đối Mã được coi là một trong những trận hải chiến nổi tiếng thế giới bởi đây không chỉ là trận đánh đầu tiên trong lịch sử một quốc gia châu Á đánh bại một cường quốc châu Âu trong trận hải chiến quy ước, mà còn để lại nhiều bài học về quân sự.
Về kỹ thuật quân sự, trận Đối Mã được coi là một trong những trận đánh chứng tỏ tính vượt trội của các loại tàu chiến cỡ nhỏ, tốc độ nhanh và được trang bị các loại pháo có tốc độ bắn nhanh, sức công phá lớn. Sau trận Đối Mã, nhiều cường quốc hải quân, trong đó có cả Anh, Mỹ và một số nước châu Âu bước vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có trên biển. Nhiều nước đã tiến hành chương trình cải cách hải quân sâu rộng. Nếu như trước đây, các cường quốc hải quân đều cho rằng, tàu lớn, pháo lớn mới là điều kiện tiên quyết để giành quyền làm chủ trên biển, thì nay tư tưởng đó đã thay đổi. Sau trận Đối Mã, nhiều nước chuyển sang xây dựng hạm đội hỗn hợp với nhiều loại tàu có khả năng tác chiến khác nhau. Phần lớn các tàu chiến đều là tàu nhỏ, nhẹ hơn so với các tàu trước đây, nhưng chúng lại có sức cơ động cao và được trang bị các loại vũ khí hiện đại hơn. Quá trình chạy đua vũ trang trên biển diễn ra trong suốt hơn 10 năm và chỉ dừng lại khi Chiến tranh thế giới bùng nổ.
Về phương thức tác chiến hải quân, trận Đối Mã đã để lại nhiều bài học có giá trị, trong đó phải kể đến bài học đánh chia cắt và bao vây trên biển. Nếu như trước trận Đối Mã, phần lớn hải quân các nước thường dùng lôi đánh áp mạn hoặc dùng pháo binh để tiêu diệt đối phương từ xa, thì trong trận Đối Mã, Đô đốc Togo táo bạo dùng chiến thuật đội hình chữ "T" để tiến công đối phương. Khi phát hiện các tàu chiến Nga đang hành trình về phía Nam theo đội hình hàng dọc đơn tuyến, Togo quyết định dùng 4 tàu tuần dương tốc độ nhanh tiến sát, đánh vào chính diện đội hình trung tâm, khiến đội hình quân Nga bị chia cắt làm đôi. Sau khi phát hiện đội hình đối phương bị tan rã và chia cắt, Nhật sử dụng các tàu phóng lôi, thiết giáp hạm và các tàu chiến nhỏ tổ chức bao vây và đánh tiêu diệt. Cách đánh của quân Nhật trong trận Đối Mã sau đó đã được áp dụng tương đối rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Như vậy, cùng với những tác động chính trị, trận Đối Mã đã tạo nên bước ngoặt trong cách tổ chức hạm đội và phương thức tác chiến trên biển. Trận đánh đó còn để lại nhiều bài học có giá trị về tổ chức huấn luyện, công tác bảo đảm bí mật quân sự, chỉ huy, hiệp đồng và vận dụng cách đánh sáng tạo để áp đảo đối phương và giành thắng lợi.
Người viết Thượng tá, TS LÊ ĐỨC HẠNH
[1] Helmut Pemsel, A history of war at sea, Ibid, p.56
[2] Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, 2005, tr.1.055.
[3] Eric Goldsten, Wars and Peace treaties (1816-1991), London, 1992, p.109.
[4] Trong trận Đối Mã, pháo được trang bị trên các tàu chiến Nga chỉ có tầm bắn 3 - 4km, trong khi đó các tàu chiến Nhật được trang bị các loại pháo có tầm bắn tới 5 - 6km. Dẫn theo: John Richard Hale, Famous sea fights from Salamis to Tsushima, Ibid, p.308.
[5] Khoa Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự thuộc Học viện quân sự M.V. Phrunde, Học viện quân sự Bộ đội thiết giáp P.IA. Malinốpxki, Lịch sử chiến tranh và Nghệ thuật quân sự, Vũ Quang Kha, Trần Anh Tuấn dịch, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản năm 1986, tr.73.