(1.11.1914)
Tháng 8 năm 1914, mâu thuẫn về thị trường và thuộc địa đã dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất giữa hai phe đế quốc, một bên là phe Hiệp ước, gồm các nước: Anh, Pháp, Nga, Nhật và bên kia là phe Liên minh, gồm các nước: Đức, Áo, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ.
Chiến tranh diễn ra ở cả trên bộ và trên biển. Trên chiến trường biển, để chống lại hải quân Hoàng gia Anh và phối hợp với các đòn tấn công trên bộ, nước Đức tập trung hầu hết lực lượng hải quân của mình ở biển Bắc và Bắc Đại Tây Dương (245 trong số 255 tàu chiến các loại), ở những vùng biển này, trong hai tháng 9 và 10 năm 1914, tàu ngầm Đức đã đánh đắm ít nhất 5 tàu tuần dương và thiết giáp hạm của hải quân Hoàng gia Anh. Hơn thế, hoạt động của tàu ngầm Đức đã buộc phía Anh phải chuyển căn cứ hải quân ra xa biển Bắc gần 500km, từ Scapa Flow đến Rosyth, Scotland[1]. Phối hợp với các hoạt động tác chiến ở các vùng biển châu Âu, bộ phận còn lại của hải quân Đức phục kích các tàu vận tải và thương thuyền của phe Hiệp ước trên các tuyến hàng hải ở Đại Tây Dương, Ân Độ Dương và Thái Bình Dương.
Ở châu Á Thái Bình Dương, hải quân Đức có Hải đội Viễn Đông với 2 tàu tuần dương hạng nặng Scharnhorst và Gneisenau, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ Emden và Nurnberg, do Phó Đô đốc Maximilian von Graf Spee chỉ huy. Đây là những tàu chiến hiện đại, trang bị mạnh và được giáp sắt ở thân tàu. Hai tàu Scharnhorst và Gneisenau đều hạ thủy năm 1906, thủy thủ đoàn 765 người, tốc độ cao nhất 43km/h, pháo chính trên mỗi tàu gồm 8 khẩu loại mới cỡ nòng 210mm, tầm bắn xa nhất 12km, 6 khẩu cỡ nòng 150mm, tầm bắn xa nhất 12km; tàu Nurnberg hạ thủy năm 1906, thủy thủ đoàn 322 người, tốc độ cao nhất khoảng 43km/h, pháo chính có 10 khẩu cỡ nòng 100mm, tầm bắn xa nhất 9km; tàu Emden hạ thủy năm 1908, pháo chính gồm 8 khẩu cỡ nòng 210mm[2].
Thực hiện nhiệm vụ tấn công các tàu vận tải của phe Hiệp ước, hải đội này cần đảm bảo về lương thực, thực phẩm, nhất là than đá cho động cơ hơi nước của các tàu. Nhưng khi chiến tranh bùng nổ, các thuộc địa của Đức ở Viễn Đông - nơi cung cấp nhiên liệu và lương thực cho hải đội này nhanh chóng bị các nước phe Hiệp ước tấn công, khống chế. Tháng 9 năm 1914, thuộc địa Thanh Đảo của Đức bị quân Nhật bao vây; cùng thời gian này, thuộc địa Samoa của Đức bị liên quân quân Anh, Pháp, Úc, New Zealand đánh chiếm. Trong khi đó, ở châu Mỹ, nhất là Nam Mỹ, có nhiều nước trung lập. Nơi đây, nhiều thương nhân Đức đang kinh doanh. Vì thế, để đảm bảo tiếp liệu trong quá trình tác chiến, ngày 13 tháng 8 năm 1914, chỉ huy Hải đội Viễn Đông của Đức, Phó Đô đốc Maximilian von Graf Spee quyết định đưa lực lượng của mình đến khu vực duyên hải phía Tây của Nam Mỹ để tác chiến.
Đảm bảo cho việc tác chiến ở vùng biển phía Tây Nam Mỹ của Hải đội Viễn Đông, một mặt, tuần dương hạm Emden của đơn vị này được điều đến vùng biển Ấn Độ Dương để đánh lạc hướng chú ý của đối phương, mặt khác, hải đội này được tăng cường thêm hai tàu tuần dương Đức đang hoạt động ở các vùng biển châu Mỹ. Theo đó, vào giữa tháng 10, tại đảo Easter thuộc Chile, Hải đội Viễn Đông nhận thêm hai tàu tuần dương hạng nhẹ Leipzig và Dresden. Tàu Leipzig hạ thủy năm 1905, thủy thủ đoàn 303 người, tốc độ cao nhất 40km/h, vũ khí chính có 10 khẩu pháo cỡ nòng l00mm, tầm bắn xa nhất 9km; tàu Dresden hạ thủy năm 1907, thủy thủ đoàn 361 người, tốc độ cao nhất 46km/h, vũ khí chính có 10 khẩu pháo cỡ nòng l00mm, tầm bắn xa nhất 9km.
Như thế, tác chiến ở vùng biển Nam Mỹ, phía Đức có một hải đội 5 tàu tuần dương và 2.155 thủy thủ đoàn. Họ là những quân nhân chuyên nghiệp, được tuyển chọn[3].

Việc Đức tập trung hầu hết lực lượng hải quân tại Biến Bắc và Đại Tây Dương buộc Anh cũng phải giữ phần lớn lực lượng hải quân của mình ở các vùng biển gần nhà để đảm bảo an ninh quốc gia (445 trong số 549 tàu các loại[4]). Họ cũng tổ chức các cuộc săn diệt tàu hải quân Đức ở các vùng biển nói trên. Ngày 28 tháng 8, ở Helgoland (Biển Bắc), 5 tàu tuần dương hạng nặng của Anh đã đánh đắm 3 tàu tuần dương của Đức.
Song sự hiện diện và đánh phá của các tàu tuần dương Đức trên các tuyến hải thương cũng là một mối nguy hại lớn đối với nước Anh - quốc gia chiếm 3/4 hoạt động vận tải biển của thế giới[5]. Vì vậy, bên cạnh nỗ lực chiến tranh ở các vùng biển gần nhà, Chính phủ Hoàng gia Anh cũng cho hải quân của mình tìm diệt các tàu tuần dương của Đức trên các tuyến đường biển ở các đại dương. Trên tuyến đường biển phía Nam châu Mỹ, tháng 9 năm 1914, Anh bố trí Hải đội thứ tư do Đề đốc Christopher Cradock chỉ huy để đối phó với Hải đội Viễn Đông của Đức. Hải đội thứ tư được biên chế 4 tàu chiến cùng thủy thủ đoàn 2.351 người, trong số 4 tàu chiến được trang bị đó có 2 tàu tuần dương hạm hạng nặng Good Hope, Monmouth, 1 tuần dương hạm hạng nhẹ Glasgow) và một tàu vận tải vũ trang Otranto. Hai tàu Good Hope và Monmouth đều được hạ thủy năm 1901; trong đó, soái hạm Good Hope có tốc độ cao nhất 44km/h, pháo chính gồm 2 khẩu cỡ nòng 235mm, tầm bắn xa nhất ll,5km, 16 khẩu cỡ nòng 150mm, tầm bắn xa nhất l0km; tàu Monmouth có tốc độ cao nhất 45km/h, vũ khí chính có 14 khẩu pháo cỡ nòng 150mm, tầm bắn xa nhất l0km; tàu Glasgow) hạ thủy năm 1909, tốc độ cao nhất 48km/h, pháo chính gồm 2 khẩu cỡ nòng 150mm, tầm bắn xa nhất l0km, 10 khẩu l0lmm; tàu Otranto được đưa vào hoạt động năm 1909, tốc độ lớn nhất 33km/h, vũ khí chính có 4 khẩu pháo cỡ nòng ll0mm, tầm bắn xa nhất 9km.[6]
Như vậy, so với Hải đội Viễn Đông của Đức, Hải đội thứ tư của Anh không chỉ ít hơn về sốlượng mà còn kém về chất lượng. Nửa số tàu của hải đội này - các tàu chủ lực, có độ tuổi cao (trên 10 năm), lạc hậu. Sự không đồng đều này hẳn không thuận lợi cho Hải đội Anh hiệp đồng tác chiến, về vũ khí, tuy phía Anh sở hữu pháo hạm cỡ nòng lớn hơn phía Đức nhưng số pháo này chỉ có hai khẩu cỡ nòng 235mm, tầm bắn xa nhất ll,5km đặt trên soái hạm Good Hope. Trong khi đó, phía Đức có đến 16 khẩu pháo hiện đại cỡ nòng 210mm, có tầm bắn xa hơn 12km, đặt trên hai tuần dương hạm hạng nặng Scharnhorst và Gneisenau. Hơn thế, thủy thủ đoàn của Hải đội Anh phần lớn là quân dự bị (trừ thủy thủ đoàn trên tàu Glasgow)), chưa từng thực hành bắn pháo trên biển[7].
Nhận thấy sự yếu kém của mình, ngày 14 tháng 10 năm 1914, Bộ hải quân Anh chủ trương lập hai hải đội. Một hải đội hoạt động ở vùng biển phía Đông; một hải đội tác chiến ở vùng biển phía Tây của Nam Mỹ. Nhiệm vụ tìm diệt Hải đội Đức ở vùng biển phía Tây của Nam Mỹ do Hải đội thứ tư đảm nhận.
Tác chiến ở vùng biển phía Tây của Nam Mỹ, hải đội của Đề đốc Cradock được tăng cường thiết giáp hạm Canopus. Tàu này có hỏa lực mạnh. Pháo chính của tàu gồm 4 khẩu cỡ nòng 305mm, tầm bắn xa nhất 12km và 12 khẩu 151mm. Tuy nhiên, tàu này có tốc độ chậm (tốc độ cao nhất đạt 22km/h) nên đến đầu tháng 11 năm 1914, tàu này vẫn chưa tham gia vào các hoạt động tuần tra của Hải đội Viễn Đông. Trước tình hình đó, Chính phủ Hoàng gia Anh chủ trương tranh thủ sự trợ giúp của hải quân Nhật để đối phó với Hải đội Viễn Đông của Đức. Theo đó, ngày 28 tháng 10 năm 1914, Bộ hải quân Anh chỉ thị Đề đốc Cradock tránh giao chiến, bảo toàn lực lượng chờ sự tiếp ứng của hải quân Nhật[8].
II.QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Không thực sự được tăng cường sức mạnh nhưng Hải đội thứ tư của Anh vẫn tuần tra, tìm kiếm Hải đội Viễn Đông của Đức ở vùng biển phía Tây Nam Mỹ. Theo đó, ngày 29 tháng 10, Hải đội Anh hành quân dọc bờ biển Chile, hướng lên phía Bắc. Trong nỗ lực này, Đề đốc Cradock cử tàu Glasgow tới cảng Coronel (Chile) để trinh sát về hoạt động của các tàu chiến Đức. Ngày 31 tháng 10, qua trinh sát điện tín, tàu Glasgow của Anh phát hiện sự hiện diện của tàu Đức Leipzig trong khu vực cảng Coronel. Ngay trong ngày này, thông tin đó được chuyển tới soái hạm Good Hope của Hải đội thứ tư (đang ở cách cảng Coronel 80km về phía Tây Nam).
Sự hiện diện đơn lẻ của tàu chiến Đức là cơ hội thuận lợi cho Hải đội thứ tư giành chiến thắng. Do đó, Đề đốc Cradock triệu tàu Glasgow) về và quyết định điều toàn bộ lực lượng hiện có của mình (4 tàu chiêh) tới khu vực cảng Coronel tìm diệt tàu Leipzig của Đức[9]. Thực hiện mục tiêu này, Hải đội Anh chủ trương hành quân theo hàng ngang tiến lên phía Bắc, giãn cách mỗi tàu khoảng 24km; trong đó, tàu Good Hope đi ngoài cùng, tàu HMS Glasgou) đi trong cùng, gần bờ biển Chile. Khi phát hiện tàu Đức, Hải đội Anh tổ chức đội hình tác chiến theo hàng đơn, soái hạm Good Hope đi tiên phong, kế đó là các tàu Monmouth, Gỉasgou) và tàu Otranto[10].
Trong khi đó, về phía Đức, cũng trong ngày 31 tháng 10, từ phía Nam cảng Vallparaiso, Chile, soái hạm Scharnhorst nhận được tin báo từ tàu Leipzig về sự hiện diện của tàu Anh Glasgow. Để tiêu diệt chiếc tàu này, Phó Đô đốc von Spee chủ trương điều toàn bộ hải đội xuống phía Nam để vào cảng Coronel. Khi tới cảng, tàu Gneisenau sẽ chốt ở vòng ngoài đề phòng bị đánh tập hậu; soái hạm Scharnhorst và các tàu tuần dương hạng nhẹ có nhiệm vụ tìm diệt tàu Anh từ phía Bắc cảng[11].
III. DIỄN BIẾN
Ngày 1 tháng 11 năm 1914, bất chấp gió thổi mạnh, biển nổi sóng lớn cả hai hải đội đối địch (Anh - Đức) vẫn tiến về phía cảng Coronel. Đến chiều cùng ngày, hai hải đội đã đến vùng biển ngoài khơi Coronel và tổ chức lực lượng tìm diệt tàu mục tiêu đã định.
Vào lúc 16 giờ 30 phút, tàu Glasgow) của Anh phát hiện các cột khói của tàu Đức ở mạn phải của mình. Do đó, Hải đội Anh chuyển hướng về phía Đông Bắc để tiếp cận đối phương. Nhưng, dần hiện ra trước mắt họ là toàn bộ Hải đội Đức. Mặc dù thế, khi biết Hải đội Đức đang ở thế bất lợi vì bị ánh nắng mặt trời chiếu thẳng, Đề đốc Cradock quyết định tiến công tiêu diệt lực lượng Hải đội Đức. Vào lúc 17 giờ, khi cách cảng Coronel 19km, ông lệnh hải đội của mình triển khai đội hình chiến đấu theo kế hoạch đã định và tăng tốc hướng về phía đốỉ phương.
Về phía Đức, sự xuất hiện của toàn bộ Hải đội Anh cũng gây bất ngờ cho họ. Song, với ưu thế về binh lực, họ cũng quyết định tranh thủ cơ hội tiêu diệt đối phương. Vào lúc 17 giờ, Phó Đô đốc von Spee lệnh cho hải đội của mình tăng tốc từ 31km/h lên 37km/h để tập hợp đội hình chiến đấu[12]. Tuy nhiên, để tránh sự bất lợi do ánh nắng mặt trời đưa lại, Phó Đô đốc von Spee không chủ trương giao chiến ngay. Ông chỉ huy hải đội của mình giữ khoảng cách ngoài tầm pháo đối phương. Đến lúc 19 giờ, khi thấy điều kiện thuận lợi, von Spee ra lệnh cho các tàu chuyển hướng sang phải, tổ chức tiếp cận và tiến công Hải đội Anh.
Việc Hải đội Đức chuyển hướng trong khi quân Anh vẫn đang tìm cách tiếp cận mục tiêu đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa hai lực lượng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, khi khoảng cách giữa hai hải đội rút xuống còn l0km và nằm trong tầm bắn hiệu quả, von Spee ra lệnh cho các pháo thủ đồng loạt khai hỏa. Ngay lập tức, tàu Scharnhorst nhằm vào soái hạm Good Hope của Anh; tàu Gneisenau hướng vào tàu tuần dương Monmouth. Sau hai loạt pháo hiệu chỉnh, đến loạt pháo thứ ba, các khẩu pháo trên tàu Đức đã phá hủy phần lớn các ụ pháo trên hai tuần dương hạm Good Hope và Monmouth.
Bị tấn công, phía Anh vừa khắc phục thiệt hại vừa tổ chức đánh trả. Tuy nhiên, do sóng biển lớn nên các khẩu pháo ở sàn dưới của tàu Anh không hoạt động được. Trong khi đó, những khẩu pháo 151mm ở sàn trên bắn trả không hiệu quả do tầm bắn ở mức tối đa. Trước tình hình đó, chỉ huy quân Anh ra lệnh cho các tàu chiến tiến gần tới mục tiêu hơn. Tuy nhiên, hành động đó không giúp họ cải thiện được tình hình. Khi các tàu chiến Anh tiến sát các tàu chiến Đức thì bầu trời đã trở nên sám xịt. Bóng tối bao phủ khắp mặt biển. Các pháo thủ Anh không còn cách nào khác là phải lợi dụng chớp lửa đầu nòng từ pháo đối phương để ngắm bắn[13].
Mặc dù không có lợi cho phía Anh, nhưng với Đức, việc quân Anh tiếp cận gần hơn đã giúp họ cải thiện tình hình. Lợi dụng các đám cháy từ tàu đối phương, các pháo thủ Đức tập trung nhả đạn vào đối phương. Trong chốc lát, các khẩu pháo từ tàu Scharnhorst đã bắn trung soái hạm Good Hope, khiến tàu này bị hư hỏng nặng. Các đám cháy lan khắp thân tàu, những khẩu pháo bị vô hiệu; hàng trăm thủy thủ bị thương và hoàn toàn mất khả năng chiến đấu. Tương tự như vậy, các khẩu pháo trên tàu tuần dương Gneisenau cũng đã kịp thời giội hàng chục quả đạn vào tàu Monmouth, gây ra các đám cháy ở các sàn và khiến con tàu nghiêng trái[14].
Khi khoảng cách giữa hai hải đội rút ngắn, các tàu tuần dương hạng nhẹ của phía Đức là Dresden và Leipzig cũng được lệnh tham chiến. Ngay từ những quả đạn đầu, các tàu chiến Đức đã gây áp lực buộc chiếc Otranto của Anh phải tháo chạy về phía Tây. Chiếc tàu còn lại của Anh là Glasgow buộc phải chống chọi với cả tàu Dresden và Leipzig. Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, cộng vào đó, các khẩu pháo trên tàu Glasgow) không đủ uy lực để tiêu diệt đối phương nên cuối cùng cũng phải tháo chạy. Nhận thấy chiếc Otranto và Glasgow) đã tháo chạy, tàu Monmouth cũng phải chấp nhận rời chiến trường.
Trong bóng đêm, khi nghe đối phương im tiếng súng, Phó Đô đốc von Spee ra lệnh các tàu tuần dương hạng nhẹ lùng sục đối phương. Đến 20 giò 40 phút, tàu Nurnberg phát hiện ra tàu Monmouth đang trên đường tháo chạy. Ngay lập tức, chỉ huy tàu ra lệnh truy kích. Khi đến gần mục tiêu, các khẩu pháo trên chiếc Nurnberg được lệnh bắn thẳng vào tàu Monmouth, khiến tàu này bị lật úp và chìm xuống biển. Cùng với tàu Nurnberg hai tàu Leipzig và Dresden của Đức cũng được lệnh lùng sục, tìm kiếm các tàu còn lại của Anh Tuy nhiên, mọi cố gắng của họ không mang lại kết quả. Nguyên nhân là do các tàu Otranto và Glasgow) của Anh đã rời xa vùng biển Coronel, tiến về phíá Nam.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỂ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Trong trận Coronel, Hải đội Viễn Đông của Đức đã loại khỏi vòng chiến đấu Hải đội thứ tư của Anh, giành thắng lợi lớn. Trong trận đánh này, hai tàu chủ lực Good Hope và Monmouth của Anh bị đánh chìm cùng toàn bộ 1.590 thủy thủ đoàn. Trong khi đó, Hải đội Viễn Đông của Đức chỉ bị tổn hại nhỏ. Tàu Scharnhorst bị trúng hai phát đạn pháo, tàu SMS Gneisenau bị trúng 4 quả đạn pháo và bị thương ba thủy thủ[15]. Mặc dù không giành thắng lợi trong trận đánh này, nhưng phía Anh đă làm suy giảm đáng kể khả năng chiến đấu của lực lượng hải quân Đức trên tuyến hàng hải Nam Mỹ.
Chiến thắng của Đức ở ngoài khơi Coronel đã làm cho tuyến hàng hải từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương không còn an toàn nữa. Kết quả của trận Coronel cũng đã tác động mạnh đối với nỗ lực chiến tranh của cả Đức và Anh.
Đối với Đức, thắng lợi này góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân đội. Bên cạnh đó, nó còn chứng tỏ hải quân Đức có đủ sức để đối mặt với hải quân Anh - một lực lượng hải quân vốn được coi là mạnh nhất châu Âu. Với kinh nghiệm thu được trong trận Coronel, sang đầu năm 1915, hải quân Đức không chỉ mở rộng hoạt động chống lại nước Anh, mà còn mở rộng hoạt động chống các nước khác trong phe Hiệp ước. Việc Đức mở rộng hoạt động của lực lượng hải quân đã khiến Chiến tranh thế giới thứ nhất trở nên khốc liệt hơn.
Đối với Anh, trận Coronel được xem là thất bại hải quân lớn nhất kể từ thế kỷ XIX[16]. Thất bại này làm chấn động nước Anh và khiến Chính phủ Hoàng gia Anh phải gia tăng nỗ lực bảo vệ hoạt động hàng hải của mình ở Nam Mỹ. Ngay sau trận hải chiến này, trong tháng 11 năm 1914, Anh điều 3 tàu tuần dương hạng nặng Defence, Invỉcihle và Inflexible tới vùng biển Falkland trực chiến. Đến đầu tháng 12 năm 1914, các tàu chiến này cùng 7 tàu chiến khác của hải quân Hoàng gia Anh đã tạo thành một lực lượng mạnh ở Nam Mỹ do Phó Đô đốc Doveton Sturdee chỉ huy[17]. Với lực lượng này, ngày 8 tháng 12 năm 1914, hải quân Hoàng gia Anh đã tiêu diệt Hải đội Viễn Đông của Đức ở ngoài khơi quần đảo Falkland.
Trận Coronel để lại nhiều bài học và kinh nghiệm.
Thứ nhất, về lựa chọn chiến trường, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Anh tập trung phần lớn lực lượng hải quân vào việc bảo vệ chính quốc. Vì thế, họ chỉ dành một lực lượng nhỏ vào việc bảo vệ các tuyến vận tải biển. Nắm được sơ hở này của đốỉ phương, nước Đức cho hải quân đánh phá các tuyến hải thương của Anh ở các đại dương, trong đó có Thái Bình Dương, ở vùng biển này, bộ phận hải quân Đức do von Spee chỉ huy đã sáng suốt chọn vùng Đông Thái Bình Dương và Nam Đại Tây Dương làm khu vực tác chiến. Với lựa chọn này, hải quân Đức đảm bảo việc tiếp liệu mà vẫn khai thác được điểm yếu phòng thủ của phía Anh và giành thắng lợi ở ngoài khơi Coronel ngày 1 tháng 11 năm 1914. Có thể nói, lựa chọn chiến trường thích hợp, vừa đáp ứng yêu cầu tác chiến của mình, vừa khai thác được điểm yếu của đối phương là một trong những điều kiện đảm bảo thắng lợi trong chiến tranh nói chung và hải chiến nói riêng.
Thứ hai, về chỉ huy tác chiến, bước vào trận Coronel, các chỉ huy hải quân Anh đều nhận thấy sự yếu kém của lực lượng mình so với lực lượng của phía Đức. Ngày 28 tháng 10 năm 1914, Bộ hải quân Anh đã chỉ thị Đề đốc tránh giao chiến khi chưa có quân tăng viện từ phía Nhật tới. Thế nhưng, ngày 1 tháng 11, khi đối diện Hải đội Viễn Đông của Đức, Đề đốc Cradock vẫn mạo hiểm đưa đơn vị của mình vào giao chiến và chịu thất bại nặng nề. Ở đây chúng ta thấy tinh thần quyết chiến phải dựa vào so sánh lực lượng thực tế trên chiến trường.
Thứ ba, về tranh thủ điều kiện tự nhiên, trong trận Coronel, Hải đội Anh tranh thủ ánh nắng mặt trời cuối chiều để tấn công Hải đội Đức. Song, Phó Đô đốc von Spee lại chỉ huy Hải đội Đức giữ khoảng cách ngoài tầm pháo của đối phương cho đến khi mặt trời tắt nắng. Không chỉ thế, ông còn tranh thủ bóng núi bên bờ biển Chile để làm giảm khả năng quan sát của phía Anh. Như thế, việc nắm chắc và tranh thủ hiệu quả điều kiện tự nhiên đã cho phép Hải đội Đức có thêm điều kiện thuận lợi để đánh thắng Hải đội của Anh.
Thứ tư, về huấn luyện, xây dựng lực lượng, tham chiến ở ngoài khơi Coronel ngày 1 tháng 11 năm 1914, phía Anh có quân số nhiều hơn phía Đức (2.351/2.155). Nhưng, thủy thủ đoàn trên các tàu Anh phần lớn là quân dự bị, nhiều người chưa từng thực hành bắn pháo trên biển; trong khi đó, thủy thủ đoàn của Hải đội Đức là những quân nhân chuyên nghiệp, được tuyển chọn. Bởi thế, trong quá trình tác chiến, các pháo thủ Đức ngắm bắn chính xác và hiệu quả hơn các pháo thủ Anh. Và, với sự tấn công liên tục, chính xác, Hải đội Đức đã nhanh chóng vô hiệu các khẩu đội pháo có thể dùng của các tàu chiến Anh. Qua đây, lịch sử cho thấy rõ hơn ảnh hưởng có tính quyết định của việc đào tạo, huấn luyện thực binh đối với tác chiến trên thực tế chiến trường.
Thứ năm, về vũ khí, trang bị, giao chiến ở ngoài khơi Coronel ngày 1 tháng 11 năm 1914, phía Anh không được trang bị nhiều pháo có tầm bắn xa như phía Đức. Do đó, khi hai pháo hạm có tầm bắn xa nhất trên soái hạm Anh bị phá hủy, các pháo hạm còn lại của Anh không đánh trả chính xác và hiệu quả. Thực tế ấy cho thấy, việc trang bị vũ khí cần đảm bảo đồng bộ. Việc này không chỉ thuận tiện cho việc duy trì, bảo quản mà còn đảm bảo sức chiến đấu ổn định, tập trung.
Người viết: Thiếu tá, ThS NGUYÊN VĂN TRÍ
[1] R.Ernest Dupuy and Trevor N. Dupuy, The Encyclopedia of military history, from 3500 B.c to the present, Harper & Row Publishers, New York, Hagerstown, San Francỉsco, London, 1970, p. 934.
[2] http://www.coronel.org.uk; Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Osprey Publishing, Oxford, New York, 2012, p. 38-40; w. MacNeile Dixon, The British navy at war, Houghton Minlin company, Boston and New York, 1917, p. 16.
[3] http://www.addingham.info/battle-of-coronel.html; Michaei McNalỵ, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 38,
[4] R.Ernest Dupuy and Trevor N. Dupuy, The Encyclopedia of military history, from 3500 B.c to the present, Ibid, p. 934.
[5] w. MacNeile Dixon, The British navyat war, Ibid, p. 15.
[6] http://www.coronel.org.uk; Michaei McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 38-40.
[7] http://www.naval-history.net/WW1 Battle1411 Coronel.html; httpy/vwwv.addingham.infc/ battle-of-coronel.html; Rechard Hough, The Great war at sea, 1914-1918, Endeavour Press Ltd, 2003, p. 72; http://militaryhistory.about.com/od/ navalbatties 1900today/p/CoroneÌ.html.
[8] http://www.firstworldwar.com/battles/coronel.html; http://militaryhistory. aboutcom/od/navalbattles1900today/p/Coronel.html; httpy/adingham.info/battk)f coronel. html; Rechard Hough, The Great warat sea, Ibid, p. 74.
[9] Tàu HMS Glasgow hội quân với hải đội của minh vào trưa ngày 1 tháng 11.
[10] Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 43.
[11] Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 43.
[12] Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 48.
[13] Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 55;W. McNeile Dixon, The British navy at war, Ibid, p, 19.
[14] Michael McNally, Coroneì and Falkland 1914, Ibid, p. 56-57.
[15] http://www.worldwar1xo.uk/coronel.html; Michael McNally, Coronel and Falkland 1914, Ibid, p. 38-40.
[16] http://www.woridwar1.ro.uk/coronel.html; Rechard, J, Battle of Coronel, 1 November 1914, http://www.historyofwar.org/articles/battles_coronei.html, 19 August 2007.
[17] http://www.rmg.co.uk/researchers/collections/by-type/archive-and- library/item-of-the-month/previous/the-battle-of-the-falkland-islands-1914.