(1-4.6.1666)
Vào thế kỷ XVII, một số nước ở Tây Âu tuy có lãnh thổ không lớn nhưng nhờ sức mạnh của hải quân đã nổi lên như các cường quốc, trở thành đối trọng với các cường quốc trước đây vốn chủ yếu dựa vào sức mạnh của lục quân. Quốc gia đầu tiên trong số này phải kể đến Hà Lan, một quốc gia có 3 mặt giáp biển và nhiều hải cảng rất thuận lợi. Quá trình giành độc lập chủ quyền của Hà Lan gắn liền với những chiến công đánh bại hải quân Tây Ban Nha và những thành tựu đáng kinh ngạc trong lĩnh vực hàng hải.
Từ đầu thế kỷ XVII, Hà Lan không ngừng lớn mạnh và trở thành một trong những thế lực kinh tế và hàng hải lớn nhất thế kỷ XVII. Trong thời gian đó, nhiều thuộc địa và thương điếm của Hà Lan được thiết lập trên toàn thế giới, ở châu Mỹ, họ chiếm một vùng đất nằm trên bờ đông của Bắc Mỹ xây dựng thành phố New Amsterdam (năm 1674 bị thực dân Anh chiếm và đổi tên là New York tức thành phố New York của Mỹ hiện nay). Tại châu Á, người Hà Lan thiết lập thuộc địa Đông Ấn Hà Lan (Indonesia ngày nay). Trong vùng đông bắc Nam Mỹ (Suriname) và vùng biển Caribbean cũng hình thành thuộc địa Hà Lan (Aruba, Curacao, Bonaire, Saba, Sint Eustatius và Saint Martin); các đảo này là phần đất tự trị của vương quốc Hà Lan. Cùng với sự mở rộng thuộc địa, các đội tàu của Hà Lan, kể cả tàu hải quân cũng như đội tàu vận tải và tàu buôn, được coi là những đội tàu tốt nhất thế giới. Biển Bắc và Manche, biển Baltic và vịnh Biscay được coi là sở hữu của Hà Lan. Những người đi biển của Hà Lan rất có kinh nghiệm; nhiều nước, trong đó có cả Tây Ban Nha, đều muốn thuê các thuyền trưởng cùng các tàu và kíp tàu người Hà Lan; vì thế thời gian này Hà Lan được mệnh danh là "nhà vận chuyển quốc tế".
Lợi dụng sự non kém của luật pháp quốc tế lúc bấy giờ, người Hà Lan đã tranh thủ mở rộng bành trướng lãnh hải. Cho đến tận thế kỷ XVIII, theo luật pháp quốc tế, chủ quyền quốc gia chỉ áp dụng trên lục địa; còn các vùng nước ven biển thuộc về quốc gia có tàu hoạt động nhiều nhất. Dựa vào quy định đó, các tàu Hà Lan thường xuyên đánh bắt cá ở ven biển các nước khác như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Điển và bán cho cư dân các nước này để kiếm lời.
Sự bành trướng của Hà Lan đương nhiên đụng chạm đến quyền lợi của Anh. Người Anh đã từng giúp đỡ người Hà Lan trong thời kỳ đánh trả Hạm đội Tây Ban Nha nhưng giờ đây chính Hà Lan lại trở thành một đối thủ cạnh tranh của Anh. Tuy hai nước có cùng tôn giáo, nhưng mâu thuẫn kinh tế lại vô cùng sâu sắc và đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan nửa cuối thế kỷ XVII[1].
Ngay sau khi hoàn thành cuộc cách mạng tư sản, lập nên chế độ cộng hòa (1649), Anh bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc chiến với Hà Lan, nhất là củng cố lực lượng hải quân. Triển khai chạy đua vũ trang trên biển, để ra vẻ hòa thuận với Hà Lan, Anh tiến hành đàm phán với Hà Lan và đề xuất liên minh với nước này. Song ý đồ thực sự của Anh là muốn thành lập một nhà nước Anh - Hà Lan thống nhất do O. Cromwell đứng đầu. Đương nhiên Hà Lan không thể chấp thuận đề xuất này và khi họ bác bỏ, Quốc hội Anh liền thông qua Đạo luật Hàng hải; một đạo luật không hề nói đến quan hệ với Hà Lan mà chỉ quy định cấm tàu nước ngoài chuyên chở hàng hóa không do mình sản xuất vào nước Anh. Rõ ràng đạo luật này được ban hành chủ yếu nhằm mục đích chống lại sự bành trướng của Hà Lan. Hà Lan kịch liệt phản đối Đạo luật Hàng hải của Anh và hai nước nhanh chóng cắt đứt quan hệ ngoại giao. Người Anh bắt giữ các tàu buôn và tàu đánh cá của người Hà Lan ở biển Manche với lý do vi phạm Đạo luật Hàng hải. Đáp lại, Hà Lan bắt đầu thành lập các đoàn tàu biển với sự hộ tống của các tàu chiến.
Những mâu thuẫn ngày càng tăng đã dẫn đến bùng nổ cuộc chiến tranh lần thứ nhất giữa hai nước (1652-1654). Tuy cuộc chiến kết thúc với lợi thế nghiêng về phía Anh[2], song cả hai bên đều nhận thấy sự đối đầu giữa hai đối thủ cạnh tranh vẫn chưa có hồi kết. Điều đó khiến các nhà lãnh đạo và chỉ huy hải quân hai nước phải tích cực chuẩn bị cho cuộc đối đầu mới vào năm 1666.
II. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ
Trước khi quyết định trận chiến với quân Anh, Hà Lan lên một kế hoạch rất tỷ mỷ và đầy tham vọng. Mục tiêu của họ là đánh vào nơi hiểm yếu, nhạy cảm nhất của nước Anh, đó là Thủ đô London và các vùng phụ cận. Để thực hiện được mục tiêu trên, các nhà lãnh đạo và chỉ huy Hà Lan cho rằng, trước hết phải tiêu diệt Hạm đội Anh hoặc chí ít cũng phải làm suy yếu một cách căn bản sức mạnh của hải quân Anh. Với ý đồ đó, tháng 5 năm 1666, Ruyter được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng hải quân Hà Lan tiến về phía Tây đánh nước Anh[3]. Dưới quyền chỉ huy của ông còn có Van Tromp, Van Ness và Evertsen.
Theo chỉ lệnh chiến đấu của Ruyter, toàn bộ lực lượng quân Hà Lan được chia thành 3 hải đoàn kép. Mỗi hải đoàn được chia thành 3 hải đội. Hải đoàn tiền quân do Evertsen và de Vries chỉ huy; trung tâm do Ruyter và Van Ness chỉ huy và hậu quân do Tromp và Meppel chỉ huy. Cách triển khai đội hình hành quân của Hà Lan được tính toán trên cơ sở, nếu phát hiện đối phương các hải đội tàu chiến Hà Lan có thể nhanh chóng chuyển sang đội hình chiến đấu. Trong trường hợp đối phương hành quân xuôi hướng gió và khai chiến, lực lượng tiền quân có trách nhiệm đánh lực lượng chủ yếu của đối phương ở phía trước; lực lượng hậu quân tổ chức đánh tập hậu.
Để đội hình chiến đấu phát huy tối đa hiệu quả và không bị đối phương cô lập, đồng thời để các tàu chiến không ảnh hưởng đến tầm bắn của các tàu phía trước và phía sau, Ruyter ra lệnh cho các hải đội phải hành quân theo đội hình nối đuôi nhau. Chỉ huy các hải đội phải xác định rõ vị trí của từng tàu chiến, đồng thời phân công các tàu cao tốc có trách nhiệm chi viện và cấp cứu cho những tàu bị đánh hỏng trong quá trình chiến đấu. Với cách bố trí đội hình như vậy, Ruyter không chỉ đảm bảo cho các tàu chỉ huy có khả năng bao quát toàn bộ các tàu trực thuộc; dễ chi viện nhau trong trường hợp cần thiết mà còn tạo cảm giác an toàn và ít xảy ra tình trạng rối loạn đội hình. Mặc dù được coi là tương đối hợp lý, nhưng cách bố trí đội hình của Ruyter cũng bộc lộ không ít nhược điểm: thứ nhất, buộc chỉ huy các tàu phải tuân thủ nghiêm ngặt đội hình đã định, làm giảm khả năng cơ động, tính linh hoạt của từng tàu chiến; thứ hai, khi bị đối phương tiến công vào đội hình trung tâm, đội hình chiến đấu của Hà Lan rất dễ bị ra chia cắt, thậm chí bị bao vây; thứ ba, khi vào các cảng, tàu nhỏ phải nhường đường cho tàu lớn.
Để thực hiện ý đồ chiến lược và chiến thuật trên, ngày từ cuối năm 1665, Hà Lan đã chấn chỉnh tổ chức lực lượng hải quân, quy định những biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với những trường hợp vi phạm kỷ luật. Bên cạnh đó, họ còn chế tạo các loại tàu lớn hơn và trang bị pháo hạng nặng. Một năm trước khi nổ ra cuộc chiến tranh lần thứ hai, Hà Lan đã đón thêm 34 tàu chiến, trong đó có một số tàu lớn trang bị tới 60-80 khẩu pháo[4]. Ngoài ra, họ còn đóng thêm hàng chục tàu nhỏ có tốc độ cao làm nhiệm vụ tuần tiễu, tiến công nhanh và thực hiện các đòn nghi binh chiến thuật. Các tàu nhỏ tốc độ cao của Hà Lan cũng được trang bị tới 25 - 36 khẩu pháo. Bên cạnh việc chuẩn bị, đóng mới các tàu chiến đấu, để thực hiện nhiệm vụ đảm bảo hậu cần, Hà Lan còn đóng một loại tàu đặc biệt có tên là Avizo. Đây thực chất là tàu vận tải quân sự, có nhiệm vụ vận chuyển đạn dược, nước và quân lương cho các tàu chiến mà không phải phụ thuộc vào các căn cứ trên bờ.
Mặc dù có sự chuẩn bị tích cực trong một thời gian dài, nhưng trước khi trận chiến nổ ra, hải quân Hà Lan vẫn chưa xây dựng được một lực lượng hải quân thống nhất do các tỉnh vẫn giữ quyền độc lập tương đối về chính trị. Bên cạnh đó, sự ganh tỵ giữa các tỉnh và bộ tư lệnh hạm đội đã dẫn đến một số thay đổi trong cơ cấu thành phần các tư lệnh hạm đội. Đến năm 1665, Hà Lan vẫn còn tới 5 đô đốc hạm đội và 5 phó đô đốc. Số lượng đô đốc và phó đô đốc nhiều như vậy đã làm nảy sinh nhiều xung đột trong phối hợp chỉ huy và điều hành tác chiến. Không những vậy, nó còn ảnh hưởng đến tổ chức và tinh thần kỷ luật của binh sĩ.
Khác với phía Hà Lan, do ý thức được mối hiểm họa từ đối phương, trong những năm trước khi diễn ra trận hải chiến, hải quân Anh đã tích cực chuẩn bị cả về vũ khí trang bị và con người. Các tàu chiến Anh không chỉ lớn hơn mà còn được trang bị các loại vũ khí hiện đại hơn. Bên cạnh lực lượng hải quân thông thường, Anh còn xây dựng được các đơn vị lính thủy đánh bộ. Vì vậy, họ không phải tuyển hoặc điều động lực lượng lục quân để bổ sung quân số cho hải quân. Do có ưu thế về lực lượng, người Anh tỏ ra rất tin tưởng vào thắng lợi của mình. Theo một số nguồn tư liệu, trước khi diễn ra trận đánh, một số sĩ quan hải quân Anh còn công khai nói rằng, phần lớn các khẩu pháo của Hà Lan sẽ không phát huy được hiệu quả vì chúng được gắn vào các tàu buôn cùng những trắc thủ chưa có những hiểu biết sơ đẳng về quân sự. Tuy nhiên, nhận định trên hoàn toàn sai lầm. Rút kinh nghiệm từ những trận chiến trước đây, Hà Lan đã nhanh chóng khắc phục những khiếm khuyết trên và các tàu buôn được huy động vào lực lượng hải quân đã thực sự trở thành những tàu thiện chiến với những thủy thủ đã được huấn luyện và đào tạo tương đối bài bản.
Xuất phát từ kế hoạch chiến lược và sau quá trình chuẩn bị lâu dài, đến trước trận đánh này hải quân Anh và Hà Lan đã có một lực lượng hùng hậu. Cụ thể, hải quân Anh đã có 11 hải đoàn với 81 tàu chiến, được trang bị hơn 4.400 khẩu pháo cùng khoảng hơn 20.000 quân[5].

Khi phải đối mặt với một cường quốc hải quân, Hà Lan cũng đã huy động 110 tàu chiến, được trang bị gần 4,000 khẩu pháo cùng gần 17.000 quân. Do đặc thù chính trị và số lượng tàu chiến, Hà Lan không tổ chức đội hình chiến đấu theo các hải đoàn như người Anh. Thay vào đó, họ tổ chức thành 5 bộ tư lệnh[6]. Bao gồm:

Như vậy, xét về tương quan lực lượng, trong trận hải chiến Anh - Hà Lan, hai nước có số lượng tàu chiến và binh lực ngang nhau. Xét về chất lượng, binh lính của hai bên cũng hầu như không thay đổi nhiều so với cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan lần thứ nhất. Tuy nhiên, do người Hà Lan có kinh nghiệm đi biển nhiều hơn nên thủy thủ của họ phần nào tốt hơn, thế nhưng ở họ lại thiếu những phẩm chất của người lính chiến nhất là tính kỷ luật và chấp hành mệnh lệnh. Bên cạnh đó, thể chế dân chủ cũng như sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các tỉnh, các bộ tư lệnh hạm đội cũng tác động tiêu cực đến tinh thần của người lính Hà Lan.
Đến cuối tháng 5 năm 1666, lực lượng 2 bên đã sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược. Chỉ huy Hạm đội Anh là Hoàng tử Rupert và Tướng Monck, cả hai cùng trên 1 tàu chỉ huy lực lượng tiền quân; Ayscue chỉ huy lực lượng trung quân, tiền quân và Teddiman chỉ huy lực lượng hậu quân. Hà Lan cũng chia thành 3 hải đoàn: tiên quân do Đô đốc Cornelis Evertsen chỉ huy, trung quân do Đô đốc Michiel de Ruyter và hậu quân do Đô đốc Cornelis Tromp chỉ huy
III. DIỄN BIẾN
Đêm 31 rạng ngày 1 tháng 6 năm 1666, do sương mù dày đặc nên hai bên phải neo đậu tàu ở giữa eo biển Manche.
Sáng sớm ngày 6, Đô đốc Monck phát hiện hải đoàn Hà Lan với đội hình 84 tàu ở Dunkirk. Mặc dù lúc này trong tay có ít lực lượng hơn (56 tàu) nhưng Monck vẫn quyết định tấn công với đội hình như sau: tiền quân gồm 23 tàu (trong đó có 7 tàu hoàng gia) do Monck chỉ huy; trung quân có 23 tàu (trong đó có 3 tàu hoàng gia) do Đô đốc Ayscue chỉ huy và hậu quân gồm 20 tàu (trong đó có 2 tàu hoàng gia) do Chuẩn Đô đốc Teddiman chỉ huy. Lực lượng đột phá của hải quân Anh gồm tàu Royal Charles được trang bị 100 khẩu pháo, tàu Royal Prince 92 khẩu pháo, tàu Victory 80 khẩu pháo và tàu Henry (trước đây mang tên tàu Danbar) trang bị 70 khẩu pháo. Tất cả các tàu còn lại trang bị không quá 52 pháo.
Đối mặt với lực lượng này của Anh là hải đoàn đầy đủ biên chế của Hà Lan được tổ chức thành 5 bộ tư lệnh các tỉnh. Trong đó, Bộ Tư lệnh Rotterdam gồm 9 tàu chủ lực, 5 chiến hạm, 1 thuyền buồm, 3 tàu phóng hỏa và tàu chỉ huy De Zeven Provincien của Đô đốc Michiel de Ruyter được trang bị 80 khẩu pháo. Tiếp đó là tàu của các bộ tư lệnh Amsterdam và Noorderkwater, gồm 44 tàu chủ lực, 4 chiến hạm và 3 tàu phóng hỏa. Bộ Tư lệnh Zeland có 9 tàu chủ lực, 4 chiến hạm, 4 thuyền buồm và 1 tàu phóng hỏa. Bộ Tư lệnh Frisland đóng góp 9 tàu chủ lực, 1 chiến hạm và 1 tàu phóng hỏa.
Tổng cộng hải đoàn Hà Lan có 71 tàu chủ lực, 14 chiến hạm, 5 thuyền buồm và 8 tàu phóng hỏa[7]. Tiền quân của Hà Lan do Đô đốc Cornelis Evertsen, trung quân do Đô đốc Michiel de Ruyter, hậu quân do Đô đốc Cornelis Tromp chỉ huy. Như vậy, so với phía Anh, lực lượng của Hà Lan khá đồng nhất, có tới 29 tàu trang bị từ 60 pháo trở lên, trong khi con số này của Anh chỉ có 8 tàu (trong đó có 2 chiếc loại 100 pháo). Mặc dù không có ưu thế về lực lượng, nhưng do tin tưởng vào chiến thắng Đô đốc Monck vẫn quyết định tấn công.
9 giờ sáng ngày 1 tháng 6, khi mặt trời lên cao và hai bên nhìn rõ nhau. Lợi dụng gió xuôi chiều, Monck lập tức ra lệnh cho hạm đội của mình nhổ neo tiến đánh vào hậu quân đối phương. Khi tiến hành tiến công, Monck dự tính, do đối phương bị ngược gió nên tiền quân và trung quân của họ sẽ không thể chi viện được cho Tromp. Với nhận định đó, ông đã ra lệnh cho các lực lượng mở hết tốc lực tiến công đối phương. Đúng như dự đoán, do bị tập kích bất ngờ và bị ngược chiều gió, các cánh quân Hà Lan không thể hỗ trợ được cho nhau. Chỉ trong giây lát các chiến thuyền của Monck đã đánh tan đội hình hậu quân Hà Lan, buộc lực lượng này phải lui về các vùng nước nông ở Flemish. Phía Anh ra lệnh truy kích, nhưng do các tàu của họ có độ mớn nước sâu hơn tàu Hà Lan nên không thực hiện được nhiệm vụ. Trước tình hình đó, Monck ra lệnh cho các lực lượng lật cánh sang phía Tây Bắc để tiến công lực lượng trung quân.
Khi ra lệnh cho các lực lượng lật cánh sang phía Tây Bắc, do không lường trước được sự nhạy bén và linh hoạt của chỉ huy đối phương, Monck đã mắc phải sai lầm. Thay vì tổ chức phản công, Ruyter nhận thấy lực lượng của mình đang ở vị trí không thuận gió nên ông tổ chức toàn bộ đội hình thành chiều dọc không thẳng hàng để đánh trả đối phương. Nhờ sự thay đổi mau lẹ và linh hoạt của đội hình, quân Hà Lan đã đánh bật nỗ lực đột phá Anh. Trong lúc các tàu chiến của Ruyter tổ chức đánh vào lực lượng đột phá, thì Đô đốc Tromp ra lệnh đánh vào sau lưng quân Anh khi họ rút lui. Trong khi giao chiến với tàu chỉ huy của Anh chưa kịp quay đầu, thì tàu Liefde của Tromp va chạm với tàu Groot Hollandia. Lợi dụng sự cố này, Chuẩn Đô đốc s. Berkeley quyết định tiếp cận để bắt sông tàu Hollandia, nhưng 2 tàu Calantsoog và Reiger đã kịp ứng cứu và đánh lui quân Anh. Tàu Reiger tiến sát tàu chỉ huy Swiftsure của Berkeley và bắc cầu nhảy sang đánh giáp lá cà. Berkeley tự vẫn, tàu của ông bị bắt sống. Hai chiếc tàu Royal George và Seven Oaks đến ứng cứu Swiftsure cũng bị người Hà Lan bắt sống. Hai tàu khác của Anh là Rainboiv và Kent bị chia cắt với đội hình và truy kích nhưng kịp chạy thoát.
Sau trận giao chiến ban đầu, cả Ruyter và Monck buộc phải xốc lại đội hình và tiếp tục chiến đấu. Hai tàu Hà Lan là Hof van Zeeland và Duivenvoorde bị trúng đạn pháo của quân Anh và bị hỏng nặng. Nhiều tàu Anh cũng bị các loại đạn pháo mới của Hà Lan xuyên thủng thành tàu[8].
Nhìn chung, trong ngày giao chiến đầu tiên, cuộc chiến đấu diễn ra trong thế bất phân thắng bại. Đến tối ngày 1 tháng 6, khi màn đêm buông xuống, quân Anh tạm thời rút lui. Trong quá trình lui quân, tàu Henry do Chuẩn Đô đốc Harman chỉ huy đã bị trôi dạt về chiến tuyến của Hà Lan và bị 2 tàu Hà Lan phóng hỏa. Một phần ba thủy thủ trên tàu vội vã nhảy xuống biển. Tình hình trên tàu bắt đầu hoảng loạn, nhưng với kinh nghiệm chỉ huy của mình, Harman đã kịp thời lập lại trật tự và tổ chức chữa cháy. Khi tình hình trên tàu Henry vừa bắt đầu ổn định, thì tàu Walcheren của Hà Lan bất ngờ xuất hiện. Chỉ huy tàu đối phương yêu cầu Harman phải đầu hàng nhưng ông kiên quyết từ chối. Hai tàu tiếp tục nhả đạn vào nhau và đến khoảng 20 giờ, tàu Henry bị bắn gãy hai cột buồm. Theo lệnh của Harman, các thủy thủ vẫn tiếp tục bám trụ chiến đấu và gây thiệt hại nặng cho đối phương. Sau khi thoát khỏi vòng truy kích của tàu Walcheren, Harman nhanh chóng hợp quân với Monck.
Như vậy, kết thúc ngày giao chiến đầu tiên, Hà Lan chỉ bị bắn cháy 2 tàu, trong khi đó, Anh bị thiệt hại tới 5 tàu, trong đó 3 chiếc bị bắt, 2 chiếc bị đánh chìm[9]. Cũng trong ngày giao chiến đó, Đô đốc Evertsen của Hà Lan và Phó Đô đốc 27 tuổi của Anh là Berkeley bị tử trận. Tuy không bên nào giành được thắng lợi quyết định nhưng đó cũng là một kết quả nằm ngoài sự mong muốn của quân Anh.
Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa ló rạng, Monck quyết định tấn công từ hướng Tây Nam nhằm chia cắt và tiêu diệt trung quân của Hà Lan. Đòn tiến công chủ yếu nhằm vào tàu chỉ huy De Zeven Provincien của Ruyter. Khi tiếp cận đội của đối phương ở góc khoảng 80°, hai tàu đi đầu của Anh là Baltimore và Bristol rơi vào làn hỏa lực của 3 tàu Hà Lan là De Zeven Provincỉen, Groot Hollandia và Eendracht. Monck buộc phải quay lại. Hai tàu Baltimore và Bristol bị thương nặng và buộc phải rút về Thames.
Sau khi xốc lại đội hình, Tư lệnh quân Anh tổ chức tấn công lần thứ hai. Nhưng khi các tàu chiến Anh vừa tiếp cận đối phương trong cự ly tầm pháo, Tromp đã dùng một bộ phận hậu quân từ hướng khác băng qua đội hình quân Anh và nổ súng. Cách cơ động của Tromp không phải là chủ định mà hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên, bởi lẽ, trong làn khói đạn mù mịt ông không thể trông thấy đội hình của Ruyter. Mặc dù vậy, sự cơ động của ông đã tạo điều kiện để quân Hà Lan đánh bật cuộc tấn công của quân Anh nhằm vào trung quân Hà Lan. Tuy tạo được sự bất ngờ và góp phần khiến quân Anh mất thế chủ động, nhưng trong trận giao tranh này, trung quân và hậu quân Hà Lan cũng bị tổn thất nghiêm trọng: 2 tàu chiến bị đánh chìm; Phó Đô đốc Abraham Vander Hulst và Chuẩn Đô đốc Frederik Stachouwer bị tử trận. Sau tổn thất đó, Ruyter buộc phải ra lệnh cho các tàu chiến bị thương cùng 3 chiếc tàu Anh bị bắt quay về Hà Lan.
Khi thấy đối phương đã rút một bộ phận lực lượng, cộng vào đó, do đội hình chiến đấu của Tromp và Ruyter đã bị chia cắt khỏi đội hình chủ yếu nên Đô đốc Ayscue - chỉ huy lực lương trung quân Anh ra lệnh tiến công vào tàu chỉ huy De Zeven Provincien. Với tài chỉ huy và mưu lược của Ruyter, tàu này đã thoát nạn. Đô đốc Tromp và Ruyter bảo toàn được mạng sổhg.
Với lực lượng còn lại, quân Hà Lan xốc lại đội hình, sau đó tiến sát quân Anh và đồng loạt nổ súng. Ít phút sau, tàu Royal Subject của Anh bị hư hỏng nặng buộc phải quay về Thames; sau đó tàu Black Eagle (tàu buôn được động viên cho hải quân) cũng bị loại khỏi vòng chiến đấu. Đến 15 giờ, lực lượng chi viện của Hà Lan xuất hiện, tình huống bất ngờ này khiến Monck hoảng loạn. Theo tin tình báo Anh, người Hà Lan còn tổ chức thêm một hải đoàn mạnh và những tàu này có thể được sử dụng trong đội hình tiền quân. Monck ra lệnh kiểm tra lại thông tin và báo cáo tình hình lực lượng tàu cũng như đạn dược. Kết quả cho thấy chỉ có 29 tàu có thể tiếp tục chiến đấu. Hải đoàn Anh do Hoàng tử Rupert chỉ huy đi qua khu vực Uessan để tìm kiếm sự chi viện của hải đoàn Pháp nhưng không được. Thêm vào đó, Monck phát hiện không thấy tàu Rainbow và Kent nên cho rằng chúng đã bị bắt. Trước tình hình đó, ông cơ động lực lượng xuống phía Tây Nam, cách Hạm đội Hà Lan 7 hải lý và không có ý định tiến công lực lượng này.
Như vậy, trong ngày thứ 2 giao chiến, cả hai bên vẫn không giành được thắng lợi quyết định. Trận giao chiến một lần nữa cho thấy, chỉ huy Hà Lan tỏ ra thiếu tính kỷ luật nên đã làm cho đội hình trở nên rời rạc và không giành được thắng lợi quyết định, về phía Anh, tuy có lợi thế thuận chiều gió, nhưng do cách tổ chức đội hình không hợp lý và thiếu linh hoạt nên họ không những không khai thác được sai lầm của đối phương mà còn bị đối phương gây tổn thất nặng.
Ngày thứ 3, khi bị Hà Lan tiến công, chỉ huy lực lượng tiền quân Anh ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rút về phía Tây. Trong quá trình rút lui, do sai lầm của tàu chỉ huy Royal Prince nên 2 tàu Anh là Royal Katherine và Royal Charles bị mắc cạn[10], buộc phải vứt bỏ những thứ không cần thiết để tháo chạy. Tàu Royal Prince vẫn còn bị mắc cạn, binh lính trên tàu bắt đầu hoảng loạn, Đô đốc Ayscue buộc phải dùng các giải pháp mạnh để trấn an. Ông kêu gọi mọi người bình tĩnh và chờ lúc thủy triều lên để thoát cạn. Trong lúc chờ đợi, các thủy thủ Anh nhìn thấy một tàu Hà Lan đang tiếp cận đến gần, họ lập tức nhảy hết lên boong tàu, số còn lại nhảy xuống biển hòng thoát thân nhưng mọi việc đã quá muộn. Ngay sau khi tiếp cận tàu Royal Prince, Tromp dùng biện pháp uy hiếp và yêu cầu tàu này phải đầu hàng, Ayscue chấp nhận. Đây là lần đầu tiên Hà Lan bắt được một chỉ huy cao cấp của Anh làm tù binh.
Ngày thứ 4 là ngày quyết định thắng, bại. Phía Anh được bổ sung 5 tàu chiến là: Convertine, Sancta Maria, Centurion, Kent và Hampshire; trong khi 6 tàu bị hỏng nặng phải đưa về Portsmouth để sửa chữa. Như vậy, cho đến thời điểm này, lực lượng quân Anh có khoảng 60-65 tàu chiến và 6 tàu phóng hỏa; Hà Lan kể cả số tàu được tăng cường đã giảm xuống còn 68 tàu chiến đấu và 7 tàu phóng hỏa. Mặc dù có số tàu chiến ít hơn, nhưng với quyết tâm giành chiến thắng trước lực lượng thủy quân hùng mạnh của Hà Lan, Monck vẫn quyết định chủ động tiến công đối phương một lần nữa.
Biết được ý đồ của quân Anh, trước giờ giao chiến, chỉ huy lực lượng Hà Lan triệu tập Hội đồng quân sự và tuyên bố: "Đây sẽ là trận đánh quyết định với người Anh. Nếu chiến thắng, chúng ta sẽ thống trị biển cả. Chúng ta đang trong vị thế thuận gió, quân Anh ngược gió. Vì vậy, chúng ta phải chiến thắng"[11].
Để chuẩn bị cho trận quyết chiến, cả Hà Lan và Anh đều tổ chức lại đội hình chỉ huy. Theo đó, tàu Ridderschap thuộc Bộ Tư lệnh Rotterdam thay tàu De Zeven Provincien đảm đương nhiệm vụ chỉ huy. Trên tàu có khoảng 66 khẩu pháo và 345 thủy thủ, do Phó Đô đốc Johan de Liefde trực tiếp điều hành, về phía Anh, tàu Victory do Phó Đô đốc Christopher Myngs chỉ huy thay tàu Royal Prince. Mặc dù đã tổ chức lại đội hình chiến đấu, nhưng do tương quan lực lượng không có lợi, cộng vào đó do bị thất bại liên tiếp trong các trận giao chiến trước đây nên tinh thần và sức chiến đấu của quân Anh đã giảm sút đáng kể. Chỉ sau vài loạt đạn pháo, một số tàu Anh đã bị thương, Phó Đô đốc Christopher Myngs trúng đạn và tử vong. Sau tổn thất đó, các tàu chiến Hà Lan tổ chức tiến công, chọc thủng chiến tuyến của Anh, đồng thời chia cắt lực lượng của Monck với Rupert.
Trước tình thế bị cô lập, Rupert chỉ huy lực lượng của mình 4 lần định đột phá xuống phía Nam để phối hợp với cánh quân Monck. Thế nhưng, mọi nỗ lực của ông đều không mang lại kết quả. Không những vậy, cánh quân của ông còn bị các tàu chiến dưới sự chỉ huy Tromp và Van Ness bao vây chặt hơn. Khi nhận thấy nỗ lực hội quân của Rupert không thành công và để tránh bị đối phương vây hãm, Monck đã bí mật rút khỏi chiến trận và lui về phía Bắc. Trên đường lui quân, cánh quân của ông bị đối phương phát hiện và truy kích. Trong thế bất lợi, Monck ra lệnh cho các tàu chiến của mình mở hết tốc lực lao vào đội hình truy kích của đối phương. Bị phản công bất ngờ, Van Ness quyết định lui quân. Thừa cơ hội đó, các tàu chiến của Rupert tổ chức đánh chặn tàu De Zeven Provincien nhưng không thành công. Chiếc Royal James của ông bị trúng đạn và hư hỏng nặng. Sau khi đánh thiệt hại nặng cánh quân của Rupert, toàn bộ các tàu chiến Hà Lan tập trung mũi nhọn vào lực lượng của Monck. Cuộc chiến diễn ra ác liệt trong suốt nhiều giờ liền. Cuối cùng, do hết đạn nên Monck ra lệnh cho các tàu chiến còn lại của mình tháo chạy về Portsmouth. Trên đường tháo chạy, họ đã bị quân Hà Lan truy kích sát sao. Đến chiều ngày 4, Hà Lan bắt được 4 tàu của Anh bị tụt hậu. Sau đó, do sương mù dày đặc và sợ đi vào bãi cạn nên Hà Lan quyết định dừng truy kích.
Như vậy, qua 4 ngày giao chiến, Anh tổn thất gần 20 tàu chiến, trong đó một nửa bị bắt sống. Ngoài tổn thất trên, phía Anh còn bị chết và bị thương 5.000 người, bị bắt làm tù binh 3.000. Hà Lan tổn thất 6 tàu, không có chiếc nào bị bắt; gần 2.500 người chết và bị thương[12].
Thất bại của hải quân cùng với dịch đậu mùa ở London đã đặt nước Anh trước nguy cơ thất bại trong toàn bộ cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan lần thứ hai. Sau thất bại trong trận đánh này, Anh không những mất quyền kiểm soát đối với vùng biển Hà Lan mà ngay cả ở vùng biển Anh. Sau thất bại đó, cả Rupert và Monck đều bị chỉ trích gay gắt từ trong hoàng cung, Quốc hội đến ngoài đường phố.
Đối với Hà Lan, trận hải chiến bốn ngày tuy không mang lại ưu thế quyết định, nhưng người Hà Lan rất hài lòng với những gì mà lực lượng hải quân của họ đã làm được. Đối với Đô đốc Ruyter, do chỉ huy khéo léo và linh hoạt, đặc biệt là luôn nắm chắc yếu tố thời cơ nên ông đã giành thắng lợi vào thời điểm cuối cùng. Một điều rất đáng lưu ý là qua 4 ngày giao chiến, phía Hà Lan không có một tàu nào bị bắt. Có được điều đó là nhờ tinh thần chiến đấu kiên cường và niềm tin vào chiến thắng của những thủy thủ Hà Lan. Để có được tinh thần chiến đấu kiên cường đó, bản thân Ruyter cũng đã biết lợi dụng mối hận thù giữa những người lính - tù binh Hà Lan với nước Anh. Trong trận chiến này, những người lính Hà Lan vốn là tù binh của Anh trước đây muốn rửa nhục, nên Ruyter đã phân bố họ trên tất cả các tàu. Như vậy, trong Hạm đội của Hà Lan không chỉ có những người lính muốn lập chiến công mà còn có khát vọng trả thù.
IV. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ TRẬN ĐÁNH
Mặc dù là trận đánh không lớn trong lịch sử hải quân thế giới, nhưng xét trên một số bình diện quân sự, trận hải chiến bốn ngày giữa Anh và Hà Lan đã để lại một số bài học kinh nghiệm.
Về chuẩn bị lực lượng, do nhận thức được tầm quan trọng của biển, vai trò của hải quân trong việc giành quyền làm chủ trên biển nên cả Anh và Hà Lan đều tích cực chuẩn bị lực lượng. Chỉ trong 10 năm kể từ sau cuộc chiến tranh Anh - Hà Lan lần thứ nhất, mỗi bên đã có được gần 70 tàu lớn (trang bị mỗi tàu trên 40 khẩu pháo) và hàng trăm tàu nhỏ. Về hỏa lực, mỗi bên cũng đã chuẩn bị tới hơn 4.000 khẩu pháo có tầm bắn xa và sức công phá lớn. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong quá trình chuẩn bị các bên lại chưa chú trọng nhiều đến số lượng đạn pháo. Sự bất cẩn đó đã dẫn đến việc Anh đã phải chấp nhận thất bại vào ngày thứ 4 do hết đạn pháo, trong khi lực lượng còn tương đối mạnh. Điểm nữa là trong trận đánh này, phía Anh đã chế tạo được bom vỏ đồng - một loại vũ khí mới rất lợi hại, nhưng cùng vì số lượng ít nên không tiêu diệt được nhiều tàu đối phương.
Về chiến thuật, sai lầm lớn nhất của cả hai bên là sự chia cắt lực lượng. Đối với Anh, đây là một sai lầm rất khó hiểu bởi Anh là phía chủ động tấn công. Chính sự chia cắt đó đã khiến 2 cánh quân chủ yếu của Anh phải đến cuối ngày thứ ba mới hợp quân được với nhau. Phía Hà Lan, 2 chỉ huy cao nhất là Ruyter và Tromp cũng bị chia cắt với lực lượng chủ yếu. Do đội hình chia cắt nên chiến thuật chủ yếu trong trận đánh này vẫn là đánh giáp lá cà và không phát huy được khả năng hợp đồng tác chiến giữa các lực lượng.
Một bài học hết sức quan trọng cần rút ra trong trận đánh này là tinh thần đoàn kết nội bộ và tính kỷ luật. Phải nói rằng nội bộ chỉ huy quân Anh rất gắn kết, nhờ đó đã tránh được những hậu quả nặng nề. Trong khi đó, nội bộ Hà Lan ngoài mâu thuẫn giữa 2 đô đốc Ruyter và Tromp, chỉ huy các cánh cũng không ăn ý với nhau; dẫn đến hành động một cách thiếu kỷ luật; mỗi người hành động liều lĩnh hoặc nhút nhát đều theo ý của mình. Thậm chí có trường hợp một mũi đang chiến đấu trong điều kiện không thuận gió, mũi khác truy kích địch và cả 2 đều tách khỏi chỉ huy cánh; đó là chưa kể có những tàu chỉ huy cấp dưới còn định rời khỏi chiến trận.
Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề, song nhìn chung trận đánh này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nghệ thuật hải chiến. Kể từ sau trận đánh này đã xuất hiện những hạm đội hải quân thực sự với những đô đốc có đầy đủ năng lực và phẩm chất của người chỉ huy lực lượng hải quân.
Người viết: Đại tá HÁN VĂN TÂM
[1] Cuộc chiến tranh lần thứ nhất (1652-1654), cuộc chiến tranh lần thứ hai (1665-1668) và cuộc chiến tranh lần thứ ba (1672-1674).
[2] Hà Lan phải chấp nhận Đạo luật Hàng hải (1651) hạn chế khả năng chuyên chở hàng hóa của họ ở châu Âu, phải đền bù những thiệt hại cho Anh.
[3] Danilov S.lu, Những trận hải chiến vĩ đại, Nxb Eckimo-press (tiếng Nga), Moscow, 2011, tr. 99.
[4] Stense! Alfred, Lịch sử các cuộc chiến tranh trên biển từ thời cổ đại đến cuối thể kỷ XIX, Nxb Eksimo-press (tiếng Nga), Moscow, 2003, tr. 1.103.
[5] Makhốp S., Xôdaep E., Cuộc đấu của hai con sư tử. Chiến tranh Anh - Hà Lan thế kỷ XVII, http://www.e-reading.iink/chapter.php/1003404/47/ Mahov_Sergey_~_Shvatka_dvuh_lvov._Anglo - oliandskie_voyny_XVII_veka.html (tiếng Nga).
[6] Makhốp S., Xôdaep E., Cuộc đấu của hai con sư tử. Chiến tranh Anh - Hà Lan thế kỷ XVII, Tiđd.
[7] Makhốp S., Xôdaep E., Cuộc đấu của hai con sư tử. Chiến tranh Anh - Hà Lan thế kỷ XVII (tiếng Nga), Tlđd.
[8] Đó là loại pháo có nòng dài hơn trước đây, có sơ tốc lớn nên sức công phá cao; ngoài ra vận tốc đường đạn cũng cao hơn.
[9] Stensel Alfred, Lịch sử các cuộc chiến tranh trên biển từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XIX, Sđd, tr. 1141
[10] Sau này Monck thú nhận vào thời điểm đó ông chỉ muốn tự sát vì quân Hà Lan chỉ cách 5 hải lý, trong khi những tàu tốt nhất của Anh (gồm 2 tàu trang bị 100 khẩu pháo và 1 tàu 84 pháo).
[11] Makhốp s., Xôdaep E., Cuộc đấu của hai con sư tử. Chiến tranh Anh - Hà Lan thế kỷ XVII, Tlđd.
[12] Stensel Alfred, Lịch sử các cuộc chiến tranh trên biển từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XIX, Sđd, tr. 1145.