Phật Ở Tầng Áp Mái

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người Da Trắng

❊ ❊ ❊

Chúng tôi định cư bên rìa thị trấn của họ, khi họ cho phép. Và khi họ không cho phép - đừng có để mặt trời lặn thấy các người ở hạt này, những tấm biển của họ đôi khi tuyên bố thẳng thừng với chúng tôi như thế - chúng tôi tiếp tục đi. Chúng tôi lang thang từ trại lao động này đến trại lao động khác trong những thung lũng bụi bặm và nóng nực của họ - Sacramento, Imperial, San Joaquin - và luôn kề cận bên chồng, chúng tôi làm việc trên đất đai của họ. Chúng tôi hái dâu tây ở Watsonville. Chúng tôi hái nho ở Fresno và Denair. Chúng tôi quỳ trên đất bới khoai tây bằng những cái chĩa dùng để làm vườn ở đảo Bacon thuộc vùng Delta, nơi đất xốp và mềm. Ở Holland Tract chúng tôi phân loại đậu xanh cho họ. Và khi mùa gặt kết thúc chúng tôi buộc chăn thành cuộn đeo trên lưng, gói quần áo thành bọc cầm trong tay, chúng tôi đợi những chiếc xe bò kéo tiếp đi tới để lên đường đến nơi khác.

Từ đầu tiên thuộc ngôn ngữ của họ mà chúng tôi được học là từ “nước”. Đọc to lên, chồng của chúng tôi quát, khi chúng tôi cảm thấy mình sắp sửa ngất trên cánh đồng. “Hãy học từ đó đi”, họ nói, “và hãy tự cứu lấy mạng sống của cô”. Hầu hết chúng tôi đều làm theo những gì họ bảo, nhưng một người trong chúng tôi - Yoshiko, người phụ nữ được những người bảo mẫu nuôi nấng ở phía sau những mảnh sân có tường cao thuộc thành phố Kobe và từ bé tới lớn chưa bao giờ nhìn thấy một cọng cỏ - thì không. Sau ngày đầu tiên ở trang trại Marble cô trèo lên giường ngủ và không bao giờ thức dậy nữa. “Tôi cứ nghĩ cô ấy đang ngủ”, chồng cô kể lại. “Bị trụy tim”, người chủ thuê cô làm việc giải thích. Một người khác trong chúng tôi quá nhút nhát không dám kêu, đã quỳ xuống uống nước ở dưới mương. Bảy ngày sau cô phát bệnh thương hàn. Những từ khác mà ít lâu sau chúng tôi học là: “Được đấy” - từ mà ông chủ của chúng tôi nói khi ông ta hài lòng với những gì chúng tôi làm - và “Cút về nhà đi” - những từ mà ông chủ nói khi chúng tôi quá vụng về hoặc chậm chạp.

Nhà là một cái chõng ở một trong những nhà trọ của họ tại trang trại Fair thuộc Yolo. Nhà là một cái lều dài nằm dưới tán của một cây mận rậm lá thuộc trang trại Kettleman. Nhà là một cái lán gỗ ở trại số 7 thuộc Lodi. Chẳng có gì ngoài những luống hành chạy dài cho đến hết tầm mắt. Nhà là một chiếc giường bằng rơm ở trại nuôi gia súc của John Lyman, ngay bên cạnh chuồng của những con bò cái và những con ngựa từng giành giải thưởng trong các cuộc đua. Nhà là một góc của phòng giặt ở trang trại nuôi gia súc Canry của Stockton. Nhà là một chiếc giường ngủ trong một toa xe lửa han gỉ ở Lompoc. Nhà là một chỗ trước kia từng là chuồng gà ở Willows, chỗ mà trước khi chúng tôi tới mấy người Trung Quốc đã trú ngụ qua ngày. Nhà là một tấm đệm nhung nhúc rệp ở góc của một lán xe thuộc Dixon. Nhà là chiếc giường bằng cỏ khô được tạo bằng ba chiếc thùng thưa đựng táo phía dưới một cây táo ở vườn táo của Fred Stadelman. Nhà là một góc của một lớp học bị bỏ hoang ở Marysville. Nhà là một vuông đất trong một vườn lê ở Auburn cách không xa bờ sông American, nơi hằng tối chúng tôi nằm nhìn lên những vì sao Mỹ, những vì sao trông không khác gì những vì sao trên bầu trời ở quê hương chúng tôi: ở đó, phía trên cao, là sao Chăn trâu, Sao gỗ, Sao nước. “Cùng một vĩ độ”, chồng của chúng tôi giải thích. Nhà là bất cứ đâu có lúa chín sắp gặt. Nhà là bất cứ nơi nào có chồng của chúng tôi. Nhà là một chỗ ở bên cạnh người đàn ông đã dọn cỏ cho ông chủ của mình trong nhiều năm.

Mới đầu chúng tôi không ngừng đặt những câu hỏi về người Mỹ. Tại sao họ lại lên ngựa từ bên trái chứ không phải bên phải? Làm thế nào họ có thể phân biệt người này với người khác? Tại sao lúc nào họ cũng nói to? Có đúng là họ treo đĩa trên tường chứ không phải treo tranh? Có đúng là cánh cửa nào ở Mỹ cũng có khóa? Họ luôn đi giày ở trong nhà? Họ nói chuyện gì vào lúc đêm khuya khi sắp sửa ngủ? Họ mơ thấy gì? Họ cầu nguyện trước Phật, Chúa, hay đấng tối cao nào khác? Họ có bao nhiêu vị thần? Có đúng là họ nhìn thấy một người đàn ông trên mặt trăng chứ không phải một con thỏ không? Có đúng là họ ăn thịt bò tại các đám tang không? Có đúng là họ uống sữa bò không? Và cái mùi đó? Nó là mùi gì? “Mùi thối của bơ đấy”, chồng của chúng tôi giải thích.

Hãy tránh xa họ, chồng của chúng tôi cảnh báo. Nếu bạn buộc phải đến gần họ thì hãy hết sức cảnh giác. Đừng luôn luôn tin những gì họ nói, mà hãy học cách quan sát họ thật kỹ: quan sát tay họ, mắt họ, khóe miệng họ, sự thay đổi sắc mặt của họ. Bạn sẽ mau chóng biết được họ có ý gì. Tuy nhiên, hãy đảm bảo rằng bạn không nhìn họ trừng trừng. Lâu dần rồi thì bạn sẽ quen với sự to lớn của họ thôi. Hãy lường trước điều tồi tệ nhất có thể xảy ra, nhưng đừng ngạc nhiên khi bạn được thấy sự tử tế. Ở đâu chẳng có người tử tế. Đừng quên làm cho người Mỹ cảm thấy thoải mái. Hãy khiêm nhường. Hãy lịch sự. Hãy tỏ ra sẵn sàng làm hài lòng họ. Hãy nói: “Vâng, thưa ông”, hoặc “Không, thưa ông”, và làm như họ bảo. Tuy nhiên, tốt hơn hết bạn không nên nói gì cả. Giờ đây, ở cái xứ này, bạn đã thuộc về một thế giới vô hình.

Những cái cày ở Mỹ nặng hơn người chúng tôi, và rất khó sử dụng, còn ngựa của họ to lớn gấp đôi ngựa ở Nhật. Chúng tôi không thể đóng yên cương cho ngựa mà không trèo lên trên những thùng đựng cam, hoặc đứng trên ghế đẩu, và lần đầu tiên chúng tôi hô ngựa chạy chúng cứ đứng lì ra thở phì phì, cào móng trên mặt đất. Ngựa Mỹ điếc đặc chăng? Chúng đần độn chăng? Hay đơn giản chúng ương bướng? “Đó là ngựa Mỹ”, chồng của chúng tôi giải thích. “Chúng không hiểu tiếng Nhật đâu”. Và vậy là chúng tôi học từ tiếng Anh đầu tiên dành cho ngựa. “Giddyap” là từ bạn nói để bảo ngựa Mỹ lùi lại. "Easy” là từ bạn nói để bảo ngựa Mỹ chạy chậm lại, và “Whoa” là từ bạn nói khi muốn ngựa Mỹ dừng lại. Vài người trong số chúng tôi sau năm mươi năm ở Mỹ chỉ thuộc lòng được bấy nhiêu từ đó thôi.

Chúng tôi học được vài cụm từ thuộc ngôn ngữ của họ ở trên tàu từ những cuốn sách hướng dẫn “Hello” (xin chào), “Beg pardon”, (Xin lỗi, ông vừa nói gì ạ), “Please pay me my wages” (Xin hãy thanh toán tiền công cho tôi) - và có thể đọc thuộc lòng bảng chữ cái của họ, nhưng ở Mỹ những kiến thức đó chẳng có ích gì. Chúng tôi không thể đọc báo và tạp chí của họ. Chúng tôi nhìn những tấm biển của họ trong nỗi thất vọng tràn trề. Tất cả những gì tôi nhớ được là từ đó bắt đầu bằng chữ e. Và bất cứ khi nào ông chủ nói chuyện với chúng tôi, chúng tôi có thể nghe rõ những từ ông ta nói nhưng chúng tôi không hiểu ông ta muốn nói gì, chỉ như vịt nghe sấm mà thôi. Và trong những dịp hiếm hoi khi chúng tôi phải giới thiệu bản thân với người Mỹ - Bà Smeesh ư? - họ mở to mắt đầy vẻ bối rối nhìn chúng tôi, rồi nhún vai và bước đi.

Đừng để người Mỹ làm em mất can đảm. Hãy kiên nhẫn. Hãy giữ bình tĩnh. Ban đầu chồng chúng tôi dặn như vậy. Nhưng bây giờ chồng lại nói, việc nói thì cứ để tôi lo. Bởi vì họ biết nói tiếng Anh mà. Họ hiểu cách sống của người Mỹ. Và mỗi khi chúng tôi cần đồ lót mới họ lại nuốt lòng kiêu hãnh của mình xuống, cuốc bộ qua những cánh đồng dưới trời nóng như đổ lửa để vào thị trấn và bằng thứ tiếng Anh hoàn hảo nhưng được nói bằng giọng nặng trịch, họ yêu cầu người bán hàng bán cho họ một đôi quần lót. “Không phải quần cho tôi”, họ giải thích. Khi một người trong số chúng tôi đến xin làm thuê ở một trang trại mới, ông chủ nhìn cô ấy một cái và nói: “Cô ta trông yếu ớt quá” thì chính anh chồng là người thuyết phục ông ta rằng, trông vậy thôi chứ thực ra không phải vậy. “Ở ngoài đồng vợ tôi được việc ra phết, chẳng kém gì một người đàn ông đâu”, anh chồng nói như vậy, và điều đó nhanh chóng được chứng minh là sự thật. Khi chúng tôi ốm vì mắc chứng sốt rét và không thể nhấc đầu khỏi sàn nhà được, lại chính chồng chúng tôi là người nói cho ông chủ biết chuyện gì đã xảy ra: “Thoạt tiên cô ấy nóng, sau đó cô ấy lạnh, rồi cô ấy lại nóng". Và khi ông chủ bảo sẽ đích thân lái xe vào thị trấn ngay chiều hôm đó để mua thuốc chữa bệnh cho chúng tôi - “Đừng lo về chuyện tiền nong”, ông ta nói - lại chính chồng tôi là người cảm ơn ông ta rối rít. Mặc dù thuốc ông ta mua khiến nước tiểu của chúng tôi có màu mận chín trong nhiều ngày, chẳng bao lâu sau chúng tôi bắt đầu cảm thấy khỏe lại.

Vài người trong số chúng tôi thể hiện sự nhanh nhẹn trong công việc để gây ấn tượng với người Mỹ. Vài người trong số chúng tôi thể hiện sự nhanh nhẹn chỉ để chứng minh cho họ thấy rằng chúng tôi biết hái mận, biết bấm ngọn củ cải đường, đóng bao hành, xếp dâu tây vào thùng rất nhanh nếu không muốn nói là nhanh hơn đàn ông. Vài người trong số chúng tôi thể hiện sự nhanh nhẹn trong công việc bởi vì trong suốt thời thơ ấu chúng tôi đã cúi lom khom trên đôi chân trần của mình ở ngoài cánh đồng lúa và từ khi ấy chúng tôi đã thạo hầu như mọi việc của nhà nông rồi. Vài người trong số chúng tôi phải chứng tỏ rằng mình nhanh nhẹn trong công việc bởi vì chồng của chúng tôi đã cảnh báo rằng nếu chúng tôi chậm chạp, vụng về thì họ sẽ trả chúng tôi về Nhật ngay trên chuyến tàu tiếp theo. Tôi đã hỏi được một người vợ khác có sức khỏe và có khả năng hơn cô. Vài người trong số chúng tôi là dân thành phố, và chúng tôi làm việc chậm, bởi vì trước đây chúng tôi chưa bao giờ cầm một cái cuốc. “Việc dễ nhất ở Mỹ đấy”, người ta bảo chúng tôi thế. Vài người trong số chúng tôi cả đời yếu ệp, nhưng sau một tuần làm việc ở vườn chanh thuộc Riverside chúng tôi cảm thấy khỏe hơn những con bò đực. Một người trong chúng tôi đổ sập xuống trước khi cô nhổ xong hàng cỏ đầu tiên. Vài người trong chúng tôi khóc sụt sùi trong khi làm việc. Vài người trong số chúng tôi vừa làm việc vừa nguyền rủa. Tất cả chúng tôi đều đau nhừ người trong khi làm việc - tay của chúng tôi phồng rộp và chảy máu, đầu gối của chúng tôi bỏng rát, lưng của chúng tôi chẳng bao giờ còn được như trước nữa. Một cô gái trong số chúng tôi bị một người đàn ông Hindu cắt măng tây ở ruộng bên cạnh hút hồn trong khi cô đang làm việc và tất cả những gì cô có thể nghĩ đến là cô muốn gỡ bỏ chiếc khăn xếp màu trắng trên đầu anh ta xuống biết nhường nào. Đêm nào tôi cũng mơ tưởng đến Gupta-san. Vài người trong số chúng tôi vừa làm việc vừa lẩm nhẩm đọc Kinh Phật và thời gian trôi nhanh đến mức nhiều giờ mà cứ như vài phút vậy. Một người trong chúng tôi - Akiko, cô gái từng đi học tại trường dòng ở Tokyo đã biết tiếng Anh, đọc Kinh Thánh cho chồng nghe hằng đêm - hát bài Tâm linh ơi vùng lên này trong khi cô làm việc. Nhiều người trong số chúng tôi hát những bài ca về mùa gặt mà chúng tôi đã hát khi chúng tôi còn bé và cố tưởng tượng rằng mình đang ở trên mảnh đất quê hương. Bởi vì nếu như trong các bức thư gửi cho chúng tôi, các ông chồng nói sự thật - họ không phải là những nhà kinh doanh vải sợi, họ là những người hái quả thuê, không phải họ sống ở những ngôi nhà lớn có nhiều phòng mà sống trong những túp lều, những nhà kho, sống cảnh màn trời chiếu đất ở ngoài đường, trên cánh đồng, ngày cũng như đêm - thì chúng tôi đã chẳng bao giờ đưa chân đến đất Mỹ để làm những công việc mà không một người Mỹ có lòng tự trọng nào thèm làm.

Người Mỹ khâm phục chúng tôi vì chúng tôi có tấm lưng khỏe và đôi tay nhanh nhẹn. Họ khâm phục chúng tôi vì sức chịu đựng. Họ khâm phục chúng tôi vì tinh thần kỷ luật. Họ khâm phục chúng tôi vì chúng tôi dễ bảo. Họ khâm phục chúng tôi vì khả năng chịu đựng cái nóng khủng khiếp của xứ họ, vào những ngày hè, trên những cánh đồng trồng dưa ở Brawley lên tới 50 độ C. Họ nói rằng vóc người thấp bé của chúng tôi khiến chúng tôi cực kỳ hợp với những việc đòi hỏi người ta phải cúi sát mặt đất. Bất cứ khi nào họ sử dụng chúng tôi họ đều hài lòng. Chúng tôi có tất cả những phẩm chất tốt của người Trung Hoa - chúng tôi chăm chỉ, kiên nhẫn, luôn lễ phép - nhưng không nhiễm bất kỳ một thói xấu nào của người Trung Hoa - chúng tôi không đánh bạc, không hút thuốc phiện, chúng tôi không cãi lộn, chúng tôi không bao giờ nhổ bọt. Chúng tôi nhanh nhẹn hơn người Philippine và không kiêu căng như người Hindu. Chúng tôi có tinh thần kỷ luật cao hơn người Hàn Quốc. Chúng tôi cư xử đúng mực hơn người Mexico. Chúng tôi ăn uống không tốn bằng người Okie và người Arkie. Mỗi ngày chỉ cần một thìa cà phê cơm một người Nhật cũng có thể sống được. Chúng tôi là loại người ưu tú nhất dành cho lao động mà họ có thể thuê trong đời. Những người này tự giác làm việc, chúng tôi chẳng cần phải để mắt đến họ.

Ban ngày chúng tôi làm việc ở vườn quả, trên cánh đồng của họ, nhưng ban đêm, khi chúng tôi ngủ, trong vô thức chúng tôi tìm về quê hương. Thỉnh thoảng chúng tôi mơ chúng tôi trở về ngôi làng của mình, vừa đi vừa lắc cái vòng kim loại dọc phố Thương gia. Những lần khác chúng tôi mơ mình đang chơi trốn tìm trong những đám lau sậy ở ven sông. Và thỉnh thoảng trong giấc mơ chúng tôi nhìn thấy một thứ gì đó trôi nổi. Một dải ruy băng bằng lụa đỏ mà chúng tôi bị mất nhiều năm trước. Một quả trứng màu xanh lục có đốm. Chiếc gối gỗ của mẹ. Một con rùa đi lạc đâu mất khi chúng tôi năm tuổi. Thỉnh thoảng trong giấc mơ chúng tôi thấy mình đang đứng trước gương với người chị gái, chị Ai, người có cái tên mà tùy vào cách viết của bạn có nghĩa là “tình yêu” hoặc “sự đau khổ”, và chị đang tết tóc cho chúng tôi. “Đứng yên nào!” chị nói. Và mọi chuyện cứ sống động y như thật. Nhưng khi chúng tôi thức dậy chúng tôi nhận ra mình đang nằm bên một người đàn ông xa lạ ở một xứ lạ trong một cái lán chật chội, nóng bức đầy những tiếng rên rỉ và tiếng thở dài của những người lạ nằm xung quanh. Đôi khi chồng chúng tôi quờ quạng tìm chúng tôi trong giấc ngủ bằng bàn tay mập mạp và thô của họ và chúng tôi cố không giật người ra xa để né tránh. Mười năm nữa anh ta sẽ trở thành một ông già thôi, chúng tôi tự nhủ. Đôi khi, vào lúc bình minh chồng mở mắt ra nhận thấy chúng tôi buồn, liền hứa rằng mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Và mặc dù chỉ mới vài giờ trước chúng tôi đã nói với chồng rằng: “Tôi ghê tởm anh”, khi anh ta trườn lên người mình một lần nữa, chúng tôi lại đành tự an ủi mình hãy cắn răng chịu đựng, bởi vì chồng là tất cả những gì chúng tôi có ở cái xứ này. Đôi khi chồng mở mắt nhìn chúng tôi đấy, nhưng lại như không hề biết đến sự tồn tại của chúng tôi, và những lúc như thế luôn là những lúc tồi tệ nhất. Có ai biết tôi đang hiện hữu ở đây không?

Suốt cả một tuần dài lê thê họ bắt chúng tôi đổ mồ hôi trên cánh đồng nhưng vào những ngày Chủ nhật họ cho chúng tôi được nghỉ ngơi. Và trong khi chồng của chúng tôi lang thang trong thị trấn, chơi xóc đĩa ở những quán bài bạc của người Trung Hoa, nơi mà chủ quán luôn luôn thắng, chúng tôi ngồi dưới gốc cây với những thỏi mực và cây bút lông cùng tờ giấy mỏng viết thư cho mẹ của mình, những người mà chúng tôi đã hứa không bao giờ rời xa. Giờ đây con đang ở Mỹ, nhổ cỏ cho một ông lớn mà người ta gọi là Boss. Ở đây không có nương dâu, không có rừng tre, không có những bức tượng Jizo ở bên đường. Đồi ở đây toàn một màu nâu rất khô cằn, hiếm khi có mưa. Núi ở đây xa lắc xa lơ. Chúng con sống trong ánh sáng đèn dầu và mỗi tuần một lần, vào các ngày Chủ nhật, chúng con giặt quần áo trên những tảng đá trơn ướt ở ngoài suối. Chồng của con không phải là người đàn ông ở trong ảnh. Chồng của con đúng là người ở trong ảnh, nhưng già hơn nhiều. Người ở trong ảnh thực ra không phải là chồng của con, mà là người bạn thân đẹp trai của anh ấy. Chồng của con là một kẻ nghiện rượu. Chồng của con là người quản lý câu lạc bộ Yamato và khắp người anh ta đầy hình xăm. Chồng của con thấp hơn anh ấy tả trong thư, nhưng mà con cũng có cao ráo gì đâu... Chồng của con được thưởng Huân chương Cánh diều Vàng hạng sáu trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật và bây giờ ông ấy đi cà nhắc. Chồng của con vượt biên sang Mỹ qua biên giới Mexico. Chồng của con là người đi lậu vé, đã nhảy khỏi tàu ở San Francisco vào đúng ngày trước hôm xảy ra trận động đất lớn vào năm 1906 và đêm nào anh ấy cũng mơ anh ấy phải tới được bến. Chồng con yêu chiều con lắm. Chồng con sẽ không bỏ con đâu. Chồng của con là một người đàn ông tốt thường làm đỡ con bất cứ khi nào con không thể theo kịp tiến độ của công việc để ông chủ không đuổi con về.

Từ sâu thẳm trong lòng chúng tôi hy vọng được cứu thoát khỏi họ. Có lẽ chúng tôi đã đem lòng yêu người đàn ông ở trên tàu, người cùng quê với chúng tôi, người nhớ những ngọn núi, những dòng suối mà chúng tôi nhớ, và chúng tôi không thể gạt bỏ người đó khỏi tâm trí. Ngày nào anh ấy cũng đứng bên chúng tôi trên boong tàu, khen chúng tôi xinh xắn, thông minh, đặc biệt biết nhường nào. Anh ấy nói trong đời mình chưa từng gặp ai như chúng tôi. Anh ấy nói: “Hãy đợi anh nhé. Anh sẽ gửi thư cho em ngay khi có thể”. Có lẽ người mà chúng tôi đem lòng yêu là một nhà thầu khoán ở Cortez, hoặc là giám đốc của một công ty xuất nhập khẩu ở trung tâm thành phố San Jose, và hàng ngày khi chúng tôi dùng tay đào xới những lớp đất đen dưới trời nắng như đổ lửa chúng tôi cầu mong thư của người đàn ông mình yêu sẽ đến. Nhưng ngày qua ngày chúng tôi chẳng thấy gì hết. Đôi khi, vào lúc đêm khuya, chuẩn bị đi ngủ, chúng tôi bỗng òa khóc nức nở và chồng của chúng tôi nhìn chúng tôi với vẻ lo lắng. “Tôi đã nói gì làm cô khóc ư?” anh ta hỏi, và chúng tôi không biết phải nói gì, chỉ biết lắc đầu. Thế rồi cho tới một ngày kia, khi một phong thư từ người đàn ông chúng tôi đem lòng yêu ở trên tàu ấy cuối cùng cũng đến - Anh đã gửi tiền cho chồng em và sẽ đợi em ở khách sạn Taisho - chúng tôi buộc phải nói cho chồng biết tất cả mọi chuyện. Và mặc dù chồng dùng dây thắt lưng quật chúng tôi túi bụi và gọi chúng tôi bằng đủ mọi cái tên mà chúng tôi đáng phải nhận, cuối cùng anh ta cũng để cho chúng tôi ra đi. Bởi vì số tiền mà chồng chúng tôi nhận được từ người đàn ông kia nhiều gấp mấy lần số tiền anh ta đã bỏ ra để đưa chúng tôi từ Nhật sang Mỹ. “Có lẽ, ít ra một trong hai chúng ta sẽ hạnh phúc”, anh ta nói với chúng tôi. Anh ta nói: “Không có gì kéo dài mãi cả”. Và anh ta nói: “Đáng lẽ lần đầu tiên nhìn vào mắt cô tôi phải biết đó là mắt của một con đĩ rồi”.

Thỉnh thoảng ông chủ xuất hiện từ phía sau chúng tôi trong khi chúng tôi cúi lom khom trên ruộng của ông ta và thì thầm vài lời vào tai chúng tôi. Và mặc dù chúng tôi không biết ông ta đang nói gì, bằng cách nào đó chúng tôi biết chính xác ông ta muốn gì. “Tôi không nói tiếng Anh”, chúng tôi trả lời. Hoặc, “Xin lỗi, ông chủ, không được đâu ạ”. Đôi khi một người đàn ông ăn mặc khá bảnh không biết từ đâu xuất hiện, rủ chúng tôi trở về thành phố với ông ta. Nếu em đến làm việc cho tôi thì tôi có thể trả công em cao gấp mười lần tiền công em nhận được ở đây. Đôi khi một người bạn độc thân của chồng chúng tôi thừa lúc chồng chúng tôi không có mặt ở đó, liền tiến đến gần và cố dúi cho chúng tôi tờ năm đô la. “Hãy để anh làm chuyện ấy một lần”, anh ta nói. “Anh hứa với em anh sẽ làm rất êm”. Đôi khi chúng tôi đầu hàng, nói đồng ý. “Tối mai, chín giờ hãy gặp tôi ở sau lán trồng rau diếp”, chúng tôi nói với anh ta. Hoặc, “Thêm năm đô la nữa tôi mới đồng ý”. Có lẽ chúng tôi không hạnh phúc với chồng mình, người mà đêm nào cũng đi chơi bài và uống rượu say mèm đến tận khuya mới mò về nhà. Hoặc có lẽ chúng tôi cần gửi tiền về cho gia đình của mình bởi vì quê hương lại bị mất mùa vì lũ lụt. Nhà mình đã mất trắng tất cả rồi và giờ chẳng còn gì để sống ngoài vỏ cây và khoai lang luộc. Ngay cả những người phụ nữ không xinh đẹp trong số chúng tôi cũng thường được người ta bí mật đề nghị tặng cho những món quà: một chiếc ghim cài tóc được làm bằng mai rùa, một lọ nước hoa, một cuốn Tạp chí Điện ảnh bị thó trộm từ một cửa hàng trong thị trấn. Nhưng nếu chúng tôi nhận quà mà không đáp lại họ thì chúng tôi biết mình sẽ phải trả giá. Ông ấy sẽ chặt đứt đầu ngón tay cô ta. Vậy nên chúng tôi học cách cân nhắc và suy nghĩ trước khi đồng ý và học cách nhìn vào mắt người đàn ông khác, bởi vì ở Mỹ chẳng có cái gì được cho không hết.

Vài người trong số chúng tôi làm công việc nấu nướng trong những trại lao động của họ, vài người chuyên rửa bát đĩa, và với những loại việc đó chúng tôi đã hủy hoại đôi bàn tay mịn màng, thanh mảnh của mình. Những người khác được đưa tới các thung lũng xa xôi, thuê đất của người Mỹ, bán mặt cho đất bán lưng cho trời để cấy trồng và nộp hoa lợi cho chủ vào mỗi vụ thu hoạch. Chồng của chúng tôi đã thuê hai mươi héc-ta từ một người đàn ông tên là Caldwell, người có hàng nghìn mẫu đất ở thung lũng San Joaquin thuộc phía Nam, và hàng năm chúng tôi trả cho ông Caldwell đó sáu mươi phần trăm những gì chúng tôi thu được. Chúng tôi sống trong những cái lán được dựng sơ sài bên dưới một cây liễu giữa đồng không mông quạnh, ngủ trên một tấm đệm được nhồi bằng rơm. Chúng tôi đi vệ sinh ở ngoài trời, trên một cái hố được đào trên mặt đất. Chúng tôi múc nước giếng lên để nấu ăn và giặt giũ. Nhiều ngày chúng tôi trồng hoặc bới khoai tây từ sáng sớm đến tối mịt và trong nhiều tuần liền chúng tôi không trò chuyện với ai ngoài chồng mình. Chúng tôi nuôi một con mèo để làm bầu bạn, để đuổi chuột, và ban đêm nếu chúng tôi đứng ở cửa nhìn về phía Tây chúng tôi có thể thấy ánh sáng chập chờn, yếu ớt ở phía xa xa. Chồng chúng tôi bảo rằng đó là nơi có dân cư. Những lúc như thế chúng tôi hiểu ra rằng đáng lẽ mình không nên rời quê hương. Nhưng cho dù chúng tôi dùng hết sức bình sinh để gọi tên mẹ mình chúng tôi cũng ý thức được rằng mẹ ở quê nhà xa lắc xa lơ không thể nghe được tiếng gọi của chúng tôi, vậy nên chúng tôi cố gắng tận dụng tối đa những gì mình có. Chúng tôi cắt ảnh chụp những chiếc bánh từ những cuốn tạp chí và treo chúng trên tường. Chúng tôi khâu những tấm rèm cửa từ những bao đựng gạo được tẩy trắng. Chúng tôi làm bàn thờ Phật từ những cái thùng đựng khoai tây được úp xuống và chúng tôi phủ một tấm vải lên đó, để rồi sáng sáng chúng tôi bày một tách trà nóng lên cúng tổ tiên. Và vào cuối mùa gặt chúng tôi đi bộ mười dặm vào thị trấn mua cho mình một món quà nhỏ: một chai Coke, một chiếc tạp dề mới, một thỏi son với hy vọng một ngày nào đó chúng tôi có dịp dùng. Có lẽ một ngày nào đó mình sẽ được mời đi nghe nhạc. Vài năm đồng ruộng được mùa và nông phẩm lại được giá, vậy nên chúng tôi kiếm được nhiều tiền hơn mong đợi. Sáu trăm một héc-ta. Những năm khác chúng tôi mất trắng vì sâu bọ hoặc do nấm mốc sương tàn phá hoa màu hoặc do trời mưa như trút suốt một tháng trời, hoặc do giá khoai tây hạ đến mức chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác đành bán tất cả dụng cụ làm nông của mình đi để trả nợ, và vào những lúc mùa màng thất bát như thế chúng tôi không nén được, lại tự hỏi tại sao mình lại ở đây. “Tôi là đồ ngốc mới theo anh đến cái đất nước này”, chúng tôi nói với chồng mình. Hoặc, “Anh đang làm phí hoài tuổi trẻ của tôi”. Nhưng khi chồng hỏi, cô thích làm hầu gái ở thành phố, cả ngày luôn mỉm cười, lúc nào cũng cúi gằm mặt và không được phép thốt ra bất cứ lời nào ngoài mấy từ “vâng, thưa bà, vâng, thưa bà”, hơn là sống như hiện tại phải không? chúng tôi thú nhận rằng câu trả lời là không.

Người Mỹ không muốn chúng tôi làm hàng xóm ở thung lũng của họ. Họ không muốn làm bạn với chúng tôi. Chúng tôi sống trong những cái lán tồi tàn và thậm chí không thể nói những câu tiếng Anh đơn giản. Chúng tôi chỉ quan tâm đến tiền. Phương pháp canh tác của chúng tôi thật nghèo nàn, lạc hậu. Chúng tôi sử dụng quá nhiều nước. Chúng tôi cày ruộng không đủ sâu. Chồng của chúng tôi bắt chúng tôi làm việc như nô lệ. Họ nhập khẩu những cô gái này từ nước Nhật như những lao động tự do. Chúng tôi làm việc trên đồng ruộng cả ngày dài mà không được nghỉ để ăn nhẹ vào buổi tối. Chúng tôi làm việc trên cánh đồng đến tận khuya trong ánh đèn dầu. Chúng tôi chẳng bao giờ có ngày nghỉ. Đồng hồ và giường ngủ là hai thứ mà một nông dân Nhật chưa bao giờ sử dụng trong đời. Chúng tôi tiếp quản ngành công nghiệp súp lơ của họ. Chúng tôi chiếm lĩnh ngành trồng trọt rau bina của họ. Chúng tôi độc chiếm trong ngành công nghiệp dâu tây của họ, vượt qua họ về mặt hàng đậu. Chúng tôi là một cỗ máy kinh tế chuyển động liên tục, không thể chặn lại được, không thể đánh bại được và nếu sự phát triển của chúng tôi không được kiểm soát trên toàn khu vực miền Tây thì nước Mỹ sẽ sớm trở thành tiền đồn và thuộc địa tiếp theo của người châu Á.

Nhiều đêm chúng tôi chờ họ. Thỉnh thoảng họ lái xe qua lán của chúng tôi, bắn đạn chì vào cửa sổ lán, hoặc phóng hỏa đốt chuồng gà của chúng tôi. Đôi khi họ phá lán của chúng tôi bằng thuốc nổ. Thỉnh thoảng họ đốt ruộng của chúng tôi khi mà lúa trên ruộng đang bắt đầu chín khiến chúng tôi mất trắng toàn bộ thu nhập của cả năm. Mặc dù sáng hôm sau chúng tôi phát hiện ra những dấu chân trên đất, và nhiều đầu mẩu que diêm, khi chúng tôi mời cảnh sát trưởng tới xem xét hiện trường, ông ta nói với chúng tôi rằng chẳng có đầu mối nào để điều tra hết. Từ đó chồng của chúng tôi thay đổi tâm tính, không còn như trước nữa. Tại sao phải buồn phiền cơ chứ? Ban đêm chúng tôi ngủ mà không cởi giày và để rìu kè kè ở bên giường, trong khi chồng của chúng tôi ngồi bên cửa sổ cho đến sáng. Đôi khi chúng tôi giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng động vang lên từ đâu đó, nhưng rốt cuộc chẳng có chuyện gì cả - ở đâu đó trên thế giới, có lẽ một quả đào vừa mới rụng khỏi cành cây - có đêm chúng tôi ngủ thiếp đi để rồi sáng ra khi thức dậy chúng tôi thấy chồng mình trong tư thế ngồi rũ người, ngáy ngay trên ghế và chúng tôi cố đánh thức họ dậy một cách nhẹ nhàng, bởi vì khẩu súng vẫn đang được đặt trên đùi họ. Thỉnh thoảng chồng của chúng tôi mua những con chó để canh gác, những con vật mà họ đặt tên là Dick hoặc Harry hoặc Spot, và họ gắn bó với những con chó ấy hơn với chúng tôi, còn chúng tôi thì tự hỏi thầm trong lòng rằng mình đưa chân tới cái mảnh đất lạnh lùng và bạo lực này liệu có phải là một sai lầm không. Liệu có bộ lạc nào tàn ác hơn người Mỹ không?

Có người trong số chúng tôi oán trách người Mỹ vì tất cả mọi chuyện đã xảy ra với mình và cầu mong họ chết ráo. Có người oán trách họ vì tất cả mọi chuyện và ước rằng giá mà cô ấy chết đi được. Những người khác học cách sống mà không nghĩ về họ. Chúng tôi ném mình vào công việc và bị ám ảnh bởi ý nghĩ, mình phải nhổ thêm một cụm cỏ nữa mới được. Chúng tôi cất những chiếc gương soi đi. Chúng tôi không chải tóc nữa. Chúng tôi quên việc trang điểm. Bất cứ khi nào chúng tôi thoa phấn lên mũi chúng tôi đều cảm thấy lớp phấn trông giống như sương trên đỉnh núi vậy. Chúng tôi quên Đức Phật. Chúng tôi quên Chúa. Sự lạnh lẽo phát triển trong con người chúng tôi và bám chặt lấy tâm hồn chúng tôi cho đến tận bây giờ vẫn chưa tan. Chúng tôi sợ rằng tâm hồn mình đã chết. Chúng tôi không viết thư về cho mẹ nữa. Chúng tôi gầy mòn, héo hon. Chúng tôi bị rối loạn kinh nguyệt. Chúng tôi thôi không nuôi những ước mơ nữa. Chúng tôi ngừng khao khát. Chúng tôi chỉ làm việc quần quật, làm việc, và làm việc. Mỗi ngày chúng tôi lặng lẽ nuốt thức ăn ba bữa mà không nói một lời nào với chồng để chúng tôi có thể mau chóng trở lại cánh đồng. “Ra đồng sớm hơn một phút là nhổ thêm được một búi cỏ”. Tôi không thể nào xua được ý nghĩ này ra khỏi đầu mình. Đêm nào chúng tôi cũng dạng chân ra cho chồng làm chuyện ấy, nhưng chúng tôi mệt đến nỗi thường ngủ thiếp đi trước khi nó kết thúc. Chúng tôi giặt quần áo cho chồng mỗi tuần một lần bằng nước nóng. Chúng tôi nấu ăn cho họ. Chúng tôi lau dọn cho họ. Chúng tôi giúp họ chẻ củi. Chúng tôi nấu ăn, giặt giũ, chặt củi đấy mà cứ như thể người khác đang làm những việc ấy. Và thường thì chồng của chúng tôi thậm chí không nhận ra rằng chúng tôi chẳng còn là chúng tôi nữa.

Vài người trong số chúng tôi chuyển khỏi vùng nông thôn, tới những vùng ngoại ô của người Mỹ. Chúng tôi sống ở nhà phụ dành cho người giúp việc của những gia đình khá giả ở Atherton và Berkeley phía trên Telegraph, tít trên những ngọn đồi. Chúng tôi làm việc cho những quý ông như bác sĩ Giordano, bác sĩ phẫu thuật lồng ngực nổi tiếng ở Bờ Biển Vàng của quận Alameda. Và trong khi chồng của chúng tôi xén cỏ của nhà bác sĩ Giordano, tỉa những bụi cây cho bác sĩ Giordano, cào lá cho bác sĩ Giordano, chúng tôi ở trong nhà với bà Giordano, người có mái tóc nâu bồng bềnh và là người đàn bà tốt bụng thường bảo chúng tôi hãy gọi mình là Rose, và chúng tôi lau chùi, đánh bóng đồ bạc của Rose, quét sàn của Rose, trông nom Richar, Jim, Theo, ba đứa con của Rose, những đứa trẻ mà chúng tôi hát ru cho nghe mỗi tối bằng thứ tiếng không phải là tiếng mẹ đẻ của chúng. Nemure, nemure. Và có những điều chúng tôi không thể ngờ tới đã xảy ra. Tôi trở nên quan tâm đến những đứa bé đó như thể chúng là con đẻ của tôi vậy. Nhưng chính bà mẹ già của bác sĩ Giordano, bà Lucia, là người chúng tôi quan tâm nhất. Lucia thậm chí còn cô đơn hơn cả chúng tôi, và khi bà cụ đã vượt qua được cảm giác sợ hãi, bà không rời chúng tôi nửa bước. Bà theo chúng tôi từ phòng này sang phòng kia trong khi chúng tôi quét bụi và lau sàn, vừa đi vừa nói luôn miệng. Molto bene. Perfectto! Basta cosi. Và nhiều năm sau khi bà qua đời những ký ức của bà về cố hương vẫn tiếp tục sống trong tâm trí của chúng tôi như thể đó là ký ức của chính chúng tôi vậy: quán mozzarella, tiệm pomodori, tiệm Lago di Como, quán piazza ở trung tâm thị trấn nơi hàng ngày bà đi mua hàng cùng với các chị em gái của mình. Đất nước Italia, Italia, chao ôi! Tôi mong được thấy cố hương lần cuối biết nhường nào.

Chính những người phụ nữ của họ dạy chúng tôi những điều chúng tôi cần biết nhất. Họ dạy bạn cách nhóm bếp lò. Họ dạy bạn cách dọn giường. Họ dạy bạn cách trả lời khi có người bấm chuông cửa. Họ dạy bạn cách bắt tay. Họ dạy bạn cách mở và đóng vòi rượu, thứ mà nhiều người trong chúng tôi chưa nhìn thấy bao giờ. Họ dạy bạn cách quay số điện thoại. Họ dạy bạn cách tỏ ra vui vẻ khi nói qua điện thoại ngay cả khi bạn đang bực tức hoặc buồn rầu. Họ dạy bạn cách rán trứng. Họ dạy bạn cách gọt khoai tây. Họ dạy bạn cách bày bàn ăn. Họ dạy bạn cách chuẩn bị một bữa tiệc tối năm món trong sáu giờ cho mười hai người. Họ dạy bạn cách châm thuốc. Họ dạy bạn cách nhả khói thuốc thành vòng tròn. Họ dạy bạn cách làm tóc xoăn trông giống kiểu tóc của Mary Pickford. Họ dạy bạn cách giặt sạch vết son trên áo sơ mi trắng của chồng bạn ngay cả khi vết son đó không phải là của bạn. Họ dạy bạn cách nâng váy trên phố để lộ ra một phần nhất định của đôi chân. Cô phải nhử, chứ không được khêu gợi. Họ dạy bạn cách nói chuyện với chồng. Họ dạy bạn cách tranh luận với chồng. Họ dạy bạn cách lừa dối chồng. Họ dạy bạn cách ngăn không cho chồng lạc ra khỏi tầm kiểm soát của bạn. Đừng hỏi anh ta đã ở đâu hoặc mấy giờ anh ta sẽ về nhà mà hãy đảm bảo rằng cô luôn làm cho anh ta hạnh phúc khi ở trên giường.

Chúng tôi yêu quý họ. Chúng tôi căm ghét họ. Chúng tôi muốn là họ. Họ mới cao ráo, dễ thương và xinh đẹp làm sao. Chân tay họ dài miên man trông thật duyên dáng. Răng họ trắng bóng. Da họ trắng mịn làm lu mờ những nhược điểm của khuôn mặt. Những nét tính cách dễ mến nhưng kỳ quặc chưa bao giờ lại không gây thích thú cho người khác của họ - sự mê thích của họ đối với món nước chấm A.1 và những đôi giày cao gót mũi nhọn hoắt, kiểu bước đi hài hước của họ, xu hướng tụ tập ở phòng khách của nhà nhau tạo thành những đám đông ồn ào đứng nói chuyện trong suốt nhiều giờ của họ. Chúng tôi tự hỏi, tại sao họ lại không ngồi xuống nhỉ? Dường như ở đâu trong thế giới này họ cũng cảm thấy tự nhiên như ở nhà. Họ thật thoải mái. Họ có sự tự tin mà chúng tôi không có. Tóc họ đẹp hơn tóc chúng tôi nhiều. Rất nhiều màu. Và chúng tôi cảm thấy tiếc vì mình không thể giống họ.

Đêm khuya, trong căn phòng chật hẹp không có cửa sổ nằm ở phía sau ngôi nhà lớn uy nghiêm của họ, chúng tôi bắt chước họ. “Nào, bây giờ anh làm ông chủ và em làm bà chủ nhé”, chúng tôi nói với chồng mình. “Không, em là ông chủ và anh là bà chủ”, đôi khi chồng chúng tôi đáp như vậy. Chúng tôi cố hình dung ra cách họ làm chuyện ấy. Cố tưởng tượng ra họ nói gì trong lúc làm chuyện ấy. Ai ở trên. Ai ở dưới. Ông chủ có hét lên trong khi làm chuyện ấy không? Bà chủ có hét không? Đến tận lúc thức dậy vào buổi sáng họ vẫn quấn lấy nhau chăng? Những lần khác chúng tôi nằm im trong bóng tối, kể cho nhau về ngày của mình. Em đập thảm. Em luộc khăn trải giường bằng nước sôi. Anh dùng dao làm đồng đào cỏ gà ở phía nam của bãi cỏ. Và khi chúng tôi kể xong chúng tôi kéo chăn lên qua đầu, nhắm mắt lại, mơ về một ngày mai tốt đẹp hơn sẽ đến. Một ngôi nhà của riêng chúng tôi, một ngôi nhà sơn trắng xinh xắn nằm trên một con phố dài rợp bóng cây có khu vườn quanh năm đầy hoa nở. Một bồn tắm chỉ trong nháy mắt đã có đầy nước nóng. Một người hầu sáng sáng mang đồ điểm tâm được đựng trên một chiếc khay bạc hình tròn cho chúng tôi và lau dọn tất cả các phòng trong nhà một cách tỉ mỉ. Một cô hầu phòng. Một chị thợ giặt. Một quản gia người Trung Hoa mặc áo dài trắng xuất hiện ngay khi chúng tôi rung chuông và gọi, “Charlie, mang trà cho tôi nào!”

Họ đặt cho chúng tôi những cái tên mới. Họ gọi chúng tôi là Helen và Lily. Họ gọi chúng tôi là Margaret. Họ gọi chúng tôi là Pearl. Họ lấy làm lạ trước vóc dáng bé nhỏ của chúng tôi và ngạc nhiên trước mái tóc đen dài óng ả của chúng tôi. Họ khen ngợi chúng tôi vì cái nết chịu thương chịu khó. Cô gái này cứ xong việc mới chịu ngừng tay. Họ khoe về chúng tôi với hàng xóm. Họ khoe về chúng tôi với bạn bè. Họ tuyên bố rằng họ thích chúng tôi hơn bất cứ người giúp việc nào khác. Không thể tìm đâu ra người được việc như cô gái ấy đâu. Khi họ không vui và không có ai để dốc bầu tâm sự họ kể cho chúng tôi nghe những bí mật đen tối nhất của mình. Tất cả những gì tôi đã nói với chồng tôi đều là dối trá hết. Khi chồng của họ đi vắng họ bảo chúng tôi lên gác ngủ với họ để họ khỏi cảm thấy cô đơn. Khi họ gọi chúng tôi vào lúc nửa đêm chúng tôi đến với họ và nằm bên họ cho tới tận sáng. “Nín đi, nín đi nào”, chúng tôi an ủi họ. Và chúng tôi nói: “Đừng khóc nữa, bà chủ”. Khi họ phải lòng một người đàn ông không phải là chồng của họ chúng tôi trông nom con cho họ trong khi họ ra ngoài hẹn hò với người tình vào ban ngày. “Trông tôi có ổn không?” họ hỏi chúng tôi. Và họ hỏi: “Váy của tôi như thế này có chật quá không?” Chúng tôi phủi những vết xơ vải nhỏ li ti khỏi áo sơ mi của họ, thắt lại khăn, chỉnh lại những lọn tóc quăn cho họ. Chúng tôi nhổ những sợi tóc đã ngả màu muối tiêu trên đầu họ mà tuyệt nhiên không bình luận gì. “Trông bà đẹp lắm”, chúng tôi khen bà chủ của mình, và sau đó chúng tôi để họ đi làm cái việc họ muốn. Và buổi tối khi chồng của họ trở về nhà vào giờ thường lệ chúng tôi vờ như không hề mảy may biết bất cứ chuyện gì hết.

Một người trong số họ sống một mình trong căn biệt thự đã xuống cấp trên ngọn đồi được gọi là Đồi Nob ở San Francisco và suốt mười hai năm chỉ ru rú trong nhà không bước chân ra ngoài. Có người là một nữ bá tước đến từ Dresden, người chưa bao giờ cầm một vật gì nặng hơn chiếc nĩa. Có người từng trốn khỏi những người Bôn-xê-vích ở Nga, sang Mỹ và đêm nào cũng mơ được quay trở về ngôi nhà của cha đẻ ở Odessa. Chúng tôi đã mất tất cả. Có người trước đó chỉ sử dụng những người hầu da đen. Có bà chủ không gặp may với người Trung Hoa. Tôi cứ phải để mắt đến họ suốt. Có bà chủ bắt chúng tôi quỳ mỗi khi chúng tôi lau sàn nhà thay vì sử dụng cây lau nhà. Có bà tự tay cầm giẻ cố giúp chúng tôi, nhưng rốt cuộc chỉ làm vướng chân chúng tôi mà thôi. Có bà chủ mời chúng tôi dùng bữa trưa với những món ăn được chế biến công phu và được để trong những chiếc đĩa sứ đẹp tuyệt và nhất quyết bắt chúng tôi ngồi ăn cùng họ tại bàn ăn, mặc dù chúng tôi chỉ mong được tiếp tục công việc của mình. Một bà chủ có thói quen đến tận giữa trưa mới thay váy ngủ. Một số bà chủ bị chứng đau đầu hành hạ. Nhiều bà chủ thường âu sầu, buồn bã. Hầu hết các bà chủ đều uống rượu. Có bà chủ chiều thứ Sáu nào cũng đưa chúng tôi tới cửa hàng bách hóa mang tên Thành phố Paris ở trung tâm thành phố và bảo chúng tôi hãy chọn một cái áo, cái quần mới. Hãy chọn bất cứ cái nào cô thích. Có bà chủ đưa cho chúng tôi một cuốn Từ điển, một đôi găng tay bằng lụa trắng và đăng ký cho chúng tôi vào lớp học tiếng Anh đầu tiên trong đời. Lái xe của tôi sẽ đợi cô ở bên dưới. Những người khác đích thân dạy chúng tôi tiếng Anh. This is a bucket (Đây là một cái xô). This is a mop (Đây là một cái cây lau nhà). This is a broom (Đây là một cái chổi). Có bà chủ chưa bao giờ nhớ nổi tên của chúng tôi, những người giúp việc tại gia của bà. Có bà chủ sáng nào ở trong bếp cũng chào chúng tôi bằng giọng ấm áp và thân mật nhưng khi bà ta tình cờ gặp chúng tôi ngoài đường bà làm như không hề quen biết chúng tôi. Có bà chủ hiếm khi nói một lời với chúng tôi trong suốt mười ba năm chúng tôi làm việc cho bà, nhưng khi qua đời, bà để lại cho chúng tôi một khoản tiền không nhỏ.

Chúng tôi thích nhất khi bà chủ của mình ra ngoài làm tóc hoặc ăn trưa, và chồng của họ vẫn ở văn phòng chưa về nhà, các con của họ thì chưa tan trường. Những lúc như thế không ai theo dõi chúng tôi hết. Không ai nói chuyện với chúng tôi hết. Không ai để ý chúng tôi từ phía sau trong khi chúng tôi lau chùi đồ đạc để săm soi từng vết bẩn nhỏ tí ti mà chúng tôi bỏ sót. Nhà vắng tanh. Im ắng. Nhà của chúng tôi. Chúng tôi kéo rèm. Chúng tôi mở cửa sổ. Chúng tôi tha hồ hít thở không khí trong lành khi chúng tôi di chuyển từ phòng này sang phòng khác, lau bụi và đánh bóng đồ đạc của họ. Tất cả những gì họ nhìn là ánh sáng mặt trời. Những lúc như thế chúng tôi cảm thấy bình tĩnh hơn. Chúng tôi đỡ sợ hãi hơn. Chúng tôi cảm thấy được là chính mình. Vài người trong chúng tôi ăn trộm đồ của họ. Ban đầu là những thứ lặt vặt, những thứ mà chúng tôi không nghĩ là họ nhận ra mình bị mất. Một cái nĩa bằng bạc. Một cái lọ dùng để đựng và rắc muối. Một hớp rượu brandy. Một cái tách đựng trà có hình những bông hoa hồng mà chúng tôi nhất định phải có. Một cái bình gốm có màu xanh giống như bức tượng Phật màu ngọc bích của mẹ chúng tôi. Tôi chỉ thích những thứ xinh xinh thôi. Một vài sự thay đổi nho nhỏ xảy ra ở xung quanh tủ bếp trong nhiều ngày. Nhiều người trong chúng tôi có bị cám dỗ đấy nhưng không hề tơ hào bất cứ thứ gì của chủ, và vì tính thật thà mà chúng tôi được thưởng xứng đáng. Tôi là người hầu duy nhất bà chủ cho phép bước vào phòng ngủ của bà ấy ở trên gác. Tất cả những người hầu da đen đều chỉ được quanh quẩn ở trong bếp thôi.

Vài người trong số họ sa thải chúng tôi mà không hề báo trước và chúng tôi không biết mình đã làm gì sai. “Tại vì cô quá xinh đẹp”, chồng của chúng tôi nói, mặc dù chúng tôi biết thật khó tin đó là sự thật. Vài người trong chúng tôi cảm thấy mình vụng về đến mức chúng tôi biết không thể làm cho nhà họ được quá một tuần. Chúng tôi quên hầm thịt cho bữa tối của họ. Lần nào chúng tôi cũng làm cháy món cháo yến mạch. Chúng tôi đánh rơi những chiếc ly. Vì nhầm lẫn chúng tôi ném pho mát của họ vào thùng rác. “Tôi cứ nghĩ nó bị thiu rồi”, chúng tôi cố giải thích. “Mùi pho mát bao giờ chẳng như vậy”, họ nói với chúng tôi. Vài người trong số chúng tôi gặp khó khăn trong việc hiểu tiếng Anh của họ, thứ tiếng Anh chẳng giống những gì chúng tôi học được từ những cuốn sách. Chúng tôi nói “Có” khi họ hỏi liệu chúng tôi có cảm thấy phiền khi gấp quần áo của họ không và đáp “Không” khi họ bảo chúng tôi lau sàn nhà, và khi họ hỏi chúng tôi có nhìn thấy đôi khuyên tại bằng vàng của họ đâu không, chúng tôi mỉm cười và nói: “Ồ, bà nói như vậy có đúng không?” Những người khác trong số chúng tôi lúc nào cũng trả lời chủ bằng một tiếng “Hừm” bất kể họ nói gì. Vài người trong số chúng tôi rơi vào cảnh được chồng trót “bốc” lên rằng nấu nướng thạo lắm - các món sở trường của vợ tôi là món gà Kiev và món súp vichysoise - nhưng thực tế cho thấy món ăn duy nhất mà chúng tôi có thể làm là món cơm. Vài người trong số chúng tôi lớn lên tại những điền trang rộng lớn, có người hầu và không thể chịu đựng nổi khi bị sai làm việc này, việc nọ. Vài người trong số chúng tôi không hòa hợp được với các con của họ, những đứa trẻ vừa hung hăng, xấc láo vừa hay gây ồn ào. Vài người trong số chúng tôi phản đối những gì họ nói về mình với con họ khi họ không biết chúng tôi cũng đang có mặt ở trong phòng. Nếu con không học hành chăm chỉ thì lớn lên con sẽ chỉ là người lau sàn nhà như Lily mà thôi.

Hầu hết các bà chủ không chú ý nhiều đến chúng tôi. Chúng tôi có mặt khi họ cần và khi họ không cần, chúng tôi biến khỏi tầm mắt của họ. Chúng tôi tránh mặt họ, lặng lẽ lau sàn nhà của họ, đánh bóng đồ gỗ của họ, tắm cho con họ, lau chùi những chỗ mà không ai ngoài chúng tôi có thể nhìn thấy. Chúng tôi hiếm khi mở miệng nói. Chúng tôi ăn ít. Chúng tôi hiền lành. Chúng tôi tốt tính. Chúng tôi chưa bao giờ gây chuyện và khi họ muốn gây chuyện với chúng tôi chúng tôi cho phép họ làm điều đó. Chúng tôi cho phép họ khen ngợi chúng tôi khi họ hài lòng với chúng tôi. Chúng tôi cho phép họ la mắng chúng tôi khi họ nổi cơn điên. Chúng tôi cho phép họ quẳng cho chúng tôi những thứ mà chúng tôi thực sự không muốn, không cần. Nếu tôi không nhận chiếc áo len cũ đó thì bà ấy sẽ bảo tôi sĩ diện quá. Chúng tôi không quấy rầy họ bằng cách hỏi này hỏi nọ. Chúng tôi không bao giờ phàn nàn hoặc cãi lại họ. Chúng tôi chưa bao giờ đòi tăng lương. Bởi vì hầu hết chúng tôi là những cô gái nông thôn mộc mạc không biết nói tiếng Anh và ở Mỹ chúng tôi biết rằng mình chẳng có sự lựa chọn nào khác ngoài việc cọ bồn rửa và lau sàn nhà.

Trong những bức thư gửi về quê hương cho mẹ của mình chúng tôi không nhắc đến họ. Chúng tôi không nhắc đến họ trong thư gửi chị gái, thư gửi bạn bè. Bởi vì ở Nhật việc hèn mọn nhất mà một người phụ nữ có thể làm đó là làm hầu gái. Chúng con thôi không làm ở trang trại nữa và đã chuyển đến một ngôi nhà đẹp ở thành phố, nơi chồng của con tìm được chân làm công cho một gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu. Con đang tăng cân. Con phổng phao hơn rồi. Con cao thêm được hơn một phân nữa. Con bây giờ đã mặc đồ lót. Con đã mặc áo nịt ngực và đi tất. Con mặc áo sơ mi trắng cộc tay may bằng vải cotton. Hôm nào con cũng ngủ tới tận chín giờ sáng và buổi chiều con đi dạo trong vườn với chú mèo cưng. Mặt con đầy đặn hơn rồi. Hông con nở nang hơn. Con biết bước bước dài rồi. Con đang học đọc. Con đang học chơi dương cầm. Con đã nắm được nghệ thuật nướng bánh của người Mỹ và mới đây, nhờ món bánh trứng đường có hương vị chanh, con đã giành giải nhất trong một cuộc thi làm bánh. Con biết mẹ sẽ thích ở đây. Đường phố ở đây rộng và sạch và mẹ không phải cởi giày khi mẹ đi trên cỏ đâu. Lúc nào con cũng nghĩ đến mẹ và con sẽ gửi tiền về nhà ngay khi có thể.

Thỉnh thoảng một trong những người đàn ông của họ yêu cầu nói chuyện riêng với chúng tôi tại thư phòng của ông ta trong khi bà vợ ra ngoài mua sắm, và chúng tôi không biết phải từ chối như thế nào. “Mọi chuyện ổn cả chứ?” ông ta hỏi chúng tôi. Thường thì chúng tôi chỉ nhìn đăm đăm xuống sàn nhà và nói, ổn, mọi chuyện đều ổn ạ, mặc dù thực tế không phải như vậy, nhưng khi ông chủ khẽ chạm vào vai chúng tôi và hỏi chúng tôi có chắc là mọi chuyện đều ổn không, chúng tôi không né tránh ông ta. “Không ai biết đâu”, ông ta nói với chúng tôi. Hoặc, “Vợ tôi ra ngoài còn lâu mới về”. Và khi ông ta dẫn chúng tôi lên gác, đưa chúng tôi vào phòng ngủ, đặt chúng tôi nằm xuống giường - chính cái giường mà chúng tôi đã dọn lúc sáng - chúng tôi khóc bởi vì đã lâu lắm rồi chúng tôi chưa được ôm.

Vài người trong số họ yêu cầu chúng tôi nói mấy từ tiếng Nhật chỉ để họ có thể nghe âm thanh giọng nói của chúng tôi. Cô nói gì cũng được, không quan trọng. Vài người trong số họ bảo chúng tôi mặc bộ kimono đẹp nhất mà chúng tôi có và bước chầm chậm dọc sống lưng họ. Một số người bảo chúng tôi trói họ lại bằng chiếc khăn lụa in hoa và gọi họ bằng bất cứ cái tên nào xuất hiện trong đầu chúng tôi, chúng tôi ngạc nhiên trước những cái tên mà chúng tôi thốt ra, và chúng tôi ngạc nhiên khi những cái tên được thốt ra một cách dễ dàng bởi vì trước đó chúng tôi chưa bao giờ nói ra những cái tên đó. Một số người yêu cầu chúng tôi nói tên thật, những cái tên mà sau đó họ thì thầm vào tai chúng tôi hết lần này đến lần khác cho đến khi chúng tôi không biết mình là ai nữa. Midori. Midori. Midori. Vài người trong số họ khen chúng tôi đẹp, mặc dù chúng tôi biết mình trông vừa xấu xí vừa quê mùa. Ở Nhật không người đàn ông nào thèm để mắt đến tôi. Vài người trong số họ hỏi khi làm chuyện ấy chúng tôi có thích không, hoặc hỏi họ có làm chúng tôi đau không, nếu đau, chúng tôi có thích bị đau như thế không, và chúng tôi nói “có”, bởi vì đó là sự thật. Chí ít khi em ở bên ông em cũng biết mình đang sống. Vài người trong số họ nói dối chúng tôi. Trước đây tôi chưa bao giờ làm chuyện này. Và chúng tôi cũng nói dối họ. Em cũng chưa từng. Vài người trong số họ cho chúng tôi tiền, những đồng tiền mà chúng tôi cất trong tất để tối về nhà chúng tôi đưa cho chồng mình mà không nói một lời nào. Vài người trong số họ hứa sẽ bỏ vợ để sống với chúng tôi, mặc dù chúng tôi biết họ sẽ chẳng bao giờ làm như họ nói. Vài người phát hiện ra chúng tôi có thai với họ - Hơn sáu tháng nay chồng em không chạm vào người em - và tống cổ chúng tôi đi. “Cô phải bỏ cái thai ngay”, họ nói với chúng tôi. Họ nói: “Tôi sẽ chịu mọi phí tổn của việc phá thai”. Họ nói: “Tôi sẽ tìm việc làm cho cô ở chỗ khác”.

Một người trong số chúng tôi phạm phải sai lầm là đem lòng yêu ông chủ của mình và ngày cũng như đêm lúc nào cũng nghĩ về ông ta. Một người trong số chúng tôi thú nhận tất cả mọi chuyện với chồng, bị chồng dùng cán chổi đánh cho một trận tơi bời rồi sau đó cả hai cùng gục xuống khóc nức nở. Có người thú nhận tất cả mọi chuyện với chồng và người chồng lập tức đòi li dị, tống cổ cô về với cha mẹ đẻ ở Nhật, và giờ đây cô làm việc trong một nhà máy sợi ở Nagano mười tiếng một ngày. Có người thú nhận tất cả mọi chuyện với chồng, được chồng tha thứ, nhưng sau đó lại phải nghe chồng thú nhận một số tội lỗi của anh ta. Anh có gia đình khác ở Colusa. Một người trong số chúng tôi không hé răng nói cho ai biết chuyện của mình và dần dần cô trở thành người quẫn trí. Có người viết thư về nhà xin lời khuyên của mẹ, người luôn luôn biết phải làm gì, nhưng không bao giờ nhận được thư trả lời. Tôi phải vượt qua cây cầu này một mình. Có người bỏ đầy đá vào tay áo của chiếc kimono trắng mà cô ấy mặc trong ngày cưới và đi ra biển, trầm mình xuống biển, và cho đến bây giờ, hàng ngày chúng tôi vẫn cầu nguyện cho linh hồn cô được siêu thoát.

Vài người trong số chúng tôi phục vụ đàn ông tại các khách sạn màu hồng, trong những phòng ngủ ở phía trên những phòng bi-da và những quầy rượu thuộc những khu phố không được sang trọng như khu của người Mỹ. Chúng tôi gọi tên của khách từ những ô cửa sổ tầng hai của Mái nhà Tokyo và tại nhà nghỉ đó người trẻ nhất trong số chúng tôi chỉ mới mười tuổi. Với đôi mắt đăm đắm, lấp ló phía trên những chiếc quạt giấy sặc sỡ chúng tôi liếc mắt đưa tình với khách tại nhà nghỉ Yokohama, và với giá hợp lý chúng tôi làm cho họ bất cứ điều gì mà ở nhà vợ họ không làm cho họ. Tại nhà chứa Aloha chúng tôi giới thiệu mình là Cô Saki, Cô Hoa Anh Đào bằng giọng con gái thánh thót, và khi họ hỏi chúng tôi từ đâu đến chúng tôi mỉm cười nói, “Ồ, từ một nơi nào đó thuộc Kyoto”. Chúng tôi khiêu vũ với họ tại câu lạc bộ đêm New Eden và buộc họ phải trả năm mươi xu cho mười lăm phút ở cùng chúng tôi. Và nếu họ muốn lên gác với chúng tôi, chúng tôi bảo họ rằng giá của mỗi lần làm chuyện đó là năm đô la, hoặc nếu họ muốn giữ phòng đến sáng thì họ phải trả hai mươi đô la. Khi xong việc với họ chúng tôi nộp tiền cho chủ chứa, những kẻ chỉ có lo đánh bạc thâu đêm và đút lót cho cảnh sát, nhất quyết không để chúng tôi ngủ với bất cứ ai cùng chủng tộc với chúng tôi. Một cô gái như cô trị giá cả nghìn thỏi vàng.

Thỉnh thoảng, trong khi chúng tôi nằm với họ, lòng chúng tôi dâng lên niềm ao ước được ở bên chồng mình, người mà chúng tôi đã trốn khỏi. Anh ấy có tệ như vậy không? Anh ấy có thô bạo như vậy không? Có chán ngắt như vậy không? Đôi khi chúng tôi phải lòng ông chủ, người đã dùng dao đe dọa để bắt cóc chúng tôi khi chúng tôi từ cánh đồng trở về nhà. Ông ta mang đến cho tôi nhiều thứ. Ông ta trò chuyện với tôi. Ông ta cho phép tôi đi dạo. Đôi khi chúng tôi tự thuyết phục mình tin rằng sau một năm ở nhà chứa Eureka chúng tôi sẽ có đủ tiền để mua vé tàu trở về quê hương, nhưng đến cuối năm chúng tôi nhận ra toàn bộ những gì mình có chỉ là năm mươi xu và chứng bệnh lậu đã phát triển khá nặng. Năm sau vậy, chúng tôi tự nhủ. Hoặc có lẽ năm sau nữa. Nhưng ngay cả người xinh đẹp nhất trong số chúng tôi cũng biết rằng mình sắp chết, bởi vì khi bạn làm cái nghề bán trôn nuôi miệng, thì bạn hoặc thân tàn ma dại hoặc chết trước tuổi hai mươi.

Một người trong số họ chuộc chúng tôi từ nhà chứa nơi chúng tôi làm việc, đưa chúng tôi về sống ở một ngôi nhà lớn nằm trên một con phố rợp bóng cây ở Montecito mà chúng tôi không biết tên. Đó là một ngôi nhà có những khóm dâm bụt bên ngoài cửa sổ, những phiến đá cẩm thạch, những bộ sô pha bọc da, những chiếc đĩa thủy tinh chứa đầy hạnh nhân dành cho khách khứa ghé chơi vào bất cứ lúc nào. Có một con chó cưng lông trắng mà chúng tôi gọi là Shiro theo tên của con chó mà chúng tôi đã bỏ lại ở Nhật, và ba lần mỗi ngày chúng tôi đi dạo với con vật đó trong niềm thích thú. Trong nhà có tủ lạnh. Có máy hát. Có radio Majestic. Có xe Ford Model T để ở lối vào, chiếc xe mà Chủ nhật nào chúng tôi cũng leo lên để ra ngoài chơi. Có một cô hầu gái bé xíu tên là Consuelo đến từ Philippine có thể làm những chiếc bánh nướng ngon tuyệt, và đoán trước được nhu cầu của chúng tôi. Cô ta biết khi nào chúng tôi hạnh phúc. Cô ta biết khi nào chúng tôi buồn. Đêm trước chúng tôi cãi nhau với chồng cô ta cũng biết và khi chúng tôi vui cô ta cũng biết. Vì tất cả những điều đó chúng tôi mãi mãi biết ơn chồng mới của mình, và chúng tôi biết nếu không có người chồng bây giờ thì chúng tôi vẫn còn phải đứng đường bán trôn nuôi miệng. Ngay phút đầu tiên gặp anh ấy tôi đã biết rằng mình sẽ được cứu. Nhưng thỉnh thoảng chúng tôi lại nghĩ về chồng cũ với nỗi băn khoăn khó tả. Sau hôm mình bỏ đi anh ấy có đem đốt hết tất cả mọi thứ của mình không? Anh ấy có xé tất cả những bức thư đi không? Anh ấy có căm ghét mình không? Anh ấy có nhớ mình không? Anh ấy có quan tâm mình còn sống hay đã chết không? Anh ấy còn làm cho nhà Burnham ở phố Sutter không? Anh ấy đã trồng hoa thủy tiên cho nhà họ chưa? Anh ấy đã kết thúc việc trồng lại cỏ cho họ chưa? Anh ấy vẫn ăn bữa tối một mình trong căn bếp rộng của bà Burnham, hay cuối cùng đã kết bạn với cô hầu gái da đen được yêu quý của bà chủ? Mỗi tối anh ấy vẫn đọc ba trang của cuốn sách “Kỹ thuật làm vườn” trước khi đi ngủ chứ? Anh ấy vẫn còn mơ trở thành một quản gia chứ? Thỉnh thoảng, vào những buổi chiều, khi ánh sáng ban ngày bắt đầu nhạt đi chúng tôi mang tấm ảnh đã ngả màu vàng của chồng cũ từ trong rương ra và ngắm nó lần cuối. Nhưng dù cố gắng đến mức nào chúng tôi cũng không thể vứt những bức ảnh ấy đi.

Nhiều người trong số chúng tôi chỉ ba ngày sau khi đặt chân lên đất Mỹ đã lúi húi bên những chậu giặt được mạ kẽm của họ, lặng lẽ giặt đồ của họ: những chiếc vỏ gối và khăn trải giường ố bẩn, những chiếc khăn mùi xoa bẩn, những cổ áo bẩn, những chiếc quần xi-líp được may bằng ren trắng trông đáng yêu đến mức chúng tôi nghĩ chúng nên được mặc ở ngoài chứ không phải ở trong. Chúng tôi làm việc tại những tiệm giặt nằm ở tầng hầm trong những khu phố của người Nhật, thuộc những nơi kém phát triển nhất của các thành phố ở Mỹ - San Fransco, Sacramento, Santa Barbara, LA - và sáng sáng chúng tôi thức dậy trước bình minh cùng với chồng của mình, chúng tôi giặt, luộc, và dùng bàn chải chải quần áo thuê cho người Mỹ. Ban đêm khi chúng tôi buông bàn chải giặt để lên giường đi ngủ trong mơ chúng tôi mơ thấy mình vẫn đang giặt, và trong nhiều năm giấc mơ ấy đêm nào cũng xuất hiện. Và mặc dù chúng tôi không vượt cả chặng đường xa như thế đến Mỹ chỉ để sống trong một căn phòng bé tí ở phía sau tiệm giặt Royal Hand (Bàn tay Hoàng gia), chúng tôi biết rằng mình không còn đường trở về quê hương nữa. Nếu con trở về nhà, cha chúng tôi viết thư cho chúng tôi, thì con sẽ làm ô nhục cả gia đình ta. Nếu con bỏ về nhà thì các em gái của con sẽ không bao giờ lấy chồng được đâu. Nếu con bỏ về nhà thì không một gã đàn ông nào thèm ngó ngàng đến con nữa.

Trong khu phố của người Nhật chúng tôi hiếm khi nhìn thấy người Mỹ. Chúng tôi phục vụ bữa ăn bảy ngày một tuần tại quán bán đồ ăn trưa của chồng, tại những quán bán mì sợi, nơi chúng tôi thuộc lòng các luật lệ. Quán của ông Yamamoto. Quán của ông Natsuhara. Quán của ông Eto. Quán của ông Kodami. Chúng tôi dọn phòng trong các quán trọ rẻ tiền của chồng mình, và mỗi ngày hai lần chúng tôi nấu thức ăn phục vụ khách trọ, những người trông giống như chúng tôi. Chúng tôi mua rau quả tại cửa hàng của Fujioka, nơi có bán tất cả mọi thứ ở quê hương mà chúng tôi nhớ: lá trà xanh, xà phòng Mitsuwa, nhang, mận ngâm, đậu hũ, rong biển khô để phòng bệnh bướu cổ và cảm lạnh. Chúng tôi mua rượu sake lậu ở phòng bi-da phía dưới nhà chứa thuộc góc của phố Third and Main cho chồng mình uống, nhưng luôn đảm bảo rằng mình nhớ đeo tạp dề trắng trước khi bước chân vào đó để khỏi bị người ta nhìn nhầm là gái điếm. Chúng tôi mua quần áo ở cửa hàng Yada Ladies và mua giày tại tiệm giày Asahi nơi có bán những đôi giày vừa chân chúng tôi. Chúng tôi mua kem thoa mặt ở cửa hàng Tenshodo. Thứ Bảy nào chúng tôi cũng đi tắm ở nhà tắm công cộng, buôn chuyện với hàng xóm và bạn bè ở đó. Có đúng là Kisayo không để cho chồng cô ấy vào nhà bằng cửa chính không? Có phải Mikiko đã trốn đi với một gã chơi bạc ở câu lạc bộ Toyo không? Hagino đã làm gì với mái tóc của cô ấy thế nhỉ? Trông nó giống như ổ chuột vậy. Khi bị đau răng chúng tôi tìm đến phòng khám nha khoa của bác sĩ Yaoshinaga, và khi bị đau lưng, đau đầu gối chúng tôi tìm đến bác sĩ Hayano, một bác sĩ về xương khớp thông thạo thuật mát-xa Shiatsu. Và bất cứ khi nào chúng tôi cần lời khuyên về vấn đề tình cảm - Mình nên bỏ hay tiếp tục sống với anh ta? - chúng tôi tìm đến bà Murata, một người đàn bà chuyên xem bói sống trong căn nhà sơn màu xanh dương ở phố Second gần tiệm cầm đồ Asakawa, chúng tôi ngồi trong bếp nhà bà ấy, cúi đầu, đặt tay trên đầu gối trong khi đợi sự phán bảo của các vị thần. Nếu bây giờ ngươi bỏ anh ta thì cuộc đời của nhà ngươi sẽ không có bất cứ người đàn ông nào nữa. Và tất cả những gì diễn ra trong bốn dãy phố của khu phố Nhật còn đa dạng và phong phú hơn cả những gì diễn ra tại cái làng mà chúng tôi đã bỏ lại phía sau ở nước Nhật. Nếu tôi nhắm mắt lại tôi thậm chí sẽ không biết mình đang sống ở nước ngoài.

Bất cứ khi nào chúng tôi rời khỏi khu phố Nhật, đi lang thang qua những đường phố rộng và sạch sẽ thuộc những khu phố của người Mỹ chúng tôi đều cố gắng để mình không bị chú ý. Chúng tôi mặc giống người Mỹ. Chúng tôi cố bước đi giống họ. Chúng tôi đảm bảo không đi thành đám đông. Chúng tôi biến mình thành nhỏ bé hoặc vô hình trước mắt họ - nếu bạn cứ ở yên trong khu phố Nhật thì họ sẽ để cho bạn yên - và cố gắng hết sức để không làm ai khó chịu. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn khiến họ cảm thấy không được thoải mái. Đàn ông Mỹ vỗ lưng chồng chúng tôi, hất mũ đội đầu của chồng chúng tôi xuống và gào to những lời nhạo báng. Trẻ con Mỹ ném đá vào người chúng tôi. Những người phục vụ ở các cửa hàng của người Mỹ luôn phục vụ chúng tôi sau cùng. Những người dẫn chỗ tại các rạp hát đưa chúng tôi lên gác tới ban công phụ và xếp chúng tôi ngồi ở ghế hạng bét. Ban công dành cho mọi đen, họ gọi như vậy. Thợ hớt tóc của họ từ chối cắt tóc cho chúng tôi. Các người quá tầm thường không xứng để cây kéo của chúng tôi hoạt động. Đàn bà của họ yêu cầu chúng tôi tránh xa khỏi xe đẩy trẻ con của họ bất cứ khi nào chúng tôi đứng quá gần. “Xin thứ lỗi cho tôi”, chúng tôi vừa xin lỗi họ vừa mỉm cười và lập tức bước ra xa. Bởi vì, như chồng của chúng tôi đã dạy, cách duy nhất để phản kháng là không phản kháng. Dẫu vậy, phần lớn thời gian chúng tôi ở nhà, ở khu phố của người Nhật, nơi tất cả chúng tôi cảm thấy an toàn giữa những người thuộc cùng một dân tộc. Chúng tôi học cách sống tách biệt với người Mỹ, tránh tiếp xúc với họ hết mức có thể.

Một ngày kia chúng tôi tự hứa với bản thân rằng chúng tôi sẽ rời bỏ họ. Chúng tôi sẽ làm việc cật lực và sẽ tiết kiệm đủ tiền để đến sinh sống ở một nơi khác. Argentina chẳng hạn. Hoặc Mexico. Hoặc Sao Paulo ở Brazil. Hoặc Cáp Nhĩ Tân ở Mãn Châu, nơi chồng chúng tôi cho biết đó là xứ mà một người Nhật có thể sống như một hoàng tử. Anh trai của anh đã sang đó hồi năm ngoái và đã phát giàu đấy. Chúng tôi sẽ bắt đầu lại từ đầu. Sẽ mở cửa hàng bán hoa quả. Sẽ mở công ty riêng. Sẽ mua khách sạn hạng nhất. Chúng tôi sẽ trồng một cây anh đào ở đó. Chúng tôi sẽ có cả một vườn hồng ăn trái. Chúng tôi sẽ mua cả nghìn mẫu đất màu mỡ phì nhiêu. Chúng tôi sẽ học nhiều điều. Sẽ làm nhiều việc. Chúng tôi sẽ xây dựng một trại trẻ mồ côi. Một đền thờ. Chúng tôi sẽ được đi tàu hỏa lần đầu tiên trong đời. Và mỗi năm một lần, vào dịp kỷ niệm ngày cưới, chúng tôi sẽ thoa son môi và đi ăn ở nhà hàng. Một nhà hàng sang trọng có những tấm khăn trải bàn trắng tinh và những bộ đèn chùm lung linh. Ngay khi chúng tôi tiết kiệm được đủ tiền để giúp cha mẹ mình sống một cuộc sống sung túc, an nhàn và thoải mái chúng tôi sẽ lập tức thu xếp trở về Nhật Bản. Chúng tôi sẽ trở về vào mùa thu và khi ấy cha của chúng tôi đang đập lúa ngoài đồng. Chúng tôi sẽ đi bộ qua những bãi dâu, qua những cây sơn trà, những ao sen, nơi trước kia chúng tôi thường bắt nòng nọc. Con chó cưng của chúng tôi sẽ cuống cuồng chạy ra mừng. Hàng xóm của chúng tôi sẽ vẫy tay chào. Khi chúng tôi trở về chúng tôi sẽ thấy mẹ mình ngồi bên giếng nước với tay áo xắn cao, đang vo gạo để nấu cơm tối. Và khi mẹ nhìn thấy đứa con thân yêu của mình, mẹ sẽ đứng lên nhìn không chớp mắt. “Con gái bé bỏng của mẹ”, mẹ chúng tôi nói, “Bấy lâu nay con đã ở đâu thế?”

Chúng tôi sẽ chỉ ở Mỹ làm việc cho người Mỹ thêm một thời gian nữa thôi, và không có chúng tôi họ sẽ xoay xở như thế nào nhỉ? Ai sẽ hái dâu tây trên cánh đồng của họ? Ai sẽ hái quả trên cây của họ? Ai sẽ rửa cà rốt của họ? Ai sẽ cọ nhà vệ sinh của họ? Ai sẽ sửa quần áo của họ? Ai sẽ là áo sơ mi của họ? Ai sẽ giũ gối của họ? Ai sẽ thay khăn trải giường của họ? Ai sẽ nấu bữa sáng của họ? Ai sẽ dọn bàn của họ? Ai sẽ dỗ con của họ? Ai sẽ tắm cho mẹ già của họ? Ai sẽ lắng nghe những câu chuyện của họ? Ai sẽ giữ các bí mật của họ? Ai sẽ nói những lời nói dối của họ? Ai sẽ phỉnh nịnh họ? Ai sẽ hát cho họ nghe? Ai sẽ nhảy múa cho họ xem? Ai sẽ khóc vì họ? Ai sẽ nín nhịn trước sự mắng nhiếc, nhục mạ của họ và một ngày nào đó - vì chúng tôi mệt, chúng tôi già - liệu chúng tôi có thể tha thứ cho họ không? Thật ngớ ngẩn. Vậy là chúng tôi gấp những chiếc áo kimono lại và cất chúng vào rương, nhiều năm sau không lấy chúng ra mặc nữa.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Julie Otsuka

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.