Vào ngày thứ hai của cuộc chiến tranh, những tin đồn bắt đầu lan tới chỗ chúng tôi.
Người ta nói về một danh sách. Vài người bị bắt đi trong đêm. Một chủ ngân hàng đi làm và không bao giờ trở về nhà nữa. Một thợ cắt tóc biến mất trong giờ nghỉ ăn trưa. Vài ngư dân mất tích. Ở đâu đó một nhà trọ bị tấn công. Một doanh nghiệp bị niêm phong. Một tòa soạn báo bị đóng cửa. Nhưng đó là những chuyện xảy ra ở một nơi nào đó chứ không phải ở chỗ chúng tôi. Ở những thung lũng và những thị trấn xa xôi. Ở thành phố lớn, nơi tất cả phụ nữ đều đi giày cao gót, thoa son môi và khiêu vũ cho đến tận khuya. “Không liên quan gì đến chúng ta hết”, chúng tôi nói với nhau. Chúng tôi đơn giản là những người phụ nữ sống lặng lẽ, khép mình. Chồng của chúng tôi sẽ được an toàn.
Trong vài ngày chúng tôi ở trong nhà, kéo mành che cửa xuống và lắng nghe tin tức về chiến tranh qua radio. Chúng tôi xóa tên của mình khỏi hộp thư. Chúng tôi không để giày ở ngoài cửa nữa. Chúng tôi cho các con nghỉ học. Ban đêm chúng tôi khóa cửa thật kỹ và ở trong nhà thầm thì với nhau. Chúng tôi đóng chặt các cửa sổ. Chồng của chúng tôi uống nhiều hơn thường lệ và đi nằm sớm. Những con chó ngủ ngay dưới chân chúng tôi. Không người nào bén mảng đến cửa nhà chúng tôi hết.
Thế rồi, rất thận trọng, chúng tôi bắt đầu ra khỏi nhà. Đó là vào tháng Mười hai, thời điểm mà những đứa con gái lớn của chúng tôi đang làm hầu gái ở những thành phố xa xôi và ngày vẫn im lìm, vắng lặng. Ngày chóng tối hơn. Ở nông thôn chúng tôi thức dậy mỗi buổi sáng trước bình minh và làm việc ở ngoài ruộng nho, tỉa những dây nho như không có chuyện gì xảy ra. Chúng tôi nhổ cà rốt trên những mảnh ruộng lạnh lẽo và ẩm ướt. Chúng tôi cắt cần tây. Chúng tôi bó cải bông. Chúng tôi đào những rãnh sâu để giữ nước khi trời mưa. Những con diều hâu bay là là phía trên những hàng cây trong vườn quả hạnh và khi trời tối chúng tôi có thể nghe thấy tiếng những con sói gọi nhau trên những ngọn đồi. Ở khu phố của người Nhật tối tối chúng tôi tụ tập trong những căn bếp, chia sẻ với nhau những tin mới nhất về chiến tranh. Có thể đã xảy ra một cuộc tấn công ở hạt bên cạnh. Một thị trấn bị bao vây trong đêm. Nhiều căn nhà bị lục soát. Đường dây điện thoại bị cắt. Những chiếc bàn bị hất đổ chỏng chơ. Những tài liệu bị tịch thu. Có thêm vài người đàn ông bị gạch khỏi danh sách. “Lấy bàn chải đánh răng của anh đi”, người ta bảo họ như thế trước khi lôi họ đi, và vậy là chẳng ai biết được tin tức gì của họ nữa.
Một số người nói rằng những người đàn ông đó đã bị đẩy lên tàu hỏa và bị đưa đi rất xa, đến những vùng núi non hoang sơ, đến những nơi lạnh nhất của đất nước. Vài người nói rằng họ là tay sai của kẻ thù và sẽ sớm bị trục xuất. Có người nói họ đã bị bắn chết. Nhiều người trong chúng tôi bác bỏ những tin đồn đó nhưng rồi nhận thấy chính mình lại đem những tin đồn ấy gieo rắc ra xung quanh theo cái cách đầy lo lắng và bấn loạn ngoài ý muốn. Những người khác ban ngày từ chối nói đến những người bị mất tích nhưng ban đêm lại gặp những người đã mất tích trong những cơn ác mộng. Có người mơ thấy bản thân mình là người mất tích. Có người - cô Chizuko, người cấp dưỡng tại trang trại nuôi gia súc của Kearney và là người lúc nào cũng muốn chuẩn bị sẵn sàng cho bất cứ chuyện gì - xếp hành lý vào một chiếc va ly nhỏ cho chồng và để sẵn ở sau cánh cửa. Trong va ly có một chiếc bàn chải đánh răng, một bộ dao cạo râu, một bánh xà phòng, một thanh sô-cô-la - thứ mà chồng cô thích - và một bộ quần áo. Cô biết đó là những thứ cần thiết để mang theo nếu như chồng cô là người tiếp theo trong danh sách những người buộc phải đi. Dẫu vậy, cô luôn bị đeo bám bởi một nỗi sợ hãi mơ hồ rằng cô đã quên thứ gì đó, một thứ nhỏ thôi nhưng cực kỳ quan trọng, một thứ gì đó mà một ngày nào đó tại một tòa án nào đó trong tương lai, có thể được đưa ra làm bằng chứng chứng minh cho sự vô tội của chồng cô. Thứ đó là gì nhỉ? Cô tự hỏi mình. Một cuốn Kinh Thánh chăng? Một cặp kính dùng để đọc sách chăng? Một loại xà phòng đặc biệt chăng? Một loại xà phòng thơm hơn chăng? Một loại xà phòng có mùi thơm hợp với phái nam hơn chăng? Tôi nghe nói họ đã bắt một thầy tu theo Thần Đạo ở thung lũng vì ông ta sở hữu một chiếc sáo trúc.
Chúng tôi có biết một cách chính xác điều gì về cái danh sách đó hay không? Danh sách đó được lập một cách vội vàng vào buổi sáng đầu tiên khi chiến tranh nổ ra. Danh sách đó đã được lập từ hơn một năm trước. Danh sách đó đã tồn tại gần mười năm rồi. Danh sách đó được chia làm ba loại: “nguy hiểm đã được biết đến” (loại A), “nguy hiểm tiềm tàng” (loại B), và “có khuynh hướng thân Khối trục phát xít”. Hầu như không thể tìm thấy tên của bạn trong danh sách. Tìm tên bạn trong danh sách là cực kỳ dễ. Chỉ những người thuộc chủng tộc của chúng tôi mới có trong danh sách. Có cả người Đức và người Ý trong danh sách, nhưng tên họ xuất hiện ở tận cuối. Bản danh sách được viết bằng mực đỏ không thể tẩy xóa được. Danh sách được đánh máy trên các tấm thẻ. Danh sách đó không tồn tại. Danh sách đó có thật, nhưng chỉ ở trong đầu của giám đốc cơ quan tình báo, người nổi tiếng là có trí nhớ phi thường. Danh sách đó là một sản phẩm tưởng tượng của chính chúng ta. Danh sách đó gồm năm trăm cái tên. Danh sách đó gồm hơn năm nghìn cái tên. Danh sách đó dài vô tận. Mỗi lần có một người bị bắt là lại có thêm một cái tên bị gạch khỏi danh sách. Mỗi lần một cái tên bị gạch khỏi danh sách là một cái tên mới được thêm vào. Những cái tên mới được bổ sung thêm vào danh sách hàng ngày. Hàng tuần. Hàng giờ.
Vài người trong chúng tôi bắt đầu nhận được những lá thư nặc danh, thông báo rằng chồng của chúng tôi sẽ là người tiếp theo. Nếu tôi là cô, tôi sẽ nghĩ đến việc rời khỏi thị trấn này. Những người khác cho biết rằng chồng của họ bị những người Phillipine đầy giận dữ đe dọa ở ngoài đồng. Họ tìm đến chỗ chồng tôi mang theo những con dao làm bếp. Hitomi, người đã làm quản gia cho nhà Prince hơn mười năm, bị đe dọa bằng súng ngay giữa ban ngày khi chị đang trên đường tới thị trấn. Một buổi tối, ngay trước giờ ăn tối, Mitsuko ra ngoài nhặt trứng gà và nhìn thấy quần áo của chị ở trên dây phơi đang cháy ngùn ngụt. Và chúng tôi biết tất cả mới chỉ là bắt đầu.
Chỉ sau một đêm hàng xóm của chúng tôi đã nhìn chúng tôi bằng con mắt khác. Chúng tôi nhận ra những biểu hiện bất thường khi đứa bé nhà hàng xóm không vẫy tay chào chúng tôi từ cửa sổ nhà nó như mọi khi nữa. Hoặc những khách hàng lâu năm của chúng tôi bỗng nhiên không thấy đến cửa hàng của chúng tôi mua các thứ nữa. Hoặc bà chủ của chúng tôi, bà Trimble, một buổi sáng đã kéo chúng tôi ra một chỗ khi chúng tôi đang lau dọn bếp của bà và thì thầm vào tai chúng tôi: “Cô có biết chiến tranh đang đến rất gần không?” Những quý bà bắt đầu tẩy chay hoa quả của chúng tôi bởi vì họ sợ sản phẩm của chúng tôi có tẩm thuốc độc. Các công ty bảo hiểm hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm của chúng tôi. Các ngân hàng vô hiệu hóa tài khoản của chúng tôi. Những người cung cấp sữa không giao sữa tận nhà cho chúng tôi nữa. “Công ty của chúng tôi ra lệnh như vậy”, một người chuyên giao sữa buồn rầu giải thích. Trẻ con nhìn thấy chúng tôi liền co chân chạy như những con nai hoảng sợ. Những bà già cầm chặt ví trong tay, đi ra tận mé đường khi họ nhìn thấy chồng chúng tôi, và kêu lên: “Họ đấy!” Và mặc dù chồng chúng tôi đã cảnh báo - Họ đang sợ hãi - chúng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng. Bỗng nhiên chúng tôi trở thành kẻ thù trong mắt họ.
Tất nhiên, người Mỹ phản ứng như vậy đều vì những câu chuyện trên báo. Người ta đồn rằng hàng nghìn người đàn ông Nhật đã nhất loạt hành động với quyết định cụ thể, và thời điểm tấn công hòn đảo đã bắt đầu. Người ta loan tin người Nhật đã làm tắc nghẽn các tuyến đường bằng các xe chở hàng và những chiếc ô tô ọp ẹp. Người ta nói rằng chúng tôi đã báo hiệu cho kẻ thù bằng cách đốt những đống lửa trên cánh đồng. Người ta nói rằng trước khi cuộc tấn công xảy ra vài đứa con của chúng tôi đã nói hở ra với các bạn cùng lớp của chúng rằng sắp có “chuyện lớn” xảy ra. Người ta nói rằng chính những đứa trẻ đó, khi được các giáo viên đặt câu hỏi, đã kể rằng cha mẹ chúng tỏ ra vui mừng trước tin về cuộc chiến tranh từ nhiều ngày trước. Cha mẹ em hô muôn năm. Người ta nói rằng trong cuộc tấn công thứ hai trong nội địa bất cứ ai có tên trong danh sách có thể sẽ vùng lên tiếp sức cho kẻ thù. Người ta nói rằng những người nông dân Nhật ở đây là lính bộ binh thuộc một đội quân bí mật. Họ có cả nghìn thứ vũ khí ở dưới hầm chứa rau củ của họ. Người ta nói rằng những đứa con trai của chúng tôi làm người sai vặt trong các tòa nhà là những mật thám được ngụy trang. Người ta nói rằng chúng tôi giấu máy thu phát tín hiệu radio sóng ngắn ở trong vườn và đến giờ đã định chúng tôi sẽ nhất loạt hành động. Họ sẽ cho nổ mìn các đập chắn nước. Đốt các giếng dầu. Đánh bom các cây cầu. Phá hủy các con đường. Làm tắc các đường ống. Bỏ chất độc vào các bể chứa nước. Và điều gì ngăn cản một người trong chúng tôi bước vào một siêu thị đông người với bó thuốc nổ gài ở thắt lưng nhỉ? Chẳng điều gì cả.
Buổi tối chúng tôi bắt đầu đem đốt những đồ vật của mình đi: những giấy tờ cũ của ngân hàng, những cuốn nhật ký, những bàn thờ Phật, những chiếc đũa gỗ, những chiếc đèn lồng bằng giấy, những bức ảnh của những người thân ở Nhật, những người mặc quần áo trông kỳ cục, có khuôn mặt nghiêm trang thiếu vắng bóng dáng của nụ cười. Tôi nhìn khuôn mặt của em trai tôi cháy thành tro và bay lên trời. Chúng tôi đem đốt những bộ kimono trắng mà chúng tôi đã mặc trong đêm tân hôn trong vườn táo, trong những rãnh sâu giữa các hàng cây. Chúng tôi loại bỏ bất cứ thứ gì có thể gợi ý rằng chồng của chúng tôi có liên quan đến kẻ thù. Chúng tôi đốt những bức thư của chị em mình ở Nhật gửi sang. Con trai của người hàng xóm đã bỏ trốn cùng với người vợ của anh thợ làm ô. Chúng tôi đốt những bức thư của cha mình đi. Tàu hỏa ở đây đã có điện và bây giờ khi con đi qua một đường hầm con không bị muội đèn bám đầy mặt nữa! Chúng tôi đốt những bức thư của mẹ viết và gửi cho chúng tôi vào cái ngày chúng tôi rời quê hương. Mẹ vẫn còn có thể nhìn thấy những dấu chân của con trên con đường lầy lội dẫn tới bến sông. Và chúng tôi tự hỏi tại sao mình lại cố bám lấy những cung cách và lề lối của người Nhật, những cung cách và lề lối xa lạ và kỳ cục đối với những người sống trên đất Mỹ này. Chúng tôi đã làm cho họ căm ghét chúng tôi.
Đêm trở nên dài hơn, lạnh hơn, và mỗi ngày chúng tôi lại được biết tin có thêm vài người đàn ông nữa biến mất. Một nhà phân phối sản phẩm ở miền Nam. Một huấn luyện viên võ judo. Một nhà nhập khẩu tơ lụa. Một nhân viên phụ trách việc nhận và gửi hàng tàu biển ở trong thành phố đã bị bắt trong khi anh ta đang trên đường trở về văn phòng sau bữa trưa muộn. Anh ta bị bắt ngay tại giao lộ trong khi đang chờ đèn xanh để có thể đi tiếp. Một người trồng hành ở Delta, người bị tình nghi đã có âm mưu cho nổ mìn phá một con đập, cũng đã bị bắt. Người ta tìm thấy một hộp thuốc nổ trong nhà kho của anh ta. Một nhân viên của đại lý du lịch. Một thầy giáo dạy ngôn ngữ. Một nông dân chuyên trồng rau diếp bị buộc tội đã sử dụng đèn pin để gửi tín hiệu cho tàu của kẻ thù ở ngoài biển.
Chồng của Chiyomi bắt đầu để nguyên quần áo mặc ban ngày để đi ngủ, phòng khi ban đêm anh bị bắt đi. Bởi vì, như anh đã nói với vợ anh, điều đáng xấu hổ nhất đối với anh là bị bắt đi khi đang mặc đồ ngủ (chồng của Eiko đã bị bắt đi khi anh ta đang mặc pijama). Chồng của Asako trở nên bị ám ảnh bởi đôi giày của mình. Đêm nào anh ấy cũng đánh giày bóng loáng và để ngay ngắn ở dưới chân giường. Chồng của Yuriko, một người buôn bán phân bón hay đi đây đi đó và không được chung thủy với vợ cho lắm giờ đây chỉ có thể chợp mắt khi có vợ ở bên cạnh. “Hơi muộn rồi”, vợ anh nói, “nhưng bạn có thể làm gì được nào? Khi bạn đã lấy chồng, thì đó là vì cuộc sống”. Chồng của Hatsumi đêm nào cũng lầm rầm cầu khấn Phật trước khi lên giường ngủ. Có đêm anh ta cầu Chúa Jesus, bởi vì ai mà biết được điều gì sẽ xảy ra nếu như anh ta chỉ tin theo một tôn giáo? Chồng của Masumi đêm nào cũng gặp ác mộng. Trong cơn ác mộng anh ta thấy xung quanh mình là bóng tối bao trùm và tất cả các con phố đều biến mất. Nước biển dâng cao. Bầu trời dường như sắp sập. Anh ta bị mắc kẹt trên một hòn đảo. Anh ta bị lạc trong hoang mạc. Anh ta bị mất ví, bị lỡ tàu. Trong cơn ác mộng anh ta thấy vợ mình đang đứng giữa một đám đông và anh ta gọi cô nhưng cô không quay đầu lại. Tất cả những gì người đàn ông ấy mang lại cho tôi chỉ là sự đau khổ.
Những cơn mưa nặng hạt đầu tiên dội xuống những chiếc lá cuối cùng trên cây và ngày của họ nhanh chóng mất đi sự ấm áp. Những ngày trời âm u trở nên dài đằng đẵng. Những đứa con nhỏ của chúng tôi đến trường mỗi buổi sáng và trở về nhà cùng với những câu chuyện của chúng. Một đứa bé gái nuốt phải một đồng xu trong giờ ra chơi, suýt chết. Thầy Bernett lại đang cố nuôi râu. Cô Trachtenberg hôm nay có tâm trạng không vui. Suốt những ngày dài chúng tôi ở vườn quả cùng với chồng và những đứa con trai lớn, chặt và tỉa cành, loại bỏ những cành khô không có khả năng cho quả trong mùa tới. Chúng tôi nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp cho các gia đình ở các khu ngoại ô mà chúng tôi đã làm thuê trong nhiều năm. Chúng tôi làm những việc chúng tôi thường làm, nhưng chúng tôi không còn cảm thấy như trước nữa. “Bây giờ mỗi tiếng động nhỏ đều khiến tôi hoảng sợ”, Onatsu nói. “Tiếng gõ cửa. Tiếng chuông điện thoại. Tiếng chó sủa. Lúc nào tôi cũng lắng nghe tiếng bước chân người”. Và bất cứ khi nào có một chiếc xe hơi lạ chạy gần đến nhà mình tim cô lại đập loạn xạ, bởi vì cô cứ chắc mẩm rằng đã đến lượt chồng mình bị bắt. Đôi khi, vào những lúc bối rối và lo lắng, cô tưởng tượng rằng chuyện đó đã xảy ra rồi, và chồng cô giờ đây đã biến mất, và cô phải thừa nhận rằng cô cảm thấy gần như nhẹ nhõm, bởi vì đợi điều đó xảy ra trong lo lắng phấp phỏng mới là điều khó chịu đựng nhất.
Suốt ba ngày gió lạnh thổi thốc từ trên núi xuống liên hồi. Những đám mây bụi bốc lên từ những cánh đồng và những cành cây trơ trụi vật vã trên bầu trời xám xịt, trống vắng. Những bia mộ trong các nghĩa địa của chúng tôi lung lay. Những cánh cửa chuồng nuôi gia súc và nhà kho bị gió làm bật tung. Những mái tôn phát ra những tiếng lạch cạch khó chịu. Những con chó nhà trốn biệt đâu mất. Một người thợ giặt gốc Trung Quốc được phát hiện ở trong tình trạng bất tỉnh, máu me đầy người và bị bỏ mặc cho tới chết. Họ tưởng anh ta là người Nhật. Một trại gia súc ở một thung lũng xa xôi ngoài đảo bị phóng hỏa và mùi động vật chết còn lay lắt trong không khí suốt nhiều ngày.
Ban đêm chúng tôi ngồi trong bếp nhà mình trong khi chồng của chúng tôi ngồi bên cạnh chăm chú đọc báo, săm soi từng dòng, từng từ, để tìm đầu mối dẫn đến số phận của chúng tôi. Chúng tôi bàn tán về những tin đồn mới nhất. Em nghe nói họ định tống chúng ta vào trại lao động để trồng trọt phục vụ quân đội. Chúng tôi mở radio, hóng tin chiến sự. Tất nhiên, tin tức không có gì để lạc quan. Địch đã đánh chìm thêm sáu tàu chiến được cho là không thể chìm của ta. Các máy bay của địch đã thực hiện các chuyến bay thử nghiệm trên bầu trời của chúng tôi. Các tàu ngầm của phía bên kia đang tiến đến bờ biển của chúng tôi mỗi ngày một gần hơn. Quân địch đang có kế hoạch tấn công bờ biển, tấn công từ ngoài vào và từ trong ra.
Lúc ba giờ sáng một trong những người nông dân trồng dâu làm ăn giỏi ở chỗ chúng tôi bị lôi ra khỏi giường và bị điệu ra cửa trước. Ông ấy là người đàn ông đầu tiên mà chúng tôi biết đã bị đưa đi. Họ chỉ nhằm vào những người nông dân làm ăn được mà thôi, người ta nói vậy. Tối hôm sau một nông dân ở trang trại Spiegl bị tóm ở gần hồ chứa nước khi anh ta đang dẫn chó đi dạo trong bộ quần áo lao động vẫn còn nguyên bùn đất, bị tra hỏi suốt ba ngày ba đêm trong một căn phòng sáng trưng, không có cửa sổ và sau được thả cho về nhà. Nhưng khi vợ anh ta ra ga để đón chồng anh ta không còn nhận ra cô là ai. Chồng tôi nghĩ tôi là một kẻ mạo danh đang cố lừa để anh ấy nói ra điều gì đó. Ngày hôm sau nữa ba phụ nữ mà chúng tôi biết sống ở thị trấn bên cạnh kể rằng chồng họ cũng có tên trong danh sách. “Họ bắt anh ấy lên xe”, một người kể lại, “và họ đưa anh ấy đi đâu không rõ”. Hai ngày sau, một đối thủ cạnh tranh của chúng tôi - chủ trang trại duy nhất ngoài trang trại của chúng tôi ở thung lũng - bị còng tay vào một chiếc ghế ngay trong bếp nhà ông ta nhiều giờ liền trong khi ba người đàn ông lạ mặt lục soát khắp nhà nạn nhân và sau đó ông ta được thả tự do. Người ta nói rằng vợ của ông ta phục vụ những người kia cà phê và bánh. Và tất cả chúng tôi đều muốn biết: Bà ta đã cho họ ăn loại bánh gì? Bánh nhân dâu tây? Bánh nhân đại hoàng? Bánh trứng đường? Và những người đàn ông lạ mặt đó dùng cà phê có đường hay không đường?
Suốt mấy đêm liền chồng của chúng tôi nằm đó nhưng không ngủ, cứ lục lọi ký ức để tìm bằng chứng cho thấy tên của họ cũng có trong danh sách. Chắc hẳn họ đã nói hoặc làm gì đó, chắc chắc họ đã phạm sai lầm gì đó, hoặc đã gây ra tội gì đó, một tội khó nhận biết, có lẽ chính họ cũng không ý thức được. Họ hỏi chúng tôi, cái tội khó nhận ra ấy có thể là tội gì nhỉ? Liệu đó có phải là hành động nâng cốc chúc mừng quê hương mà chúng tôi đã thực hiện trong buổi píc-níc hàng năm vào mùa hè không nhỉ? Hay đó là lời bình phẩm về bài diễn văn gần đây nhất của Tổng thống mà họ đã đưa ra? Ông ta gọi chúng ta là găngxtơ. Hay họ đã đóng góp từ thiện cho một tổ chức bất hợp pháp - một tổ chức có những mối liên quan ngầm với kẻ thù mà họ không biết? Liệu có phải như vậy không nhỉ? Hay là có ai đó - một người nào đó, chắc thế, có lòng hận thù - đã vu oan giá họa, gửi những lời tố cáo không đúng sự thật nhằm chống lại họ tới chính quyền? Có lẽ đó là một trong những khách hàng của chúng tôi ở tiệm giặt Capitol, người mà chúng tôi đã có lần trả lời cộc lốc chăng? (Tất cả là lỗi ở chúng tôi ư?). Hay đó là một người hàng xóm, người đã bực tức vì con chó của chúng tôi đã nhiều lần giẫm lên thảm hoa của ông ta? Nếu như chúng tôi thân thiện hơn thì họ đã không bị bắt chăng? Chồng chúng tôi hỏi như vậy. Có phải chồng của chúng tôi để ruộng vườn quá luộm thuộm không? Hay là tội lỗi của họ hiện rõ rành trên mặt khiến cả thế giới đều nhìn rõ? Có phải vì khuôn mặt họ mà họ mang tội không nhỉ? Mặt họ không đủ tươi vui chăng? Hoặc tệ hơn, mặt của họ khiến người ta khó chịu?
Tháng Một chúng tôi được lệnh đăng ký tên với nhà chức trách và nộp tất cả những thứ vũ khí được mua lậu cho cảnh sát địa phương: súng, bom, thuốc nổ, máy ảnh, ống nhòm, tất cả những con dao có lưỡi dài hơn sáu phân, các thiết bị phát tín hiệu như đèn pin, pháo sáng, và bất cứ thứ gì có thể được sử dụng để hỗ trợ kẻ thù trong một cuộc tấn công. Thế rồi đến các thông báo hạn chế quyền đi lại - không ai trong cộng đồng người Nhật của chúng tôi được phép đi xa khỏi nhà mình quá năm dặm - và tám giờ tối là giờ giới nghiêm, và mặc dù hầu hết chúng tôi không phải là những người có thói quen hoạt động ban đêm, lần đầu tiên trong đời chúng tôi thấy mình muốn đi dạo lúc nửa đêm. Chỉ một lần thôi, đi dạo cùng với chồng qua những vườn hạnh đào để biết cảm giác đi dạo ban đêm như thế nào. Nhưng vào hai giờ sáng khi chúng tôi nhìn qua cửa sổ nhà mình, chúng tôi không dám đặt chân ra cửa trước bởi vì chúng tôi sợ sẽ gặp cảnh sát. Bởi vì chúng tôi biết chẳng cần nhiều, chỉ cần một cú điện thoại thôi là tên của chúng tôi sẽ có trong danh sách. Và khi những đứa con trai lớn của chúng tôi bắt đầu vắng nhà vào các đêm thứ Bảy chúng tôi không hỏi chúng đã ở đâu, chúng đã ở cùng ai, hoặc chúng phải trả bao nhiêu để ở cùng một cô gái, hoặc tại sao chúng lại mặc những chiếc áo có những chiếc cúc mang những chữ Tôi là người Trung Quốc đính ở cổ và tay áo. “Hãy để chúng được vui vẻ khi chúng còn có thể”, chồng của chúng tôi nói. Vậy là chúng tôi chẳng nói gì, chỉ chúc chúng buổi sáng tốt lành khi chúng tôi gặp nhau trong bếp - Trứng hay cà phê nào? - và tiếp tục ngày của mình.
“Khi anh đi”, chồng chúng tôi dặn. Chúng tôi vặn lại “nếu” chứ. Chồng chúng tôi nói, “Khi anh đi, hãy nhớ đưa tiền bồi dưỡng cho người giao đá”, và “phải chào khách hàng tử tế khi họ bước vào cửa hàng nhé”. Chồng chúng tôi nói cho chúng tôi biết chỗ cất giấy chứng sinh của các con, dặn chúng tôi nhớ đưa xe chở nông sản đi thay bánh. “Nếu hết tiền tiêu”, chồng chúng tôi nói, “thì bán cái máy kéo đi”. “Bán nhà kính để trồng rau đi”, “Bán tất cả hàng ở trong kho đi”. Họ nhắc chúng tôi phải giữ dáng - giữ thẳng người - và đừng để bọn trẻ biếng nhác việc nhà. Họ nói: “Hãy giữ liên lạc với ông Hauer ở Hiệp hội Những người trồng dâu tây. Ông ấy là người có thể giúp được mình đấy”. Họ nói: “Đừng tin bất cứ tin đồn nào mình nghe được về tôi”. “Chớ có tin bất cứ ai”. “Đừng nói cho hàng xóm biết bất cứ điều gì”. Họ nói: “Đừng lo về lũ chuột ở trên mái nhà. Khi nào tôi về, tôi sẽ xử lý chúng”. Họ nhắc nhở chúng tôi bất cứ khi nào ra khỏi nhà cũng phải mang theo thẻ cư trú và tránh tham gia vào các cuộc bàn luận về chiến tranh. Tuy nhiên, nếu được yêu cầu cho ý kiến, thì chúng tôi cứ phản đối chiến tranh một cách công khai, nói thật to điều đó lên. “Đừng xin lỗi”, họ dặn chúng tôi như vậy. “Chỉ nói tiếng Anh thôi, đừng nói tiếng Nhật”. “Hãy kìm nén sự tức giận để cúi đầu”.
Chúng tôi bắt đầu nghe được những cuộc thảo luận về việc di cư của số đông. Chúng tôi theo dõi những cuộc điều trần về chủ đề di cư trên báo đài. Thống đốc bang thúc giục Tổng thống sơ tán tất cả đồng minh của kẻ thù khỏi vùng duyên hải. Hãy chuyển họ về Tojo! Chúng tôi nghe nói việc đó sẽ xảy ra một cách dần dần trong nhiều tuần nếu không muốn nói là nhiều tháng. Không một ai trong chúng tôi sẽ bị ép phải rời khỏi nơi mình đang sống ngay lập tức. Chúng tôi sẽ được đưa đi xa, đến một nơi nào đó mà chúng tôi lựa chọn, một nơi nằm sâu trong nội địa nơi chúng tôi không thể gây hại cho bất cứ ai. Chúng tôi sẽ bị quản thúc trong suốt thời gian chiến tranh diễn ra. Chúng tôi nghe nói bất cứ người Nhật nào sống trong phạm vi một trăm dặm kể từ bờ biển đều sẽ bị buộc phải di dời. Chúng tôi nghe nói những người có trong danh sách kia cũng sẽ buộc phải đi. Những người không phải là công dân của nước này cũng sẽ buộc phải đi. Những đứa con ở tuổi trưởng thành của chúng tôi sẽ được cho phép ở lại để trông nom việc kinh doanh và trang trại của cha mẹ. Chúng tôi nghe nói cơ sở buôn bán và trang trại của chúng tôi sẽ bị sung công và bị đem đấu giá. Vậy thì bây giờ hãy đóng cửa tất cả đi. Chúng tôi nghe đồn chúng tôi sẽ bị cách ly khỏi những đứa con nhỏ của mình. Chúng tôi nghe đồn chúng tôi sẽ bị triệt sản, sẽ bị trục xuất khỏi nước Mỹ trong thời gian sớm nhất.
Chúng tôi cố nuôi trong đầu những ý nghĩ tích cực. Nếu chúng tôi kết thúc việc giặt là tại tiệm giặt trước nửa đêm thì tên của chồng chúng tôi sẽ được xóa khỏi danh sách. Nếu chúng tôi mua trái phiếu chiến tranh trị giá mười đô la thì con chúng tôi sẽ được để cho yên. Nếu chúng tôi hát trọn bài “Hemp-Winding” mà không mắc một lỗi nào thì sẽ không có danh sách nào hết, không có việc giặt là, không có trái phiếu phục vụ chiến tranh, không có chiến tranh. Thường thì vào cuối ngày chúng tôi cảm thấy bứt rứt không yên, cứ như thể còn việc gì đó chúng tôi quên chưa làm. Mình đã nhớ đóng cửa cống chưa nhỉ? Mình đã tắt đèn chưa nhỉ? Mình đã cho gà ăn chưa? Mình đã gõ cột giường ba lần (để lấy may) hay chưa?
Tháng Hai ngày ấm dần lên và những cây anh túc đầu tiên đã nở hoa khoe sắc vàng nhạt khắp các quả đồi. Cộng đồng của chúng tôi tiếp tục teo đi về số lượng. Chồng của Mineko đã biến mất. Chồng của Takeko đã biến mất. Chồng của của Mitsue đã biến mất. Người ta phát hiện ra một viên đạn trong bụi đất ở phía sau lán chứa củi của nhà anh ta. Chồng của Omiyo đã bị lôi đi trên đường cao tốc vì ở ngoài đường quá năm phút sau giờ giới nghiêm. Chồng của Hanayo bị bắt ngay tại bàn ăn trong khi anh ta đang ăn tối vì lý do gì không ai biết. “Điều tồi tệ nhất anh ta từng làm là vi phạm luật giao thông một lần”, Hanayo nói. Còn chồng của Shimako, một người lái xe tải cho công ty buôn bán trái cây, người mà không ai trong chúng tôi từng nghe thấy thốt ra một lời, bị bắt tại gian hàng bán bơ sữa của cửa hàng thực phẩm ở địa phương vì tội làm gián điệp cho chỉ huy cấp cao của kẻ thù. “Tôi biết thế nào rồi thì chuyện đó cũng xảy ra”, ai đó nói. Người khác nói, “lần tới có thể là anh đấy”.
Chizuki nói với chúng tôi rằng điều khó chịu nhất là không ai biết người bị bắt hiện đang ở đâu. Đêm đầu tiên sau khi chồng cô bị bắt cô thức trắng trong nỗi hoảng sợ, không thể nhớ nổi tại sao mình lại chỉ có một thân một mình. Cô đưa tay sờ khoảng giường trống bên cạnh và nghĩ, mình đang mơ đây, đây là một cơn ác mộng, nhưng đó không phải là mơ, mà là sự thật. Thế rồi cô ra khỏi giường, đi quanh nhà gọi tên chồng, nhìn vào tủ, nhìn xuống gầm giường tìm kiếm. Ngộ nhỡ là mơ thì sao. Và khi cô nhìn thấy chiếc va li nhỏ của chồng vẫn còn ở bên cạnh cửa cô đã lấy thanh sôcô-la trong vali ra ăn một cách chậm rãi. “Anh ấy quên vali rồi”, cô lẩm bẩm. Yumiko đã hai lần thấy chồng mình trong mơ và anh nói với cô rằng anh ổn. Cô nói rằng chính con chó mới làm cô lo lắng nhất. “Nó nằm lì ở đó suốt nhiều giờ trên đôi dép của chồng tôi và hễ tôi định ngồi xuống chiếc ghế mà chồng tôi vẫn ngồi là y như rằng nó gầm gừ với tôi”. Fusako thú nhận rằng bất cứ khi nào cô nghe nói chồng ai đó bị bắt đi cô lại cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng. “Chị biết đấy, 'chuyện xảy ra với ai tôi không quan tâm, miễn sao nó không xảy ra với tôi’”. Sau đó tất nhiên cô ấy cảm thấy xấu hổ. Kanuko thừa nhận rằng dù chồng bị bắt đi, cô ấy không nhớ chồng chút nào. “Anh ta bắt tôi làm việc quần quật như một người đàn ông và làm tôi mang bầu nhiều lần”. Kyoko nói rằng theo như cô biết, tên của chồng cô không có trong danh sách. “Anh ấy là người trông nom vườn ươm cây. Anh ấy yêu hoa. Chẳng có chút máu lật đổ hay nổi loạn nào trong con người anh ấy hết”. Nobuko nói, “Đúng vậy, nhưng cô không bao giờ biết được chuyện gì sẽ xảy ra đâu”. Những người khác nín thở, chờ đợi xem chuyện gì xảy ra tiếp theo.
Chúng tôi cảm thấy gần gũi với chồng mình hơn bao giờ hết. Trong bữa ăn chúng tôi gắp cho chồng miếng thịt ngon nhất. Khi họ làm bẩn nhà cửa chúng tôi vờ như không thấy. Chúng tôi lặng lẽ lau bùn đất chân họ lôi về nhà mà không buông một lời phàn nàn. Ban đêm khi họ cần chúng tôi ở trên giường chúng tôi không từ chối họ. Và nếu họ quát lác vì chúng tôi không chuẩn bị nước tắm cho theo cách họ thích, hoặc trở nên nóng nảy và nói những lời chẳng dễ nghe chút nào - hai mươi năm ở Mỹ mà tất cả những gì cô có thể nói là từ “Harro” thôi sao? - chúng tôi cắn răng chịu đựng và cố không tức giận, bởi vì nhỡ đâu sáng hôm sau chúng tôi thức dậy sẽ chẳng thấy chồng mình nữa thì sao? Làm thế nào chúng tôi có thể nuôi con một mình? Chúng tôi kiếm đâu ra tiền để trả tiền thuê nhà? Satoko đã phải bán tất cả đồ đạc trong nhà đi rồi đấy. Ai sẽ đặt những chậu hun lửa để bảo vệ trái cây khỏi sương giá bất thường vào mùa xuân? Ai sẽ sửa máy kéo? Ai sẽ trộn phân bón? Ai sẽ mài lưỡi cầy? Ai sẽ làm chúng tôi bình tĩnh lại khi có người đối xử lỗ mãng với chúng tôi ở ngoài chợ, hoặc gọi chúng tôi bằng những cái tên chẳng hay ho gì ở ngoài chợ? Ai sẽ nắm cánh tay chúng tôi mà lay người chúng tôi khi chúng tôi dậm chân và nói chúng tôi đã chịu đựng đủ rồi, rằng chúng tôi sẽ bỏ họ, sẽ đáp chuyến tàu đầu tiên trở về Nhật? Lý do duy nhất tôi cưới cô là để có thêm người làm ở trang trại.
Giờ đây chúng tôi càng nghi ngờ rằng có những kẻ chỉ điểm ở trong cộng đồng của mình. Người ta thì thầm với nhau rằng chồng của Teruko đã bị một đốc công tại một nhà máy chế biến trái cây, người đã từng có quan hệ tình cảm với vợ anh, chỉ điểm. Chồng của Fumino đã bị một đối tác làm ăn buộc tội thân với khối trục phát xít. (Chúng tôi nghe nói những kẻ phản bội được trả hai mươi lăm đô la cho mỗi lần chỉ điểm). Chồng của Kuniko bị chính vợ mình tố là thành viên của tổ chức Rồng Đen. Anh ta định bỏ cô để theo người tình. Còn chồng Ruriko thì sao? Anh ta là tay trong. Anh ta được chính phủ trả tiền để theo dõi các thành viên của Hội Phật giáo ở địa phương. Tôi thấy anh ta lén ghi biển số xe của người ta ở bãi đỗ xe. Vài ngày sau anh ta được phát hiện đang nằm dưới một con mương ở bên đường với những vết thương do bị đánh đập và sáng hôm sau không ai biết anh ta cùng gia đình đã biến đi đâu mất. Cửa trước của nhà anh ta mở toang, lũ mèo nhà anh ta vừa mới được cho ăn, một ấm nước vẫn đang sôi trên bếp. Vậy đấy, họ đã biến mất. Trong những ngày sau đó tin tức về hành tung của họ bắt đầu bay tới tai chúng tôi. Họ đã chạy xuống biên giới miền Nam. Họ trốn sang bang khác. Hiện giờ họ đang sống trong một ngôi nhà đẹp ở thành phố, có xe hơi mới tinh.
Mùa xuân đã đến. Những cây hạnh nhân trong các vườn quả bắt đầu trút xuống những cánh hoa cuối cùng, còn những cây anh đào thì vừa mới rộ hoa. Mặt trời mùa xuân rải những tia nắng xuống những cành cam. Những con chim sẻ nhảy nhót trên những bãi cỏ. Mỗi ngày lại có thêm những người đàn ông biến mất. Chúng tôi cố gắng làm cho bản thân mình bận rộn và trân quý những điều nhỏ bé. Một cái gật đầu chào từ người hàng xóm. Một bát cơm nóng. Tấm hóa đơn được thanh toán đúng thời hạn. Giấc ngủ bình yên của con trẻ. Sáng sáng chúng tôi thức dậy mặc bộ quần áo lao động vào và chúng tôi cầy, chúng tôi cuốc, chúng tôi gieo trồng. Chúng tôi nhổ cỏ trong ruộng nho. Chúng tôi tưới bí và tưới đậu. Mỗi tuần một lần vào các ngày thứ Sáu, chúng tôi búi tóc và vào thị trấn mua những thứ cần thiết, nhưng không dừng lại để chào bất cứ ai chúng tôi gặp trên đường đi. Nếu chúng tôi chào ai đó, người ta sẽ nghĩ chúng tôi đang trao đổi những tin mật. Ở khu phố Nhật chúng tôi hiếm khi đến nhà nhau khi trời tối bởi vì chúng tôi sợ vi phạm lệnh giới nghiêm. Chúng tôi không dám nán lại nói chuyện với nhau khi đi lễ. Giờ đây bất cứ khi nào nói chuyện với ai đó, tôi đều phải tự hỏi mình, “Liệu người này có bán đứng mình không?” Thậm chí khi trò chuyện với các con của mình chúng tôi cũng phải thận trọng về những gì mình nói. Vì chính đứa con trai tám tuổi của Chieko mà chồng cô ấy bị bắt vì tội làm gián điệp đấy. Vài người trong chúng tôi thậm chí bắt đầu tự hỏi điều này, điều nọ về chồng của mình: Liệu anh ấy có bí mật gì mà mình chưa biết không nhỉ?
Ít lâu sau chúng tôi nghe được những câu chuyện về những cộng đồng bị đưa đi khỏi nơi họ đang sinh sống. Hơn chín mươi phần trăm đàn ông trong cộng đồng người Nhật tại một thị trấn nhỏ của những người trồng rau củ ở một thung lũng phía Bắc đã bị đưa đi đâu không rõ. Hơn một trăm người đàn ông đã bị đưa đi khỏi khu vực có tầm quan trọng về quốc phòng gần một sân bay. Và ở miền Nam, trong một thị trấn nhỏ gồm những nếp nhà lụp xụp của những người dân chài nằm dọc bờ biển tất cả những người dân gốc Nhật Bản bị vây bắt với một cái lệnh không ghi rõ lý do và không hề được báo trước. Những cuốn sổ ghi chép về những chuyến đi biển của họ bị tịch thu, những chiếc thuyền của họ bị tạm giữ, những tấm lưới đánh cá bị cắt thành nhiều mảnh và bị ném xuống biển. Người ta nói rằng sở dĩ chuyện đó xảy ra vì những người đánh bắt cá thực ra không phải là ngư dân, mà là những sĩ quan của lực lượng hải quân của kẻ thù. Người ta tìm thấy những bộ quân phục được gói trong giấy dầu được giấu dưới đáy thùng đựng mồi câu.
Vài người trong số chúng tôi bắt đầu đi mua túi ngủ và vali cho các con phòng trường hợp chúng tôi là những người tiếp theo bị bắt đi. Những người khác đi làm như bình thường và cố giữ sự bình thản. Chỉ là một vết hồ trên cổ áo thôi và mọi chuyện sẽ ổn cả thôi, anh không nghĩ vậy sao? Chúng tôi tự nhủ dù chuyện gì xảy ra chăng nữa, việc cám dỗ các vị thần cũng chẳng ích gì. Có người trở nên câm nín không nói năng gì nữa. Có người lặng lẽ trở dậy vào một buổi sáng đi lấy nước cho ngựa uống rồi treo cổ tự vẫn ngay trong chuồng ngựa. Fubuki lo lắng đến mức khi lệnh phải di dời đến với cô, cô đã thở phào nhẹ nhõm bởi vì cuối cùng thì sự chờ đợi căng thẳng đã kết thúc. Teiko cứ nhìn trừng trừng vào tờ thông báo, lắc đầu trong im lặng như thể đó không phải là sự thật. “Nhưng mà còn ruộng dâu tây của chúng tôi thì sao?” cô hỏi. “Chỉ còn ba tuần nữa là phải hái dâu rồi”. Machiko nói cô ấy sẽ không đi đâu hết, đơn giản như vậy thôi. “Chúng tôi vừa mới ký hợp đồng gia hạn thuê cửa hàng”. Umeko nói rằng chúng tôi không có sự lựa chọn, phải làm những gì người ta bảo chúng tôi phải làm. “Đó là lệnh của Tổng thống đấy”, cô ấy nói. Ai lại đi căn vặn Tổng thống chứ?” “Ở nơi chúng ta đến đất đai để trồng trọt như thế nào nhỉ, tốt hay xấu?” Chồng của Takiko muốn biết điều đó. Ở đó một năm có khoảng chừng bao nhiêu ngày nắng nhỉ? Và có bao nhiêu ngày mưa? Kiko chỉ biết bó tay nhìn trân trân xuống chân mình. “Thế là tất cả đã kết thúc rồi”, cô nói khẽ. Haruyo nói cuối cùng tất cả chúng tôi sẽ phải rời khỏi nơi mình đang sống. Hisako nói: “Đúng vậy, nhưng chúng ta đã làm gì sai chứ?" Isino bưng mặt khóc nức nở. “Đáng lẽ ra tôi nên ly dị chồng từ nhiều năm trước và đưa con trở về Nhật sống với mẹ của tôi”.
Thoạt tiên người ta nói với chúng tôi rằng chúng tôi sẽ được đưa lên vùng cao, vậy nên chúng tôi phải mặc ấm bởi ở trên đó rất lạnh. Vậy là chúng tôi vội vã đi mua những chiếc áo len dài và những chiếc áo khoác mùa đông đầu tiên của mình trên đất Mỹ. Sau đó chúng tôi lại nghe nói người ta sẽ đẩy chúng tôi tới sa mạc, nơi có những con rắn màu đen có nọc độc và những con muỗi to cỡ bằng con chim nhỏ. Người ta nói ở đó không có bác sĩ, và đó là nơi nhan nhản trộm cắp. Vậy là chúng tôi lại vội vã đi mua những chiếc khóa móc, những lọ vitamin cho con nhỏ, những hộp băng gạc, những miếng ngải cứu, những miếng dán thuốc cao, dầu hải ly, iốt, thuốc giảm đau. Chúng tôi nghe nói rằng mỗi người chỉ được phép mang theo một chiếc túi vì thế chúng tôi khâu những chiếc túi nhỏ cho những đứa con, kể cả đứa nhỏ nhất, và thêu tên chúng lên túi. Chúng tôi để bút chì, những cuốn sổ, bàn chải đánh răng, những chiếc áo len, những túi giấy đựng gạo vào những chiếc túi đó. Phòng khi mẹ con tôi phải ở mỗi người một nơi. “Chỉ một thời gian thôi các con ạ”, chúng tôi nói với các con mình. Chúng tôi bảo chúng đừng lo lắng quá. Chúng tôi nói với chúng về tất cả những gì chúng tôi sẽ làm khi trở về nhà. Chúng tôi sẽ vừa ăn tối vừa nghe radio. Chúng tôi sẽ đưa chúng vào phố xem phim. Chúng tôi sẽ đưa chúng đến rạp xiếc xem cặp song sinh nhà Siamese và người phụ nữ có cái đầu nhỏ nhất thế giới. Đầu của bà ta nhỏ như một trái mận!
Những mầm xanh đua nhau nảy trên những cành nho ngoài ruộng nho và trên khắp thung lũng những cây đào nở hoa tưng bừng dưới bầu trời trong xanh. Những cây mù tạc trổ hoa màu vàng tươi trong những khe núi. Những con chim chiền chiện từ những ngọn đồi xập xòe bay xuống thung lũng. Từ những thành phố và thị trấn cách xa nơi chúng tôi ở những đứa con trai, con gái lớn của chúng tôi, từng đứa từng đứa, bỏ việc, bỏ học, bắt đầu trở về nhà. Chúng giúp chúng tôi tìm người tiếp quản việc kinh doanh của chúng tôi ở khu phố Nhật. Chúng giúp chúng tôi tìm người thuê lại những cửa hàng mà chúng tôi đã gây dựng được. Chúng giúp chúng tôi dựng những tấm biển trước cửa hàng. Mua đi mua đi! Mua rẻ đây! Toàn bộ hàng trong kho sẽ được bán! Chúng mặc quần áo lao động vào và giúp chúng tôi chuẩn bị cho mùa gặt cuối cùng, bởi vì chúng tôi được lệnh phải canh tác cho đến chừng nào chúng tôi lên đường. Đó là sự đóng góp của chúng tôi cho tiền tuyến, người ta nói thế. Đó là cơ hội để chúng tôi chứng tỏ lòng trung thành của mình. Đó là một cách để chúng tôi cung cấp trái cây và rau tươi cho những người ở tuyến đầu.
Những người buôn bán đồ cũ lái xe len lỏi vào các ngóc ngách, gạ chúng tôi bán đồ đạc cho họ. Họ trả mười đô la cho một chiếc bếp còn tốt mà năm trước chúng tôi đã mua với giá hai trăm đô la. Họ trả năm đô la cho một chiếc tủ lạnh. Họ trả năm xu cho một chiếc đèn. Những người hàng xóm mà chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện ra tận cánh đồng gặp chúng tôi, hỏi liệu có thứ gì chúng tôi muốn bỏ đi hay không. Cái máy xới kia chăng? Cái bừa đó? Con ngựa kéo cầy này? Cái cầy kia? Bụi hồng Nữ hoàng Anne ở sân trước nhà chúng tôi, bụi hồng mà bấy lâu nay họ mê thích? Những người lạ gõ cửa nhà chúng tôi. “Cô có con chó nào không?” một người đàn ông hỏi. Anh ta giải thích rằng con trai anh ta rất muốn có một con chó con. Một người đàn ông khác nói ông ta sống một mình ở gần một xưởng đóng tàu và sẽ rất vui nếu có được một con mèo. “Tôi ở đó cô đơn lắm, chị biết đấy”. Đôi khi chúng tôi bán đồ đạc của mình đi một cách vội vàng với bất kỳ giá nào, và nhiều lúc chúng tôi cho họ những chiếc bình, chiếc lọ, những ấm pha trà mà mình yêu thích và cố không bận tâm nhiều đến chuyện đó, bởi vì mẹ của chúng tôi đã nói với chúng tôi rằng: Trên đời này con người không nên lụy vật chất quá.
Khi ngày đi tới gần, chúng tôi thanh toán những hóa đơn cuối cùng và cảm ơn những khách hàng trung thành, những người đã sát cánh với chúng tôi cho đến ngày cuối. Chúng tôi cảm ơn bà Henrietta, vợ của cảnh sát trưởng Burckhardt, người mà cứ thứ Sáu nào cũng mua năm giỏ dâu tây ở cửa hàng bán trái cây của chúng tôi và lần nào cũng bồi dưỡng cho chúng tôi năm mươi xu. Hãy cầm lấy và mua cho mình cái gì cô thích nhé. Chúng tôi cảm ơn ông Thomas Duffy, một người đàn ông góa vợ đã nghỉ hưu, người mà ngày nào cũng đến tiệm ăn của chúng tôi vào lúc mười hai giờ rưỡi và gọi một đĩa cơm chiên gà. Chúng tôi cảm ơn bà Rosalind Anders, người chỉ ưng đồ của mình được giặt ở tiệm của chúng tôi chứ không phải ở bất kỳ tiệm nào khác. Người Trung Quốc làm việc đó không ổn lắm. Chúng tôi tiếp tục làm việc trên cánh đồng như trước đây, nhưng chúng tôi không còn cảm thấy như trước nữa. Chúng tôi đóng những chiếc thùng để đựng trái cây của những mùa màng mà chúng tôi biết mình sẽ không thể thu hoạch. Chúng tôi bắt những ngọn leo cho những cây nho mà chúng tôi biết cho đến khi chúng tôi ra đi chưa cho quả chín. Chúng tôi xới đất gieo những hạt cà chua mà phải đến cuối hè mới mọc mà lúc đó thì chúng tôi đã đi rồi. Bây giờ ngày dài và đầy nắng. Đêm thì mát mẻ. Những hồ chứa đầy nước. Giá quả đậu đang tăng. Giá măng tây gần như chưa bao giờ cao như bây giờ. Dâu tây ngoài ruộng đang xanh, còn trong vườn quả chẳng bao lâu nữa những cây xuân đào sẽ cho quả trĩu cành. Chỉ cần được ở lại thêm một tuần nữa là chúng tôi sẽ thu được một số tiền đáng kể. Và mặc dù chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ phải ra đi nhưng chúng tôi vẫn không ngừng hy vọng rằng một điều gì đó sẽ xảy ra và chúng tôi sẽ được ở lại.
Có lẽ Giáo hội hoặc phu nhân Tổng thống sẽ can thiệp để chuyện di dời không xảy ra với chúng tôi. Hoặc biết đâu đấy đã có một sự hiểu lầm và những người buộc phải rời đi là những người khác chứ không phải là chúng tôi. “Người Đức cơ”, ai đó gợi ý”. “Hoặc là người Ý chứ”, một người khác nói. “Người Trung Quốc thì sao?” Những người khác trong chúng tôi tiếp tục giữ im lặng và chuẩn bị tốt nhất cho cuộc ra đi của mình. Chúng tôi viết thư gửi giáo viên của con mình, bằng thứ tiếng Anh sai be bét chúng tôi xin lỗi họ vì sự nghỉ học đột ngột ngoài mong đợi của bọn trẻ. Chúng tôi viết những lời chỉ dẫn cho những người thuê nhà, giải thích cho họ biết cách thông ống khói lò sưởi, cách đối phó với mái nhà dột. Chỉ cần sử dụng một cái xô. Chúng tôi dâng hoa sen cúng Phật ở đền thờ. Chúng tôi đến thăm nghĩa trang của cộng đồng lần cuối, vẩy nước lên mồ cho những linh hồn của người thân đã từ giã cõi đời. Tetsuo, đứa con trai nhỏ của Yoshiye bị bò húc chết. Cô con gái xấu số của người buôn chè quê ở Yaokohama mà giờ đây chúng tôi không nhớ nổi tên. Năm ngày sau khi đặt chân lên đất Mỹ cô ấy chết vì mắc bệnh cúm Tây Ban Nha. Chúng tôi bước đi dọc những luống nho lần cuối cùng với chồng mình, người không thể cưỡng nổi việc nhổ bụi cỏ cuối cùng. Chúng tôi chống những cành cong trong vườn quả hạnh. Chúng tôi kiểm tra xem ruộng rau diếp nhà mình có bị sâu phá hay không, và vốc những vốc đất màu đen đã được lật xới. Chúng tôi giặt mẻ quần áo cuối cùng ở tiệm giặt. Chúng tôi đóng cửa tiệm bán rau quả. Chúng tôi quét sàn nhà. Chúng tôi gói ghém tư trang. Chúng tôi gọi những đứa con từ các thành phố, từ các thung lũng về nhà, và chúng tôi ra đi.
Những chiếc lá vẫn trở mình trong gió. Những dòng sông vẫn chảy không ngừng. Những con côn trùng vẫn rỉ rả trong cỏ. Những con quạ vẫn kêu quang quác. Trời không sập. Tổng thống không thay đổi quyết định. Con gà mái đen được yêu thích của Mitsuko cục ta cục tác và đẻ một quả trứng màu nâu ấm nóng. Một trái mận xanh rụng sớm. Con chó cưng ngậm trái bóng nhỏ chạy theo chúng tôi, háo hức tung bóng lần cuối trước khi chúng tôi xua chúng đi. Về nhà đi. Những người hàng xóm thò đầu ra khỏi cửa sổ nhìn chúng tôi. Những chiếc xe hơi bấm còi inh ỏi. Những người lạ giương mắt nhìn chúng tôi. Một đứa bé trai vừa đạp xe vừa vẫy tay tạm biệt chúng tôi. Một con mèo hoảng sợ rúc xuống gầm giường khi những kẻ cướp phá bắt đầu xông vào cửa trước nhà chúng tôi. Những tấm rèm cửa bị xé toạc. Kính bị đập vỡ. Những chiếc đĩa kỷ niệm ngày cưới của chúng tôi bị ném xuống sàn vỡ tan tành. Và chúng tôi biết rằng tất cả những dấu vết của chúng tôi sẽ biến mất, đó chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi.