Phật Ở Tầng Áp Mái

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Đứa Con

❊ ❊ ❊

Chúng tôi để con trong lòng máng cạn, giữa những luống cây và trong những chiếc gùi mây ở dưới bóng cây. Chúng tôi để những đứa con trần truồng nằm trên những tấm chăn, trên những ổ rơm ở rìa đồng. Chúng tôi để con trong những thùng đựng táo và cứ xới xong một luống đậu chúng tôi lại cho con bú một lần. Khi con chúng tôi lớn hơn, biết nhiều hơn và khó tính hơn, chúng tôi thậm chí phải buộc chân chúng vào ghế. Chúng tôi địu con trên lưng trong mùa đông rét buốt ở Reding để đi tỉa ngọn nho, nhưng có những buổi sáng trời rét đến nỗi tai chúng đóng băng hoặc chảy máu. Vào mùa hè, ở Stockton, chúng tôi để đứa trẻ chơi gần những con máng trong khi mình thì chân năm tay mười mải nhổ và đóng bao hành, hoặc hái lứa mận đầu mùa. Chúng tôi đưa cho chúng những cái que, cái gậy để chúng tự chơi trong lúc không có mẹ và thỉnh thoảng lại gọi tên chúng thật to để biết rằng chúng vẫn còn ở đó. Đừng trêu những con chó. Chớ có động vào những con ong. Đừng đi lang thang nếu không bố sẽ nổi giận đấy. Nhưng khi chúng mệt và bắt đầu khóc đòi mẹ, chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc bởi vì chúng tôi biết nếu không làm việc cật lực thì chúng tôi lấy tiền đâu ra để trả nợ cho chủ đất. Tự chơi đi, mẹ đang dở tay, không thể đến với con được đâu. Khóc một hồi giọng của chúng yếu dần và khóc chán chúng phải nín. Vào cuối ngày, khi không còn chút ánh sáng nào trên bầu trời chúng tôi đánh thức những đứa trẻ dậy từ bất cứ chỗ nào chúng đang nằm ngủ, phủi đất cát trên tóc chúng đi. Đến lúc về nhà rồi.

Có những đứa trẻ rất ương bướng và ngang ngạnh, không chịu nghe lời chúng tôi. Những đứa khác lành như Đức Phật. Nó sinh ra trên đời này luôn nhoẻn miệng cười. Có đứa yêu cha nó hơn bất cứ ai trên đời. Có đứa ghét những màu sắc tươi sáng. Có đứa đi đâu cũng tha lôi theo mình cái xô nhôm mà nó thích. Có đứa mười ba tháng tuổi tự cai sữa bằng cách chỉ vào ly sữa trên bàn và nói, “Con muốn”. Vài đứa khôn trước tuổi. Thầy bói nói với chúng tôi rằng thằng bé được sinh ra mang linh hồn của một ông già. Chúng ngồi ăn tại bàn như người lớn. Chúng chẳng bao giờ khóc hờn. Chúng chẳng bao giờ càu nhàu. Chúng chẳng bao giờ chống đũa trong bát cơm. Chúng tự chơi cả ngày mà không gây ồn ào, không quậy phá trong khi chúng tôi làm đồng ở gần đó. Chúng say sưa vẽ những bức tranh trên mặt đất suốt hàng tiếng đồng hồ. Và bất cứ khi nào chúng tôi cố nhấc chúng dậy, bế hoặc cõng chúng về nhà, chúng lắc đầu và nói: “Con nặng lắm”, hoặc “Mẹ, mẹ nghỉ đi”. Chúng lo lắng khi thấy chúng tôi mệt. Chúng lo lắng khi thấy chúng tôi buồn. Chúng tôi không cần nói chúng cũng biết khi nào chúng tôi bị chứng đau đầu gối hành hạ, khi nào chúng tôi thấy tháng. Đêm đêm chúng ngủ trong vòng tay của chúng tôi, như những con chó con, trên ván gỗ phủ cỏ khô, và lần đầu tiên kể từ khi đến Mỹ chúng tôi không cảm thấy phiền khi có người khác nằm bên cạnh mình.

Chúng tôi luôn có những đứa con cưng. Có thể đó là đứa con đầu lòng, Ichiro, đứa trẻ khiến chúng tôi cảm thấy bớt cô đơn hơn bao giờ hết. Đã hai năm rồi chồng tôi có chuyện trò gì với tôi đâu. Đứa con trai thứ hai, Yoichi, đứa trẻ đã tự học đọc tiếng Anh khi nó bốn tuổi. Nó là một thiên tài. Hay Sunoko, đứa trẻ luôn giật tay áo chúng tôi như thể đang có chuyện khẩn cấp, nhưng khi chúng tôi hỏi có chuyện gì thì con bé lại quên không nhớ mình muốn nói gì. “Rồi con sẽ nhớ ra thôi”, chúng tôi nói với nó như thế, mặc dù điều đó chẳng bao giờ xảy ra cả. Vài người trong chúng tôi thích con gái hơn, những đứa trẻ dịu dàng và ngoan ngoãn, và vài người cũng giống như mẹ của chúng tôi trước kia, thích con trai hơn. Con trai có ích hơn cho trang trại. Chúng tôi cho những đứa con cưng ăn phần hơn so với các chị em gái của chúng. Chúng tôi bênh vực chúng khi anh chị em chúng đánh cãi nhau. Chúng tôi cho chúng mặc đẹp hơn. Chúng tôi vét những đồng xu cuối cùng để đưa chúng đi khám bác sĩ khi chúng bị sốt, trong khi những đứa con gái của chúng tôi lúc ốm đau chỉ được chăm sóc tại nhà. Tôi đắp một miếng cao mù tạt lên ngực con bé, cầu khấn vị thần điều khiển gió và các chứng cảm phù hộ độ trì cho nó. Bởi vì chúng tôi biết rằng con gái của chúng tôi sẽ bỏ chúng tôi theo chồng, nhưng con trai thì sẽ phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu.

Thường thì chồng của chúng tôi chẳng giúp gì vợ trong việc nuôi nấng và chăm sóc con cái. Họ chưa bao giờ giúp thay tã cho con. Họ chưa bao giờ rửa đỡ chúng tôi một chiếc đĩa bẩn. Họ chưa bao giờ động đến một cái chổi. Buổi tối, khi chúng tôi ở ngoài đồng về, dù chúng tôi mệt đến mức nào họ cũng chẳng quan tâm, cứ điềm nhiên ngồi đọc báo trong khi chúng tôi đầu tắt mặt tối nấu nướng cho cả nhà, thức tới khuya để giặt giũ và khâu vá quần áo. Họ chưa bao giờ để chúng tôi đi ngủ trước họ. Họ chưa bao giờ để chúng tôi ngủ qua bình minh. Cô mà ngủ muộn hơn cô sẽ nêu gương xấu cho bọn trẻ. Họ chưa bao giờ cho chúng tôi nghỉ quá năm phút. Họ là những người đàn ông phong trần, trầm lặng, thường mặc nguyên bộ đồ lao động dính đầy bùn đất đi đi lại lại trong nhà lẩm bẩm một mình về sự phát triển của cỏ dại, về giá đậu xanh, nhẩm tính năm nay nhà sẽ đặt bao nhiêu sọt cần tây, vv. Họ hiếm khi chuyện trò với các con, hoặc thậm chí dường như không nhớ nổi tên của chúng. Bảo cái thằng bé ba tuổi đừng có đi thõng vai xuống như thế. Và nếu bọn trẻ gây ồn ào tại bàn ăn, họ đập tay và quát: “Đủ rồi đấy!” Kết quả là bọn trẻ con không thích nói chuyện với cha chúng chút nào. Bất cứ khi nào chúng muốn nói gì, chúng đều tìm đến chúng tôi. Mẹ nói với cha rằng con cần một đồng năm xu đi mẹ. Mẹ nói với cha là một con ngựa bị làm sao ấy. Mẹ nói với cha là cha cạo râu bỏ sót một chỗ kìa. Mẹ hỏi cha xem tại sao cha già thế.

Ngay khi có thể chúng tôi đưa các con mình ra đồng làm việc. Những đứa trẻ hái dâu tây cùng chúng tôi ở San Martin. Chúng hái đậu với chúng tôi ở Los Osos. Chúng bò phía sau chúng tôi trong những ruộng nho khi chúng tôi cắt nho đặt vào những chiếc khay gỗ để phơi nắng. Chúng múc nước tưới ruộng. Chúng phát quang các bụi cây. Chúng dọn cỏ. Chúng chẻ củi. Chúng xới đất trong cái nóng nung người của mùa hè ở thung lũng Imperial trước khi xương của chúng hoàn thành quá trình phát triển. Vài đứa bước chầm chậm, lẩn mà lẩn mẩn trồng mấy hàng súp lơ theo cách cắm ngọn xuống đất. Những đứa khác có thể chọn khoai tây nhanh hơn cả những người làm thuê nhanh nhẹn nhất. Nhiều đứa hay kêu ca, càu nhàu. Có những đứa bị đau dạ dày. Có những đứa bị đau đầu. Nhiều đứa bị đau mắt vì bụi bẩn. Có đứa sáng nào cũng tự đi giày cao cổ vào chân mà không cần ai phải giục. Có đứa có riêng một bộ bấm móng tay yêu thích và tối nào ở trong lán sau bữa tối nó cũng đem bộ bấm móng đó ra mài và không để cho bất kỳ ai động vào thứ ấy của nó. Có đứa không thể không nghĩ về lũ rệp. Chỗ nào cũng có rệp. Có đứa một hôm ngồi thừ người giữa một khoảnh đất trồng hành và nói ước gì nó chưa từng được sinh ra trên đời này. Và chúng tôi tự hỏi chúng tôi sinh những đứa con ra trên đời này là đúng hay sai. Chưa một lần chúng tôi có tiền để mua cho chúng một món đồ chơi.

Con của chúng tôi chơi hàng giờ trên cánh đồng như những chú bê con. Chúng lấy những cành nho gãy giả vờ làm kiếm và đọ kiếm với nhau dưới bóng cây. Chúng làm những con diều bằng giấy báo và balsa rồi buộc đầu dây vào cán dao và đua diều trong những ngày lộng gió. Chúng lấy rơm bện thành những con búp bê và lấy đũa vót nhọn để tạo thành hình những con quỷ. Chúng chơi trò bắt bóng vào những đêm sáng trăng trong vườn quả như chúng tôi thường chơi khi còn ở Nhật. Chúng chơi trò đá lon, trò gài chốt, chơi oản tù tì. Chúng thi thố để quyết định đứa nào có thể xếp chồng nhiều thùng đựng trái cây nhất, đứa nào có thể đu trên cành cây óc chó lâu nhất mà không buông tay ra. Chúng gấp những mẩu giấy vuông vuông thành hình máy bay, hình những con chim, phi những cái máy bay giấy, những con chim giấy lên trời và nhìn những món đồ chơi ấy bay một đoạn ngắn trong không trung. Chúng sưu tầm những tổ quạ, những bộ da rắn, những xác bọ cánh cứng, những hạt sồi, những mẩu sắt gỉ. Chúng học để biết tên các hành tinh. Chúng xem tay cho nhau. Đường đời của em ngắn lắm. Chúng xem bói cho nhau. Một ngày nào đó chị sẽ được đi tàu hỏa, đi thật xa. Chúng mang những chiếc đèn dầu ra nhà kho, chơi trò bố mẹ. Nào, cậu vỗ bụng và giả vờ rằng cậu sắp chết xem nào. Và vào những buổi tối mùa hè nóng nực, khi nhiệt độ lên tới hơn 40 độ C, chúng trải chăn dưới gốc cây lê, mơ mình được đi pic-nic bên bờ sông êm đềm, mơ có một cục tẩy mới, một cuốn sách, một quả bóng, một con búp bê Trung Quốc có đôi mắt màu tím chớp chớp, mơ một ngày nào đó chúng sẽ bỏ nhà đi, thỏa sức khám phá thế giới bao la rộng lớn ở bên ngoài.

Chúng nghe nói ở bên ngoài trang trại nơi chúng sống có những đứa trẻ da trắng hết ngày này qua ngày khác chỉ quanh quẩn ở trong nhà, không biết tí gì về đời sống ở nông trang, mù tịt về những con suối. Chúng nghe nói có đứa chưa từng nhìn thấy một cái cây. Mẹ chúng không để chúng ra ngoài chơi dưới ánh mặt trời đâu. Chúng nghe nói ở bên ngoài nông trang có những ngôi nhà màu trắng với những chiếc gương có khung được dát vàng, những nắm cửa bằng pha lê trong suốt, có những bệ xí bằng sứ mà người ta chỉ việc giật nước bằng một sợi dây như dây xích. Những nhà xí như thế không bao giờ có mùi khó chịu đâu. Chúng nghe nói bên ngoài trang trại có những tấm đệm được gắn lò xo bằng kim loại, êm và bồng bềnh như một đám mây (chị gái của Goro đã rời nhà đi làm hầu gái ở thành phố và khi về thăm nhà chị ấy kể rằng giường ở thành phố êm đến nỗi chị ấy không quen nên phải ngủ dưới sàn). Chúng nghe nói ở bên ngoài trang trại có những bà mẹ sáng nào cũng ăn sáng ngay tại giường ngủ và có những người cha ngồi cả ngày trên những chiếc ghế tựa được bọc nệm trong văn phòng của họ và truyền đi những mệnh lệnh qua điện thoại - và họ được trả tiền cho việc đó. Chúng nghe nói ở bên ngoài trang trại dù bạn đi đâu bạn cũng luôn là một người lạ và nếu bạn đi nhầm xe buýt thì bạn sẽ không bao giờ tìm được đường về nhà nữa.

Chúng bắt những con nòng nọc, những con chuồn chuồn từ những con lạch về, bỏ vào những chiếc lọ thủy tinh. Chúng xem chúng tôi giết gà. Chúng tìm ra những chỗ trên đồi nơi những con nai đã ngủ và nằm vào những cái ổ tròn tròn mà những con thú đã bỏ lại trong đám cỏ mọc cao bị làm cho bẹp dí và phẳng. Chúng giật đứt đuôi của những con thằn lằn để xem phải mất bao lâu đuôi của những con vật ấy mới mọc lại. Chẳng có gì xảy ra cả. Chúng mang về nhà những con chim sẻ non bị rơi khỏi tổ từ trên cây và dùng que tăm khều cháo gạo cho những con chim đó ăn, nhưng sáng ra, khi tỉnh dậy chúng phát hiện những con sẻ non đã chết. “Tự nhiên không muốn như thế đâu”, chúng tôi nói với chúng. Chúng ngồi trên hàng rào xem người nông dân ở mảnh ruộng bên cạnh dắt bò cái đi gặp bò đực. Chúng nhìn con mèo mẹ ăn thịt những con con của chính nó. “Chuyện thường ấy mà”, chúng tôi giải thích. Ban đêm chúng nghe những tiếng động phát ra khi chúng tôi bị chiếm đoạt bởi chồng mình, người không để chúng tôi yên mặc dù nhan sắc của chúng tôi đã phai nhạt từ lâu. “Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh”, chồng của chúng tôi nói thế. Tối nào bọn trẻ cũng tắm cùng chúng tôi ở ngoài trời, trong những chiếc chậu gỗ to chứa nước ấm và dìm đến tận cằm. Chúng ngả đầu ra phía sau. Chúng nhắm mắt lại một cách khoan khoái. Chúng đưa tay ra tìm tay chúng tôi. Chúng đặt những câu hỏi. Mẹ có biết khi nào mẹ chết không hả mẹ? Nếu không có chim thì điều gì sẽ xảy ra hả mẹ? Nếu mẹ có những nốt đỏ ở khắp người nhưng không nốt nào đau thì có sao không hả mẹ? Có đúng là người Trung Quốc ăn móng lợn không hả mẹ?

Chúng có những thứ để cất giữ như của quý để làm kỷ niệm. Một chiếc nắp chai màu đỏ. Một viên bi. Một tấm bưu thiếp chụp hai cô gái người Nga xinh đẹp đang đi dạo dọc bờ sông Hoàng Phố do một người chú đang ở Mãn Châu gửi cho chúng. Chúng có những cái lông trắng muốt được coi như bùa may mắn, thứ mà lúc nào chúng cũng mang theo trong túi áo và những viên đá được bọc bằng vải mềm chúng cất trong ngăn kéo thỉnh thoảng lại lấy ra cầm trong tay một lát cho đến khi cảm giác buồn trong lòng chúng vơi đi. Chúng có những từ bí mật để thì thầm với nhau mỗi khi chúng cảm thấy sợ. Chúng có những cây mà chúng yêu quý để trèo lên mỗi khi chúng muốn ở một mình. Mọi người làm ơn đi cả đi. Có những người chị, người em gái được chúng yêu quý hơn những anh chị em khác, những người mà chúng có thể nằm trong vòng tay và ngủ ngon lành. Chúng có những người anh lớn mà chúng không ưa, những người mà chúng không chịu ở cùng trong một căn phòng. Anh ấy sẽ giết con mất. Chúng có những con chó mà chúng không thể rời nửa bước và có thể tâm sự tất cả những chuyện mà chúng không thể nói với con người. Tớ làm vỡ tẩu thuốc của cha rồi và tớ đã chôn nó dưới gốc cây. Chúng có những luật riêng. Đừng bao giờ đặt gối hướng về phía Bắc khi ngủ (Hoshiko đặt gối hướng về phía Bắc và ngủ, vậy là đến nửa đêm bạn ấy ngừng thở, chết luôn đấy). Chúng có những nghi lễ riêng. Cậu phải ném một nắm muối vào chỗ có ma cà bông. Chúng có niềm tin riêng. Nếu bạn nhìn thấy một con nhện vào buổi sáng thì bạn sẽ gặp may đấy. Nếu bạn vừa ăn xong mà đi nằm ngay thì bạn sẽ biến thành một con bò. Nếu cậu để gùi lên đầu thì cậu sẽ không lớn được nữa. Một bông hoa đơn có nghĩa là cái chết.

Chúng tôi kể cho chúng nghe những câu chuyện về những con chim sẻ bị cắt lưỡi và những con hạc giàu lòng biết ơn, những con chim bồ câu non luôn nhường cho cha mẹ chỗ đậu ở trên cành cao hơn. Chúng tôi cố dạy chúng cách cư xử. Đừng bao giờ cầm đũa chỉ vào ai đó, hoặc vào chỗ này, chỗ kia. Đừng bao giờ mút đầu đũa. Đừng bao giờ gắp miếng thức ăn cuối cùng trong đĩa. Chúng tôi khen ngợi chúng khi chúng đối xử tốt với người khác, nhưng không quên nói với chúng rằng đừng mong đợi những người mình đã đối xử tốt đáp lại bằng những việc làm tốt. Chúng tôi mắng mỏ chúng mỗi khi chúng ngang bướng cãi lời. Chúng tôi dạy chúng đừng bao giờ nhận sự bố thí. Chúng tôi dạy chúng không nên khoe khoang, khoác lác. Chúng tôi dạy chúng tất cả những gì chúng tôi biết. Một xu có thể là sự khởi đầu cho sự giàu có. Nên chịu đựng điều tồi tệ hơn là gây ra điều tồi tệ. Bạn phải trả lại bất cứ thứ gì bạn đã nhận. Chớ có ồn ào như người Mỹ. Hãy tránh xa người Trung Quốc. Họ không ưa chúng ta đâu. Hãy cảnh giác với dân Hàn. Họ ghét chúng ta. Hãy cẩn thận với người Phillipine. Họ còn tệ hơn cả dân Hàn. Đừng bao giờ kết hôn với một người ở đảo Okinawa. Về bản chất họ không phải là người Nhật đâu.

Đặc biệt, ở nông thôn, chúng tôi thường mất những đứa con từ thuở bé dại. Chúng tôi mất con vì bệnh bạch cầu và bệnh sởi. Chúng tôi mất con vì bệnh viêm amiđan. Chúng tôi mất con vì bệnh ho gà. Chúng tôi mất con vì những bệnh nhiễm trùng nguy hiểm biến thành chứng hoại thư chỉ sau một đêm. Một trong những đứa con của chúng tôi bị nhện đen có chứa nọc độc cắn và sốt li bì. Có đứa bị con la lông xám mà chúng tôi rất cưng đá vào bụng. Có đứa biến mất khi chúng tôi đang phân loại những trái lê trong lán và mặc dù chúng tôi đã tìm dưới mọi tảng đá, mọi gốc cây nhưng không bao giờ tìm thấy nó nữa và kể từ đó trở đi chúng tôi không bao giờ còn được như trước nữa. Tôi chẳng thiết sống nữa. Có đứa bị rơi từ trên xe chở nông sản xuống đường trong khi chúng tôi chở đại hoàng đi chợ bán và bị hôn mê mãi mãi. Có đứa bị bắt cóc bởi một kẻ đi hái lê thuê ở một vườn quả gần đó, kẻ trước đó đã liên tục đưa ra các yêu sách nhưng đều bị chúng tôi từ chối. Đáng lẽ tôi phải thực hiện yêu sách của hắn. Có đứa bị bỏng nặng khi lò nấu rượu lậu ở phía sau lán của chúng tôi phát nổ và sau vụ nổ nó chỉ sống được đúng một ngày. Điều cuối cùng con tôi nói với tôi là “Mẹ ơi, đừng quên nhìn lên bầu trời mẹ nhé”. Vài đứa con của chúng tôi chết do đuối nước. Một đứa chết ở sông Calaveras. Một đứa chết ở sông Nacimiento. Một đứa chết trong mương tưới tiêu. Một đứa chết trong cái chậu giặt đầy nước mà đáng lẽ chúng tôi không nên để ở bên ngoài qua đêm. Hằng năm, cứ vào tháng Tám, vào ngày Lễ Của Người Chết, chúng tôi lại thắp những chiếc đèn lồng bằng giấy trắng trên mộ của chúng và mời linh hồn của chúng quay trở lại trần gian một ngày. Và vào cuối ngày hôm đó, khi đã đến lúc linh hồn của chúng phải đi, chúng tôi thả những chiếc đèn lồng bằng giấy đó trên sông để đưa chúng về “nhà” bình an. Bởi vì giờ đây những đứa con chết yểu của chúng tôi đã trở thành người của cõi Phật, cõi của hạnh phúc.

Vài người trong số chúng tôi không thể có con, và đó là điều tồi tệ nhất mà số phận bắt chúng tôi phải chịu. Vì không có người kế thừa linh hồn của tổ tiên, chúng tôi sẽ không tồn tại nữa. Tôi cảm thấy mình vượt bao gian nan vất vả đến cái nước Mỹ này để rồi chẳng được gì cả. Đôi khi chúng tôi cố gắng tìm đến người chữa bệnh bằng niềm tin, người nói với chúng tôi rằng dạ con của chúng tôi có cấu trúc không bình thường, vì vậy chẳng ai có thể làm gì được cho chúng tôi được nữa. “Số phận của cô đã được định đoạt bởi các vị thần”, bà ta nói và tiễn chúng tôi ra cửa. Hoặc chúng tôi tìm tới chuyên gia châm cứu, bác sĩ Ishida, người chỉ cần nhìn chúng tôi một cái là có thể nói ngay, “dương thịnh quá”, và cho chúng tôi thảo dược có tác dụng bổ máu và dưỡng âm. Ba tháng sau chúng tôi thấy mình lại bị sẩy thai lần nữa. Có người trong số chúng tôi bị chồng tống về Nhật và ở đó những lời đồn đại, xì xào không bao giờ chịu buông tha chúng tôi. “Bỏ chồng rồi”, hàng xóm của chúng tôi xì xào. “Tôi nghe nói cô ta khô như một quả bầu khô”. Đôi khi chúng tôi cố gắng cắt tóc đem cúng tiến các vị thần lo việc sinh đẻ để cầu các vị ấy phù hộ cho chúng tôi, cầu khấn để mình có thể mang thai, nhưng chẳng ăn thua gì, tháng nào chúng tôi cũng có kinh nguyệt. Và mặc dù chồng của chúng tôi đã nói rằng dù được làm cha hay không điều đó cũng không quan trọng với họ - điều duy nhất chồng chúng tôi muốn là sống cùng chúng tôi cho đến già - chúng tôi không thể không nghĩ về những đứa trẻ mà chúng tôi không bao giờ có. Đêm nào tôi cũng nghe thấy chúng chơi quanh những gốc cây bên ngoài cửa sổ.

Ở khu phố Nhật chúng tôi sống chen chúc, tám - chín người trong một căn phòng chật hẹp nằm ở phía sau những tiệm cắt tóc, những nhà tắm, và trong những căn hộ bé xíu không được quét sơn, tối tăm đến mức chúng tôi phải để đèn cả ngày. Ở quán ăn bình dân những đứa con giúp chúng tôi thái cà rốt. Ở quầy bán hoa quả chúng giúp mẹ xếp táo. Chúng đi xe đạp mang thực phẩm đến tận nhà khách hàng quen giúp chúng tôi. Ở tiệm giặt chúng nhặt đồ màu trắng để riêng ra một chỗ và mau chóng học được cách phân biệt giữa vết rượu nho và vết máu. Chúng giúp chúng tôi quét sàn trong các phòng trọ. Chúng thay khăn lau trong các phòng trọ. Chúng thay khăn trải giường trong các phòng trọ. Chúng sắp xếp ga gối trong các phòng trọ. Chúng mở cửa các phòng trọ và phát hiện ra những điều mà đáng lẽ ra chúng không nên thấy. Con cứ nghĩ ông ấy đang cầu nguyện nhưng hóa ra ông ấy đã chết. Chúng mua bữa tối cho bà già góa bụa, bà Kawamura, đến từ Nagasaki, ở số nhà 4A, người đã làm hầu phòng tại khách sạn Drexel và không có con. Chồng tôi là một gã ham mê cờ bạc và để lại cho tôi vẻn vẹn bốn mươi lăm xu. Chúng chơi ở ngoài hành lang với người đàn ông độc thân tên là Morita, người mà ba mươi năm trước đã bắt đầu làm việc như một thợ là quần áo tại tiệm giặt Bàn Tay Nữ Hoàng và giờ đây vẫn làm công việc đó. Thấm thoắt thế mà đã từng ấy năm rồi. Chúng bám gót cha chúng trong khi cha chúng làm vườn và học cách cắt, xén cỏ. Chúng đợi chúng tôi trên những chiếc ghế đá ở công viên trong khi chúng tôi lau nhà thuê cho người ta. Đừng nói chuyện với người lạ, chúng tôi dặn con. Hãy học hành chăm chỉ. Hãy kiên trì. Làm gì thì làm, đừng có làm cái việc lam lũ, khổ cực như việc của mẹ.

Chúng đến trường mặc những bộ đồ chúng tôi tự may cho chúng, luôn ngồi ở cuối lớp cùng với những đứa trẻ người Mexico và luôn nói bằng giọng rụt rè, ấp úng. Chúng không bao giờ giơ tay trong giờ học. Chúng không bao giờ mỉm cười. Vào giờ ra chơi chúng túm năm tụm ba ở một góc sân trường, thì thầm với nhau bằng thứ tiếng bí mật, đáng hổ thẹn của mình. Ở căng-tin chúng luôn đứng cuối hàng trong khi đợi lấy thức ăn. Vài đứa - những đứa con đầu lòng của chúng tôi - gần như không biết tiếng Anh và bất cứ khi nào chúng được gọi đứng lên phát biểu thì đầu gối chúng lại run lẩy bẩy. Có đứa, khi được cô giáo hỏi tên, lại đáp, “Sáu”, và tiếng cười của chúng bạn cứ ong ong bên tai nó suốt cả ngày. Có đứa nói tên mình là “Table” (cái bàn) và từ đó trở đi người ta luôn gọi nó bằng cái tên ấy. Nhiều đứa van xin chúng tôi đừng bắt chúng phải đến trường, nhưng khi đi học, chỉ trong vài tuần, chúng đã có thể nói tên của tất cả các con vật bằng tiếng Anh và đọc rõ ràng mọi biển báo mà chúng nhìn thấy trong khi được mẹ đưa đi mua hàng ở trung tâm thành phố - chúng nói cho chúng tôi biết rằng phố có những cột cao là phố State Street, và con phố nơi có những người thợ cắt tóc không được thân thiện cho lắm là phố Grove, cây cầu nơi mà ông Itami đã nhảy xuống sông tự vẫn sau khi thị trường chứng khoán sụp đổ là cầu Last Chance - và bất cứ khi nào chúng đi cùng chúng tôi lên phố, chúng cũng có thể nói rõ cho chúng tôi biết những thứ chúng thèm. Mua mạch nha sô-cô-la cho con, mẹ nhé.

Ngày qua ngày tất cả những từ cũ mà chúng tôi đã dạy các con mình bắt đầu biến mất khỏi trí nhớ của chúng. Chúng đã quên tên của những loài hoa ở Nhật Bản. Chúng đã quên tên các màu. Chúng đã quên tên của Thần Cáo và Thần Sấm, Thần Đói Nghèo, vị thần mà chúng tôi chưa bao giờ thoát khỏi. Dù con có sống lâu ở cái đất nước này đến mức nào thì người ta cũng chẳng để cho chúng ta mua đất của họ đâu. Chúng đã quên tên của Thần Nước, thần Mizu Gami, vị thần bảo vệ các con sông, dòng suối của chúng tôi và yêu cầu chúng tôi phải giữ sạch các giếng nước. Chúng đã quên từ tiếng Nhật chỉ tuyết trắng, quên tên gọi của dế chuông. Chúng đã quên phải nói gì trước bàn thờ tổ tiên, những người ngày đêm phù hộ cho chúng tôi. Chúng đã quên đếm bằng tiếng Nhật. Chúng đã quên cách cầu nguyện. Giờ đây chúng sống với ngôn ngữ mới, thứ ngôn ngữ có hai mươi sáu chữ cái mà cho đến bây giờ vẫn như đánh đố chúng tôi mặc dù chúng tôi đã ở Mỹ nhiều năm. Tất cả những gì tôi học được là chữ x để tôi có thể ký tên vào giấy vay tiền. Chúng phát âm những từ có âm gió một cách dễ dàng. Và thậm chí khi chúng tôi gửi chúng tới các ngôi chùa vào ngày thứ Bẩy để học tiếng Nhật thì chúng chẳng học được gì hết. Lý do duy nhất các con tôi tới đó là để khỏi phải làm việc ở cửa hàng. Nhưng bất cứ khi nào chúng tôi nghe chúng nói mơ trong khi ngủ thì những từ bật ra từ miệng chúng - chúng tôi chắc chắn - đều là tiếng Nhật.

Chúng tự đặt cho mình những cái tên mới mà chúng tôi không chọn cho chúng, thậm chí không thể phát âm nổi. Một đứa tự gọi mình là Doris. Có đứa tự gọi mình là Peggy. Nhiều đứa tự gọi mình là George. Suburo được tất cả những đứa khác gọi là Chinky bởi vì nó trông giống người Trung Quốc. Toshitachi được gọi là Harlem bởi vì da của nó quá đen. Etsuko được thầy giáo Slater đặt tên là Esther ngay trong ngày đầu tiên con bé đi học. “Đó là tên của mẹ thầy ấy đấy”, nó giải thích. Chúng tôi bảo nó: “Đó cũng là tên của con”. Sumire tự gọi mình là Violet. Shizuko tự gọi mình là Sugar. Makoto đơn giản là Mac. Shigeharu Takagi vào Hội Baptist từ khi nó chín tuổi và đổi tên thành Paul. Edison Kobayashi sinh ra không được khôn nhưng lại có trí nhớ chính xác như chụp ảnh và có thể nói tên của tất cả những người nó từng gặp. Grace Sugita không thích kem. Kem quá lạnh. Kitty Matsutarro không mong đợi gì và kết quả là nó chẳng nhận được gì. Tiny Honda cao tận 1,95 mét là người Nhật cao lớn nhất mà chúng tôi từng thấy. Mop Yamasaki có mái tóc dài và thích mặc đồ giống con gái. Lefty Hayashi là cầu thủ bóng chày nổi tiếng của trường trung học Emerson. Sam Nishimura đã được gửi sang Nhật để học ở đó và vừa mới trở về Mỹ sau sáu năm rưỡi. Nhà trường bắt thằng bé học lại từ lớp một. Daisy Takada có dáng người hoàn hảo và làm gì cũng thích làm theo nhóm bốn người. Cha của Mabel Ota bị phá sản ba lần. Gia đình của Lester Nakano toàn mua quần áo ở hiệu Goodwill. Mẹ của Takayama là - tất cả mọi người đều biết - một gái điếm. Bà ấy có sáu mặt con với năm người đàn ông khác nhau. Và hai đứa trong số đó là anh em sinh đôi.

Thấm thoắt chúng tôi gần như không thể nhận ra các con của mình nữa. Chúng cao và nặng hơn chúng tôi. Chúng ồn ào đến mức không thể tin nổi. Tôi cảm thấy thằng bé như một con vịt đang ấp trứng của một con ngỗng ấy. Chúng thích ở một mình hơn là bầu bạn với chúng tôi và vờ như không hiểu một lời nào chúng tôi đã nói. Những đứa con gái đi bước dài theo kiểu của người Mỹ, và lúc nào cũng di chuyển với sự vội vàng thiếu nữ tính. Chúng mặc những bộ đồ rộng thùng thình. Chúng lắc mông như những con ngựa cái. Trên đường đi học về chúng tán chuyện với nhau om xòm và bất cứ điều gì chúng nghĩ ở trong đầu đều trôi ra miệng hết. Thầy Dempsey có cái tai cụp. Những đứa con trai của chúng tôi phát triển thành những chàng trai cao lớn. Chúng khăng khăng đòi ăn thịt muối xông khói và trứng vào bữa sáng thay vì ăn xúp bột đậu. Chúng không chịu dùng đũa. Chúng uống sữa. Chúng rót tràn tương cà chua lên bát cơm chúng ăn. Chúng nói tiếng Anh không chê vào đâu được giống như phát thanh viên trên radio và mỗi khi nào chúng tôi cúi đầu khấn vái ông Táo ở trong bếp, chúng lại trợn mắt và nói: “Mẹ, làm ơn đi mẹ”.

Chúng thường xấu hổ về cha mẹ mình. Chúng xấu hổ về những chiếc mũ rơm mềm rũ và những bộ quần áo sờn cũ của chúng tôi. Chúng xấu hổ vì giọng nói nặng trịch của chúng tôi. Mọi chiện ổn cả chứ? Chúng xấu hổ về đôi bàn tay nứt nẻ, đầy những vết chai của chúng tôi. Chúng xấu hổ vì khuôn mặt đầy những vết nhăn hằn sâu của những năm hái lê và trồng nho dưới ánh nắng mặt trời của chúng tôi. Chúng ước ao có được những người cha thực sự mặc com-lê đeo cà-vạt xách cặp da đi làm và chỉ xén cỏ vào những ngày Chủ nhật. Chúng muốn có những người mẹ khác chứ không phải những người mẹ trông tàn tạ, mệt mỏi như chúng tôi. Mẹ không thể thoa chút son môi sao? Chúng khiếp sợ những ngày mưa ở nông thôn khi chúng tôi đến đón chúng trên chiếc xe chở hàng cũ kỹ, méo mó. Chúng chưa bao giờ mời bạn bè đến tụ họp tại nhà mình ở khu phố của người Nhật. Gia đình ta sống chẳng khác gì những người ăn mày. Chúng không bao giờ xuất hiện cùng chúng tôi ở đền thờ vào ngày sinh nhật của Nhật hoàng. Chúng không kỷ niệm Ngày Phóng sinh cùng chúng tôi vào cuối mùa hè ở công viên. Chúng từ chối cầm tay và nhảy với chúng tôi trên đường phố trong Lễ hội Ngày thu phân. Chúng cười nhạo chúng tôi khi chúng tôi bảo chúng cúi đầu chào cha mẹ vào buổi sáng và cứ mỗi ngày trôi qua chúng dường như lại càng lảng xa hơn khỏi tầm nắm giữ của chúng tôi.

Vài đứa trong số chúng phát triển vốn từ vựng phong phú đến mức đáng ngạc nhiên và trở thành học sinh xuất sắc nhất nhì lớp. Có đứa giành được giải thưởng cho bài văn hay nhất về các loài hoa dại ở California. Có đứa được trao giải thưởng cao nhất về khoa học. Có đứa nhận được nhiều sao vàng hơn bất cứ học sinh nào khác trong bảng xếp hạng của giáo viên. Những đứa khác cứ đến mùa gặt lại học thụt lùi, có khi bị đúp lên đúp xuống. Có đứa mang thai khi mới mười bốn tuổi và bị gửi về sống với ông bà ở một trang trại nuôi tằm thuộc miền Tây của Nhật Bản. Tuần nào con bé cũng viết thư cho tôi hỏi khi nào thì nó được trở về nhà. Có đứa tự sát. Vài đứa bỏ học. Vài đứa bỏ nhà đi hoang. Chúng lập ra các băng, hội. Chúng đặt ra các luật riêng. Không dùng dao. Không chơi gái. Không cho phép người Tàu nhập hội. Chúng đi lang thang tới khuya tìm những đứa choai choai khác để đánh nhau. Hãy cho mấy thằng Philipine nhừ đòn đi chúng mày. Và khi chúng quá lười không muốn đi đâu xa, chúng ở trong khu của người Nhật và đánh nhau loạn xạ. Mày là thằng Nhật khốn kiếp! Những đứa khác sống khép mình, lúc nào mặt cũng cúi gằm, cố không để ai nhìn thấy mình. Chúng không đi dự tiệc (chúng chẳng bao giờ được mời đi dự tiệc). Chúng không chơi loại nhạc cụ nào (chúng không có nhạc cụ để chơi). Chúng không có ngày Valentin (chúng chưa bao giờ được tặng quà nhân ngày Valentin). Chúng không thích nhảy (chúng không có giày thích hợp để đi nhảy). Chúng đi vật vờ như những bóng ma trong những hành lang, mắt nhìn xa xăm, ôm siết những cuốn sách vào ngực, như thể đang chìm trong một giấc mơ. Nếu ai đó gọi chúng từ phía sau chúng không để ý. Nếu có người gọi chúng ở trước mặt chúng chỉ gật đầu và tiếp tục bước đi. Nếu chúng được phát cho những cuốn sách giáo khoa cũ nát nhất để sử dụng trong giờ học toán chúng sẽ nhún vai im lặng chịu đựng và cố gắng tự xoay xở. Tớ không thích môn đại số chút nào. Nếu ảnh của chúng xuất hiện ở cuối cuốn kỷ yếu của trường học thì chúng giả bộ không quan tâm. “Đó là số phận”, chúng tự nhủ. Và, “Vậy thì đã sao chứ?” Và, “Ai thèm quan tâm chứ?” Bởi vì chúng biết dù chúng có làm gì đi nữa, có cố gắng đến mức nào thì chúng cũng chẳng bao giờ hòa nhập được. Chúng mình là một lũ dân Nhật ấy mà.

Chúng biết những bà mẹ nào ưng cho chúng đến nhà chơi (bà Henke, bà Woodruff, bà Alfred Chaner III) và những bà mẹ nào không chấp nhận chúng (tất cả các bà mẹ khác). Chúng biết loại thợ cắt tóc nào chịu cắt tóc cho chúng (thợ cắt tóc da đen) và loại thợ cắt tóc nào từ chối không nhận cắt tóc cho chúng (những thợ cắt tóc bẳn tính ở phía nam của phố Grove). Chúng biết rằng có những thứ không bao giờ thuộc về chúng: Mũi cao, làn da trắng, đôi chân dài có thể được chú ý từ xa. Sáng nào tớ cũng tập thể dục nhưng chẳng ích gì. Chúng biết khi nào chúng có thể đi bơi ở bể bơi công cộng - vào những ngày thứ Hai dành cho người da màu - và khi nào chúng có thể đi xem phim tại rạp Pantages ở trung tâm thành phố (không khi nào cả). Chúng biết rằng chúng nên gọi tới nhà hàng trước nếu chúng muốn đi ăn tiệm. Xin hỏi nhà hàng có phục vụ khách là người Nhật không ạ? Chúng biết không nên ra ngoài một mình vào ban ngày và biết phải làm gì nếu chúng bị dồn vào một góc đường khi trời tối. Họ tôn trọng anh nếu anh mạnh mẽ. Chúng học cách tìm người bênh vực và bảo vệ mình. Chúng học cách che giấu sự giận dữ. Không tất nhiên, tôi không thấy phiền đâu. Được thôi. Cứ tự nhiên. Chúng học cách không bao giờ để lộ sự sợ hãi của mình. Chúng biết rằng một số người sinh ra may mắn hơn những người khác và rằng mọi chuyện trên đời này không phải lúc nào cũng diễn ra như bạn mong muốn.

Tuy nhiên, chúng không ngừng ước mơ. Có đứa thề một ngày nào đó nó sẽ cưới một mục sư để không bao giờ phải hái dâu tây vào các ngày Chủ nhật nữa. Có đứa muốn tiết kiệm đủ tiền để mua một trang trại riêng. Có đứa muốn trở thành một người trồng khoai tây giống như cha của nó. Có đứa muốn lớn lên sẽ làm bất cứ nghề gì trừ cái nghề bán mặt cho đất bán lưng cho trời như nghề của cha mẹ. Có đứa muốn trồng một vườn nho. Có đứa muốn gây dựng một thương hiệu riêng. Tớ sẽ gọi đó là thương hiệu trái cây Fukuda. Có đứa nóng lòng đợi cái ngày nó được rời khỏi trại nuôi gia súc. Có đứa muốn vào trường đại học mặc dù nó không hề biết một ai đã từng rời cái nơi nó sống để đi học đại học. Tớ biết như thế là điên rồ, nhưng... Có đứa thích sống cả đời ở nơi thôn dã và không bao giờ muốn rời khỏi đó. Ở đây tốt hơn. Không ai biết chúng ta là ai. Có đứa khao khát một điều gì đó, nhưng không thể nói chính xác mình muốn gì. Cuộc sống như thế này chưa đủ. Có đứa muốn một bộ trống Swing King và những cái chũm chọe. Có đứa muốn một con ngựa đốm. Có đứa muốn có một tuyến phát báo riêng. Có đứa muốn có phòng riêng, có khóa cửa. Bất cứ ai muốn vào phòng tớ đều phải gõ cửa trước đã. Có đứa muốn trở thành một họa sĩ sống trên một căn phòng áp mái ở Paris.

Có đứa muốn học ở một trường đào tạo kỹ thuật viên điện lạnh. Bạn có thể đăng ký học qua thư. Có đứa muốn xây dựng những cây cầu. Có đứa muốn chơi dương cầm. Có đứa muốn có quầy bán trái cây riêng ở trên đường cao tốc thay vì làm thuê cho người khác. Có đứa muốn học viết tốc ký tại trường đào tạo thư ký Merritt và muốn làm việc tại một văn phòng. Con nhất định sẽ thực hiện ý muốn đó. Có đứa muốn trở thành đô vật Togo của thế hệ kế tiếp. Có đứa muốn trở thành một thượng nghị sĩ của bang. Có đứa muốn học cắt tóc và mở tiệm cắt tóc thời trang. Có đứa bị bệnh viêm tủy xám và chỉ có một mong muốn là được thở mà không phải phụ thuộc vào “lá phổi sắt”. Có đứa muốn trở thành một cô thợ may. Có đứa muốn trở thành một giáo viên. Có đứa muốn trở thành một bác sĩ. Có đứa muốn trở thành em gái của một bác sĩ. Có đứa muốn trở thành một tên găngxtơ. Có đứa muốn trở thành một ngôi sao. Và mặc dù nhìn thấy bóng tối đang bao trùm lên cuộc sống của mình nhưng chúng tôi vẫn không nói gì, cứ để mặc cho chúng mơ.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Julie Otsuka

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.