Quan-tòa-sám-hối là gì ư? Chắc danh từ này đã khiến ngài lấy làm nghĩ ngợi khôn xiết. Xin ngài tin rằng tôi không hề có dụng ý tinh quái nào, và tôi có thể giải thích rành mạch hơn hầu ngài rõ. Ngẫm cho cùng, thì nó cũng là một khía cạnh tạo nên chức vụ của tôi. Nhưng tôi thấy cần phải trình bày hầu ngài một số sự việc trước đã, khả dĩ giúp ngài hiểu được tỉ mỉ câu chuyện này.
Mấy năm trước kia, tôi còn hành nghề trạng sư ở Paris và, chẳng giấu gì ngài, tiếng tăm cũng khá lẫy lừng. Đúng thế, tối qua, không phải là đích danh của tôi. Tôi chuyên biện hộ vì nghĩa cho những vụ đáng thương tâm. Cho quả phụ và trẻ côi, như người ta thường bảo, chẳng hiểu tại sao, bởi chưng trên đời cũng có hạng quả phụ lạm quyền và loại trẻ côi quá quắt. Tuy vậy, tôi chỉ cần ngửi thấy ở bị can một thoảng mùi nạn nhân oan ức là lập tức tay áo trạng sư của mình vùng lên tác hành. Và tác hành như thế nào! Một trận cuồng phong vũ bão! Lòng tôi được dịp tuôn ra vênh vang trên tay áo. Tưởng chừng nàng công lý hằng bữa ngủ với tôi mỗi tối. Tôi đoan chắc là ngài hẳn sẽ thần phục giọng nói thích đáng, các giây phút xúc động nhằm lúc, tài hùng biện và đô nhiệt tình, cùng khía cạnh công phẫn được chế ngự những khi tôi biện cãi trong pháp đình. Còn về phần diện mạo, thì tạo vật đã chẳng quản công lao, tôi không cần phải gắng gượng mấy cũng biểu lộ được dáng điệu anh hùng. Gia dĩ, tôi còn được tiếp sức nhờ ở hai cảm giác chân thành: thích ý nhận thấy mình đứng ở bên này vành móng ngựa với phe chánh nghĩa, và một thứ bản năng miệt thị trọn giới quan tòa nói chung. Kỳ thật, có lẽ thái độ miệt thị này cũng không phải hoàn toàn xuất phát từ bản năng. Ngày nay, tôi hiểu rõ là nó cũng hàm chứa nhiều lý do đặc biệt. Song le, đứng ngoài mà nhìn, thì nó tựa hồ như khoác lên mình một bộ mã si mê cùng cực. Chúng ta không thể phủ nhận rằng, ít nữa là thời đại này vẫn còn cần đến quan tòa, phải vậy không ngài? Ấy vậy mà trước kia, tôi không tài nào hiểu được rằng người ta lại có thể tự nguyện nhận lãnh cái chức vụ kỳ lạ đó. Tôi chấp nhận họ, vì họ sờ sờ trước mặt tôi kìa, nhưng phần nào tựa hồ như chấp nhận cào cào châu chấu vậy. Với chỗ khác nhau là loài côn trùng cánh thẳng này có tràn ngập tới đâu cũng không lợi cho tôi được lấy nửa đồng trinh, và ngược lại, tôi nuôi miệng mình bằng cách đàm thoại đối đáp với những kẻ mà lòng tôi khinh rẻ.
Tóm lại, tôi đứng về phe chánh nghĩa, bấy nhiêu cũng đủ để lương tâm tôi được yên bằng. Tin chắc rằng pháp luật đứng về phần mình, thích ý nhận thấy mình đúng lý, hoan hỉ được chính mình trọng vọng, ngài ạ, vốn dĩ là những động cơ mãnh liệt giúp chúng ta được cứng cáp vững vàng hay thúc đẩy chúng ta đường bệ tiến bước. Ngược lại, cứ thử tước đi mấy động cơ ấy, ngài ắt biến con người thành một bầy chó hụt hơi mũi dãi lòng thòng. Xiết bao tội ác tày đình xảy ra, đơn thuần chỉ vì người gây ra nó không chịu nổi cái ý nghĩ cho rằng mình lầm lỗi! Thuở xưa, tôi có quen biết một nhà doanh nghiệp nọ, ông có một bà vợ quả thật vẹn toàn, ai ai cũng ngợi khen, vậy mà ông vẫn cứ ruồng rẫy bà ta như thường. Ông tức lộn gan lộn ruột nhận thấy phần lỗi cứ luôn về mình, không có cách nào được người đời hay tự mình cấp phát cho mình một mảnh bằng đức hạnh. Bà vợ càng tỏ ra vẹn toàn bao nhiêu, ông càng bầm gan tím ruột bấy nhiêu. Cuối cùng, ông không còn chịu nổi chính lỗi lầm của mình nữa. Ngài đoán được bấy giờ ông ta làm gì không? Thôi tỏ ra bạc bẽo chăng? Không, không. Ông giết bỏ bà vợ. Tôi giao dịch với ông ta cũng là nhờ vậy.
Phần tôi thì ở vào một tình thế xán lạn hơn. Chẳng những tôi quyết chắc không bị nhập vào phe những kẻ mang trọng tội (đặc biệt là tuyệt nhiên không có cớ giết vợ, vốn sống độc thân), mà còn là kẻ bào chữa cho họ nữa, với điều kiện duy nhứt là họ phải thuộc hạng thủ phạm tốt cũng như có kẻ thuộc hạng mán mọi tốt vậy. Chính ngay cách thức tôi bào chữa cho họ cũng mang đến cho tôi nhiều niềm vui thích nở lòng. Đời sống nghề nghiệp của tôi quả tình là gương mẫu, không chỗ nào chê trách được. Tôi không hề nhận của hối lộ đã đành, mà cũng không hề hạ mình lòn cúi vận động lần nào. Một điều hiếm hoi hơn nữa, tôi không hề chịu nịnh hót một ký giả nào ngõ hầu được hắn thuận theo mình, hoặc một công chức cao cấp nào hòng lợi dụng thân tình của y. Tôi cũng có cái diễm phước đôi ba lần được chánh phủ ký sắc lệnh tuyên cho Bắc-đẩu bội-tinh, và đã có thể trang trọng chối từ một cách kín đáo, lấy đó làm phần thưởng đích thật cho mình. Suốt, tôi không hề đòi những thân chủ lâm cảnh nghèo cực trả tiền thù lao và cũng không hề lớn tiếng rêu rao nghĩa cử này. Ngài chớ lầm tưởng rằng tôi kể lể ra đây là để khoe khoang cùng ngài. Công trạng tôi hoàn toàn chẳng có là bao: trong xã hội chúng ta ngày nay, máu tham được nâng lên mức thay thế cho cao vọng, hằng không ngừng khiến tôi phì cười. Tôi nhắm một mục đích cao xa hơn; ngài sẽ có dịp nhận thấy rằng câu nói vừa qua rất mực chính xác về phần tôi.
Nhưng ngài hãy xét xem tôi được thích ý như thế nào trước đã. Tôi hưởng thụ bản tánh đặc biệt của mình, và chúng ta thảy đều biết rằng hạnh phúc nằm chính ở chỗ đó, dầu rằng, để thoa dịu lẫn nhau, đôi khi chúng ta vẫn cứ làm ra vẻ bài xích thứ lạc thú này, gán cho nó cái nhãn hiệu vị kỷ. Ít nữa là tôi cũng hưởng thụ cái thành phần trong bản tính vốn phản ứng ăn khớp với hạng quả phụ và trẻ côi đến độ cuối cùng, cứ mãi tác hành không thôi, bị nó chi phối trọn cả đời sống. Thí dụ như tôi rất mực thích giúp kẻ mù lòa băng qua đường lộ. Dầu xa cách mấy, hễ chợt thấy có chiếc gậy đang dụ dự lần mò ở góc hè phố nào là tôi hối hả lao mình chạy tới, đôi khi, vừa đúng để phỗng trước cánh tay từ bi đã giơ sẵn, giành lấy kẻ mù lòa khỏi mọi cử chỉ ân cần nào không phải là của mình, vừa dịu dàng vừa vững chắc nắm tay dìu y dọc theo khoảng lộ dành cho bộ hành, chen giữa mớ xe cộ ngược xuôi tấp nập, hướng về chốn yên lành ở vỉa hè, rồi chúng tôi chia tay nhau trong niềm xúc động tương tri. Cũng hệt như vậy, tôi hằng thích chỉ dẫn ngõ ra lối vào cho khách qua đường, sẵn lòng mồi hộ điếu thuốc, giúp thêm một tay cho những phu xe chở nặng đầy cành, đẩy hộ chiếc xe chết máy, mua ủng hộ tờ báo cho cô hội viên cứu-thế-quân đem bán, hoặc bó hoa của bà cụ cao tuổi nọ, tuy tôi biết rõ rằng bà đã hốt trộm nó trong nghĩa trang Montparnasse[1]. Tôi cũng thích, trời, điều này khó thốt ra cửa miệng hơn, tôi thích làm việc bố thí. Một ông bạn thiết của tôi theo Thiên-chúa-giáo thường nhìn nhận rằng cái cảm giác đầu tiên xâm chiếm tâm hồn chúng ta mỗi khi trông thấy kẻ hành khất men lần tới nhà mình là một cảm giác bực dọc khó chịu. Còn đối với riêng tôi thì lại càng nguy hại hơn nữa: tôi mừng khấp khởi. Mà thôi, chúng ta cũng nên lướt qua đi.
Hãy bàn tới phong thái lịch sự tôi hằng có. Nó quả nổi tiếng và, dầu vậy, cũng là điều có thật. Thật vậy, thái độ nhã nhặn lịch lãm mang đến cho tôi nhiều niềm vui lớn. Những sáng nào được diễm phước nhường chỗ ngồi trên xe buýt hay métro, cho kẻ rõ rệt xứng đáng được nhường, hoặc lượm lên vật gì do một bà cụ tuổi tác lỡ tay đánh rớt rồi trao trả cho bà với nụ cười nhếch mép quen thuộc, hoặc chỉ đơn giản nhường cuốc tắc-xi cho người cần gấp hơn mình, thì trọn cả buổi đó được các nghĩa cử này soi sáng rực rỡ khôn cùng. Tôi cũng lấy làm vui sướng nữa, phải nói thật như vậy, vào những hôm các hãng công xa đình công, được dịp, ở mấy trạm xe buýt, cho đèo nhờ trong xe tư năm ba kẻ đồng thị bạc phước, thiếu phương tiện ngược gót về nhà. Sau rốt, đổi chỗ trong rạp hát để cho một cặp uyên ương được sum họp bên nhau, vác rương hành lý hộ một thiếu nữ cùng chuyến xe đặt trên kệ lưới quá cao đối với tầm vóc cô, đều là những tác phong rực rỡ mà tôi thực hành thường hơn kẻ khác, bởi chính lẽ tôi hằng tâm ngóng chờ cơ hội hơn và thâu hoạch từ các tác phong này nhiều mối lạc thú sảng khoái hơn.
Tôi cũng còn nổi tiếng là hào hiệp và thật tình là vậy. Tôi hết sức rộng rãi trong việc lạc quyên ủng hộ, công cộng hay âm thầm. Chẳng những đã không lấy làm buồn tiếc phải xa lìa một vật sở hữu hay tiền tài, mà tôi còn tìm thấy ở nghĩa cử ấy nhiều mối lạc thú hằng cửu, mối nhỏ nhứt không phải là thứ trạng thái buồn da diết nhiều khi phát sanh ra trong tâm hồn từ chỗ suy ngẫm đến tánh chất vô bổ của các cống hiến đó và đến sự vong ân bội nghĩa quyết chắc sẽ tiếp liền sau chúng. Chánh xác trong việc tiền của, là một điều hằng khiến tôi khổ sở khôn cùng và tôi chỉ ưng theo một cách miễn cưỡng. Tôi cần được chủ động trong sự rộng rãi của mình.
Đây là những nét đơn sơ, nhưng sẽ giúp ngài hiểu được thực chất những khoái lạc mà tôi không ngừng bắt gặp trong đời sống, và nhứt là trong nghề nghiệp. Chẳng hạn, được chận đón, trong hành lang Tòa án, bởi cô vợ của một bị can mà mình vừa bào chữa chỉ độc vì công lý hay vì trắc ẩn, tôi muốn nói: mà mình vừa biện hộ không công; nghe thiếu phụ này khẽ thốt vào tai rằng tịnh không, vâng, tịnh không một vật gì có thể báo đáp hết được ân huệ họ nhận ở mình; bấy giờ đáp rằng là có gì đâu, bất kỳ ai cũng có thể làm được như vậy, lại còn biếu thêm một số tiền giúp họ vượt qua cơn ngặt nghèo sắp tới, và để chận đứt mọi tình cảm chứa chan, ngõ hầu giữ cho chúng một âm vang thích đáng, hôn phớt lên lưng bàn tay một thiếu phụ đáng thương[2], rồi cáo từ; ấy là, ngài hãy tin lời tôi, ấy là với tới chỗ cao hơn kẻ tham vọng tầm thường và vươn lên đến cái tuyệt đỉnh ở đó đức hạnh chỉ còn được nuôi dưỡng bởi chính mình nữa mà thôi.
Chúng ta hãy ngừng lại trên các đầu ngọn này. Ngài bây giờ ắt hiểu tôi muốn nói gì khi bảo rằng mình nhắm một mục đích cao xa hơn. Tôi nói tới chính các tuyệt đỉnh đó, các tuyệt đỉnh duy nhứt khả dĩ cho phép tôi sống thư thái. Vâng, thuở nay tôi bao giờ cũng chỉ cảm thấy thoải mái trong những vị trí vợi cao. Cho đến tận những tiểu tiết chi li trong đời sống tôi cũng cần được đứng trên. Tôi thích đi xe buýt hơn xe métro, ngồi xe độc mã hơn ngồi xe tắc-xi[3], đứng trên sân thượng hơn đứng dưới từng lầu thứ nhứt. Là khách hâm mộ thứ máy bay thể thao ngoi đầu trong khoảng không lưng chừng trời, tôi cũng là kẻ, trên tàu bè, không ngừng rảo chân cạnh mui giữa. Đi núi, tôi tránh những thung lũng hẳm sâu mà chỉ thích leo đèo hay trèo lên cao nguyên; cùng lắm, tôi mới là người đi trên vùng bình nguyên phẳng lì. Ví có buộc phải chọn một nghề tay chân, tiện máy hay lợp nhà, ngài chớ nên thắc mắc, nhứt định là tôi chọn nghề làm quen với mái lầu và làm quen với chóng mặt. Khoang ghe, hầm tàu, đường ngầm, hang động, vực thẳm là những nơi tôi kinh tởm vô cùng. Tôi còn đặc biệt thù ghét thậm tệ những nhà đỗng huyệt dám vênh váo chiếm trọn trang nhứt trên nhựt báo, thành tích của họ khiến tôi ơn ớn thế nào. Ráng sức chui lọt tới mức tám trăm thước dưới mặt biển, dầu có kẹt đầu giữa hẽm đá hẹp (mà các kẻ vô thức đó gọi là xi phong!) cũng cam, xuất hiện dưới mắt tôi như một tác phong có tánh cách suy đồi, lụn bại. Có cái gì tội lỗi nằm ở trong ruột.
Một bờ dốc thiên nhiên, de ló ra năm sáu trăm thước trên mặt biển chưa mất dạng hẳn và tràn trề ánh nắng, trái lại, là nơi tôi thở được khoan khoái hơn hết, nhứt là khi tôi sừng sững một mình, vời vợi trên bầy người đông như kiến cỏ. Tôi giải thích được dễ dàng vì sao các lời thuyết pháp, các câu tuyên giáo quyết định, các phép mầu huyền diệu đều được tác hành trên những nơi cao ráo. Cứ theo thiển kiến thì người ta không trầm tư mặc tưởng dưới hầm tối hay trong phòng giam (trừ phi khi xây trên tháp cao, tầm mắt nhìn ra cảnh mênh mông), mà còn nằm mèo meo mốc cả ra. Và tôi cũng hiểu được ông kia, đã thọ giới, nhưng lại cởi bỏ áo tu mà hoàn tục, chỉ vì tĩnh phòng không mở rộng ra cảnh trời bao la như đã ngỡ trước, mà bị chấn ngang bởi một bức tường. Ngài cứ tin chắc rằng về phần tôi, tôi không nằm mèo để cho mình meo mốc ra đâu. Trong tâm hồn mình cũng như giữa kẻ khác, tôi không giây phút nào ngừng trèo lên cao, nhúm cháy ngọn lửa nhiệt tình và bấy giờ một lời chào mừng reo vui dâng tràn tới tôi. Ít nữa là tôi tìm thấy lạc thú ở cuộc đời và ở tánh chất toàn hảo của mình như vậy.
Nghề nghiệp tôi thích ứng tốt đẹp với thiên chức hướng thượng đó. Nó tẩy hết mọi niềm chua chát cảm thấy đối với đồng loại mình, kẻ mà tôi luôn giúp đỡ tuy không hề nhờ vả. Nó đặt tôi đứng trên quan tòa là người tới phiên bị tôi xét xử; đứng trên bị can mà tôi bắt ép phải chịu ơn mình. Ngài hãy cân nhắc kỹ lưỡng điều tôi vừa thốt ra đó: tôi sống hoàn toàn vô tội vạ. Tôi nằm bên ngoài mọi vòng xét xử, tôi không trình diện trước mắt pháp đình, mà ở đâu đó trên trần, hệt như các vị thần thỉnh thoảng được quay máy thòng xuống sân khấu để biến thái và cấp ý nghĩa cho động tác[4]. Xét cho cùng, thì sống trên cao vẫn còn là phương sách độc nhứt để được đa số người đời trông thấy và hoan hô chào mừng.
Vả chăng, trong số các thủ phạm tốt của tôi cũng có vài kẻ tuân theo cùng một cảm tánh đó mà đang tay sát hại. Họ hay đọc báo và ở trong hoàn cảnh buồn thương của mình, họ cảm thấy như cũng được đền bù chút ít[5]. Hệt như đa số nhân quần, họ không còn chịu phải sống hẩm hiu âm thầm được nữa và sự áy náy bồn chồn này hẳn đã phần nào xui khiến họ làm nhiều điều bạo hành tai hại. Để được người ta biết đến mình, tóm lại chỉ cần thích khách chết tươi mụ gác cửa. Tiếc thay, ấy chỉ là một thứ tăm tiếng ngắn ngủi, vì lẽ xiết bao mụ gác cửa đáng được ăn dao. Án mạng không giây phút nào ngưng chiếm giữ mặt tiền trên trường đời, nhưng kẻ gây ra án mạng chỉ múa may ở đó trong chốc lát mà thôi, để rồi bị thay thế ngay liền. Các lần đắc chí ngắn ngủi ấy, rốt cuộc phải trả bằng một giá quá mắc. Ngược lại, bào chữa cho đám người bạc phước vốn chẳng náo nức tìm kiếm thứ tăm tiếng nọ mới là được nhìn nhận thật sự, cùng một lúc và cùng một nơi, nhưng bằng những phương tiện ít tổn phí hơn. Sự thể này còn khích lệ tôi tận tâm tận lực giúp họ đền tội càng ít càng hay: họ đền bao nhiêu thì cũng tựa như đền thế cho tôi vậy. Phần khác, lòng công phẫn, tài hùng biện và lời lẽ cảm kích mà tôi dùng đến, ngược lại, xóa đi hết mọi nợ nần tôi chịuở họ. Quan tòa thì trừng phạt, bị cáo thì đền tội, còn tôi, không phải bận bịu tới bất luận bổn phận nào, thì thoát khỏi mọi lời xét xử cùng mọi trò hình phạt, tôi hoàn toàn được tự do ngự trị trong một bầu ánh sáng cực lạc.
Thật vậy, ngài xem, không phải là Cực lạc sao: trực diện với đời sống? Đời sống của tôi nó như vậy. Tôi không hề buộc phải học tập để sống bao giờ. Về điểm này, vừa lọt lòng mẹ, tôi đà biết trọn hết mọi khía cạnh. Có những kẻ mà vấn đề phải giải quyết là tìm cách lẩn tránh loài người, hay ít nữa, dàn xếp sao cho thuận. Riêng tôi, sự dàn xếp này đã sẵn. Biết thân mật khi cần thiết, biết nín bặt nhằm lúc, dám ăn nói hồ đồ cũng như biết lập nghiêm, quả tình là tôi dự thẳng vào cuộc đời. Vậy nên lòng người theo tôi không ít, và thành tích đạt được giữa cuộc thế này biết cơ man nào mà kể. Dung mạo không đến nỗi tồi tệ, tôi lại tỏ ra vừa là một tay nhảy sành sỏi không biết mệt vừa là một học giả uyên thâm kín đáo, tôi còn làm được một việc không mấy dễ dàng là cùng một lúc yêu cả phái nữ lẫn công lý, tôi thích chơi thể thao và tạo tác nghệ thuật, tóm lại ngài cho phép tôi ngừng kể tiếp, hầu khỏi hồ nghi là tôi quá ư dễ dãi với mình. Song ngài cứ hãy hình tượng một người đương ở vào tuổi cường tráng, sức khỏe dồi dào, thân xác và thần trí nhanh nhẹn tinh xảo như nhau, không nghèo hèn cũng không giàu sang, đêm ngủ thẳng giấc và cực kỳ hài lòng về chính mình mà không bộc lộ trạng thái này ở đâu khác hơn là qua lối giao tế hoan hỉ và lịch thiệp. Và ngài ắt sẽ không lấy làm chướng tai nghe tôi, với một thái độ khiêm tốn, nói tới một đời sống thành đạt.
Vâng, rất hiếm kẻ nào có cung cách hồn nhiên hơn tôi. Sự hài hòa giữa tôi và cuộc đời quả là hoàn hảo; tôi bám sát toàn diện vào cuộc đời, từ trong ra ngoài, mà không phải từ chối một khía cạnh chua chát hay cao cả nào, hoặc một tủi nhục nào. Đặc biệt về xác thịt, vật chất, nói vắn tắt là về thể chất, vốn là điều hằng khiến xiết bao nhiêu người lấy làm hoang mang chán ngán, xưa nay đều mang đến cho tôi nhiều niềm vui ngang nhau mà không hề bắt tôi làm tôi đòi. Tôi sanh ra là để có một thân xác. Nó giải thích cái tánh khí điều hòa và tinh thần tự chủ bẩm sanh nọ mà nhiều kẻ cảm thấy ở tôi, và đôi khi họ thú với tôi rằng nó còn giúp cho họ sống nữa. Tóm lại, người ta thích giao hữu thân mật với tôi. Chẳng hạn, nhiều khi họ cứ tưởng là đã có gặp tôi đâu đó một lần rồi. Cuộc đời với những sanh vật và sản vật của nó thuở nay thảy đều sẵn sàng dâng hiến trước mặt tôi; và tôi luôn luôn tiếp nhận các lần trọng vọng này với một niềm kiêu hãnh hảo hớn. Thật ra, cứ mãi làm kẻ rất mực viên mãn và hồn nhiên như vậy, tôi cũng nhận thấy mình đã đôi lần biến thành một kẻ siêu nhân đứng cao trên hết mọi người.
Tôi vốn sanh trưởng trong một gia đình phúc hậu, nhưng không lấy gì làm hiển hách (cha tôi làm sĩ quan), và dầu vậy, cũng thường có những mai sáng, tôi xin hèn mọn thú nhận cùng ngài, có những mai sáng tôi chợt cảm thấy mình là con nòi cháu giống, là chồi lửa đỏ rực[6]. Xin ngài lưu ý cho rằng điều tôi đang nói đến đây không phải là cái tâm trạng cầm bằng mình trí óc thông minh hơn hết mọi người. Vả chăng, niềm tin chắc này chẳng quan trọng gì, bởi chưng biết bao nhiêu kẻ ngu đần cũng chia sẻ nó với chúng ta. Không đâu, ngài ạ, cứ mãi được cung phụng tràn đầy, tôi cảm thấy mình (thú nhận nó ra đây, tôi e e ngài ngại thế nào) tôi cảm thấy mình là kẻ được tuyển trạch. Được đặc biệt tuyển trạch giữa toàn thể nhân loại để nhận lãnh công trình thành đạt vừa lâu dài vừa vững bền đó. Tóm lại, ấy là một phần hiệu quả tạo nên bởi thái độ khiêm nhường của tôi. Tôi thuở nay hằng luôn từ chối không chịu nhận lấy hết mọi công trạng làm nên sự thành đạt này, và tôi không thể tin rằng bao nhiêu phẩm chất vừa dị biệt vừa cao độ ngần ấy, tập hợp nơi một người duy nhứt, lại là kết quả của mỗi một sự tình cờ. Vì vậy, sống ngụp trong vui sướng, tôi cảm thấy mình như được một chiếu chỉ tối cao nào cho phép hưởng thụ niềm hạnh phúc này. Khi ngài đã biết rằng tôi không khuynh theo một giáo phái nào, hẳn ngài sẽ còn nhận thấy rõ ràng hơn nữa tánh cách bất thường của niềm tin tưởng ấy. Thông thường hay không, nó cũng đã nâng tôi lên trên cuộc sống hằng ngày suốt một thời gian dài, và tôi đã bay liệng trên cao, thật sự như vậy, ròng rã bao nhiêu năm trời, những năm trời ngày nay, thú thật, tôi vẫn còn tiếc rẻ trong lòng. Tôi đã bay liệng trên cao, cho tới một tối nọ, một tối nọ... Nhưng thôi, đây là một câu chuyện khác, cần quên đi. Vả chăng, chắc tôi nói cũng có phần quá đáng. Tình thật, thì bây giờ tôi được thư thái về mọi mặt, nhưng đồng thời lại không lúc nào mãn nguyện hoàn hoàn. Mỗi niềm vui là động cơ xui khiến tôi ước muốn một niềm vui khác. Tôi bước từ ngày hội này sang ngày hội kia. Nhiều khi, tôi đi nhảy suốt trọn mấy đêm ròng, mỗi phút một si mê con người và cuộc sống hơn thêm. Đôi lần, về khuya trong những đêm đó, khi mà điệu nhảy, rượu nhẹ, sự phóng túng hình hài của riêng tôi và sự buông thả dữ dội của mỗi người, dìu tôi vào trong một trạng thái mê hồn vừa chán chê vừa thuê thỏa, chừng như ở cực điểm của sự mệt mỏi ê chề, và trong một chớp giây, tôi chợt thấu triệt được tánh chất bí mật của vạn vật và cuộc thế. Nhưng trạng thái mỏi mệt ê chề này rồi cũng tan biến hôm sau, và cùng với nó, sự bí mật nọ: tôi quăng mình xông tới nữa. Tôi cắm đầu chạy tới mãi như vậy, lúc nào cũng được no đầy, nhưng chẳng bao giờ được phỉ chí, tôi cứ chạy như vậy, không biết dừng chân nghỉ chỗ nào, cho tới một hôm, đúng hơn, cho tới một tối nọ, sóng nhạc bỗng dưng im bặt, ánh đèn bỗng dưng tắt ngấm. Ngày hội mà tôi đã được dự phần vui sướng... Nhưng ngài hãy cho phép tôi gọi ông bạn linh trưởng của chúng ta kia mang rượu đến thêm. Ngài nên gật đầu chào y, tỏ dấu hàm ơn và, nhứt là uống cùng tôi, tôi cần đến cảm tình của ngài.
Tôi thoáng thấy ngài lộ dáng ngạc nhiên nghe tôi nói làm vậy. Ngài không hề lúc nào bỗng dưng đột ngột cảm thấy cần đến cảm tình, cần được giúp đỡ, cần có hạn hữu ư? Có chớ, phải không ngài. Phần tôi thì tôi đã tập quen thói mãn nguyện với độc có cảm tình. Cảm tình vốn dễ gặp hơn, vả chăng nó cũng không bó buộc điều gì. Câu: “Xin ngài tin ở cảm tình của tôi đối với ngài”, trong thâm tâm là lời nói khai mào cho câu tiếp liền sau: “Thôi, bây giờ chúng ta hãy lo việc khác đi...”. Nó thuộc loại tình cảm thủ tướng chánh phủ: thứ cảm tình rẻ mạt, dễ bộc lộ sau những tai biến lớn. Tình bạn, thì đã ít dễ dàng hơn. Bao nhiêu công khó lâu dài mới đạt được nó, nhưng đến khi nắm trong tay rồi, thì không còn cách nào gạt bỏ nó được nữa, phải đối phó với nó. Nhứt là ngài chớ vội tin rằng cứ mỗi tối, bè bạn sẽ gọi điện thoại cho ngài, như đáng lý họ phải làm vậy, để hỏi ngài xem có phải đích thị tối nay ngài rắp tâm tự tử hay không, hoặc thường tình hơn, ngài có cần họ đến chuyện vãn với ngài chăng, ngài có muốn dạo phố với họ chăng. Không đâu, ngài ạ, họ có gọi điện thoại, thì ngài cứ tin chắc rằng là sẽ đúng vào bữa ngài đang được quây quần và cuộc đời ngài tươi đẹp cực cùng. Chuyện quyên sanh, thì thật ra họ còn thúc giục ngài nữa, bằng vào điều họ cho rằng ngài phải tự tay mình đền báo cho mình. Cầu xin thánh thần phù hộ chúng ta khỏi bị bạn bè đặt vào chỗ quá cao, ngài ạ! Cònvề những người giữ chức vụ yêu thương chúng ta, tôi muốn nói tới bà con thân quyến, tới họ hàng thông gia (ôi, từ ngữ lạ lùng!)[7] thì lại là một điệu khác. Họ, thì họ dùng lời lẽ chánh xác, nhưng lại là lời lẽ đánh trúng vào giữa tim ngài, họ gọi điện thoại hệt như người ta bắn súng. Vả họ nhắm trúng đích. Bazaine, Bazaine![8] là họ đó, ngài ạ!
Ngài hỏi sao? Tối nào ư? Rồi tôi sẽ nói tới, xin ngài hãy bình tâm nán lòng một chút. Vả chăng, tôi cũng phần nào đang ở trong đề tài đó, với chuyện bạn bè và thân hữu nói trên. Ngài xem, tôi có nghe thuật chuyện một ông nọ có người bạn chí thân bị giam cầm, tối nào ông cũng nằm đất trong buồng tự nguyện không hưởng những thứ tiện nghi đã bị tước đi ở kẻ mà lòng ông quí mến. Còn chúng ta, ngài cứ nghĩ xem, ai là người sẽ nằm đất vì chúng ta? Tôi có gan nằm đất như vậy không ư? Có chớ, tôi mong, tôi quyết sẽ có gan nằm đất như vậy. Vâng, chúng ta rồi cũng có ngày thảy đều có gan nằm đất như vậy và bấy giờ đều sẽ được cứu vớt. Nhưng nào phải dễ đâu, bởi chưng tình bạn là một thứ tình tự hay lơ đãng, hoặc ít nhứt, cũng bất lực. Không phải hễ ước muốn điều gì là nó nhứt định được điều ấy. Ngẫm cho kỹ, thì chắc là tại lòng nó không ước muốn tới mức phải có chăng? Chắc là tại chúng ta không yêu thích sự sống tới mức phải có chăng? Ngài có nhận thấy rằng chỉ độc cái chết mới lay tỉnh tình cảm của chúng ta? Chúng ta mến thương ngần nào những người bạn vừa vĩnh biệt cõi đời, đúng vậy không ngài? Chúng ta thán phục ngần nào những bậc thầy không còn thốt nên lời được nữa, miệng đã đầy cát bụi! Chúng ta bấy giờ tỏ lòng tưởng nhớ một cách quả thật hồn nhiên, lòng tưởng nhớ mà chắc họ đã chờ mong ở chúng ta suốt trọn lúc sanh tiền. Nhưng ngài có hiểu tại sao chúng ta bao giờ cũng tỏ ra công bằng và độ lượng hơn đối với kẻ đà khuất bóng? Giản dị lắm, ngài ạ! Với họ, tịnh không một điều gì bó buộc cả. Họ không đòi hỏi việc gì ở chúng ta, chúng ta hoàn toàn tự do muốn thi hành lúc nào cũng được, xen kẽ lòng tưởng nhớ nọ giữa một buổi dạ hội và một cô nhân tình xinh tươi chẳng hạn, nghĩa là, tóm lại, vào những giờ khắc rỗi rãi vô dụng. Ví thử họ có bó buộc chúng ta điều gì chăng, thì ấy là tưởng nhớ họ lâu dài, mà trí nhớ của chúng ta thì lại bẩm sanh không dẻo dai chút nào. Không, chúng ta cảm mến là cảm mến người bạn mới chết còn tươi rói kia, người bạn mới chết một cách khốn khổ kia, cảm mến mỗi xúc động của chúng ta, nghĩa là chính chúng ta vậy!
Trước kia tôi có quen biết một ông nọ, hễ tiện dịp là tôi tránh mặt. Tôi vốn không thích và chán bàn luận với ông, hơn nữa, ông lại thuộc hạng người hay tỏ ra đạo đức. Nhưng đến hồi đương cơn hấp hối, gần kề miệng lỗ, ông đã bắt gặp lại tôi, thật vậy ngài ạ. Tôi không bỏ qua một buổi nào mà không tới viếng thăm ông. Rồi ông tắt nghỉ, hài lòng hả dạ, siết chặt tay tôi. Lại có một thiếu phụ hằng theo đuổi tôi, nhưng chẳng được như ý, nàng vụt biết điều mà chết sớm, lúc còn trẻ măng. Bây giờ nàng liền chiếm một khoảng to rộng ngần nào trong trái tim tôi! Và cộng thêm vào đó, còn là một vụ quyên sanh vì tình!! Ôi chao, rối rít là rối rít, nhưng thú vị làm sao! Điện thoại quay tít, sướt mướt trái tim, và lời lẽ vắn tắt cố tình, nhưng chan chứa biết bao tình ý ngấm ngầm, đau buồn, chế ngự, và luôn cả, vâng, một thoáng phong vị tự cáo!
Con người vốn sanh ra như vậy đó, ngài ạ, y mang hai mặt: y không thể thương yêu mà không thương yêu chính mình. Ngài cứ hãy để tâm quan sát chòm xóm mà xem, những lúc may mắn có ai vụt tắt thở trong khu nhà. Cho tới lúc ấy, họ thảy đều yên giấc trong cuộc sống nhỏ nhen vỏ ốc, rồi bỗng, nói thí dụ, lão gác cửa tự dưng lăn đùng ra chết. Tức khắc, họ hè nhau tỉnh dậy, rối rít lăng xăng, dò hỏi tin tức, tiếc thương động lòng. Một xác chết còn nóng hổi, thế là bổn tuồng khởi diễn. Họ cần đến thảm kịch để sống, ngài ạ, nó nâng họ lên khỏi mức tầm thường, nó là món khai vị cho họ. Vả chăng, đâu phải ngẫu nhiên mà tôi nói tới hạng gác cửa. Số là khu nhà tôi cũng có mướn một tên, xấu dáng thật tình, hung ác hiện thân, một thứ quái vật vô nghĩa chất chứa tị hiềm, mà ngay cả những tu sĩ dòng thánh Francois d’Assise[9] trông thấy chắc cũng phải đến là thối chí. Tôi với hắn không còn giao hảo chuyện trò với nhau nữa, nhưng, bằng ở mỗi một việc hiện hữu sờ sờ trước mặt, hắn cũng làm sứt mẻ cuộc đời thích thú hằng ngày của tôi. Thế rồi hắn bỗng vụt lăn đùng ra chết, và tôi đã lê chân đưa đám. Xin ngài nói cho tôi biết tại sao?
Hai ngày trước bữa tang lễ cử hành, kể ra, cũng có nhiều chuyện đáng suy ngẫm. Mụ vợ lão gác bấy giờ đang đau yếu, nằm trong căn nhà độc nhứt và cạnh bên giường mụ, chiếc hòm được đặt dài trên mấy bộ ngựa. Thư từ thì mạnh ai nấy lấy phần mình[10]. Mình hé mở cánh cửa, thốt lẹ câu: “Chào bà” lắng nghe mụ ta khoát tay trỏ kẻ quá cố mà ca tụng hắn, rồi mình vùa vội mớ thư từ mang đi. Chẳng có gì là thú vị cả, phải không ngài? Ấy vậy mà, ngài ạ, trọn cả khu nhà đã lần lượt nối nhau chun vào căn buồng hinh hỉnh mùi phêno![11] Ngài đừng tưởng họ sai bọn gia nhân làm công việc đó đâu, không đâu, ngài ạ, họ thân hành leo xuống để chính mình được hưởng mối lợi hiếm có này. Vả chăng, bọn gia nhân cũng vậy, nhưng lén lút vụng trộm. Bữa mai táng, người ta chợt nhận thấy chiếc hòm dài quá, không thể khiêng lọt qua khung cửa được. Mụ gác nằm trên giường nói với ra với một giọng ngạc nhiên nửa thích thú nửa khổ sở: “Ông nó ơi, ông nó ơi - ổng hồi đó cao lớn lắm mà!”. Viên chủ sự tang lễ đáp: “Bà chớ ngại, để rồi tụi tui dựng đứng ổng lên khiêng ra, hổng khó đâu”. Họ dựng đứng hắn lên khiêng ra, rồi hạ xuống, và chỉ mỗi mình tôi (cùng với một tên chạy việc cho các hộp đêm, tôi được biết là y thường hay vui rượu pernod mỗi tối với kẻ vừa qui tiên) đưa linh cữu hắn cho tới nghĩa trang và ném hoa lên cỗ quan tài, tôi rất đỗi lấy làm ngạc nhiên trông thấy nó sang trọng ngần nào! Sau đó, tôi ghé thăm mụ gác, để tiếp nhận những lời cảm tạ làm tuồng của mụ[12]. Ngài cứ thử vạch cho tôi biết lý do của mọi việc ấy xem? Có lý do nào đâu, ngài, món khai vị đó mà[13].
Tôi cũng đã mai táng một viên công tác già của Đoàn luật sư. Lão giữ chức tham tá, thường bị rẻ rúng, nhưng hằng luôn được tôi bắt tay chào hỏi. Nói nào ngay, làm việc ở đâu, tôi gặp ai cũng thân mật bắt tay chào hỏi, và thường là nhiều lượt chớ không chỉ một lần. Thái đồ vồn vã giản dị này, không phải tốn hao bao nhiêu, cũng mang đến cho tôi nhiều cảm tình từ mọi người, cần thiết cho tôi vươn cánh nẩy nở. Bữa mai táng viên tham tá, vắng ông chủ tịch Đoàn của chúng tôi. Tôi thì có mặt cố nhiên rồi, lại nữa, ngay trước một chuyến đi xa một bữa, sự tình này đã được nêu lên. Là vì tôi thấu rõ rằng sự có mặt của tôi sẽ được chú ý và bình luận một cách thuận lợi cho mình. Vì vậy ngài ắt hiểu tại sao cả đến lớp tuyết rơi ngập đầy suốt ngày hôm ây, cũng không khiến tôi chùn chân lánh mặt ở nhà.
Thế nào ư? Tôi sắp nói tới nó đây, xin ngài chớ nóng lòng, xét cho cùng, thì tôi vẫn còn đang nói tới nó đây. Nhưng ngài hãy cho phép tôi được lưu ý ngài trước rằng mụ gác tuy đã hoang phí bao nhiêu tiền của mua thánh giá, ván sồi và mốc bạc[14] để tọa hưởng niềm xúc động của mình được sâu sắc hơn, ấy vậy mà chỉ tháng sau là đã cặp kè ngay với một tên rởm đời có giọng hát hay. Hắn đánh đập mụ luôn tay, người ta nghe vọng ra tiếng la bài hải khủng khiếp, rồi liền ngay sau đó, hắn mở toạc cửa sổ mà rống lên bản tình ca thích ý của mình: “Cô ơi, cô đẹp quá chừng!”[15]. “Người gì mà đến là dị hợm!”, chòm xóm bảo nhau làm vậy. Nhưng dị hợm ở chỗ nào đâu, thưa ngài? Ờ thì bề ngoài hắn xem chừng bậy thật, mụ gác cũng vậy. Nhưng có cái gì chứng tỏ rằng họ chẳng yêu nhau đâu. Mà cũng chẳng có cái gì chứng tỏ rằng mụ chẳng yêu ông chồng mình trước kia. Vả chăng, đến khi tên rởm đời nhà ta, giọng hát và cánh tay đã mệt mỏi, bỏ mụ biến mất, thì mụ liền lên tiếng ca tụng tiếp kẻ đã quá cố, con người thủy chung mà lại! Ngẫm cho cùng, thì tôi biết có bao nhiêu kẻ khác bề ngoài xem chừng tốt lành lắm, nhưng sự thật chẳng chí tình và chân thành hơn mụ ta chút nào. Tôi có quen một ông nọ, đã hiến hai chục năm đời mình cho một bà vợ tánh nết ơ hờ, đã hy sinh mọi sự, bạn hữu, cơm ăn việc làm, dĩ chí cả cuộc đời đoạn chánh của mình, rồi bỗng một tối nhận thấy rằng mình chẳng hề có yêu thương bà vợ bao giờ! Là vì ông rỗi việc nên hóa ra buồn, có vậy thôi, ông buồn cũng như đa số chúng ta. Thành thử ông đã ngụy tạo cho mình cả một cuộc đời ứ đầy rắc rối và thảm cảnh. Phải có chuyện gì xảy ra mới được, đa số các thái độ dấn thân của con người đều có thể giải thích như vậy. Phải có chuyện gì xảy ra mới được, cho dầu là cảnh tôi đòi miễn cưỡng, cho dầu là chiến tranh, máu rơi người chết. Vạn tuế, vạn vạn tuế tang ma vậy!
Riêng tôi, ít nhứt tôi cũng không thể viện dẫn cớ đó mà miễn xá cho mình. Tôi đâu có buồn, vì chưng tôi đường đường ngự trị trên cả mọi người. Cái đêm tôi nói tới với ngài đây, tôi còn có thể bảo rằng đêm đó tôi chẳng nghe thấy buồn mảy may nào. Thật tình là không, tôi không mong ước có chuyện gì xảy ra hết. Ấy vậy mà vẫn cứ... Bữa ấy, ngài ạ, vào một buổi chiều thu đẹp, còn ấm trên thành phố, nhưng đã ẩm trên dòng Seine. Đêm đang lấn tới, vòm trời còn sáng về tây, nhưng tối đen dần, đèn chiếu yếu ớt. Tôi rảo dài theo tả ngạn sông Seine, hướng bước về phía cầu Nghệ Thuật[16]. Dòng sông óng ánh dưới kia giữa hàng thùng sách bán lạc-xon đã sập nắp[17]. Hai bên bờ, chỉ còn lác đác đôi ba bóng người: Paris đã tới giờ ngồi vào bàn ăn. Tôi giẫm chân lên mớ lá vàng bám bụi gợi nhớ tới vụ hè vừa qua. Vòm trời lần lượt bật sao chi chít, thoáng nhìn thấy mỗi khi qua khỏi cột đèn này đến cột đèn khác. Tôi thưởng ngoạn vẻ tĩnh mịch trở về, bầu khí mát dịu vào đêm và thành phố Paris hoang vắng. Lòng tôi mãn nguyện. Tôi đã được hưởng một ngày tốt đẹp: một người mù[18], cái án được giảm mà tôi mong đợi, nắm tay nhiệt tình của thân chủ, năm ba nghĩa cử và, buổi trưa, một cuộc nói chuyện ứng khẩu rất mực hào hùng, trước số bạn hữu, về lòng dạ chai cứng của giai cấp lãnh đạo và tâm địa giả trá của giới thượng lưu nước nhà.
Tôi bước lên cầu Nghệ thuật giờ này vắng ngắt, và nhìn xuống dòng sông đoán chừng trong bóng đêm đã dày đặc. Đâu mặt với mũi Vert-Galant[19], tôi ngó xuống hòn đảo[20]. Tôi nghe dâng lên một cảm giác mênh mông, thấy mình hùng mạnh vô cùng và, thế nào nhỉ, thấy mình hoàn hảo đến mực, khiến lòng tôi phơi phới hân hoan. Tôi thẳng vội người lên và sắp mồi điếu thuốc, điếu thuốc mãn nguyện, thì chợt ngay lúc ấy, một tràng cười ré bật sau lưng. Bất chợt, sửng sốt, tôi trở mình đột ngột: không một bóng người. Tôi liền bước tới cạnh sát lan can: không một ghe tải[21], không một mảnh xuồng. Tôi bèn quay lại hướng mặt về hòn đảo, và lần nữa, tôi lại nghe thấy nó sau lưng, cách xa hơn một chút, tựa hồ xuôi theo dòng nước cuốn đi. Tôi đứng khựng đó, bất động. Chuỗi cười lịm dần, nhưng tôi vẫn còn nghe thấy rõ giọng, tuy không biết nó ngoi lên đích xác chỗ nào tự dòng nước. Cùng lúc ấy, tôi nghe mình đánh trống ngực dồn hồi. Cũng xin lưu ý ngài rằng tiếng cười nọ không có gì huyền bí cả; mà là một tiếng cười thật thà, hồn nhiên, gần như thân thiện, hòa giải mọi sự. Vả chăng, chẳng mấy lúc sau, tôi cũng không còn nghe thấy nó nữa. Tôi bước trở ra bờ sông, lần theo đường Dauphine, mua gói thuốc mà tôi chẳng cần dùng. Tôi lạng người, thở khó khăn. Đêm đó, tôi quay điện thoại gọi một ông bạn, nhưng ông vắng nhà. Tôi đang phân vân chưa muốn xuống đường, thì bỗng nghe có tiếng cười dưới cửa sổ, tôi vội mở. Trên vỉa hè dưới kia, một bọn trẻ đang chia tay nhau vui vẻ rộn ràng. Tôi vội khép cửa sổ lại, nhún vai: còn trọn một tập hồ sơ phải nghiên cứu cho xong. Tôi bước sang phòng tắm uống một ly nước lạnh. Hình bóng phản chiếu trong tấm kiếng mỉm môi cười, nhưng tôi tưởng chừng như cái cười mỉm của mình mang hai mặt...
Thế nào ư? Ngài hãy thể tình lượng thứ, tâm trí tôi bị bận rộn tới việc khác. Hẹn ngài tối mai, ngài nhé. Vâng, tối mai, đúng thế. Không, không, tôi không thể nán lại hầu ngài. Vả chăng, tôi có hẹn với anh chàng cục mịch[22] ngài trông thấy đằng kia, y cần đến tôi để hỏi han luật lệ. Con người lương thiện, chắc mẩm như vậy, mà cảnh sát bắt nạt một cách xấu xa hèn hạ cho vui vậy thôi. Ngài nghĩ y có bộ dáng sát nhân ư? Phải đó, ngài, bộ dáng sát nhân. Mà y cũng còn hành nghề leo rào cạy vách nữa, ngài ạ, và ắt ngài sẽ lấy làm kinh ngạc khôn lường được biết rằng con người ăn lông ở lỗ ấy lại chuyên ngành buôn gian họa phẩm. Ở Hòa-lan, ai mà chẳng chuyên về hội họa và hoa tulipes[23]. Anh chàng này, coi bề từ tốn thế kia, ấy vậy mà chính là kẻ đã chủ mưu vụ trộm tranh từng làm chấn động dư luận hơn cả mọi vụ khác. Vụ nào ư? Rồi tôi sẽ tiết lộ hầu ngài, khi nào tiện dịp. Ngài chớ nên lấy làm lạ sao tôi biết nhiều chuyện đến thế. Tuy làm quan-tòa-sám-hối, tôi có một sở trường đặc biệt ở đây: tôi hành nghề cố vấn luật pháp cho đám người thật thà kia đó. Tôi đã nghiên cứu luật lệ bản xứ và chiêu được một số thân chủ đặc biệt trong khu xóm này, ở đây không ai buộc mình trình diện cấp bằng. Nào phải dễ đâu, nhưng phong thái tôi gây được tín nhiệm, ngài chẳng nghĩ như vậy sao? Tôi có nụ cười tươi đẹp và thẳng thắn, cái bắt tay cương trực - mấy điều kiện rất đỗi thuận lợi. Cộng thêm vào đó, tôi đã giải quyết được năm ba vụ kiện khó, trước là vì quyền lợi, sau là nhờ tin tưởng, ví thử bọn ma cô và đạo tặc đâu đâu và lúc nào cũng bị xử tội cả, thì bọn người lương thiện ắt tưởng mình thảy đều vô tôi không ngừng, ngài cứ ngẫm mà xem. Cứ theo thiển kiến - đây rồi, tôi sắp nói đến nó đây - chúng ta cần phải tránh chính điều đó. Không thì sẽ nảy sanh bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt.
❀ ❀ ❀
[1] Jan Vermeer (1632-1676) cũng gọi là Vermeer de Delft. Họa sĩ cổ điển Hòa Lan.
[2] Nguyên văn: foie gras. Trong nghệ thuật nấu ăn ở châu Âu, đặc biệt ở Pháp, gan ngỗng được xem như một món ăn sang trọng, dành cho tiệc tùng.
[3] Tháng 5-6/1940, quân đội Đức tràn sang Pháp, chánh phủ Philippe Pétain ký hiệp định ngưng chiến 22 tháng Sáu, chia nước Pháp thành hai Miền: Miền bắc (zone Nord, hay zône occupée, miền bị chiếm đóng; Miền Nam (zône Sud, hay zône Libre, miền tự do) Miền Bắc nằm dưới quyền kiểm soát và hành chính của quân đội Đức; miền Nam nằm dưới quyền kiểm soát và hành chánh của chánh phủ bại trận Pháp. Nhưng đến tháng 11/1942, thì quân đội Đức chiếm đóng và kiểm soát toàn lãnh thổ nước Pháp.
[4] Nghệ thuật làm thảm đòi hỏi nhiều đức kiên nhẫn, chịu khó, âm thầm, hết sức trái ngược với tính khí của Jean Baptiste Clamence vốn là kẻ thích được ở trên các đầu ngọn khoảng khoát.
[5] Nguyên văn: des brutes: ám chỉ bọn lính kín Gestapo Đức.
[6] Sau khi chánh phủ Philippe Pétain chịu hợp tác với Đức, tướng Charles de Gaulle (có chân trong chánh phủ Pháp bấy giờ) liền bỏ chạy sang London. Ngày 18 tháng 6/1940, de Gaulle đọc trên đài BBC lời kêu gọi quốc dân chống Đức, và biến thành biểu tượng cho tinh thần kháng Đức của dân tộc Pháp.
[7] Ám chỉ thời kỳ lãng mạn, đầu thế kỷ XIX ở châu Âu.
[8] Bertrand du Guesclin (1320-1380), nhân vật lịch sử Pháp. Nguyên súy quân đội hoàng gia (Connétable de l’Armée royale) cầm quân nhiều trận chống ngoại xâm Anh và Espana, thắng có, bại có. Nhiều giai thoại truyền tụng hành động anh hùng của ông. Tượng trưng cho con người dũng cảm và anh hùng.
[9] Thái độ và lập trường của Tòa thánh Roma, đặc biệt của Giáo hoàng Pio XII, đối với khối Trục, trong thời Thế chiến thứ hai, hết sức mập mờ, thiếu dứt khoát. Riêng đối với nước Espana dưới quyền Franco là một nước Công giáo, Tòa thánh Roma còn có lập trường ủng hộ rõ rệt.
[10] Nguyên văn: le Romain. Từ ngữ miệt thị và bất phục, ám chỉ Giáo hoàng Pio XII.
[11] Hubert Van Eyck (khoảng 1366-1426) và Jean Van Eyck (khoảng 1390-1441), sư tổ nền hội họa Flandres.
[12] Tranh hậu bộ l’Agneau mystique, kiệt tác đánh dấu bước đầu nền hội họa Flandre. Gồm tất cả mười hai bức. Đây là tranh hậu bộ thánh đường Saint-Bavon, thành phố Gand (Bỉ). Đề tài rút trong bộ Apocalypse (Mặc thị lục) theo thánh Jean.
[13] Mọi chi tiết kể trên đây đều có thật. Bức les Juges Intègres (Quan tòa công minh chánh đại), thuộc tranh hậu bộ l’Agneau Mystique, bị trộm năm 1934, và được thay thế bằng một bản sao. Đến nay, nguyên tác vẫn mất tích.
[14] Tên người ngợm, ông bạn của chúng ta, chỉ tên chủ tửu điếm Mexico-City.
[15] Trên thực tế, Albert Camus đã tham dự cuộc kháng chiến chống Đức thời 1940-1945, công tác bí mật khá nguy hiểm.
[16] Nguyên văn: En some, ils ont le saianisme vertueux. Hai từ saianisme (ác ma) và vertueux (đạo đức) đối nghịch nhau; hai ý niệm đối nghịch này hiện hữu song song, cũng như Jean Baptiste Clamence một người mà mang hai mặt.
[17] Nghĩa là lớn tiếng hô hào lòng chân thật của mình.
[18] Ám chỉ câu Tout est permis (Ta tuyệt đối tự do) do nhân vật Ivan Karamazov (trong Đôxtôievxkii: Anh em nhà họ Karamazov (1879-1880) thốt ra, khi cha y bị ám sát.
[19] Girolamo Savonarola (1425-1498) nhà truyền giáo Ý thuộc dòng Dominicain. Con người vừa nhiệt thành, vừa khắc khổ, Girolamo Savonarola quyết chí phục hưng và cải thiện Giáo hội, tin chắc ở tánh cách trọng đại phi thường của sứ mạng đó. Trong công cuộc cải thiện và phục hưng Giáo hội này, nhà truyền giáo đã tỏ ra vô cùng nghiêm nhặt, dùng nhiều biện pháp độc đoán (bắt nghệ sĩ phục vụ tư tưởng mình, ra lệnh thiêu đốt nhiều họa phẩm, văn phẩm, cấm đàn bà đeo vòng vàng, và nhiều thủ đoạn khác). Năm 1498, bị xử tử hình và chết treo.
[20] Tức là chúa Giêxu.
[21] Mikolaj Kopernik (1473-1543) nhà thiên văn Ba Lan. Trái với quan niệm đương thời, Mikolaj Kopernik chứng minh rằng Địa cầu không nằm ở trung tâm vũ trụ, mà vừa quay vòng quanh Mặt trời, cũng như các tinh cầu khác, vừa quay quanh chính mình.
[22] Ám chỉ câu Tout est permis của nhân vật Ivan Karamazov trong Đôxtôievxkii.
[23] Nguyên văn: “Sur cette pierre, je bâtirai mon église” (Trên khối đá này, ta sẽ dựng lên giáo đường). Pierre = đá. Thật ra, khi Chúa đặt pháp danh Pierre cho Simon, Chúa đã thốt ra như sau: “Tu es Pierre et sur cette pierre, je bâtirai mon église” (Người pháp danh là Đá, và trên khối đá này, ta sẽ dựng lên giáo đường). Đá tượng trưng cho vai trò nền tảng vững chắc của thánh Pierre trong việc xây dựng và phát triển Giáo hội.