Thôn này mỹ miều đó chớ, ngài nhỉ? Quả tình người ta đã chẳng tiếc công chăm chút cho nó hóa nên tranh! Song le ngài ra viếng thăm đảo, đâu cốt vì khía cạnh nên tranh đó, phải không ngài. Mọi người ở đây đều dư sức dẫn ngài đi thưởng ngoạn nón tháp[1], guốc mộc, và mấy ngôi nhà trang hoàng rực rỡ, có dân chài ngồi ngậm ống vố đốt cháy loại thuốc thơm trong mùi sáp nặc nồng. Tôi chỉ thuộc hạng người rất hiếm, ngược lại, biết mời ngài đi xem chỗ nào là trọng yếu ở đây.
Chúng ta đã tới đầu đề đây rồi. Phải men theo con đê này, hầu lánh xa các ngôi nhà quá ư kiều diễm kia được bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Mời ngài ngồi xuống chỗ này. Sao, ngài thấy thế nào? Có phải là cảnh trí phản diện[2] đẹp nhứt đời không, ngài! Ngài cứ trông xem kìa, bên trái, cái đống tro kia mà ở đây người ta gọi là đụn cát, con đê xám ngắt ở bên mặt, bờ bãi thâm xì dưới chân và, trước mắt chúng ta kia, biển cả tái lợt và bầu trời mênh mông phản ánh sóng nước nhạt nhờ. Quả là cảnh địa ngục nhùn nhằn! Toàn thứ đường nét nằm ngửa, không một lóe sáng rực, không gian thiếu sắc màu, sự sống chết đọng. Chẳng là hiện hình của vũ trụ đã tan biến và của cõi hư vô lộ hiện dưới mắt chúng ta, ư? Không có con người, vâng, nhứt là không có conngười! Chỉ mỗi mình ngài và tôi, ngồi đây trước quả tinh cầu đã hoang vắng này[3]! Bầu trời cũng có sanh động ư? Chí lý, ngài nói chí lý. Nó quánh đặc, rồi giãn ra, mở đường cho gió hút từng, biến vạt mây thành những cánh cửa khép kín. Bồ câu đó, ngài ạ. Ngài không để ý nhận thấy vòm trời Hòa Lan lúc nào cũng ngờm ngợp ngàn triệu bồ câu, vời vợi từng cao thiếu điều mất dạng và không ngừng đồng nhịp vỗ cánh vút lên sà xuống, lấp đầy lưng trời với hằng bao đợt lông xám ngắt đầy đặc bay đi, cuốn về nương theo chiều gió, ư? Bầy bồ câu đợi chờ trên cao, mòn mỏi đợi chờ suốt trọn năm ròng. Chúng bay liệng vòng quanh trên mặt đất, trố mắt soi nhìn, lòng mong đáp xuống. Nhưng nào thấy chi đâu, chỉ toàn biển cả và kinh ngòi, nóc nhà chi chít biển hàng, và tịnh không một mái đầu làm chỗ đặt chân ngơi nghỉ.
Ngài không nhận ra ý tôi muốn nói gì ư? Ấy là vì tôi đã mỏi mệt tâm thần. Lời lẽ thốt ra thiếu mạch lạc, trí óc cũng không còn trong sáng như trước kia nữa, sự trong sáng mà bạn hữu không ngớt tỏ lời thán phục. Vả chăng, tôi bảo: bạn hữu, ấy là để nói cho phải phép. Tôi chẳng còn ai là bạn hữu nữa, chỉ toàn là đồng lõa. Bù lại, số họ đã gia tăng gấp bội, họ là trọn cả loài người. Và trong loài người, ngài là kẻ đứng đầu. Kẻ đang ở trước mặt bao giờ cũng là kẻ đứng dầu. Làm sao biết được rằng mình không có bạn hữu ư? Giản dị lắm, ngài ạ: tôi phát giác được điều này vào bữa nghĩ tới việc quyên sanh để chọc họ chơi, có thể gọi là để làm tội họ. Nhưng mà làm tội ai kia chớ? Bất quá là sẽcó năm ba kẻ lấy làm chưng hửng sửng sốt trong bụng; chẳng một ai cảm thấy mình bị làm tội cả. Tôi chợt hiểu rằng mình không có bạn hữu. Vả chăng, cho dầu có bạn hữu, tôi cũng chả đi tới đâu. Ví bằng có thể tự tử mà còn trông thấy được bộ dáng của họ sau đó, thì vâng, bấy giờ mới thật bõ công, mới thật đáng liều. Nhưng mà ngài ạ, cát bụi hằng tối đen; ván mộc, dầy, và đục mờ là vải liệm. Còn con mắt của linh hồn, vâng, hẳn thế, ví có linh hồn, và linh hồn có mắt! Thế nhưng có chuyện như vầy, không có điều gì lấy làm chắc, không bao giờ có điều gì lấy làm chắc. Bởi chưng không vậy, thì tất sẽ có một ngõ thoát, thì tất chúng ta sẽ có thể khiến kẻ khác tin thật ở mình. Tâm lý con người là chỉ tin các nguyên cớ dẫn ngài đến chỗ quyên sanh, lời nói ngay thật và nỗi niềm khổ cực trầm trọng của ngài, qua cái chết của chính ngài mà thôi. Ngài còn sống ngày nào, là trường hợp của ngài còn đáng ngờ ngày nấy, ngài chỉ đón nhận được ở họ độc có thái độ hoài nghi mà thôi. Vậy nên, giả dụ chúng ta tin chắc được dầu chỉ mỗi một điều rằng mình có cơ thưởng ngoạn trò đời, thì hẳn là nó cũng đáng để chúng ta chứng minh cho họ thấy điều mà họ nhứt quyết không chịu tin lấy làm bằng và cũng đáng để chúng ta khiến cho họ lấy làm kinh ngạc. Nhưng một khi ngài đã tự hủy, thì họ có tin lời nói của ngài hay không, cũng chẳng hệ trọng gì: ngài có đội mồ lên được đâu mà hòng đón nhận bộ dáng kinh ngạc và nỗi niềm ân hận vốn cũng rất mực chóng tàn của họ, mà hòng, tóm lại, đúng theo điều mơ ước của mỗi người chúng ta, chứng kiến đám tang của chính mình. Muốn hết bị ngờ, chúng ta buộc phải hết hiện hữu, gọn lỏn có vậy.
Vả chăng, như vậy chẳng là tốt hơn sao? Bằng không, thì chúng ta sẽ phải đau khổ vì thái độ hững hờ lạnh nhạt của họ đến ngần nào. “Để rồi ba coi!”, cô con gái nói làm vậy với người cha đã cản không cho lấy anh chàng tình si có mái tóc quá ư chải chuốt. Thế rồi cô quyên sanh. Và người cha chẳng có coi ra coi vào gì cả. Ông vốn mê câu cá theo kiểu kéo mồi[4]. Chỉ ba tuần sau, ông quay trở về với dòng sông, để quên, ông bảo vậy. Lời suy định của ông quả đúng, ông quên thật tình. Nói cho ngay, thì trái lại mới thật là điều đáng ngạc nhiên. Ngài cứ ngỡ chết đi là làm tội bà vợ, nào dè chính là trả lại tự do cho thị. Thà không nhìn thấy chuyện đó còn hơn. Ấy là không nói tới việc ngài rất có cơ còn phải nghe thấy những nguyên cớ họ gán cho cử chỉ của ngài. Riêng phần tôi, thì đã nghe thấy các nguyên cớ này rồi: “Y quyên sanh là vì không kham nổi...”. Ôi chao, ngài ạ, con người quả tình nghèo óc phát kiến biết chừng nào! Họ cứ tưởng là người ta tự tử vì một nguyên cớ duy nhứt. Song le người ta vẫn có thể tự tử vì những hai nguyên cớ. Không đâu, ngài ạ, họ không tài nào hiểu nổi đâu. Vậy thì ích gì mà tự ý tìm tới cái chết mà hy sinh tánh mạng vì hình ảnh mình muốn họ nhìn thấy ở mình? Ngài tắt thở, là họ lợi dụng ngay sự thể đó mà gán cho cử chỉ của ngài nhiều động cơ tầm thường, thô tục. Những kẻ tuẫn tiết anh hùng, ngài ạ, họ phải biết lựa chọn: hoặc bị lãng quên, hoặc bị chế giễu, hoặc bị lợi dụng. Còn được hiểu thấu tấm can, thì đừng có trông.
Lại nữa, chúng ta hãy đi thẳng vào đề, tôi vốn rất yêu đời, nhược điểm của tôi thật sự nằm chính chỗ này. Tôi yêu nó ngày nào còn chưa mường tượng được những gì không phải là chính nó. Một sự tham lam háo hức ngần ấy tất mang sắc thái bần dân, ngài không nhận thấy như vậy sao? Giới quí phái không hề hình tượng tới mình mà không lách khỏi chính mình và đời mình đôi chút. Họ dám chết khi cần thiết, thà xương tan thịt nát chớ không chịu qui phục. Tôi, thì tôi qui phục, bởi chưng tôi vẫn một mực yêu mình. Chẳng hạn sau mọi sự việc đã kể hầu ngài, ngài tưởng tôi cảm thấy như thế nào trong lòng? Kinh tởm mình chăng? Không đâu, ngài ạ, tôi kinh tởm là kinh tởm kẻ khác kia. Nói cho ngay, thì tôi cũng biết rõ mình yếu đuối bạc nhược ở chỗ nào và lấy làm ân hận lắm. Vậy mà tôi vẫn cứ tiếp tục quên chúng như thường, với một sức kiên trì cũng khá đáng khen. Còn khi xét tội kẻ khác thì, ngược lại, lòng tôi không lúc nào ngưng nghỉ đứt đoạn. Ngài lấy làm chướng tai, tất nhiên như vậy? Chắc ngài nghĩ rằng nó không hợp lý chút nào? Nhưng vấn đề đâu phải xử sự trước sau cho hợp lý. Vấn đề là chui lòn cho trót lọt qua, và nhứt là, vâng, đúng thế, ngài ạ, nhứt là né tránh mọi lời xét xử. Tôi không bảo né tránh mọi hình phạt. Bởi chưng hình phạt không kèm lời xét xử, vẫn có thể kham nổi. Vả chăng, nó còn mang một danh từ khác, bảo đảm cho lòng dạ trong trắng vô tội của chúng ta: xấu số. Không đâu, ngài ạ, vấn đề ngược lại là lánh khỏi mọi lời xét xử, là tránh bị xét xử liền tay, sao cho câu phán quyết không hề được thốt ra.
Song le ngài không lánh khỏi dễ dàng như vậy đâu. Về chuyện xét xử, chúng ta ngày nay lúc nào cũng cụ bị sẵn sàng, cũng như về chuyện gian dâm[5].Với chỗ khác nhau này, là ở đây khỏi sợ phải đương đầu với những giây phút yếu đuối bạc nhược. Ngài chưa tin, thì xin ngài ghé tai nghe lỏm các câu chuyện khào giữa bữa ăn, vào tháng tám mỗi năm[6] trong mấy khách sạn miệt nghỉ mát mà số đồng bào từ bi bác ái của chúng ta đến đó để chuốc lấy cái nỗi nhàn sầu buồn tẻ. Ngài còn dụ dự chưa dám kết luận, thì xin ngài đọc văn phẩm mấy bậc vĩ nhân đương thời của chúng ta mà xem! Hoặc giả hãy cứ để mắt quan sát chính gia đình ngài, quyết chắc ngài sẽ sạch trơn ảo mộng. Vậy nên, ngài ơi, chúng ta chớ có cung cấp cho họ cớ nào giúp họ xét xử chúng ta, dầu vô ích tới đâu! Không thôi thì lập tức, chúng ta sẽ bị họ nghiền nát tơi bời! Chúng ta buộc phải thận trọng hệt như anh chàng diễn trò điều khiển hùm beo trong gánh xiếc. Rủi cho y, trước lúc bước vô chuồng, mà bị dao cạo cứa tay, thì còn gì là đời y nữa trong cuống họng của bầy mãnh thú! Tôi đã hiểu được điều này một cách đột ngột, vào hôm bỗng dưng ngờ ngợ rằng mình chắc cũng không hoàn hảo như đã tưởng[7]. Từ đó, tôi hóa ra dè dặt. Đã trót rướm máu, thì tôi tất sẽ phải kinh qua đó trọn mình: họ thế nào rồi cũng vồ lấy tôi mà ngấu nghiến nuốt chửng.
Sự giao dịch giữa tôi và kẻ đồng thời, bề ngoài vẫn diễn tiến hệt như trước, nhưng đã trở nên lỗi nhịp một cách tính vi. Không phải vì bạn hữu tôi đã thay lòng đổi dạ. Gặp dịp, họ vẫn cứ còn ca tụng phong độ hài hòa và tự tin nhận thấy khi chung đụng với tôi. Nhưng phần tôi, thì chỉ thính tai tới chỗ nào lạc điệu, tới trạng thái hỗn loạn tràn ngập cõi lòng mà thôi; tôi cảm thấy mình có chỗ hở, và bị nạp mạng cho quần chúng cáo tội. Đồng loại tôi không còn xuất hiện dưới mắt mình như đám thính giả thành kính quen thuộc trước kia nữa. Cái vòng tròn mà tôi là trung tâm gãy đứt lần lần, và họ ùa kéo nhau sắp thành một hàng duy nhứt, hệt như trong pháp đình. Khi đã chụp lấy ở mình một khía cạnh nào xét xử được, tôi hiểu ngay rằng, tóm lại, ở họ có tiềm ẩn thứ bản năng bắt họ xét xử liên hồi mà họ không thể đừng. Vâng, họ vẫn đứng đó như trước kia, nhưng bây giờ thì họ nhe răng mà cười. Hay đúng hơn, chừng như mỗi người trong bọn họ tôi gặp mặt đều nhìn tôi với một nụ cười mỉm ẩn giấu ướm sẵn. Dạo ấy, tôi còn có cảm tưởng như có ai quèo chân mình. Thật vậy, đã đôi ba lần tôi vấp chân nhoài tới mà không hiểu tại sao, lúc bước vào chỗ tiểu tiện công cộng. Rồi lần nọ, tôi té nhủi, thật tình. Con người Pháp duy lý là tôi trấn tĩnh mình được lại ngay, để mà đổ trách nhiệm mấy vụ đó cho vị thần độc nhứt có lý tính, tôi muốn nói: cho sự tình cờ. Dầu vậy, cũng còn sót lại cái tâm trạng nửa tin nửa ngờ.
Thần trí được lay tỉnh như vậy, nên chẳng khó khăn gì mà tôi không phát giác được rằng mình có nhiều kẻ nghịch. Trước tiên, trong nghề nghiệp, rồi sau, trong đời sống xã giao. Một số, vì tôi đã thi ơn cho họ. Số khác, vì tôi đã không thi ơn cho họ. Nghĩ cho cùng, thì điều này cũng nằm trong cái lý đương nhiên, nên chi tôi cũng không lấy làm buồn quá đáng khi phát giác được nó. Bù lại, tôi đã phải khó nhọc và đau lòng hơn nhiều mới chấp nhận được rằng mình có kẻ nghịch ngay cả trong số người chỉ quen sơ, hoặc không hề biết mặt bao giờ. Tôi thuở nay hằng nghĩ, do bản tánh thật thà chất phác mà hẳn ngài đã có dịp chứng nhận nhiều lần, rằng những kẻ không quen biết tôi không làm sao mà chẳng yêu tôi được, ví dụ họ bỗng dưng giao thân với tôi. Mà không, ngài à! Tôi bắt gặp nhiều mối cừu địch nhứt là trong số người chỉ biết tôi một cách rất xa xôi, trong lúc chính tôi thì không hề giáp mặt họ bao giờ. Chắc hẳn họ nghĩ tôi dốc lòng đắm hết mình trong nguồn hạnh phúc hoàn toàn phóng túng và không ngần ngại: họ không dung xá được điều đó. Sự thành công, khi nó được đảm nhiệm bằng một thái độ nào, thường khiến cho phường đầu bò đầu bướu tức tối lộn gan lộn ruột. Phần khác, đời tôi bấy giờ quả tình viên mãn đầy ặp và, bởi thiếu thời giờ, tôi đã khước từ xiết bao mối giao thân bước đầu. Để rồi sau đó, cũng bởi chính lẽ ấy, quên bẵng những lần khước từ này. Nhưng các mối giao thân bước đầu nói trên thảy đều đến với tôi từ những kẻ mà cuộc đời không lấy gì làm viên mãn và, cũng bởi chính lẽ ấy, họ ghi nhớ nằm lòng những lần tôi đã khước từ.
Bởi vậy, ấy để dẫn mỗi một thí dụ thôi, bởi vậy, tính kỹ, phái nữ rốt cuộc làm tôi hao tổn khá nhiều. Thời giờ dâng hiến cho họ, tôi không thể dành cho nam giới, điều này chẳng phải lúc nào nam giới cũng miễn chấp cho tôi. Làm sao thoát khỏi tình thế đó được? Người đời chỉ dung xá hạnh phúc và thành đạt của ngài khi nào ngài chịu san sẻ chúng với họ một cách rộng rãi. Nhưng ở đời, muốn được sung sướng, phải biết mặc thây kẻ khác. Thành thử, ngõ thoát nào cũng đều bị nghẽn. Sung sướng nhưng bị xét xử, hoặc được miễn xá nhưng phải đau buồn. Về phần tôi, thì còn bất công nhiều hơn nữa: tôi bị kết tội vì những nguồn hạnh phúc đã qua. Tôi đã sống thật lâu trong cái ảo mộng tưởng mình trọn vẹn hòa đồng với cuộc đời, trong lúc xiết bao lời xét xử, xiết bao mũi tên nhọn và xiết bao câu nhạo báng tung ra từ mọi bề trực chỉ chĩa vào tôi, là kẻ chẳng hay biết chuyện gì và vẫn mỉm cười duyên dáng. Lập tức từ buổi bỗng được cảnh giác đó, tôi hóa ra tỉnh táo, nhận hết mọi vết thương cùng một lúc và mất trọn tinh lực cùng một lượt. Toàn thể vũ trụ bấy giờ vụt cất tiếng cười ré vây quanh.
Đó là điều tịnh không một kẻ nào (trừ những kẻ không sống trên đời, tôi muốn trỏ các nhà hiền triết) đủ sức chịu dựng. Phương sách chống đỡ độc nhứt nằm trong miệng lưỡi hiểm độc. Vậy nên người đời hối hả lên lời xét xử để chính mình khỏi bị xét xử. Làm thế nào khác được, ngài? Ý niệm đương nhiên nhứt đối với con người, cái ý niệm nảy sanh trong đầu óc y một cách ngây thơ, tựa hồ phát khởi từ chính bản chất của y, là cái ý niệm cho rằng mình vô tội. Về phương diện này, chúng ta thảy đều giống cái ông người Pháp hèn mọn nọ, ở Buchenwald[8], cứ nằng nặc đòi đệ đơn khiếu nại với viên ký lục đang ghi tên ông vào sổ, vốn cũng là tù nhân như ông. Khiếu nại ư? Viên ký lục với mấy người bạn phá lên cười rùm: “Thôi đi, cha nội. Ở đây, hổng có khiếu nại gì ráo”. “Tại trường hợp tui đặc biệt đó, ông à. Tui hổng có tội gì hết”, ông người Pháp hèn mọn nọ đáp trả làm vậy.
Chúng ta thảy đều là những trường hợp đặc biệt. Chúng ta thảy đều có chuyện để kêu nài! Ai cũng đòi được vô tội, bất luận với giá nào, dầu có phải đổ tội cho trọn cả loài người và trời đất. Ngài chỉ làm hài lòng người nào đó chút đỉnh thôi, khi ngài thốt lời khen ngợi y đã cố công trở thành một kẻ thông minh hay hào hiệp. Còn ví như ngài ca tụng bản tánh hào hiệp của y thì y sẽ nở lòng khoan khoái vô cùng. Ngược lại, tỉ như ngài bảo một phạm nhân rằng tội vạ của y không phải gốc do tư chất hay tánh nết mà là hoàn cảnh đáng buồn tạo nên, thì y sẽ đội ơn ngài biết ngần nào. Trong giờ dành cho trạng sư biện hộ, y sẽ còn lựa ngay lúc ấy mà mủi lòng ứa lệ nữa. Song le, sanh ra mà đã thông minh hay thật thà, thì có chỗ nào là đáng khen đâu. Bởi chưng vì bản chất mà thành kẻ phạm tội, trách nhiệm quyết chắc cũng chẳng nặng nề hơn trách nhiệm kẻ phạm tội vì hoàn cảnh mảy may nào. Nhưng bọn người láu cá ấy muốn được ân xá, nghĩa là được vô trách nhiệm, nên họ chẳng ngại viện cớ tánh tình hay cảnh ngộ để biện bạch và tháo lỗi cho mình ví dầu những cớ này mâu thuẫn với nhau chăng. Điều chánh là họ vô tội, là đức hạnh của họ, do trời phú cho vào lúc mới mở mắt chào đời, không bị nghi kỵ, và là tội lỗi của họ, sanh ra từ một thời gian xấu số ngắn ngủi, chỉ có thể là tạm thời. Tôi cũng đã bộc bạch hầu ngài, vấn đề là lánh khỏi mọi lời xét xử. Bởi chưng khó mà lánh khỏi nó được và chẳng dễ dàng gì mà vừa trưng diện vừa biện hộ cho bản chất của mình, nên họ thảy đều tìm cách làm giàu. Để làm gì ư? Ngài có từng thầm hỏi như vậy không? Để có thế lực, cố nhiên rồi. Nhưng nhứt là vì cảnh giàu sang cất ngài ra khỏi mọi lời xét xử tức thời, kéo ngài từ đám người chen chật xe métro mà nhốt ngài vào trong hòm xe mạ kền bóng nhoáng, cách biệt ngài trong những hoa viên to rộng dành riêng, trong những toa có giường ngủ và trong những căn phòng thượng hạng. Giàu sang ngài ạ, vốn dĩ chưa phải là được tha bổng, mà là được hưởng án treo, không nên bỏ lỡ...
Nhứt là ngài chớ nên tin lời bạn hữu, khi họ yêu cầu ngài ăn ngay nói thẳng với họ. Họ hy vọng có mỗi một điều là ngài sẽ duy trì giùm họ cái hình bóng tốt đẹp mà họ nhìn thấy ở mình và cung cấp cho họ thêm một niềm tin chắc nữa, trích ra từ chỗ ngài đã hứa ăn ngay nói thẳng với họ. Vậy thì làm sao đức tánh ăn ngay nói thẳng lại là một điều kiện làm nên tình bạn được? Cái tánh thích sự thật bất kể dư luận vốn dĩ là một mối si mê không vị nể ai và không ai cưỡng chống nổi. Nó là một cố tật, một chỗ an nghỉ đôi khi, hoặc giả là một lối ích kỷ. Vậy thì, ví dụ gặp phải cảnh ngộ đó, ngài chớ nên ngần ngại: cứ hãy hứa sẽ xác thật, rồi thì cứ tùy tiện điêu ngoa. Ngài sẽ đáp ứng lòng mong mỏi thầm kín của họ và chứng tỏ gấp đôi mối thâm tình của ngài đối với họ.
Sự thể này quả tình xác thật đến mức chúng ta hiếm khi chịu giãi bày tâm sự cùng kẻ hoàn hảo hơn mình. Mà còn trốn tránh họ nữa. Ngược lại, chúng ta thường thích thổ lộ tâm tình cùng kẻ đồng hội đồng thuyền, chia sớt với mình nhiều chỗ yếu đuối chung. Vậy thì chúng ta nào có mong muốn cải tâm sửa tánh đâu, bởi trước đó phải bị xem như ứ đầy nhược điểm. Chúng ta mong mỏi duy mỗi một điều là được đoái thương và khích lệ trên bước đường thẳng tiến của mình. Chung qui, chúng ta ao ước vừa được hết tội, vừa khỏi phải cố công rửa sạch lòng mình. Không đầy đủ lì lợm, mà cũng không đầy đủ đức tánh phải có. Chúng ta không đủ nghị lực của cái ác, mà cũng không đủ nghị lực của cái thiện. Chắc ngài có đọc Dante[9]? Thật vậy ư? Ôi dào! Vậy thì ngài hẳn nhớ rằng Dante thừa nhận có loại thiên thần trung lập, trong trận đấu giữa Thượng đế và quỉ Xa-tăng. Ông đặt loại thiên thần này ở chốn Minh phủ, một thứ tiền đình trước khi bước vào cõi địa ngục tưởng tượng của ông[10]. Chúng ta đứng ở chốn tiền đình này đó, ngài ạ.
Phải biết nhẫn nại ư? Ngài nói chí lý, đúng thế. Chúng ta cần có nhẫn nại, đề chờ đón ngày xử cuối cùng. Thế nhưng có chuyện như vầy, chúng ta thảy đều hấp tấp. Hấp tấp đến độ tôi đã biến thành quan-tòa-sám-hối. Tuy nhiên, trước đó, tôi cũng buộc phải tìm cách thỏa thuận với mấy điều mình đã phát giác và tìm cách hợp thức với cái cười của kẻ đồng thời. Ngay từ bữa tối bị réo gọi, bởi tôi đã bị réo gọi thật tình, tôi buộc phải giải đáp hay, ít nữa, tìm câu giải đáp. Không dễ gì đâu, ngài ạ; tôi đã phải dò dẫm thật lâu. Trước hết là cái cười liên tục đó, và kẻ cười, phải dạy cho tôi biết nhìn rõ lòng mình hơn, cho tôi hiểu được rằng mình vốn dĩ không đơn giản chút nào. Ngài chớ mỉm cười, sự thật nói trên không sơ đẳng như nó xem chừng như vậy đâu. Người ta gọi là sơ đẳng, những sự thật phát giác sau các sự thật khác, có vậy thôi.
Dầu sao chăng nữa, thì sau thời gian lâu dài soi rọi lòng mình, tôi đã phát hiện được bản chất gian ngoan hai mặt của tạo vật. Nhờ đã mãi lục lọi dò xét tâm khảm, bấy giờ tôi mới hiểu rằng thái độ từ tốn giúp tôi tỏ ra hơn người, vẻ nhún nhường giúp tôi đắc thắng và dáng đạo đức giúp tôi áp đảo kẻ khác. Tôi chiến đấu bằng những phương tiện ôn hòa và rốt cuộc, tôi nhờ thủ đoạn bất vụ lợi, mà chiếm đoạt được hết mọi điều lòng mình ước muốn. Chẳng hạn, tôi không hề than phiền sanh nhựt mình bị bỏ quên; người ta còn lấy làm ngạc nhiên và thầm phục nhận thấy tôi tỏ ra kín đáo nhường ấy. Thế nhưng cái lý do bất vụ lợi nó còn kín đáo ngần nào hơn nữa: tôi ước mong bị người ta bỏ quên ngõ hầu được dịp than phiền với chính mình. Thật lâu trước cái ngày vẻ vang hơn hết mọi ngày khác, mà tôi thuộc nằm lòng đó, tôi nao nao rình đón hờm sẵn, quyết tình không để phát lộ một chi tiết nào khả dĩ lay động sự chú ý và trí nhớ của những kẻ tôi tin rằng sẽ thất lỗi đối với tôi (có lần tôi đã chẳng toan đánh lận ngày tháng trên tấm lịch đó ư?) Nỗi niềm cô độc hẩm hiu của mình đã được chứng minh như vậy rồi, bấy giờ tôi bèn tự tiện buông thả theo cái thú tạo nên bởi một thứ u buồn hùng tráng đáng mặt nam nhi.
Bề mặt mọi đức tánh của tôi bởi vậy đều có mang một bề trái chẳng mấy oanh liệt. Nói cho ngay, thì trên một phương diện khác, nhược điểm nào cũng làm lợi cho tôi. Ép buộc phải che đậy phần xấu trong cuộc đời mình, tôi mang một bộ dáng lạnh lùng mà người ngoài lầm tưởng là của kẻ đạo đức, thái độ ơ hờ khiến tôi được mến thương, tâm địa ích kỷ thăng lên ngang hàng với tánh khí hào hiệp. Tôi xin mạn phép ngưng kể tiếp: quá nhiều điều cân đối như vậy sẽ phương hại cho điều tôi minh chứng. Chẳng qua là tôi cố tình làm kẻ lòng dạ chai cứng, nhưng tôi chẳng hề chống chọi nổi lời mời mọc từ một ly rượu thân tình hay từ một người đàn bà! Tôi được xem như một kẻ hoạt bát và có nhiều nghị lực, nhưng địa hạt sở trường của tôi là chiếc giường! Tôi không ngừng rao vang rằng mình là kẻ chí tình, nhưng tôi tin chắc là không một người nào đã được tôi mến thương mà cuối cùng chẳng bị tôi bội phản. Cố nhiên, bội phản như vậy cũng chẳng làm trở ngại gì cho bụng dạ trung thành cả, tôi hoạt động không ngừng nghỉ chính nhờ đã quá ư biếng nhác, tôi chẳng hề ngưng cứu giúp đồng loại, nhìn thấy ở nghĩa cử ấy một mối thích thú khôn lường. Nhưng dầu mãi nhắc đi nhắc lại mấy sự thật đó trong bụng, tôi cũng chỉ được an ủi một cách cầm chừng. Có những mai sáng, tôi thẩm vấn trường hợp mình đến tận gốc rễ và tôi đi đến kết luận này, là tôi đặc biệt trội hơn hết về mặt khinh miệt. Chính những kẻ được tôi chiếu cố giúp đỡ thường nhứt là những kẻ bị tôi khinh miệt nhứt. Với thái độ nhã nhặn, với một tinh thần liên đới tràn trề xúc động, tôi khạc nhổ mỗi ngày vào mặt mũi đám người quáng mắt.
Thật tình mà xét, có cớ nào khiến tôi làm vậy chăng? Cũng có, nhưng nó vô lối đến mức tôi không dám nghĩ tới việc dẫn chứng nó ra. Dầu sao nữa thì nó cũng như vầy đây: tôi chẳng hề làm sao tin chắc được rằng sự đời vốn dĩ là việc đứng đắn. Đứng đắn ở chỗ nào, thì tôi không biết, chỉ biết nó không có mặt ở mọi việc tôi trông thấy đây, hằng xuất hiện dưới mắt tôi như một trò đùa vui vẻ, hay không nhằm lúc. Thật tình có những nỗ lực và có những nhiệt tình mà tôi không hề hiểu nổi. Tôi không ngừng lộ dáng ngạc nhiên và đôi chút ngờ vực, nhìn các con người kỳ quái dám chết vì tiền, tuyệt vọng vì mất “địa vị”[11] hoặc dám vênh váo hy sinh cho gia đình mình được thạnh mậu. Tôi hiểu dễ dàng hơn ông bạn nọ rắp tâm bỏ hút và, nhờ nghị lực mà đạt đến kết quả. Rồi bỗng một sáng, ông giở nhựt trình đọc thấy trái bom khinh khí đầu tiên vừa nổ, tìm biết hiệu lực kỳ diệu của nó, và lập tức bước vào tiệm mua thuốc hút tiếp trở lại.
Chắc nhiều khi, tôi cũng lộ dáng xem chừng tin thật cuộc đời. Nhưng rồi tánh chất phù phiếm của chính sự tin thật đó xuất hiện mau chóng dưới mắt tôi, thế là tôi tiếp tục độc có mỗi việc là đóng vai trò của mình, ráng sức tùy theo khả năng có được. Tôi đóng trò hiệu nghiệm, thông minh, đạo đức, ái quốc, phẫn nộ, bao dung, liên đới, mẫu mực... Mạn phép ngài ngưng kể tiếp, ngài hẳn đã hiểu rằng tôi giống số người Hòa Lan kia có mặt ở đây, mà cũng như không có: tôi vắng mặt vào lúc chiếm giữ một khoảng trời rộng lớn nhứt. Tôi chỉ thật tình chân thành và nhiệt thành vào thời chơi thể thao và, hồi còn trong quân ngũ, khi sắm vai trong những bản tuồng chúng tôi trình diễn cho nhau xem. Trong cả hai trường hợp, có một điều lệ, là mọi sự thảy đều giả vờ, mà chúng tôi cố tâm rập theo đúng y. Cho đến ngày nay, các buổi đá banh chúa nhựt trong một sân quần đồng nghẹt khán giả, và kịch trường mà tôi ham mê tới một mức độ vô song, vẫn còn là những nơi duy nhứt trên đời ở đó tôi cảm thấy mình vô tội.
Song le, ai là kẻ dám thừa nhận ấy một thái độ chánh đáng, khi nói tới ái tình, sự chết và lương hướng của đám cùng dân? Nhưng làm thế nào khác được? Tôi chỉ mường tượng được khối tình của Yseult[12] trong tiểu thuyết hay trên sân khấu. Những kẻ đang khi hấp hối thường chừng như thảy đều thấu rõ vai trò của mình. Những câu đối đáp thốt ra từ cửa miệng thân chủ nghèo của tôi cũng tựa hồ đại khái giống nhau như đúc. Vậy thì, sống giữa loài người mà không dự phần vui buồn với họ, tôi khó lòng tin được ở lời giao ước của chính mình. Tôi tánh nết bẩm sanh cũng khá lịch sự và nhã nhặn để đáp ứng được những điều họ mong đợi ở mình trong nghề nghiệp, gia đình hay đời sống công dân, nhưng, mỗi lần, đều với một thứ trạng thái hờ hững lạnh nhạt cuối cùng làm hư hỏng hết mọi sự. Tôi đã sống trọn cả cuộc đời mình với một ngôi sao hai mặt, và các hành động trọng yếu của tôi thường là những hành động ít được tôi dự vào nhứt. Nghĩ cho chín, phải chăng đó chính là điều tôi không tài nào miễn thứ cho mình được, cộng thêm vào số tác phong ngu ngốc đã có; là điều khiến tôi tức mình chống cự một cách hung tợn nhứt lời xét xử tôi cảm nghe gióng lên trong lòng và ở chung quanh; và cũng là điều ép buộc tôi phải truy tầm cho bằng được một ngõ thoát?
Trong một thời gian dài, đời tôi bề ngoài xem chừng vẫn cứ tiếp diễn như cũ, tựa hồ chẳng có thay đổi chuyện gì. Tôi nằm trên đường rầy và bon bon lăn tới trước. Như do một ý chí tinh quái nào, tôi lại càng được ca tụng bội phần. Hiểm họa sanh ra chính tự chỗ đó. Chắc ngài còn nhớ câu: “Khổ cho ngài bị mọi người cất tiếng ngợi khen!”. Chao ôi! Lời nói quả tình thích đáng biết chừng nào! Khổ cho tôi! Bộ máy bởi vậy mà bắt đầu trở chứng, khục khặc bất thần khó hiểu.
Chính vào lúc ấy mà ý nghĩ từ giã cõi đời chen lọt vào nếp sống hằng ngày của tôi. Tôi nhẩm đếm những năm trời còn chia cách mình từ đây cho tới ngày nhắm mắt. Tôi moi óc tìm nhớ trường hợp những kẻ cùng lứa tuổi mà đã hóa ra người thiên cổ. Và ruột gan nôn nao bứt rứt khôn cùng, nghĩ tới chỗ mình sẽ không đủ thời giờ hoàn thành nhiệm vụ còn phải đảm đương. Nhiệm vụ gì ư? Tôi cũng không rõ. Cứ thành thật mà suy, tác phong tôi có đáng được nối tiếp hay không? Nhưng vấn đề không đúng hẳn như vậy. Có một mối băn khoăn quả tình lố bịch không ngừng ám ảnh tôi bấy giờ: chúng ta không thể từ giã cõi đời mà trước đó không thú nhận hết mọi điều gian dối đã qua. Không phải thú nhận với Thượng đế hay với kẻ đại điện cho Ngài, tôi đứng trên mọi sự đó, ngài ắt hiểu như vậy. Không đâu, vấn đề ở đây là thú nhận với con người, với một người bạn nào hay với người đàn bà lòng mình thương yêu, chẳng hạn. Bằng không, và cho dẫu chỉ giấu giếm mỗi một điều gian dối duy nhứt trong một cuộc đời chăng, thì nó cũng sẽ bị cái chết biến thành trường cửu. Sẽ không bao giờ còn ai biết được sự thật về nó nữa, bởi chưng con người độc nhứt biết rõ sự thật này chính là kẻ đã nhắm mắt, ôm theo niềm bí mật của mình mà yên giấc ngàn thu. Cái án mạng tuyệt bích giết chết sự thật ấy hằng đã khiến tôi xây xâm mặt mày. Ngày nay thì khác, nếu ngài cho phép, ngược lại, hẳn nó sẽ khiến tôi lấy làm khinh khoái thế nào. Chẳng hạn như cứ nghĩ tới chỗ mình là kẻ độc nhứt biết được điều mọi người đang rối rít truy tìm, tới chỗ mình nắm giữ trong tay một vật đã làm xiểng liểng và toi công ca ba loại cảnh sát, cái ý nghĩ ấy quả tình khoái trá đến mực. Nhưng thôi, cũng chẳng cần bàn rộng hơn nữa làm gì. Thuở ấy, tôi chưa biết tới cái mửng đó, nên chỉ mới lấy làm bứt rứt trong lòng.
Cố nhiên, tôi cũng có trách mình. Hệ trọng gì đâu, lời gian dối của một người mất hút trong lịch sử hằng bao thế hệ nối tiếp; và sao lại hợm mình đòi bày ra ánh sáng sự thật, một chuyện lừa gạt đớn hèn ngụp trong sóng gió ba đào của thời gian như hột muối tan trong đại dương? Và tôi cũng bảo thầm trong bụng rằng cái chết thể xác, cứ như mình được dịp xét thấy tận mắt, tự nó đã là một hình phạt đích đáng và miễn xá được hết mọi sự rồi. Với nó, chúng ta được giải thoát (nghĩa là đủ quyền khuất bóng vĩnh viễn) bằng nước mắt mồ hôi trong cơn hấp hối. Dẫu vậy, tâm trạng vẫn cứ mỗi ngày một bất an thêm, sự chết vẫn cứ dẻo dai trung thành ở đầu giường, tôi thức giấc cùng với nó, và tôi ngày càng không tài nào kham nổi những lời người ta ca ngợi mình. Tôi mường tượng chừng như sự gian dối gia tăng song song với chúng, quá sức đến độ sẽ không bao giờ tôi còn có thể hợp cách mình với cuộc đời được nữa.
Cho đến một hôm tôi cầm lòng không đậu nữa. Thoạt đầu, tôi phản ứng một cách loạn xạ. Nghĩ rằng trót đã là kẻ gian dối, thì cứ hãy phô bày nó ra mà ném phăng bản chất điêu ngoa của mình vào mặt mũi đám người khờ dại kia, trước khi họ phát hiện được nó. Bị khiêu khích về chuyện sự thật, tôi sẽ chặn trước lời thách thức đó. Để ngừa trước tiếng cười, tôi liền nghĩ tới việc xả mình nguyên vẹn vào trong lời cười nhạo chung quanh. Tựu trung, cũng vẫn là để lánh khỏi mọi lời xét xử. Tôi muốn kéo kẻ cười về theo phe mình hay, ít nữa, chạy qua đứng bên phe họ. Tôi âm thầm định bụng chẳng hạn như xô té kẻ đui mù ngoài lộ và suy theo niềm vui ngấm ngầm và bất ngờ cảm nghe trong lòng, tôi hốt nhiên nhận thấy một thành phần trong tâm hồn mình thù ghét họ đến ngần nào; tôi toan tính chọc thủng bánh xe những người tàn phế, chui dưới sàn thang thợ đang làm việc mà réo chín lên câu “ê ta, đồ tồi”, hay bạt tai trẻ thơ dưới xe métro. Tôi không ngừng mơ tưởng tới mọi việc đó, nhưng chẳng hề thực hành thật sự, hoặc giả có làm việc gì na ná như vậy, thì cũng quên bẵng đi rồi. Dầu sao chăng nữa thì hễ nghe tới chính chữ công lý là tôi lấy làm bực bội lạ lùng. Cố nhiên, tôi vốn buộc phải tiếp tục dùng đến nó, những khi biện cãi trong pháp đình. Nhưng tôi bù trừ việc này bằng cách công khai nguyền rủa tinh thần nhân đạo; tôi tuyên bố sẽ công báo một bản tuyên ngôn tố giác sự áp bức mà kẻ bị áp bức đè bẹp trên đầu đám người lương thiện. Một hôm đang ngồi ăn món tôm rồng ngoài hàng hiên cao lâu nọ thì bị một tên ăn mày đến làm rầy, tôi liền gọi chủ tiệm đuổi nó đi, và đã lớn tiếng hoan nghinh kịch liệt lập luận của con người xử đoán này: “Ông làm bực mình người ta - hắn bảo. Ông cứ đứng vào chỗ các ông bà ấy thử coi!”. Với bất cứ người nào chịu để tai nghe, tôi còn bảo mình lấy làm tiếc rằng thời nay, không còn có thể hành động như ông địa chủ người Nga nọ, tôi hết sức thán phục tánh khí của ông: ông sai đánh luôn vừa những tá điền vái chào ông vừa những tá điền không vái chào ông, vì tôi đã dám to gan làm một việc mà ông xét thấy trong cả hai trường hợp thảy đều trơ tráo như nhau.
Mà chưa hết, tôi vẫn còn nhớ nhiều chuyện kỳ khôi khác nghiêm trọng hơn nữa. Chẳng hạn, khởi công sáng tác một bài Thơ ca ngợi cảnh sát và một bài Xưng tụng máy chém. Nhứt là ép mình hằng bữa đến thăm các quán cà phê đặc biệt làm chỗ hội họp cho các nhà nhân bản chuyên nghiệp của chúng ta[13]. Thành tích tốt đẹp về trước đương nhiên khiến tôi được tiếp rước niềm nở ở đây. Thế rồi, vờ như vô tình, tôi buột miệng phóng ra một lời thô tục: “Lạy Trời!”, câu này hay một câu thông thường hơn “Trời ơi!...” Ngài ắt biết rằng bọn người vô thần quán nước của chúng ta giống các cô cậu vừa được ban thánh thể còn khép nép thẹn thò nọ đến mức nào. Tiếp liền sau câu quái gở kỳ dị vừa thốt ra đó, là một giây lát kinh hoàng, họ trố mắt nhìn nhau, kinh ngạc, rồi vụt bùng lên náo động, kẻ thì lủi trốn ra ngoài, kẻ thì mạnh ai nấy xí xô xí xào công phẫn, đều thảy uốn éo chân tay hệt như quỉ sứ bị rưới cam lồ.
Ngài ắt xét thấy các hành vi nói trên trẻ con quá lắm. Ấy vậy mà chắc cũng có một lý do nào đứng đắn hơn trong mấy trò đùa đó chớ. Tôi định tâm quấy rối nước cờ và nhứt là, vâng, hủy hoại cái tiếng tăm tốt đẹp hằng khiến tôi bực mình hễ nghĩ tới nó. “Một kẻ như ngài...”, người ta rất mực tử tế bảo tôi làm vậy và tôi tái xanh mặt mày. Tôi không thèm được họ quí trọng nữa, bởi chưng nó không phải là thứ lòng quí trọng vẹn toàn; mà làm sao nó lại vẹn toàn được, bởi chưng tôi không thể san sẻ cùng ai? Vậy thì, thà là trùm lên trên mọi thứ, xét xử, quí trọng, một tấm màn lố bịch. Dầu muốn dầu không, tôi cũng buộc phải lách khỏi cái cảm giác đang đè nghẹt mình. Để vạch cho mọi người ngó thấy chân tướng của mình, tôi rắp tâm bẻ nát cái hình nộm đẹp đẽ tôi hằng trình diện khắp mọi nơi. Tôi còn nhớ một buổi nói chuyện trình bày trước số luật sư tập sự trẻ. Bực mình vì những lời giới thiệu của ngài Chủ tịch Đoàn đề cao tôi quá đáng, tôi cầm lòng không đậu nữa. Tôi đã khởi đầu với giọng hùng hồn và xúc động họ mong đợi ở tôi, mà tôi chẳng phải khó nhọc mấy cũng biểu lộ tùy ý lúc nào cũng được. Nhưng tôi bỗng vụt cất lời khuyên họ nên dụng luật hỗn hợp làm phương pháp bào chữa. Tôi bảo, không phải thứ hỗn hợp đã được kiện toàn bởi các tòa án tân tiến hiện đại, xét xử cùng một lượt kẻ trộm và người lương thiện hòng đem tội vạ của kẻ trên mà chụp lên đầu người dưới. Mà ngược lại, vấn đề là bào chữa kẻ trộm bằng cách biểu dương tội vạ của người lương thiện, trong trường hợp này, là của luật sư. Tôi giải thích rành mạch về điểm ấy như sau:
- Cứ hãy giả thiết rằng tôi nhận bào chữa cho một công dân dễ xúc động nào đã đánh ghen mà gây nên án mạng. Tôi sẽ bảo, thưa quí vị, xin quí vị xét xem nặng tội ở chỗ nào đâu, nổi trận lôi đình khi trông thấy lòng tốt bẩm sanh của mình thử thách bởi tà tâm hiểm độc của phái yếu. Ngược lại, phải chăng còn trầm trọng hơn, ngồi ở bên này vành móng ngựa, trên chính mặt ghế của tôi đây, mà chưa hề tỏ ra tốt lòng hay chịu bị mắc mưu lần nào. Tôi được tự do, ở ngoài vòng xét xử nghiêm ngặt của quí vị, vậy mà tôi là người thế nào? Một công-dân-con-trời[14] nói về tánh tự phụ, một con dê già về chuyện dâm dật, một pha-ra-ông trong cơn thịnh nộ[15], một ông chúa lười. Tay tôi chưa có dính máu người ư? Thì vâng, vẫn chưa! Nhưng tôi đã chẳng để mặc cho bao nhiêu kẻ xứng đáng chết đi hay sao? Cũng đúng. Và cũng có thể tôi vẫn sẵn sàng tái phạm. Còn thân chủ tôi kia, quí vị hãy nhìn y mà xem, y sẽ không tái phạm nữa đâu. Y vẫn còn đang bàng hoàng kinh ngạc, nhận thấy mình đã khéo tay đến ngần ấy.
Lập luận trên đây khiến mấy đồng nghiệp trẻ của tôi bối rối giây lát. Chập sau, họ hè nhau xem đó là một trò đùa. Rồi họ trở lại yên tâm vững dạ hoàn toàn đến chừng tôi đi vào kết luận, hùng hồn nhắc tới nhân vị và nhân quyền. Thói quen, bữa đó, vẫn thắng.
Tái diễn nhiều lần loại hành động vô lối dễ thương này, tôi chỉ đánh lạc dư luận được đôi chút. Chớ không làm nao núng được nó, nhứt là cũng không làm nao núng được chính mình. Dáng ngạc nhiên tôi hằng bắt gặp trên nét mặt thính giả, vẻ ngượng nghịu phần nào còn rụt rè của họ, giông giống vẻ ngượng nghịu ngài đang biểu lộ đây - vâng, xin ngài đừng phản đối - chẳng mang đến cho tôi chút nguôi ngoai nào. Ngài xem, đâu phải hễ tự ý buộc tội là giải tội được mình, bởi không, thì tôi ắt hóa thành một con chiên hiền lành trong trắng. Phải biết tự cáo cách nào kia, tôi đã phải tổn hao bao nhiêu thời giờ mới thấu triệt được nó và chỉ phát hiện được nó sau khi đà đắm mình trong trạng thái buông thả tột cùng. Cho tới lúc này, cái cười của thiên hạ vẫn tiếp tục vây bủa chung quanh, không hề bị các nỗ lực hỗn loạn của tôi gạt bỏ được tánh cách niềm nở và hầu như dịu dàng hằng khiến tôi đau lòng khôn tả.
Nhưng mà triều nước dâng lên đây rồi, ngài ạ. Chuyến tàu chúng ta cũng sắp sửa rời bến, chiều hôm đang tàn. Ngài nhìn xem, bầy bồ câu tụ họp trên kia. Chúng dồn sát vào nhau, hầu như bất động, và ánh tà nhạt dần. Ý ngài có muốn chúng ta lặng thinh ngõ hầu thưởng ngoạn trọn cảnh tiêu sơ vào giờ khắc này không? Ngài thích nghe tôi tâm sự ư? Ngài quả chân thành hết mực. Vả chăng, kể từ nay ngài chắc có cơ thích nghe tôi tâm sự thật tình. Trước khi biện giải về chuyện quan-tòa-sám-hối, tôi cần phải trình bày cùng ngài thời kỳ bê bối và dày vò.
❀ ❀ ❀
[1] Jan Vermeer (1632-1676) cũng gọi là Vermeer de Delft. Họa sĩ cổ điển Hòa Lan.
[2] Nguyên văn: foie gras. Trong nghệ thuật nấu ăn ở châu Âu, đặc biệt ở Pháp, gan ngỗng được xem như một món ăn sang trọng, dành cho tiệc tùng.
[3] Tháng 5-6/1940, quân đội Đức tràn sang Pháp, chánh phủ Philippe Pétain ký hiệp định ngưng chiến 22 tháng Sáu, chia nước Pháp thành hai Miền: Miền bắc (zone Nord, hay zône occupée, miền bị chiếm đóng; Miền Nam (zône Sud, hay zône Libre, miền tự do) Miền Bắc nằm dưới quyền kiểm soát và hành chính của quân đội Đức; miền Nam nằm dưới quyền kiểm soát và hành chánh của chánh phủ bại trận Pháp. Nhưng đến tháng 11/1942, thì quân đội Đức chiếm đóng và kiểm soát toàn lãnh thổ nước Pháp.
[4] Nghệ thuật làm thảm đòi hỏi nhiều đức kiên nhẫn, chịu khó, âm thầm, hết sức trái ngược với tính khí của Jean Baptiste Clamence vốn là kẻ thích được ở trên các đầu ngọn khoảng khoát.
[5] Nguyên văn: des brutes: ám chỉ bọn lính kín Gestapo Đức.
[6] Sau khi chánh phủ Philippe Pétain chịu hợp tác với Đức, tướng Charles de Gaulle (có chân trong chánh phủ Pháp bấy giờ) liền bỏ chạy sang London. Ngày 18 tháng 6/1940, de Gaulle đọc trên đài BBC lời kêu gọi quốc dân chống Đức, và biến thành biểu tượng cho tinh thần kháng Đức của dân tộc Pháp.
[7] Ám chỉ thời kỳ lãng mạn, đầu thế kỷ XIX ở châu Âu.
[8] Bertrand du Guesclin (1320-1380), nhân vật lịch sử Pháp. Nguyên súy quân đội hoàng gia (Connétable de l’Armée royale) cầm quân nhiều trận chống ngoại xâm Anh và Espana, thắng có, bại có. Nhiều giai thoại truyền tụng hành động anh hùng của ông. Tượng trưng cho con người dũng cảm và anh hùng.
[9] Thái độ và lập trường của Tòa thánh Roma, đặc biệt của Giáo hoàng Pio XII, đối với khối Trục, trong thời Thế chiến thứ hai, hết sức mập mờ, thiếu dứt khoát. Riêng đối với nước Espana dưới quyền Franco là một nước Công giáo, Tòa thánh Roma còn có lập trường ủng hộ rõ rệt.
[10] Nguyên văn: le Romain. Từ ngữ miệt thị và bất phục, ám chỉ Giáo hoàng Pio XII.
[11] Hubert Van Eyck (khoảng 1366-1426) và Jean Van Eyck (khoảng 1390-1441), sư tổ nền hội họa Flandres.
[12] Tranh hậu bộ l’Agneau mystique, kiệt tác đánh dấu bước đầu nền hội họa Flandre. Gồm tất cả mười hai bức. Đây là tranh hậu bộ thánh đường Saint-Bavon, thành phố Gand (Bỉ). Đề tài rút trong bộ Apocalypse (Mặc thị lục) theo thánh Jean.
[13] Mọi chi tiết kể trên đây đều có thật. Bức les Juges Intègres (Quan tòa công minh chánh đại), thuộc tranh hậu bộ l’Agneau Mystique, bị trộm năm 1934, và được thay thế bằng một bản sao. Đến nay, nguyên tác vẫn mất tích.
[14] Tên người ngợm, ông bạn của chúng ta, chỉ tên chủ tửu điếm Mexico-City.
[15] Trên thực tế, Albert Camus đã tham dự cuộc kháng chiến chống Đức thời 1940-1945, công tác bí mật khá nguy hiểm.