Sa Đọa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Vi

❊ ❊ ❊

Tôi lấy làm ngại ngùng phải nằm mà tiếp ngài. Chẳng sao cả, chỉ sôn sốt thôi, tôi trị bằng rượu đỗ tùng. Tôi thường hay lên cơn như vậy, thành cũng quen rồi. Chứng rét rừng đó ngài, bị nhiễm thời làm giáo hoàng. Không, tôi chỉ nói đùa có nửa phần. Tôi biết rõ ngài đang nghĩ sao: thật khó phân định đâu là hư, đâu là thực trong những điều tôi kể hầu ngài. Tôi thú nhận rằng ngài có lý. Chính tôi đây nữa... Ngài xem, có một người trong hàng thân hữu với tôi thường chia nhân loại ra làm ba hạng: một hạng thà không giấu giếm điều gì hơn là buộc phải khoác lác, một hạng khác thà khoác lác hơn là không giấu giếm điều gì, và sau rốt hạng thứ ba thì vừa điêu ngoa vừa bí mật cùng một lượt. Tôi xin nhường ngài công việc chọn cái ô thích ứng với tôi hơn hết.

Nhưng nghĩ kỹ, hệ trọng gì đâu? Những lời điêu ngoa cuối cùng chẳng dẫn tới sự thật đó ư? Và các câu chuyện tôi kể, dầu hư dầu thực, thảy đều chẳng qui về cùng chung một mục đích đó ư? Chẳng cùng chung một ý nghĩa đó ư? Vậy thì, dầu hư dầu thực, cũng chẳng hệ trọng gì, ví như, trong cả hai trường hợp, chúng thảy đều bày tỏ được con người tôi trước kia và con người tôi bây giờ. Chúng ta có khi trông thấy rõ ở kẻ khoác lác hơn là ở kẻ nói thật. Sự thật, hệt như ánh sáng, hằng làm chói mắt. Điêu ngoa, ngược lại, là một buổi hoàng hôn đẹp, nó nâng cao giá trị của mỗi sự vật. Mà thôi, ngài muốn hiểu sao tùy ý, nhưng thật tình là tôi đã được bổ nhiệm làm giáo hoàng trong một trại tù binh.

Mời ngài ngồi xuống kia đi. Ngài đảo mắt nhìn gian phòng này. Trống trơn, ngài nhỉ, nhưng được cái sạch sẽ. Chỉ một bức Vermeer[1], không tủ kệ, không soong chảo. Cũng không sách vở nốt, tôi thôi đọc sách bấy lâu nay rồi. Xưa, nhà tôi ngập đầy sách vở đọc lướt nửa chừng. Cũng ớn chẳng thua gì bọn người phí của rớ sơ tới gan ngỗng[2], rồi bỏ mứa. Gia dĩ, bây giờ tôi thích đọc có loại tự thú, mà tác giả những thiên tự thú thì viết sách chủ yếu là để không tự thú và để không đả động tới những điều bụng họ rành rọt. Khi họ vờ bảo rằng mình thú nhận hết tội lỗi, chính là lúc chúng ta cần phải dè dặt, họ sắp tráo trở sự thật đó. Ngài cứ tin tôi đi, tôi thấu rõ ruột gan họ lắm. Vậy nên tôi mới lo lánh trước. Dẹp hết sách vớ, dẹp hết luôn cả đồ vật dụng, chỉ chừa lại những thứ cần kíp, trơn tru và nhẵn bóng như một cỗ quan tài. Vả chăng, trên thứ giường Hòa-lan cứng lưng quá chừng này, với lớp vải trải trắng tinh, ngài đã tắt nghỉ gói ghém trong vải liệm và xác ướp tinh khiết sẵn rồi.

Ngài nóng lòng muốn biết đoạn đời tôi trở thành giáo hoàng đó ư? Toàn chuyện tầm thường cả, đó ngài. Mà không hiểu tôi còn đủ sức để thuật lại hầu ngài chăng? Tôi nghe chừng như cơn sốt đã dịu bớt, vậy thì chắc còn. Cũng đã lâu lắm rồi. Hồi ấy là ở châu Phi, nhờ ngài Rommel mà chiến trận phụt cháy lan tràn. Không, ngài đừng sợ, tôi không có dính gần dính xa gì tới nó. Tôi cũng đã tránh được chiến trận ở châu Âu. Bị động viên thì có, nhưng không trông thấy lửa đạn bao giờ. Trên một phương diện nào, tôi cũng lấy làm ân hận về chỗ đó lắm. Biết đâu bao nhiêu sự việc đã chẳng đổi thay? Quân đội Pháp không cần đến sức tôi ngoài mặt trận. Nó chỉ gọi tôi tham dự rút lui. Sau đó, tôi trở về Paris, gặp lại bọn Đức. Tôi nảy ý theo kháng chiến bây giờ vừa khởi sự được nghe nói tới, suy soát vào lúc tôi phát giác ra rằng mình cũng yêu nước như ai. Ngài mỉm cười ư? Không nên đâu, ngài ạ. Tôi phát giác được điều đó trong hành lang métro, ở ga Châtelet. Có một con chó lạc trong chốn mạng nhện ấy. To con, lông cứng, một vành tai ngoặt thòng, cặp mắt láo liên, nó vừa nhún nhảy vừa hít hót bắp chân hành khách. Tánh tôi từ thuở nào vẫn thích loài chó, mến chúng lạ thường. Tôi thích loài chó bởi chúng bao giờ cũng biết miễn thứ. Tôi liền cất tiếng gọi, nó chạy đến đứng dang xa vài ba thước, như còn do dự, nhưng rõ ràng là đã bị chinh phục, đuôi ngoe nguẩy hân hoan. Vào ngay lúc ấy có một tên lính Đức trẻ lướt qua mặt tôi, bước chân thoăn thoắt. Đến ngang chỗ con chó đứng, y thòng tay xoa đầu nó. Tức khắc, con vật liền đuổi theo gót y, cũng hân hoan chẳng ít, rồi mất dạng cùng với y. Tôi bỗng vụt sôi sục căm hờn và hậm hực giận tên lính Đức hết mực; cứ suy theo phản ứng ấy, tôi cũng buộc phải nhận rằng nó thuộc loại phản ứng yêu nước. Ví thử con chó nọ theo chân một người thương dân Pháp, thì chắc là tôi chẳng có lưu ý tới chuyện đó chút nào. Đằng này tôi cứ hình dung con vật dễ mến ấy biến thành bùa hộ thân cho một đội binh Đức nào, và ý nghĩ này khiến tôi căm tức khôn cùng. Cuộc chứng nghiệm như vậy quả tình là minh xác lắm rồi.

Tôi liền bỏ xuống khu miền nam[3] trong ý định tìm biết xem tình hình kháng chiến ra sao. Nhưng khi đã đến nơi, và tìm biết xong, thì tôi lại do dự ngần ngừ. Tôi xét thấy mưu tính ấy có phần nào cạn suy và, rốt cuộc, quá lãng mạn. Tôi nghĩ nhứt là vì những hoạt đông âm thầm không hạp với tánh khí của mình, cũng không hạp với cái sở thích được ở trên các đầu ngọn khoảng khoát. Tôi cảm thấy tựa hồ như người ta sai mình làm thảm dưới hầm[4], suốt ngày đêm ròng rã, chờ cho bọn súc sanh[5] ập tới thộp đầu, tháo gỡ từng sợi tấm thảm của mình, rồi lôi xệch xuống một hầm khác mà tra khảo cho tới phút ngất ngư thở hắt. Tôi thán phục những kẻ xả thân vào thứ anh hùng tính sâu thẳm ấy, nhưng riêng mình, thì không dám noi theo.

Tôi bèn chạy qua Bắc Phi trong ý định mơ hồ sẽ tới London[6]. Nhưng, ở châu Phi tình hình bấy giờ chẳng minh bạch chút nào, đường lối các đảng phái đối nghịch chừng như thảy đều hữu lý như nhau, khiến tôi lại chùn bước. Nom thấy dáng mặt ngài, đủ biết là, theo ý ngài, tôi đã lướt qua quá mau lẹ các chi tiết bề gì cũng súc tích ý nghĩa. Ấy, cứ bảo là bởi tôi đã xét thấy được chân giá trị của ngài, nên mới lướt qua quá mau lẹ các chi tiết đó ngõ hầu ngài càng lưu ý tới chúng hơn. Dầu sao chăng nữa, thì rốt cuộc là tôi đã sang Tunisie, ở đây có một cô bạn tình đảm bảo cơm ăn việc làm cho tôi. Cô bạn này đã được bà mụ nặn cho một khối óc khá thông minh, thị bấy giờ chuyên ngành chiếu bóng. Tôi đèo theo thị về Tunis và, cho tới sau ngày quân đội Đồng minh đổ bộ lên đất Algétie, tôi mới được biết rõ nghề thật của thị. Bữa đó, thị bị Đức bắt, và tôi cũng bị vướng luôn, nhưng không có can vào việc gì. Tôi không biết thị sau này ra sao. Về phần tôi thì không bị đánh đập chi cả và, sau thời gian ứa mật phập phồng, tôi vụt hiểu rằng nội vụ này chủ yếu chỉ nằm trong kế hoạch bảo an mà thôi. Tôi bị quản thúc gần Tripoli, trong một trại giam, cực khổ vì khát và thiếu thốn đủ điều hơn là vì ngược đãi. Tôi xin được miễn miêu tả ra đây hầu ngài. Bọn chúng ta, sanh ra vào khoảng nửa thế kỷ này, chẳng cần tới họa đồ cũng hình dung được loại địa trận đó. Một trăm năm mươi năm xưa, người ta rung cảm trước cảnh hồ xanh, rừng rậm[7]. Còn ngày nay thì chúng ta có thứ trữ tình ngục thất. Nên chi tôi tin cậy ở ngài. Ngài chỉ cần gia thêm vài ba chi tiết: nóng bức, nắng chói, ruồi, cát, khan nước.

Chung trại với tôi có một thanh niên người Pháp, y có đức tin. Vâng, vâng! Hệt như chuyện tiên vậy, quyết nhiên rồi. Loại Duguesclin[8], đó ngài. Y đã rời nước Pháp chạy sang Espana định tâm tiếp tục chiến đấu; ông tướng công giáo thộp đầu y đem đi quản thúc, và được chính mắt mình chứng kiến cảnh cơm thiu cá mục cứ bảo là được Tòa thánh Roma rủ phước, khiến cho y lấy làm buồn lòng quá đỗi[9]. Cả đến bầu trời châu Phi y tấp qua sau đó, và thời gian nhàn rỗi trong trại, cũng không xóa nổi nỗi buồn lòng này. Mà y lại còn bị những suy luận trong đầu và, nắng chói, phần nào kéo ra khỏi trạng thái bình thường. Một hôm, dưới lều vải nóng bỏng như chì chảy tháo, trong lúc độ mười người chúng tôi hổn hển giữa bầy ruồi nhung nhúc thì y bỗng lại cất lời công kích kịch liệt kẻ y gọi là tên đầu sỏ Roma[10]. Y không ngớt nhìn chúng tôi, con mắt lơ láo, bô râu mấy ngày không cạo. Ngực trần nhuễ nhại mồ hôi, hai tay đưa ngón lần trên bọ sườn lồi như đánh dương cầm. Y tuyên bố rằng cần phải có một đức giáo hoàng khác sống len lỏi giữa đám cùng khổ hơn là cứ tót trên ngôi mà cầu nguyện, và càng sớm càng hay. Y vừa đăm đăm nhìn chúng tôi với cặp mắt lơ láo của mình vừa gật đầu lia lịa. Y lặp đi lặp lại: “Ừ, cho thật sớm!”. Rồi y vụt lắng dịu đột ngột và, bằng một giọng ủ ê, bảo rằng cần phải tuyển ngài trong bọn chúng tôi, chọn lấy một người hoàn bị, thói hư tánh tốt đầy đủ, mà thề nguyện phục tùng, với điều kiện duy nhứt là y chịu duy trì, ở mình và ở kẻ khác, cảnh tình đau khổ chung của chúng tôi. Y hỏi: “Trong bọn chúng ta đây, ai là kẻ nhiều yếu đuối nhứt?”. Để pha trò tôi liền giơ tay, và chỉ mỗi mình tôi làm vậy. ”Được, Jean-Baptiste hạp với việc làm lắm”. Không, y không thốt ra chính câu đó, hồi ấy tôi mang tên khác. Nhưng đại khái y tuyên bố rằng dám nhìn nhận như tôi đã làm cũng phải là người có đức lắm, và đề nghị bầu tôi. Mấy người kia nhất loạt biểu đồng tình, chơi vậy thôi, tuy cũng thoang thoáng nghiêm trang. Tình thật là chúng tôi lúc bấy giờ thảy đều bị chú chàng Duguesclin kích động. Chính tôi chừng như cũng không cười thật sự. Thoạt đầu tôi nhận thấy chú chàng tiên tri trẻ của mình xem ra vậy mà có lý, rồi thì nào là nắng đốt, nào là công dịch nặng nhọc, nào là tranh giành nước nôi, nói tóm, chúng tôi chẳng một ai còn ở trong trạng thái bình thường. Dầu sao chăng nữa, thì tôi đã nhậm chức giáo hoàng ròng rã mấy tuần lễ, mỗi ngày một tỏ ra trịnh trọng hơn.

Công việc ấy thế nào ư? Cũng chẳng có gì, na ná như công việc làm trưởng nhóm hay thư ký tiểu tổ vậy. Ít nữa, thì mấy người kia, và luôn cả thành phần không có đức tin, cũng rặp thói tòng quyền tôi. Chú chàng Duguesclin đau khổ khôn nguôi; công việc tôi là cai quản nỗi niềm đau khổ ấy. Bấy giờ tôi mới hay rằng làm giáo hoàng chẳng phải dễ dúng gì như người ta tưởng và hôm qua tôi lại vụt nhớ tới nó, sau khi đã hết lời chê bai bọn quan tòa đồng cánh với chúng ta. Vấn đề trọng yếu trong trại giam là phân phát nước. Có nhiều nhóm chánh trị hay tôn giáo khác cũng đã được thành lập, và mỗi nhóm vị đãi đồng chí của mình. Thành thử tôi buộc phải vị đãi các bạn tôi, đây đã là một điều châm chước nho nhỏ rồi. Ngay cả trong đám chúng tôi, tôi cũng không duy trì được một sự bình đẳng tuyệt hảo. Tùy ở sức khỏe, hay ở công việc các đồng chí mình phải làm, tôi biệt đãi người này hay người nọ. Loại phân biệt ấy dẫn người ta đi xa lắm, đó ngài. Nhưng quả tình là tôi mệt mỏi lắm và không thích nghĩ tới thời kỳ đó nữa. Cứ tóm tắt là tôi đã kết sổ, cái ngày đã giành lấy phần nước của một đồng chí ngất ngư sắp hết hơi. Không, không, không phải chú chàng Duguesclin, y đã chết rồi, tôi còn nhớ rõ, y nhường nhịn quá độ. Lại nữa, ví dụ lúc bấy giờ y còn sống thì, vị tình y, tôi đã cầm cự lâu hơn, vì tôi mến y, vâng, tôi mến y, ít nữa là tôi tin như vậy. Nhưng điều chắc là tôi đã uống phần nước ấy, bụng bảo dạ rằng mấy người kia còn cần tới mình hơn kẻ dầu thế nào cũng sắp lìa đời, và mình phải giữ thân ngõ hầu còn phục vụ họ nữa. Các đế quốc và các giáo hội phát sanh như vậy đó, ngài ạ, dưới ánh mặt trời phũ phàng chết chóc. Và để chữa bớt những lời lẽ đã thốt ra hôm qua, tôi xin thổ lộ cùng ngài cái ý kiến trọng đại sau đây, nó nảy đến với tôi trong lúc bàn tới mọi chuyện này mà thật tình tôi chẳng còn hiểu là mình đã sống qua hay chỉ mơ thôi. Cái ý kiến trọng đại ấy là chúng ta phải biết khoan thứ đức giáo hoàng. Trước, là vì ngài cần được khoan thứ hơn ai hết. Sau, là vì đó là phương cách độc nhứt để đứng trên ngài...

À, mà ngài có khép kỹ cánh cửa không? Vâng, ngài kiểm soát hộ tôi chút. Ngài thứ lỗi, đầu óc tôi vốn bị ổ khóa ám ảnh. Vào lúc thiếp ngủ, tôi không tài nào nhớ nổi mình đã khóa cửa chưa. Mỗi đêm, đều phải trở dậy đi kiểm soát lại. Không ai chắc mẩm được điều gì, như tôi đã bảo hầu ngài. Ngài chớ nghĩ rằng tôi áy náy đến ổ khóa làm vậy là bởi có thứ phản ứng phập phồng lo sợ của người nhiều của cải. Xưa, tôi không hề khóa cửa nhà hay xe cộ. Tôi không kè kè ôm giữ tiền của bên mình, cũng không thiết tha tới tài sản chiếm giữ trong tay. Nói cho ngay, thì tôi phần nào cũng lấy làm xấu hổ chiếm giữ tài sản trong tay. Tôi đã chẳng lắm khi, nhân đọc diễn văn trong những bữa tiệc xã giao, mà gióng tiếng thành tâm bảo rằng: “Thưa quí vị, quyền tư hữu là thứ quyền giết người!” đó ư? Tấm lòng không đủ quảng đại ngõ hầu chia sớt tài sản cho một kẻ nghèo nào thật xứng đáng, tôi phô bày chúng sờ sờ ra đó cho bọn đạo tặc tùy ý sử dụng, hy vọng lấy sự tình cờ làm kế giảm bớt tình trạng bất công. Vả chăng, bây giờ tôi không còn chiếm giữ vật gì trong tay nữa hết. Vậy, không phải tôi áy náy lo cho sự an toàn của mình, mà là cho chính mình và cho sự lanh trí của mình. Lại nữa, tôi cũng muốn khép chặt cái vũ trụ nhỏ xíu bít bùng này, cái vũ trụ tôi vừa là chúa tể, vừa là giáo hoàng, vừa là quan tòa.

A phiền ngài mở giùm tôi cái tủ dựa vách tường kia. Vâng, bức họa đó, ngài cứ ngắm nó xem. Ngài không nhận ra ư? Bức les Juges Intègres (Quan tòa thanh liêm) đó mà. Ngài không giựt mình ư? Té ra hiểu biết của ngài cũng có chỗ hỡ? Ấy mà giá ngài có đọc nhựt trình thường xuyên, thì ắt ngài còn nhớ tới vụ trộm ở Gand, vào năm 1934, trong thánh đường Saint-Bavon, rinh mất một bức họa hợp thành tranh hậu bộ nổi tiếng nọ của họa sĩ Van Eyck[11], tranh hậu bộ l’Agneau Mystique (Con trừu thần bí)[12], bức họa đó nhan là les Juges Intègres. Nó vẽ một số quan tòa ngồi yên ngựa đi sùng bái con vật thánh. Nó đã được thay thế bằng một bản sao tuyệt hảo, nguyên tác vẫn còn cao bay xa chạy. Chính nó đó, ngài[13]. Không, tôi không có dính dấp gì tới vụ này hết. Một ông khách hằng lui tới tửu điếm Mexico-City, mà ngài cũng đã có dịp trông thấy phớt qua tối nọ, đã đổi nó cho tên người ngợm lấy một chai rượu, một tối say nhèm. Ban đầu, tôi nhủ lời khuyên ông bạn của chúng ta[14] treo nó đàng hoàng ở một chỗ tốt lành và suốt một thời gian dài, trong lúc người ta không ngừng tróc nã truy tầm mấy vị khắp cùng hoàn cầu, thì các quan tòa sùng đạo của chúng ta đường đường ngự trị trong tửu điếm Mexico-City, trên đầu những tay bợm rượu và ma cô. Rồi sau, tên người ngợm nghe lời tôi mà đem cất giữ nó ở đây. Y cũng có vùng vằng đôi chút, nhưng tới chừng tôi giải thích cho y hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, thì y hốt hoảng ra mặt. Tự đó, các vị tài phán đáng trọng ấy biến thành bầu bạn duy nhứt của tôi. Còn ở đằng kia, tót trên sạp rượu, ngài đã trông thấy các vị bỏ lại sau lưng một khoảng trống như thế nào.

Tại sao tôi không hoàn lại bức họa ấy ư? Ý, trời, ngài phản ứng giống y cảnh sát có khác! Vậy, xin đáp ngài, hệt như tôi sẽ đáp lời quan thẩm phán ví thử cứ cho là có kẻ nào tự dưng nghĩ ra được rằng tấm tranh ấy lọt vào căn buồng này. Một, vì nó không phải của tôi, mà là của ông chủ tửu điếm Mexico-City, y cũng xứng được lưu trữ nó chẳng kém gì ngài Tổng giáo chủ thành phố Gand này. Hai, vì trong số người lũ lượt đi ngắm tranh l’Agneau Mystique, chẳng ai phân biệt được bản sao với nguyên tác và, do đó, không có lấy một kẻ nào bị thiệt thòi bởi lỗi tôi. Ba, vì, nhờ vậy, mà tôi đường bệ ngự trị trên hết mọi người. Quan tòa giả hiệu được trình diện cho người đời chiêm ngưỡng, trong lúc chỉ độc một mình tôi là biết tới các quan tòa thật. Bốn, vì, làm vậy, tôi có cớ được đi ở tù, ý nghĩ hấp dẫn đó chớ, về một khía cạnh nào. Năm, vì, mấy vị quan tòa ấy đi tìm gặp mặt Trừu, mà ngày nay không còn trừu nữa, không còn ai vô tội nữa, và, do đó, tên đểu giả đã khéo tay bưng trộm bức họa, xem ra chỉ là tay chân của lẽ công lý lạ mặt, chúng ta không nên làm trái ý. Sau rốt, vì, như vậy, chúng ta nằm trong cái lý đương nhiên của sự việc. Công lý dứt khoát tách khỏi vô tội, cái này treo trên thánh giá, cái kia nằm trong tủ vách, thế là tôi được tự do tung hoành rặp theo tin tưởng của mình. Tôi có thể yên tâm hành cái nghề khó khăn là làm quan-tòa-sám-hối, đã chọn sau bao nhiêu ảo vọng đắng cay và mâu thuẫn, và bây giờ đã tới lúc, bởi ngài sắp đi, phải trình bày hầu ngài xem nó như thế nào.

Ngài cho phép tôi rướn mình lên cho dễ thở hơn trước đã. Ấy, tôi cảm thấy bần thần mỏi mệt thế nào! Phiền ngài khóa chặt giùm mấy vị quan tòa của tôi kia, rất đội ơn ngài. Cái nghề làm quan-tòa-sám-hối, tôi đang hành sự nó đây. Thói thường, thì văn phòng tọa ngụ ở tửu điếm Mexico-City. Nhưng mà chí lớn vốn dĩ là thứ hằng lan rộng ra khỏi vòng nhiệm sở. Cả khi phải nằm, cả khi hâm hấp nóng, tôi cũng vẫn tác hành như thường. Vả chăng, cái nghề đặc biệt này, ngài không hành sự nó đâu, mà hô hấp nó, bất luận vào giây phút nào. Thật vậy, ngài chớ nên tưởng rằng, suốt năm ngày qua, tôi tâm sự cùng ngài dài dòng ngần này là để kể lể cho vui vậy thôi. Không đâu, xưa kia, tôi cũng đã lẻo bẻo luôn mồm để chẳng nói điều gì. Bây giờ, lời lẽ tôi thốt ra thảy đều có chủ đích. Nó cố nhiên nhằm mục đích xóa tiệt tiếng cười và tránh cho mình khỏi bị xét xử, mặc dầu bề ngoài chừng như không có lấy được một lối thoát nào. Chướng ngại lớn cản trở không cho chúng ra thoát khỏi sự tình ấy chẳng nằm ở chỗ chính chúng ta là kẻ đầu tiên tự ý buộc tội mình đó ư? Vậy thì thoạt tiên phải buộc tội hết thảy mọi người, không chừa một ai, ngõ hầu đà giảm bớt tội trạng của mình.

Chẳng khi nào khoan thứ một ai, không, chẳng khi nào, nguyên tắc khởi đầu của tôi là vậy. Tôi chối liệt hết nào thiện chí, nào sai lầm khả kính, nào cảnh tình lỡ bước, nào trường hợp giảm khinh. Với tôi, không có chuyện giáng phước, không có chuyện phân phát miễn xá. Chỉ rặt một đường là làm tổng số, rồi bảo: “Đây, bấy nhiêu đây. Ngài là một tên đồi trụy, một con dê già, một phường ăn nói huênh hoang, một tuồng kê gian, một tay nghệ sĩ, vân vân”. Vậy đó. Một cái rụp. Ấy vậy, nên chi về mặt triết lý cũng như về mặt chánh trị, tôi ngả theo học thuyết nào không nhìn nhận con người có bản chất vô tội, và theo thực hành nào đối xử y như một kẻ phạm tội. Ngài nhận thấy ở tôi, đó ngai, một phần tử sáng suốt trung thành với cảnh tình nô lệ.

Nói cho ngay, không có nô lệ, thì quyết chắc không có giải pháp tối định. Tôi đã hiểu được điều này rất mực nhặm lẹ. Xưa, tôi chỉ có mỗi chữ tự do trong miệng. Tôi tráng nó lên bánh mì khi ăn lót lòng, tôi gặm nó suốt ngày ròng rã, tôi mang vào cuộc đời một hơi thở ngọt ngào và thơm mát tự do. Tôi giơ cao cái chữ bự cồ ấy mà giáng vào mặt kẻ nào dám nói trái ý, tôi đã bắt nó phụng sự ước vọng và thế lực của mình. Tôi thỏ thẻ nó trên giường, vào vành tai thiêm thiếp của mấy cô bạn và nó giúp tôi bỏ rơi họ dễ dàng. Tôi đụng đâu cũng lòn nó vào được cả... Ấy, tôi lại nổi nóng rồi, lời lẽ mất hết mực thước. Vậy mà nghĩ kỹ thì tôi cũng đã có khi vận dụng tư tưởng tự do một cách ít vụ lợi và, ngài hãy xét xem tôi khờ khạo tới mực nào, cũng đã rắp tâm bảo vệ nó vài ba lần. Cố nhiên không đến độ hy sanh tánh mạng cho nó, nhưng chẳng phải là không mạo hiểm đôi phần[15]. Cũng nên miễn chấp mấy hành động liều lĩnh đó, tôi không hiểu rõ bấy giờ mình làm việc gì. Tôi không hiểu rõ rằng tự do chẳng phải là một phần thưởng hay một tấm huy chương ngài ăn mừng trong mùi rượu sâm banh. Cũng chẳng phải là một món quà, một hộp bánh mứt dành để trém mép cho khoái lỗ miệng. Không, không đâu, ngài ạ, tự do ngược lại là một khổ dịch, và là một cuộc chạy bộ dẻo dai, thật cô quạnh, thật nhừ xác. Không có sâm banh cũng chẳng có bạn hữu nâng ly trìu mến nhìn ngài. Đơn chiếc một mình trong căn phòng ủ dột, đơn chiếc một mình giữa vành móng ngựa và trước mặt quan tòa, và đơn chiếc một mình để định đoạt, trước mặt chính mình hay trước mặt đám người xét xử mình. Tót đầu mũi mọi thứ tự do, đều có kèm lời phán quyết; chính bởi lẽ đó mà tự do quả thật quá ư nặng nề khó gánh, nhứt là khi mình còn bị chứng rét rừng làm tình làm tội, hay đau khổ cõi lòng, hay không còn yêu thương lấy một ai trên cõi thế gian này.

Chao ôi! Ngài ạ, đối với kẻ đơn chiếc một mình, không thượng đế và không quan thầy, cuộc sống mới nặng nề khủng khiếp biết chừng nào. Vậy nên y buộc phải chọn cho mình một quan thầy để chiêm ngưỡng, thượng đế không còn hợp thời nữa. Thật ra, từ ngữ này cũng không còn mang ý nghĩa gì, không xứng để làm chướng tai gai mắt ai. Này nhé, mấy nhà văn đạo đức của chúng ta kia, thói thường quả thật đứng đắn đến mực và biết yêu thương đồng loại đủ thứ, tụ trung, chẳng có chỗ nào ngăn cách họ với bản chất làm người Thiên Chúa cả, trừ chỗ họ không truyền giáo trong nhà thờ. Vậy mà cứ theo ý ngài, thì cái gì cấm họ vào đạo? Lòng tôn trọng, đó ngài, họ tôn trọng con người, chắc vậy, họ tôn trọng nhân loại, vâng, đúng thế. Họ không muốn làm chấn động dư luận, họ dành cảm nghĩ của họ cho riêng mình. Tôi có biết một tiểu thuyết gia vô thần giống y như vậy đó, chiều nào ông cũng tụng kinh gõ mõ. Vậy mà có thay đổi gì đâu: Thượng đế vẫn cứ là bị ông ẩu đả túi bụi trong sách của mình! Thiệt là một một trận nhừ tử, nói như ai kia tôi chẳng còn nhớ nữa! Một ông bạn làm cán bộ phải tự do tư tưởng nghe tôi học lại làm vậy, liền giơ tay lên trời mà than rằng, vả chăng cũng không có ác ý: ”Tưởng gì, chớ chuyện đó thì tôi dư biết, họ thảy đều như vậy hết”. Cứ theo lời y, thì tám mươi phần trăm các nhà văn của chúng ta, ví thử không phải ký tên, quyết chắc họ sẽ viết sách hoan hô Thượng đế. Nhưng họ thảy đều ký tên, lại cũng theo y, vì họ mến phục mình, và họ không hoan hô ai cả, vì họ thù ghét mình. Bởi chưng cũng không thể không xét xử, nên họ lấy luân lý mà bù trừ chỗ đó. Tóm lại, họ có tâm địa ác ma đạo đức[16]. Thiệt là một thời đại kỳ quặc, ngài nhỉ? Vậy thì có gì đáng lấy làm lạ đâu, khi tinh thần hóa ra ngẩn ngơ bối rối, khi một ông bạn nọ của tôi, là người vô thần thời còn làm chồng chung thủy với vợ, lại cải tâm vào đạo lúc trở thành một kẻ ngoại tình!

Ôi chao! Quả là một bọn người thâm hiểm, làm tuồng, xảo trá, mà lại ra trò thống thiết nữa chớ! Nói thật cùng ngài, họ thảy đều thuộc bọn ấy, cả khi họ châm lửa thiêu đốt trời xanh[17]. Dầu vô thần hay mộ đạo, dân Matxcơva hay dân Boston, họ thảy đều là Thiên Chúa, cha truyền con nối. Nhưng mà ngày nay chẳng còn cha nữa, chẳng còn phép tắc phải tuân theo nữa[18]! Tự do mà, thì phải xoay xở một mình, và bởi họ không muốn nhận lấy tự do và các định quyết của nó chút nào, họ bèn cầu xin được khẻ lên đầu ngón tay, họ bày ra bao nhiêu phép tắc dễ sợ, họ lật đật chạy đi lập giàn hỏa thế cho giáo đường. Một bọn Savanarole đó mà, ngài[19]. Nhưng họ chỉ tin độc có tội lỗi, chớ không hề tin tới ơn huệ bao giờ. Cố nhiên chẳng phải là họ không nghĩ tới ân huệ. Nó chính là điều lòng họ ước muốn, cũng như lòng họ ước muốn sống trong bầu khí chấp nhận, phóng túng, yêu đời và biết đâu, vì chưng họ cũng đa tình nữa, với thời kỳ đính hôn, với thiếu nữ son trẻ, với con người chánh trực, với âm nhạc. Tôi đây, chẳng hạn, vốn chẳng phải là kẻ đa tình, vậy mà ngài có biết tôi đã mơ ước điều gì không: một mối tình vẹn toàn tim óc và xác thịt, ngày đêm không ngừng đắm trong vòng tay âu yếm, vừa hưởng lạc vừa phấn chấn, và như vậy suốt trọn năm năm trời, rồi sau đó thì tắt nghỉ. Tiếc thay!

Bởi thiếu đính hôn hay ái tình khôn dứt, thế thì phối hợp vậy, phải không ngài, một cách thô bạo, với uy quyền và roi vọt. Cốt sao cho mọi sự hóa thành giản dị, như đối với trẻ con, sao cho mỗi hành động đều được lịnh trên chiếu chỉ, sao cho thiện, ác đều được phân định một cách độc đoán, nghĩa là rành rọt rõ ràng. Vậy mà tôi tán thành, dẫu mình vừa là dân Sicilia vừa là dân Java, lại chẳng Thiên Chúa tí tị nào, tuy vốn có cảm tình với người đầu tiên trong số họ[20]. Nhưng đứng trên mấy cây cầu ở Paris, tôi cũng vậy nữa, tôi chợt thấu hiểu rằng lòng mình vốn dĩ kinh sợ tự do đến mực. Vạn tuế quan thầy vậy, bất kể y là người thế nào, để thế cho luật trời. “Lạy cha chúng tôi tạm thời ở thế gian này... Ôi các ngài lãnh đạo chúng tôi, chỉ huy chúng tôi, nghiêm khắc mà ngọt ngào, ôi các ngài dẫn dắt chúng tôi, nghiệt ngã và mến yêu...”. Tóm lại, ngài nhận thấy rõ đó, cốt sao cho không còn tự do nữa và phục tòng, trong niềm ăn năn hối hận, đối với kẻ đểu giả hơn mình. Ngày nào chúng ta thảy đều có tội như nhau, ấy mới là đến thời đại dân chủ. Ý là không kể tới việc còn cần đến bởi chỗ mình phải chết cô độc. Cái chết vốn dĩ lẻ loi đơn chiếc, còn cảnh tình nô lệ thì tập thể dính chùm. Họ cũng vậy nữa, người nào người nấy, và đồng loạt với chúng ta, quan trọng chính là ở chỗ đó. Mọi người cuối cùng họp mặt đầy đủ, nhưng thảy đều gối quì, và đầu cúi.

Phải chăng sống rập khuôn theo xã hội cũng chẳng kém hay đó ư? Và muốn vậy, phải chăng xã hội cần rập khuôn theo tôi đó ư? Thủ đoạn đe dọa, làm nhục, chế độ cảnh sát vốn dĩ là những nghi thức thường xuyên của thói rập khuôn này. Bị khinh miệt, bị tróc nã, bị cưỡng bách, bấy giờ tôi mới đủ khả năng trổ hết tài nghệ, hưởng thụ thực chất của mình, nghĩa là sống một cách hồn nhiên vậy. Ấy chính là, ngài ạ, nguyên cớ tại sao, sau khi đà trịnh trọng hoan hô tự do, tôi lại âm thầm nhứt quyết trao trả nó lại lập tức cho bất luận kẻ náo. Và hễ gặp dịp, là tôi cất tiếng thuyết pháp trong giáo đường Mexico-City của mình đây, tôi kêu gọi quần chúng nhứt loạt phục tòng và hèn mọn tranh lấy những tiện nghi của cảnh tình nô lệ, rồi thì cứ trình diện nó như là sự tự do đích thật.

Nhưng tôi đâu có dại dột gì, tôi thấy rõ rằng trạng huống tôi đòi chưa phải nay mai đã có được ngay. Nó chỉ là một trong số những chỗ lợi ích của tương lai, vậy thôi. Từ nay tới đó, tôi vẫn còn phải định liệu sao cho thuận hòa với hiện tại và tìm tòi giải pháp, ít nữa là giải pháp tạm thời. Vậy nên tôi đã buộc phải tính cách khác, sao cho lời xét xử lan rộng ra mà trùm lên hết mọi người khiến nó bớt đè nặng trên vai mình. Và tôi đã tính được cách ấy. Phiền ngài hé giùm cánh cửa sổ kia một chút, không khí trong buồng nóng rực lạ thường. He hé thôi, tôi cũng thấy ớn lạnh trong mình. Ý tôi vừa giản dị vừa súc tích. Làm thế nào đẩy hết mọi người xuống lầy để mình được quyền tắm gội sạch sẽ trong nắng ấm? Trèo lên giảng đường như phần nhiều đồng nhân trứ danh của tôi mà nguyền rủa nhân loại ư? Nguy hiểm lắm, ngài ạ! Thế nào rồi cũng có ngày, về sáng hay vào đêm, tiếng cười bỗng dưng dấy lên mà không báo trước. Câu phán quyết ngài trùm lên đầu kẻ khác cuối cùng chực chỉ dội trở vào mặt ngài, và làm thương tổn đôi ba chỗ. Thế phải làm sao? Ngài hỏi vậy. Thì sáng kiến tài tình là ở chỗ đó. Tôi phát giác ra rằng trong lúc ngóng chờ quan thầy và roi vọt, chúng ta phải biết noi gương Copernic[21] đảo ngược lập luận thì mới hòng đắc thắng. Vì chưng không thể khép tội kẻ khác mà chẳng tự xét mình tiếp liền sau đó, vậy thì cần phải sỉ vả chính mình để được quyền xét xử kẻ khác. Vì chưng bất luận quan tòa nào sớm muộn gì cuối cùng cũng hóa thành kẻ đi sám hối, vậy thì cần phải ngược đường mà hành nghề sám hối để có thể cuối cùng hóa thành quan tòa. Ngài theo kịp lập luận của tôi chớ? Càng hay. Nhưng để cho sự tình càng được sáng tỏ, tôi xin trình bày cùng ngài tôi hành sự như thế nào.

Trước hết là tôi đóng cửa phòng luật sư, giã từ Paris, du hành cùng khắp, rồi tìm cách mở lại dưới một danh tánh khác ở nơi nào không vắng khách. Những nơi như vậy chẳng thiếu gì trên thế giới, nhưng vừa vì ngẫu nhiên, vừa vì con tạo oái oăm, vừa vì cần phải sống khổ hạnh thế nào kia nữa, tôi đã được đưa đẩy đến đây chọn một thủ đô ẩm thấp và mù sa, chằng chịt kinh ngòi, đặc biệt chen chúc và viếng thăm bởi hạng người tứ chiếng qui tụ từ khắp mặt địa cầu. Tôi đặt trụ sở trong một tửu điếm ngụ ở xóm thủy thủ này. Thân chủ ở các bến tàu vốn rất tạp nhạp. Thường thì phường giá áo túi cơm không hay men đến các khu sang trọng, còn tầng lớp quí phái thì sớm muộn gì cũng có khi, ít nhứt là một lần, ngài nhận thấy rõ đó, trôi giạt tấp vào những chốn bê tha trụy lạc. Tôi đặc biệt ngóng chờ dân trưởng giả, nhứt là loại trưởng giả lạc đường, với y, tôi mới thật tình tỏ hết năng suất của mình. Là kẻ sành điệu, tôi loại được ở y những lời ăn tiếng nói tế nhị nhất.

Tóm lại, tôi hành cái nghề hữu ích của mình bấy lâu nay trong tửu điếm Mexico-City này. Nó trước hết, ngài cũng đã đích thân chứng nghiệm, là năng thực hành việc xưng tội công cộng, nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Tôi hết lời sỉ vả mình. Cũng chẳng mấy khó khăn, ngày nay tôi nhớ dai lắm. Nhưng không phải là tôi sỉ vả mình một cách sỗ sàng, đập uỳnh uỵch lên ngực. Không phải vậy đâu, mà là uốn nắn mềm dẻo, không ngại đi vào tiếu tiết chi li hay bàn xa tán rộng, nghĩa là tôi tùy người mà lựa lời sao cho hạp tai ưng ý kẻ đang nghe hầu xúi giục đổ dầu thêm vào lửa. Tôi trộn lộn chuyện mình với chuyện kẻ khác. Tôi chọn lọc những đặc tánh chung, những kinh nghiệm chúng ta cùng đã đau đớn trải qua, những yếu đuối chúng ta cùng chia sẻ với nhau, giọng nói thích ứng, nghĩa là con người thời danh, hệt như y đang hoành hành ở chính tôi và ở kẻ khác. Với các yếu tố này, tôi chế tạo một bức chân dung vừa là của mọi người vừa là không của ai cả. Một thứ người đeo mặt nạ vậy, na ná như loại thấy trong các ngày hội hóa trang, giống in mà giản lược, gặp mặt là y như chúng ta không khỏi lẩm bẩm thầm trong bụng: “À, tướng này, quyết chắc mình có gặp đâu đó một lần rồi!”. Khi bức chân dung đà họa xong xuôi, như tối nay đây, tôi liền trình diện nó, thiểu não ra mặt: “Than ôi! con người tôi như vậy đó”. Bản cáo trạng thế là hoàn tất. Nhưng, cùng một lượt, bức chân dung tôi chìa ra trước mặt kẻ đồng thời vụt biến thành tấm kiếng phản chiếu hình ảnh của chính họ.

Hình hài phủ đầy tro bụi, tóc tai vò rối đớn đau, mặt mày cào cấu trầy trụa, nhưng ánh mắt vẫn sắc như gươm, tôi đứng trước toàn thể nhân loại, tóm tắt ôn lại mọi hành vi ô nhục của mình, và không ngừng trông chừng tác động do mình gây nên, mà bảo: ”Tôi xưa quả tình là kẻ đốn mạt đệ nhứt trên đời!”. Thế rồi chút một không ai hay biết, tồi lần lượt dùng chữ “chúng ta” thay cho chữ “tôi” trong lời kể của mình. Cho tới khi thốt câu “con người chúng ta như vậy đó”, thế là kết thúc ván cờ tôi đà có thể mắng thẳng vào mặt họ. Tôi ngang hàng với họ, cố nhiên, họ và tôi cùng chới với trong bãi lầy như nhau. Tuy vậy, tôi cũng hơn họ một điều, là biết giác ngộ, nó cho phép tôi được quyền ăn nói. Ngài ắt trông thấy rõ chỗ lợi đó, phải không ngài. Càng sỉ vả mình bao nhiêu thì tôi càng được quyền xét xử ngài bấy nhiêu. Hơn thế nữa, tôi lại còn nói khích để ngài tự ý xét xử mình, khiến nhiệm vụ tôi càng được nhẹ nhõm hơn thêm. Ôi chao! Ngài ạ, chúng ta quả tình là một bọn người kỳ quái và khốn kiếp nữa, và chỉ cần ngoái nhìn đoạn đời đã sống qua đôi chút là chúng ta chẳng thiếu cơ hội để lấy làm sửng sốt kinh hoàng và bực tức thẹn thùng về chính mình. Ngài cứ chơi thử mà xem. Tôi sẽ lắng tai nghe ngài xưng tội, ngài cứ hãy an lòng, với trọn một mối đồng tình đồng chí.

Ngài chớ nên lớn tiếng phì cười! Vâng, tôi dư biết ngài là hạng khách khó làm ưng ý, tôi đã nhận thấy rõ hồi đầu. Nhưng quyết chắc rồi ngài cũng đi đến dó, không tránh được đâu. Bọn người kia phần đông đều đa cảm hơn là đa trí; dễ khiến họ hoang mang ngay liền. Còn bọn người đa trí, thì chúng ta phải biết nhẫn nại. Chỉ cần giải thích cho họ hiểu được thấu đáo phương pháp nọ là đủ. Họ ghi nhớ nó nằm lòng để rồi suy luận liên miên sau đó. Rồi chẳng sớm thì chầy một ngày nọ, nửa vì tâm thần bối rối, nửa vì bị thôi miên, họ nhứt định cũng sẽ thốt lời thú tội như ai. Riêng ngài, ngài chẳng những đã là hạng đa trí, mà còn lộ dáng thông thạo nữa. Ấy vậy, nhưng ngài cũng nên thú nhận rằng hôm nay ngài đã bớt cảm thấy vừa lòng về mình hơn hồi trước đây năm bữa? Tôi đợi ngài thư viết cho tôi, hãy trở lại tái ngộ với tôi vậy. Bởi chưng thế nào rồi ngài cũng sẽ trở lại, quyết chắc như vậy. Ngài sẽ nhận thấy tôi không đổi thay. Mà hỏi thật ngài, sao tôi lại đổi thay, tôi đã bắt gặp được thứ hạnh phúc thích hạp với mình kia mà! Tôi đã chấp nhận thói đời gian trá hai mặt, chớ không lấy nó làm đau khổ trong lòng. Huống hồ tôi đã tọa thị sống chung với nó và đã bắt gặp được ở nó thứ an nghỉ ấm cúng tôi đã bỏ công tầm kiếm suốt trọn cuộc đời. Kỳ thật thì tôi đã phần nào cạn suy khi bảo ngài rằng vấn đề là cốt lánh khỏi mọi lời xét xử. Đúng ra thì vấn đề là cốt được tự do tuyệt đối, dầu thỉnh thoảng có phải gióng tiếng công nhận tư cách đớn hèn của chính mình mặc lòng. Tôi bây giờ lại được tự do tuyệt đối[22], và lần này, không còn bị chê cười nữa. Tôi không có thay đổi đời sống, tôi vẫn một mực yêu thương chính mình và lợi dụng người khác. Có điều là việc mình tự ý xưng tội ấy cho phép tôi tái phạm nhẹ hơn và cảm khoái những hai lần, trước, nhờ ở bản tánh của mình, rồi sau, nhờ ở một thứ hối hận nghĩ cũng khá thú vị.

Từ buổi tìm được giải pháp ấy cho mình, tôi sống buông trôi toàn diện, với đàn bà, với thói kiêu căng, với nỗi nhàn sầu, với niềm oán hận, và luôn cả với cơn nóng hâm hấp tôi đang nở lòng nghe nó dâng lên ngay lúc này đây. Tôi lại cũng tìm được một đầu ngọn nữa, chỉ độc mình tôi trèo lên được và, chót vót trên đó, tôi có thể xét xử hết thảy mọi người không trừ một ai. Đôi khi, từng chặp, gặp những đêm nào quả tình tuyệt diệu, tôi cũng có nghe thấy một tràng cười ré dấy lên từ chốn xa xăm, và tôi bỗng vụt hoài nghi trở lại. Nhưng, tức khắc, tôi liền quơ lấy chỗ hèn yếu của chính mình mà mắng xả nặng nề vào mọi sự, vào tạo vật cũng như vào tạo hóa, và thế là tôi bình phục như cũ.

Tôi xin đón chờ ngài trong tửu điếm Mexico-City vậy, đủ nhẫn nại đợi tới hôm ấy. Phiền ngài dở bớt giùm lớp mền này cho tôi được dễ thở hơn. Ngài rồi sẽ đến chớ? Tôi sẽ tỏ bày cho ngài biết tới mọi tiểu tiết trong chiến thuật của tôi, vốn có cảm tình đối với ngài thế nào. Ngài sẽ được chính mắt mình trông thấy tôi suốt đêm dài giảng giải cho bọn họ vỡ lẽ rằng họ bẩm sanh là một lũ ti tiện thúi tha. Mà ngay tối nay đây, tôi cúng sắp lại khởi sự rồi. Tôi không tài nào bỏ lỡ nó được, cũng không tài nào nhịn hưởng các khoảnh khắc bọn họ quị ngã, nhờ men rượu trợ lực phần nào, mà khoanh tay quì gối nhận tội. Vào những giây phút ấy, ngài ạ, tôi cao lớn hẳn lên, vâng, tôi cao lớn hẳn lên, tôi được tự do hô hấp, tôi đứng trên chót núi, bình nguyên soải dài vô tận dưới chân mình. Cảm thấy mình làm Chúa Cha mà phân phát liền tay loại chứng chỉ hạnh kiểm xấu xa và đồi phong bại tục một cách tối định, quả là một công việc say sưa biết mấy! Tôi ngự giữa đám thiên thần hạ tiện của mình, tót trên đầu ngọn bầu trời Hòa Lan này, mà ngắm nhìn vô số nhân quần vào ngày xử cuối cùng lộ hiện từ lớp mù sa và sóng nước, lũ lượt tràn lên hướng mặt về tôi. Họ dâng lên chậm rãi, tôi đã trông thấy kẻ đứng hàng đầu trong bọn họ. Trên sắc mặt bơ phờ của y, nữa phần che khuất bởi bàn tay, tôi đọc thấy nét buồn số kiếp của nhân loại, và nỗi tuyệt vọng của kẻ biết rằng mình không tránh khỏi được số kiếp ấy. Còn tôi, thì thương tình mà không giải tội, cám cảnh mà không miễn xá và nhứt là, ngài ạ, cảm thấy mình cuối cùng được người đời răm rắp ngưỡng mộ.

Vâng, tôi trăn trở cựa quậy không ngừng, mà làm sao tôi lại nằm yên được? Tôi cần rướn cao hơn ngài, nhờ tư tưởng nâng lên. Những đêm hôm ấy, hay đúng hơn, những mai sáng ấy, bởi giờ sa đọa hằng xảy ra vào lúc hừng đông, tôi thoát ra khỏi quán bước chân thoăn thoắt lần dài theo kinh ngòi. Trong bầu trời tái lợt, từng lớp lông giãn ra mỏng dính, bầy bồ câu bay cao thêm đôi chút, một lóe sáng ửng hồng ngang mái nhà báo hiệu một ngày mới ló do tôi sáng tạo. Trên đại lộ Damrack, chiếc xe điện đầu tiên rung chuông chọc thủng màn ẩm khí, lay tỉnh cuộc sống ở chót mũi châu Âu này và, cùng ngay lúc ấy, muôn ngàn con người ở đây, thảy đều là thần dân của tôi, bước ra khỏi giường ngủ một cách khó nhọc, miệng lưỡi còn đắng ngắt, để lùa nhau đến chỗ làm ép buộc. Bấy giờ, lâng lâng bay liệng bằng tư tưởng trên mảnh lục địa nằm dưới uy quyền của tôi mà không hay biết ấy, hớp lấy cái ngày tân khổ đang lên, túy lúy say với những lời lẽ xảo quyệt, tôi sung sướng thật tình, tôi sung sướng thật tình, phải đó, ngài ạ, ngài không được phép chẳng tin rằng tôi sung sướng thật tình, tôi sung sướng tới mức ngất lịm! Ôi, những buổi mai nắng ấm, những bãi biển cát vàng, những hải đảo chập chờn dưới trận cuồng phong và thời niên thiếu mà ngày nay hình bóng còn khiến tôi tưởng nhớ thế nào!

Ngài cho phép tôi nằm xuống trở lại, và thể tình lượng thứ. Tôi e mình đã phẫn khích quá độ; tuy mắt tôi vẫn ráo hoảnh không chút ngấn lệ nào. Chúng ta có khi lầm lạc, chúng ta hoài nghi những sự thật rành rành, ngay cả lúc đà phát giác được bí mật của một cuộc sống tốt lành. Giải pháp nói trên, cố nhiên, chẳng phải là giải pháp lý tưởng. Song le, khi mình chẳng yêu thích nếp sống của mình, khi mình biết rõ nó cần phải thay đổi, thì mình không đủ điều kiện để lựa chọn, có đúng vậy không ngài? Làm thế nào để biến hẳn thành một con người khác? Không làm thế nào được hết. Chỉ có thể buông xuôi, chịu gạt bỏ bản sắc của mình, quên trọn mình đi mà đội lớp khác; ít lắm là một lần. Bằng cách nào ư? Ngài chớ nên hỏi dồn tôi quá sức. Tôi chẳng qua tựa như lão ăn mày nọ, vào một hôm kia, ngoài hàng hiên một quán cà phê, đã giữ chặt tay tôi không chịu buông ra, mà rằng: “Cậu em nè, chẳng phải già này xấu tánh đâu mà là vì lẽ đời mù mịt, chẳng còn biết đâu nữa mà lần!” Thật vậy, chúng ta ngày nay mù mịt, chẳng còn biết đâu nữa mà lần, chúng ta đá đánh mất những buổi mai sáng đang lên và trạng thái vô tội thánh sùng của kẻ còn ngây thơ tự mình miễn xá cho mình.

À, tuyết rơi kia, ngài! Tôi phải ra ngoài mới được! Thành phố Amsterdam thiếp ngủ trong đêm nằm dưới các cây cầu nhỏ phủ tuyết, những con đường hoang vắng thinh thang, những bước chân tắt lịm, sẽ là sự thanh khiết hiện hình, thoáng qua mau lẹ trước bữa mai sình lầy. Ngài hãy trông nhìn các tụ bông tuyết khổng lồ đang đập tỏa vào cửa kiếng. Chắc là bồ câu đó, ngài ạ. Đến bây giờ chúng mới chịu sà xuống, để mình đã phải trông đợi mỏi mòn, chúng trùm lên sóng nước và mái nhà một lớp lông dày đặc, chúng liệng múa trước mọi khung cửa sổ. Quả là một trận xâm nhập không tiền khoáng hậu! Hãy nên hy vọng rằng chúng mang lại tin lành. Mọi người thảy đều sẽ được cứu vớt, có thế chớ, và không chỉ mỗi mình thành phần được tuyển trạch mà thôi, ngọt bùi và cay đắng sẽ được san sẻ công minh và riêng ngài chẳng hạn, từ nay, ngài sẽ vì tôi mà nằm đất, không trừ bớt đêm nào. Đủ cả đây, đủ cả tràng, không thiếu mặt ai mà! Ừ, mà ngài cứ thú thật đi, rằng ngài sẽ sửng sốt hồn vía, ví dụ vụt có chiếc xe trên trời hạ xuống bắt cóc chở tôi đi mất, hoặc giả lớp tuyết kia bỗng nhiên phụt cháy phừng phừng. Ngài không tin được những điều ấy ư? Thì tôi nữa cũng vậy. Nhưng mà dầu vậy, tôi cũng phải ra ngoài mới được.

Vâng, vâng, tôi xin nằm yên, ngài đừng ái ngại! Mà nói cho ngay, ngài cũng chớ nên quá tin những lần tôi tỏ ra cảm kích hay dáng chừng mê sảng. Chúng thảy đều nhằm một chủ đích. Này nhé, bởi ngài cũng sắp bàn tới chuyện mình với tôi, tôi sắp được biết xem mình có đạt tới một trong số mục đích của công trình say mê tự thú này không. Thật vậy, cho tới bây giờ, tôi vẫn thầm hy vọng rằng người tôi hầu chuyện sẽ là một viên cảnh sát, y sẽ bắt giam tôi về tội trộm bức les Juges Intègres (Quan tòa thanh liêm). Về những việc khác, phải không ngài, chẳng một ai có quyền bắt giam tôi hết. Nhưng riêng về vụ trộm này, thì tự nó đã là một việc phạm pháp rồi, và tôi cũng đã cố tình xếp đặt sao cho mình mang tội đồng lõa; tôi oa trữ bức tranh và hễ ai muốn xem là tôi bày nó ra cho xem. Vậy thì ngài sẽ bắt giam tôi, ấy sẽ là một bước đầu tươi tốt. Rồi không chừng sau đó, người ta sẽ lo tới những việc còn lại, người ta sẽ bêu đầu tôi chẳng hạn, và tôi sẽ chẳng còn cảm thấy sợ chết nữa, tôi sẽ được cứu vớt. Tót trên đám nhân quần tề tựu đông đủ, bấy giờ ngài sẽ cất cao chiếc đầu lâu còn tươi rói của tôi lên, hầu cho họ trông thấy nó mà nhận mặt mình, và thế là tôi lại sẽ đường đường thượng trên đầu họ, làm mẫu. Mọi sự sẽ đâu vào đó trơn tru, và tôi sẽ hoàn thành, nào ai hay biết, sự nghiệp làm kẻ tiến tri giả hiệu, gióng tiếng trong cõi sa mạc và không chịu bỏ đi nơi khác.

Nhưng mà ngài cố nhiên không phải là cảnh sát, không thì tình thế hóa ra giản đơn quá lắm còn gì! Vậy ư? Ngài xem, tôi cũng đã ngờ ngợ trong bụng vậy rồi. Thì ra mối tình nồng hậu tôi sẵn có đối với ngài cũng có căn nguyên đó chớ. Ngài hành cái nghề đẹp đẽ là làm trạng sư ở Paris. Tôi đã hiểu rõ là chúng ta cùng chung một nòi với nhau mà. Chúng ta chẳng thảy đều in hệt nhau, miệng lưỡi ba hoa không dứt mà chẳng người nghe và muôn thuở đụng đầu với bấy nhiêu câu hỏi bất di bất dịch, tuy đã biết trước mọi lời giải đáp, đó ư? Vậy thì ngài hãy vui lòng thuật lại cho tôi nghe sự tình đã xảy ra tối nọ trên bến bờ dòng Seine và ngài đã xoay xở cách nào để khỏi phải liều thân nguy đến tánh mạng? Ngài hãy đích thân cất tiếng thốt lên mấy lời van nài đã không ngừng vang dội suốt bao năm trường trong lòng tôi giữa đêm thâu, mấy lời van nài tôi sẽ được phát biểu qua cửa miệng ngài: “Ới cô ơi, cô hãy giùm tôi mà lại nhảy xuống dòng nước, cho tôi lần nữa được dịp cứu vớt cả đôi ta!” Lần nữa, ối dào, thật là liều lĩnh! Rủi như người ta răm rắp tin theo thì sao, thưa ngài? Ngài sẽ phải bấm bụng thực hành lời nói của mình! Chao ôi, nước sông lạnh lắm ngài ơi! Nhưng mà chúng ta hãy yên lòng! Nay đã trễ quá rồi. May mắn cho chúng ta thay!

❀ ❀ ❀

[1] Jan Vermeer (1632-1676) cũng gọi là Vermeer de Delft. Họa sĩ cổ điển Hòa Lan.

[2] Nguyên văn: foie gras. Trong nghệ thuật nấu ăn ở châu Âu, đặc biệt ở Pháp, gan ngỗng được xem như một món ăn sang trọng, dành cho tiệc tùng.

[3] Tháng 5-6/1940, quân đội Đức tràn sang Pháp, chánh phủ Philippe Pétain ký hiệp định ngưng chiến 22 tháng Sáu, chia nước Pháp thành hai Miền: Miền bắc (zone Nord, hay zône occupée, miền bị chiếm đóng; Miền Nam (zône Sud, hay zône Libre, miền tự do) Miền Bắc nằm dưới quyền kiểm soát và hành chính của quân đội Đức; miền Nam nằm dưới quyền kiểm soát và hành chánh của chánh phủ bại trận Pháp. Nhưng đến tháng 11/1942, thì quân đội Đức chiếm đóng và kiểm soát toàn lãnh thổ nước Pháp.

[4] Nghệ thuật làm thảm đòi hỏi nhiều đức kiên nhẫn, chịu khó, âm thầm, hết sức trái ngược với tính khí của Jean Baptiste Clamence vốn là kẻ thích được ở trên các đầu ngọn khoảng khoát.

[5] Nguyên văn: des brutes: ám chỉ bọn lính kín Gestapo Đức.

[6] Sau khi chánh phủ Philippe Pétain chịu hợp tác với Đức, tướng Charles de Gaulle (có chân trong chánh phủ Pháp bấy giờ) liền bỏ chạy sang London. Ngày 18 tháng 6/1940, de Gaulle đọc trên đài BBC lời kêu gọi quốc dân chống Đức, và biến thành biểu tượng cho tinh thần kháng Đức của dân tộc Pháp.

[7] Ám chỉ thời kỳ lãng mạn, đầu thế kỷ XIX ở châu Âu.

[8] Bertrand du Guesclin (1320-1380), nhân vật lịch sử Pháp. Nguyên súy quân đội hoàng gia (Connétable de l’Armée royale) cầm quân nhiều trận chống ngoại xâm Anh và Espana, thắng có, bại có. Nhiều giai thoại truyền tụng hành động anh hùng của ông. Tượng trưng cho con người dũng cảm và anh hùng.

[9] Thái độ và lập trường của Tòa thánh Roma, đặc biệt của Giáo hoàng Pio XII, đối với khối Trục, trong thời Thế chiến thứ hai, hết sức mập mờ, thiếu dứt khoát. Riêng đối với nước Espana dưới quyền Franco là một nước Công giáo, Tòa thánh Roma còn có lập trường ủng hộ rõ rệt.

[10] Nguyên văn: le Romain. Từ ngữ miệt thị và bất phục, ám chỉ Giáo hoàng Pio XII.

[11] Hubert Van Eyck (khoảng 1366-1426) và Jean Van Eyck (khoảng 1390-1441), sư tổ nền hội họa Flandres.

[12] Tranh hậu bộ l’Agneau mystique, kiệt tác đánh dấu bước đầu nền hội họa Flandre. Gồm tất cả mười hai bức. Đây là tranh hậu bộ thánh đường Saint-Bavon, thành phố Gand (Bỉ). Đề tài rút trong bộ Apocalypse (Mặc thị lục) theo thánh Jean.

[13] Mọi chi tiết kể trên đây đều có thật. Bức les Juges Intègres (Quan tòa công minh chánh đại), thuộc tranh hậu bộ l’Agneau Mystique, bị trộm năm 1934, và được thay thế bằng một bản sao. Đến nay, nguyên tác vẫn mất tích.

[14] Tên người ngợm, ông bạn của chúng ta, chỉ tên chủ tửu điếm Mexico-City.

[15] Trên thực tế, Albert Camus đã tham dự cuộc kháng chiến chống Đức thời 1940-1945, công tác bí mật khá nguy hiểm.

[16] Nguyên văn: En some, ils ont le saianisme vertueux. Hai từ saianisme (ác ma) và vertueux (đạo đức) đối nghịch nhau; hai ý niệm đối nghịch này hiện hữu song song, cũng như Jean Baptiste Clamence một người mà mang hai mặt.

[17] Nghĩa là lớn tiếng hô hào lòng chân thật của mình.

[18] Ám chỉ câu Tout est permis (Ta tuyệt đối tự do) do nhân vật Ivan Karamazov (trong Đôxtôievxkii: Anh em nhà họ Karamazov (1879-1880) thốt ra, khi cha y bị ám sát.

[19] Girolamo Savonarola (1425-1498) nhà truyền giáo Ý thuộc dòng Dominicain. Con người vừa nhiệt thành, vừa khắc khổ, Girolamo Savonarola quyết chí phục hưng và cải thiện Giáo hội, tin chắc ở tánh cách trọng đại phi thường của sứ mạng đó. Trong công cuộc cải thiện và phục hưng Giáo hội này, nhà truyền giáo đã tỏ ra vô cùng nghiêm nhặt, dùng nhiều biện pháp độc đoán (bắt nghệ sĩ phục vụ tư tưởng mình, ra lệnh thiêu đốt nhiều họa phẩm, văn phẩm, cấm đàn bà đeo vòng vàng, và nhiều thủ đoạn khác). Năm 1498, bị xử tử hình và chết treo.

[20] Tức là chúa Giêxu.

[21] Mikolaj Kopernik (1473-1543) nhà thiên văn Ba Lan. Trái với quan niệm đương thời, Mikolaj Kopernik chứng minh rằng Địa cầu không nằm ở trung tâm vũ trụ, mà vừa quay vòng quanh Mặt trời, cũng như các tinh cầu khác, vừa quay quanh chính mình.

[22] Ám chỉ câu Tout est permis của nhân vật Ivan Karamazov trong Đôxtôievxkii.

THỰC HIỆN EBOOK Các thành viên của TVE-4U: • tinhthuvi • thanhbinhtran • inno14 • Trúc Quỳnh Đặng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.