Sa Đọa

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương V

❊ ❊ ❊

Ngài lầm đó, chớ tàu chạy khá mau[1]. Nhưng mà vịnh Zuyderzee vốn dĩ là một biển đọng, hay hầu như vậy. Với những mép bờ bằng phẳng xóa nhòa trong lớp mù sa, nào ai biết nó khởi đầu và ngưng đứt nơi đâu. Thành thử di chuyển mà không có vật gì làm mốc, chúng ta khó bề ước lượng được tốc độ của mình. Chúng ta lướt tới, nhưng không thấy biến đổi chỗ nào. Có phải là chúng ta đang đi biển đâu mà là đang đi trong giấc mộng.

Ở quần đảo Hi-lạp trước kia thì tôi có cảm giác trái ngược. Đảo này đảo nọ nối tiếp nhau, không ngớt nổi bật dài theo chân trời. Sườn đảo trọc lóc cỏ cây kẻ đậm đường ranh trên nền trời; gành đá cắt vạch mặt biển rất mực rõ nét. Không vật gì nhòe lẫn trong nguồn ánh sáng mồn một đó, mọi thứ đều là dấu mốc. Và lần lượt từ đảo này sang đảo kia, không ngừng nghỉ trên chiếc thuyền nhỏ bé tuy chỉ chậm chạp trườn qua, tôi vẫn có cảm giác như suốt ngày đêm nhảy vượt trên đầu những ngọn sóng ngắn mát rượi, trong một chuyến phi nước đại tung tóe bọt và rộn rã tiếng cười. Kể từ buổi ấy, trọn cả đất nước Hi-lạp lênh đênh phiêu giạt đâu đó trong lòng tôi, bên mép bờ tâm khảm, không chút nào mệt mỏi... ơ, kìa! Thần trí tôi cũng đến là phiêu giạt lênh đênh nên hóa ra trữ tình? Ngài hãy cắt lời hộ tôi, ngài ạ.

Ờ, mà ngài có biết xứ Hi-lạp không? Không ư? Càng tốt biết chừng nào! Hỏi ngài chúng ta làm gì ở đó kia chớ? Bởi cần phải có tấm lòng thanh khiết. Ngài có biết rằng, ở Hi-lạp, bạn bè nắm tay nhau đi bách bộ từng cặp ở ngoài đường không? Vâng, đúng thế, đàn bà con gái thảy đều phòng the kín cửa, và người ta hằng trông thấy nhiều ông đứng tuổi và đáng trọng, nghiêm trang rảo bước trên vỉa hè, ngón tay đan cùng với ngón tay của bạn bè. Ở phương Đông nhiều khi cũng vậy ư? Phải đó, ngài. Nhưng thử hỏi, ngài có dám nắm tay tôi ngay giữa đường phố ở Paris không[2]? Tôi nói giả ngộ chơi đó, ngài ạ. Chớ chúng ta, thì chúng ta biết tỏ ra đứng đắn đàng hoàng, chúng ta cứng ngắc trong một lớp cáu ghét dày đặc. Trước khi đến viếng thăm quần đảo Hi-lạp, chúng ta còn cần phải tắm rửa kỳ cọ cho thật kỹ càng. Không khí ở đây thanh bạch, biển cả và lạc thú thì trong lành. Còn chúng ta...

Mời ngài ngồi trên mấy ghế xếp này. Trời mù quá, ngài nhỉ! Ta đã ngưng đúng trên con đường dày vò, có phải không ngài. Vâng, rồi tôi sẽ giải bày minh bạch hầu ngài rõ. Sau khi đã vùng vẫy mãnh liệt, sau khi đã vận dụng mỏi mòn những dáng điệu vênh vang kênh kiệu của mình, thối chí vì mọi nỗ lực thảy đều vô bổ, tôi bèn lập tâm từ giã xã hội loài người. Không, không, tôi không có ý tìm đảo hoang vắng, có còn hòn nào nữa đâu. Mà chạy đi ẩn náu bên váy đán bà. Ngài dư biết rằng họ không hề kết tội thật tình một chỗ yếu nào; họ chỉ tìm cách lăng nhục, hoặc giả triệt hạ uy quyền của chúng ta. Vậy nên đàn bà là phần thưởng, không phải của người chiến binh, mà của kẻ phạm tội. Họ là chốn dung thân, chỗ nương náu của y; chính trên giường chiếu đàn bà mà thường khi y bị truy nã bắt được. Phải chăng họ chính là vật duy nhứt còn lại cho chúng ta, của thiên đường trần thế? Trong trạng thái hoang mang, tôi chạy tìm đến chốn dung thân thiên tạo của mình. Nhưng không lý sự nữa. Tôi vẫn còn giả vờ đôi chút, chưa dứt được thói quen; tuy nhiên trí óc coi mòi cũng đã giảm bớt sức tưởng tượng. Tôi ngần ngừ không dám thú cùng ngài, e phải buột miệng thốt ra thêm vài ba câu thô bỉ, chừng như dạo ấy tôi chợt cảm thấy mình cần tới một mối tình. Tục tĩu quá, phải không ngài[3]? Dầu sao chăng, thì bấy giờ, tôi nghe có một niềm đau khổ âm thầm ray rứt trong lòng, một thứ cảm giác thấy có cái gì thiếu thốn khiến tôi càng trống rỗng và dẫn dắt tôi đến chỗ, nửa vì bó buộc, nửa vì tò mò, giao ước vài ba lần. Nhận thấy mình cần yêu thương và được yêu thương, tôi tưởng mình si tình thật sự. Nói cách khác, tôi làm kẻ dại khờ.

Tôi bất chợt mình thường thốt ra một câu hỏi cho tới bây giờ, là kẻ từng trải, tôi vẫn tránh được. Tôi nghe mình chất vấn: ”Em yêu anh chớ?”. Ngài thừa biết rằng trong trường hợp đó, thói thường là họ đáp trả như vầy: “Còn anh?”. Ví thử tôi đáp lại rằng có, thì hóa ra tôi giao ước vượt quá cảm tình thật sự của mình. Ví thử tôi liều mạng bảo rằng không, thì là tôi dám hết được yêu thương nữa lắm, gia dĩ còn lấy làm đau khổ khôn lường. Cái cảm tình tôi đã hy vọng lấy làm chỗ an nghỉ, bấy giờ càng bị lâm nguy, tôi lại càng đòi hỏi nó kịch liệt hơn nữa ở đối tượng của mình. Thành thử tôi đành phải lên lời hứa hẹn ngày càng rành rọt, tôi buộc mình nuôi dưỡng một thứ cảm tình ngày càng rộng lớn. Cũng bởi vậy mà tôi đã đem lòng si mê, một thứ si mê giả hiệu, một cô nàng ngơ ngác nọ đã ngốn nghiến loại báo chí diễm tình một cách hữu hiệu tới mức nói chuyện ái tình với thứ giọng tự tin và tin tưởng của nhà trí thức báo trước xã hội không giai cấp. Giọng tin tưởng đó, ngài ắt đã rõ, hằng có sức lôi cuốn. Tôi liền cũng tập nói chuyện ái tình và cuối cùng thuyết phục đến được chính mình. Ít nữa là cho tới lúc thị thực thụ trở thành nhơn tình của tôi và cho tới lúc tôi chợt thấu triệt rằng loại báo chí diễm tình, dạy nói chuyện ái tình thì có, nhưng không bao giờ bày vẽ cách làm. Sau khi yêu thương một con két, tôi buộc phải ngủ với một con xà[4]. Vậy nên tôi bèn đi tìm ở chỗ khác thứ ái tình hứa hẹn trong sách vở, mà tôi chẳng hề bắt gặp trong cuộc sống bao giờ!

Nhưng tôi thiếu tập dượt. Đã có hơn ba chục năm trời, tôi chỉ biết yêu thương độc có chính mình. Làm sao còn dám mơ tới chuyện hủy bỏ một thói tật lâu dài ngần ấy? Tôi không diệt được nó, và tôi vẫn hoàn là một kẻ chỉ biết si mê một cách manh nha mà thôi. Tôi hứa hẹn liên miên. Tôi đắm say với bao mối tình cùng lúc, cũng như, thuở nào, tôi đã dính tới bao vụ giao tình đồng loại. Tôi còn gây thêm nhiều phiền lụy cho các mối tình nói trên hơn là vào thời vàng son đã tỏ ra bơ thờ lạnh nhạt. Tôi có bảo ngài rằng con két nọ đã phẫn chí, định tâm tuyệt thực không nhỉ? May thay, tôi đã kịp thời đến thăm và đành lòng nắm giữ tay thị, cho tới ngày thị gặp ông kỹ sư tóc đã muối tiêu từ một chuyến du hành ở Bali[5] về, đúng như đã được miêu tả trong tờ tuần báo thích ý nhứt của thị. Dầu sao mặc lòng, chẳng những đã không được siêu thoát về chốn trường cửu của thuyền tình bể ái, như người ta hằng bảo vậy, mà tôi còn bồi thêm tội lỗi và lầm lạc vào số đã có. Tôi bỗng sanh ra kinh tởm ái tình đến độ, suốt mấy năm trời, không còn làm sao nghe hát bài la Vie en rose (Đời hồng) hay bài la Mort d’amour d’Yseult (Cái chết sầu tình của chàng Ysuelt)[6] mà không vô tình nghiến răng ê ẩm. Tôi bèn cố chừa đàn bà, về một khía cạnh nào, và sống trong cảnh thanh bạch. Dầu sao nữa, thì tình bạn của họ không thôi cũng đủ thỏa mãn tôi rồi. Nhưng như vậy chẳng khác nào là chừa bỏ trò vờ. Đặt ra ngoài vòng tình dục, tôi thấy chán đàn bà hết đỗi, và rõ rệt là họ cũng thấy chán tôi chẳng kém. Hết trò vờ, hết đóng tuồng, tôi tất ở trong sự thật. Nhưng mà, ngài ạ, sự thật vốn dĩ là một điều phiền nhiễu.

Mất hết tin tưởng ở ái tình và ở lối sống thanh bạch, cuối cùng tôi chợt nhận thấy rằng còn lại con đường bê tha phóng túng, là thế chân được cho ái tình, xóa sạch mọi tiếng cười chế giễu, phục hồi im lặng, và, nhứt là, trao phong cho chúng ta tánh chất bất diệt. Tới một mức độ say đắm minh mẫn nào, đêm thâu nằm giữa hai ả giang hồ, và đã tiêu tán hết mọi thèm khát, hy vọng không còn là một khổ hình nữa, ngài xem, bấy giờ, tinh thần ngự trị khắp mọi thời, và đắng cay cõi trần tiêu ma vĩnh viễn. Trong một ý nghĩa nào, tôi đã không ngừng lặn ngụp trong lối sống bê tha phóng túng, bởi chưa từng thôi muốn được bất diệt bao giờ. Phải chăng đó là chân tướng đích thật của tôi, và cũng là hiệu quả phản chiếu mối tình dành cho chính mình mà tôi đã có dịp nói đến hầu ngài? Vâng, tôi quả tình khao khát được bất diệt. Tôi yêu thương mình quá lắm để có thể không ước muốn cho đối tượng quí báu của mối tình mình chẳng bao giờ hủy diệt. Bởi chưng ở vào trạng thái một kẻ thức khuya, và chỉ cần biết rõ chính mình, người ta không nhận thấy có lý do chánh đáng nào mà trao phong tánh chất bất diệt cho một con khỉ hiếu sắc, nên buộc phải tầm kiếm cho mình những vật thay thế tánh chất bất diệt đó. Đã trót ước mơ được sống trường cửu, thì tôi ngủ mê mệt với gái điếm và uống say đêm vậy. Cố nhiên, sáng dậy, miệng lưỡi ngậm đầy vị của phận người khả diệt. Nhưng mà suốt bao nhiêu giờ khắc triền miên, tôi đã được lâng lâng bay liệng, hoan lạc khôn lường. Ngài cho phép tôi thú thật cùng ngài chăng? Lòng tôi vẫn còn rưng rưng nhớ tới những tối tìm đến hộp đêm bẩn thỉu nọ, với một vũ nữ hóa trang[7] đã chiếu cố tới tôi và danh dự đã được tôi bảo vệ hôm nào qua trận ẩu đả với một tên râu cá chốt đã tỏ ra khoác lác. Tôi nghinh ngang mọi đêm bên sạp, trong ánh sáng chiếu đỏ và trong màn bụi của chốn cực lạc ấy, lếu láo như Cuội và rượu nhắp liền tay. Tôi đón chờ giờ rạng đông để mà đắm mình trong chăn gối lúc nào cũng xồ lệch của nàng công chúa lòng tôi, thị bấy giờ hành lạc một cách máy móc, rồi thiếp ngủ ngay liền. Vừng đông hửng chiếu lần lần trên cuộc thất bại đó, còn tôi thì, bất động, trào dâng trong buổi mai vinh diệu.

Tửu và sắc, xin thú nhận cùng ngài, là hai món đã cung cấp cho tôi chỗ khuây khỏa duy nhứt tôi đáng mặt được hưởng. Tôi tiết lộ hầu ngài, bí mật ấy, ngài cứ tùy tiện sử dụng, chớ nên ngại ngùng. Bấy giờ ngài sẽ nhận thấy rằng lối sống thật sự bê tha phóng túng vốn dĩ là một lối sống giải tỏa, bởi không bó buộc điều gì. Với nó, chúng ta chỉ chiếm giữ độc có chính mình, nên nó vẫn vĩnh viễn là công việc thích ý hơn hết của loại người vị kỷ. Nó là chốn man dã, không tương lai dĩ vãng, nhứt là không hứa hẹn, cũng không có lời lẽ phán quyết tức thời nào. Những nơi nó hành sự thảy đều cách biệt cuộc đời. Đặt chân vào, tức là đã bỏ lại sau lưng mọi nỗi lo âu, mọi niềm mong đợi. Ở đây, không buộc phải chuyện trò; điều ngài đến tìm ở đây, ngài vẫn có thể đạt được mà không cần hé môi thốt lời, và nhiều khi nữa, vâng, cũng chẳng cần tới hơi đồng. Ngài hãy cho tôi mạn phép tỏ lòng đặc biệt tưởng nhớ những thiếu phụ không quen biết và quên lờ đã giúp đỡ tôi thuở ấy. Cả đến ngày nay, trong hình bóng tôi còn giữ của họ vẫn có pha trộn một tình tự gì tương tự với lòng tôn kính.

Dầu sao chăng nữa, tôi cũng đã vận dụng không hạn chế phương cách giải tỏa ấy. Người ta nom thấy tôi ngay cả trong một khách sạn, lao đầu vào cái gọi là những hành tung tội lỗi mà ăn ở vừa với một mụ điếm già giặn vừa với một cô gái nhà lành. Tôi đóng trò làm kẻ bảo bọc mụ trên và dạy cho cô dưới biết tới vài ba điều thực tế. Tiếc thay, mụ điếm bản chất lại rất mực trưởng giả: mụ đã nhận viết hồi ký cho một tờ báo tôn giáo rất cởi mở đối với luồng gió tư tưởng tân thời. Về phần cô gái, thì cô đã đi lấy chồng để được thỏa thích bản năng buông lỏng và ứng dụng năng khiếu trời cho ghê tợn của mình. Tôi cũng không phải ít lấy làm hãnh diện, đã được tiếp nhận hồi ấy như kẻ đồng song trong một phường nam giới thường bị phỉ báng nọ[8]. Tôi xin được lướt qua chỗ này: ngài dư biết rằng ngay đến những kẻ rất mực thông minh cũng còn coi việc uống trội hơn người khác một chai rượu là điều vinh dự cho mình. Lẽ ra thì tôi đã được an tâm và cứu vớt trong lối sống rượu chè tốt lành ấy. Nhưng không, ở đây nữa cũng vậy, tôi chạm phải một trở ngại ngay ở chính mình. Lần này, là lá gan và một thứ trạng thái uể oải, kinh khủng đến độ vẫn chưa chịu lìa bỏ tôi. Ngài làm trò muốn được bất diệt, thế rồi chỉ mấy tuần sau, ngài cũng không biết chắc đến cả rằng mình còn có lách qua được tới ngày mai chăng.

Mối lợi độc nhứt thâu lượm từ thí nghiệm này, sau khi tôi đã chừa bỏ các thành tích về đêm của mình, nằm ở chỗ cuộc sống hóa ra ít cay đắng hơn. Cái trạng thái uể oải gặm nhấm tấm hình hài đồng thời cũng đã xói mòn rất nhiều chỗ chạy trong người tôi. Mỗi lần quá lạm là mỗi lần làm giảm bớt sanh lực, tức thị xoa dịu bớt đớn đau. Lối sống bê tha phóng túng không có gì là cuồng loạn cả, chẳng phải như người ta tưởng. Nó chỉ là một thiếp ngủ dài. Ngài ắt cũng đã nhận thấy, những kẻ thật tình đau khổ bởi máu ghen hằng chẳng biết làm gì khác hơn là vội vàng ngủ ngay với con người đàn bà mà họ đinh ninh là đã bội phản họ. Dĩ nhiên, họ muốn được chắc dạ một lần nữa, rằng cái của quí ấy vẫn nằm trong tay họ. Họ muốn chiếm nó, như người ta hằng bảo vậy. Nhưng cũng là vì, ngay liền sau đó, họ ít thấy ghen tức hơn. Máu ghen xác thịt vốn dĩ là hiệu quả của óc tưởng tượng, đồng thời cũng là một hình thái phán xét chính mình. Chúng ta gán cho tình địch mọi ý tưởng xấu xa chúng ta đã có trong những trường hợp tương tự. May thay, những lần quá lạm lạc thú hằng làm suy nhược óc tưởng tượng và trí phán xét. Vậy nên đớn đau mới thiếp ngủ cùng với sanh lực, và lâu dài chẳng thua nó chút nào. Cũng chính vì những nguyên cớ tương tự mà các cậu thiếu niên đánh rụng mất với cô nhơn tình đầu tiên nỗi niềm băn khoăn siêu hình; và một số hôn phối, vốn dĩ chỉ là những cuộc sống bê tha phóng túng được quan liêu hóa, đồng thời biến thành những chiếc xe tang buồn tẻ chở xác tánh ý gan dạ và óc phát kiến. Đúng thế, ngài ạ, thể chế hôn phối trưởng giả đã cầm chân đất nước chúng ta trong xó bếp, và chẳng mấy lâu nữa, sẽ đặt nó trước ngưỡng cửa tiêu ma.

Tôi nói quá đáng chăng? Không đâu, ngài ạ, có điều là tôi đá lạc đề. Ý tôi chỉ là muốn trình bày cùng ngài chỗ lợi thâu lượm được từ mấy tháng chè chén tơi bời ấy. Tôi không ngừng sống trong một thứ trạng thái mịt mù khiến cho tiếng cười hóa đục, đến mực cuối cùng không còn nghe thấy nó nữa. Bản tánhơ hờ lạnh nhạt, trước kia đã chiếm một khoảng rộng lớn ngần nào trong lòng tôi, bây giờ không còn gặp sức kháng cự nữa, nên càng nới rộng thêm chốn tác yêu tác quái của mình. Không còn biết xúc động là gì nữa! Khí sắc lúc nào cũng vẫn vậy, hay đúng hơn, không có khí sắc gì cả. Buồng phổi lao hạch được chữa lành bằng cách quéo khô, nhưng đồng thời bóp nghẹt lần lần kẻ được cái may mắn ấy. Trường hợp tôi cũng y hệt như vậy, tôi êm thấm chết mòn bởi được chữa lành. Tôi vẫn còn sanh sống bằng nghề cũ, mặc dầu danh dự bị thứ ngôn ngữ thiếu lễ nghi nọ làm tổn thương, và sự hành nghề thường xuyên bị lối sống hỗn loạn nọ làm cho nguy hại không ít. Tuy vậy, cũng nên lưu ý ngài rằng người đời họ ít chê trách tôi về lối sống trác táng thâu đêm hơn là về cách ăn nói khiêu khích. Ấy bởi tôi nhiều khi hay viện dẫn tới Thượng đế, tuy chỉ trên đầu lưỡi, trong những lần biện cãi giữa pháp đình, khiến cho thân chủ tôi đâm ra dè dặt nghi ngờ. Họ ngại rằng trời kia không coi sóc quyền lợi của họ chu đáo bằng một ông thầy kiện quán thông luật lệ. Từ ý nghĩ đó đi đến chỗ kết luận rằng tôi nhắc tới thần linh trong chừng mực nào mình gặp nước bí, chỉ có mỗi một bước. Thân chủ tôi bước cái bước đó và thưa thớt lần. Thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn còn có dịp biện cãi. Đôi khi nữa, quên lửng rằng mình không còn tin ở lời lẽ do chính mình thốt ra nữa, tôi biện cãi rất hùng hồn. Được giọng nói của mình đưa đẩy, tôi chỉ việc nương theo đà sẵn có; không hẳn bay bổng như trước kia, nhưng cũng cao hơn mặt đất đôi chút, tôi là là thâm thấp vậy. Phi những việc giao dịch về nghề nghiệp thì tôi rất ít gặp gỡ ai, chỉ cố gắng duy trì một cách khó nhọc vài vụ giao tình đã mệt mỏi. Đôi khi tôi còn trải qua suốt buổi tối trong tình bạn thuần túy, không gợn chút nhục dục nào, duy có mỗi một điều là, buộc phải chán ngán, tôi chỉ lắng nghe một cách ơ hờ lời nói chung quanh. Bấy giờ da dẻ lại xem bề hồng hào thêm đôi chút, khiến tôi tưởng rằng cơn khủng hoảng đã qua. Chỉ còn độc một việc nữa là già nua cho hết cuộc đời.

Ấy vậy mà một hôm, trong chuyến đi du lịch bao cô bạn nọ, mà không tiết lộ cho thị biết rằng tôi làm thế là để ăn mừng mình đã lành, tôi đang ở trên sàn tàu, từng thượng, dĩ nhiên rồi. Tôi bỗng thình lình nom thấy ngoài khơi xa một điểm đen nhấp nhô trên mặt biển màu sắt lạnh. Tôi vội quay mắt chỗ khác, trống ngực đập nghe thình thịch. Tới chừng ép mình nhìn nó, thì điểm đen đà biến mất. Tôi sắp sửa la hoảng, kêu cứu tầm ruồng, thì nó lại kia rồi. Thì ra điểm đen nọ chỉ là một bè rác loại đồ vật thừa thải tàu bè thường liệng bỏ sau lưng. Ấy vậy mà tôi đã không dám nhìn, hình tượng ngay tới một thây ma nào. Bấy giờ tôi mới vụt hiểu, lòng không gợn chút phản kháng, rằng con người cảm nhận hết đỗi dễ dàng ý nghĩ nào mình đã biết được sự thật từ lâu, rằng tiếng kêu cứu nọ, đã dày lên trên dòng Seine bao nhiêu năm trước sau lưng tôi và được dòng sông cuốn ra tận ngoài biển Manche không lúc nào ngừng phiêu giạt cùng khắp địa cầu, nổi trôi trên mặt đại dương mênh mông vô hạn, và đón chờ tôi ở đây từ ấy cho đến ngày hôm nay tôi gặp nó trên đường đi của mình. Tôi cũng vụt hiểu rằng nó rồi sẽ mãi mãi đón chờ trên biển cả và sông ngòi, nghĩa là ở bất luận nơi nào có chứa thứ nước rửa tội đắng cay thuở sơ sanh[9]. Chính ngay ở đây nữa, thử hỏi ngài, chúng ta chẳng đang bình bồng trên mặt nước ư? Trên mặt nước lặng lờ, buồn hiu, bất tận và nhòe lẫn với đất liền? Làm sao tin rằng chúng ta sắp về đến Amsterdam? Chúng ta sẽ không bao giờ còn bước chân ra khỏi được chậu nước thánh này. Ngài hãy lắng tai xem. Ngài chẳng nghe thấy tiếng bầy hải âu vô hình kêu réo đó ư? Chúng kêu vói đến chúng ta, là để réo gọi chúng ta làm gì kia chớ?

Nhưng cũng chính bầy hải âu ấy đã réo gọi trên Đại-tây-dương, bữa tôi chợt dứt khoát thấu rõ rằng mình vẫn chưa lành, vẫn bị kẹt cứng và buộc phải thỏa hợp với tình thế đó. Thế là chấm dứt đoạn đời rực rỡ, mà cũng chấm dứt luôn cả những lần căm gan và nổi loạn tâm hồn! Buộc phải qui hàng và nhìn nhận mình có tội. Buộc phải sống trong dày vò. À, mà chắc ngài chưa nghe nói tới thứ hầm ngục thời Trung-cổ gọi là xà lim dày vò này. Thường thì hộ quẳng ngài xuống đó trọn đời. Nó không giống các xà lim khác ở chỗ kích thước rất nhỏ. Không đủ bề cao để ngài đứng thẳng lưng, mà cũng không đủ bề rộng để ngài có thể nằm duỗi cẵng. Ngài buộc phải chấp lấy cái thế bị lúng túng, sống nghiêng: giấc ngủ là một cuộc sa sầm; thao thức, một chuyến ngồi bó rọ. Ấy, ngài ạ, quả tình là có thiên tài, và tôi lựa lời kỹ lưỡng, trong cái sáng kiến rất ư giản dị đó. Ngày nào cũng như ngày nấy, hình hài bị câu thúc tê liệt triền miên phạm nhân không lúc nào ngừng nhớ rằng mình có tội và vô tội là kẻ được phép khoan khoái vươn vai thẳng cánh. Ngài có thể tưởng tượng được một kẻ thường xuyên lui tới các đầu ngọn và sàn tàu từng thượng, bị nhốt trong loại xà lim đó không? Ngài bảo sao? Chúng ta vẫn có thể sống vô tội trong loại xà lim đó ư? Sức mấy mà được, ngài! Bằng không thì lập luận của tôi nó sẽ tan tành vụn vặt còn gì! Rằng kẻ vô tội đến phải sống gù lưng, tôi quyết không xét tới giả thuyết ấy một giây phút ngắn ngủi nào. Vả chăng, không một ai có thể khẳng định rằng mình vô tội, trong lúc mọi người có thể khẳng định mà chẳng sợ sai lầm rằng chúng ta thảy đều có tội. Mỗi cá nhân chứng thật tội trạng của toàn thể kẻ khác, ấy là niềm tin, và kỳ vọng của tôi vậy.

Nói thật cùng ngài, tôn giáo thảy đều lầm lạc ngay vào lúc giảng dạy đạo đức và tuyên cáo đầy tràn giới luật. Thượng đế không cần thiết để sáng chế tội tình và hình phạt. Đồng loại chúng ta dư sức làm việc đó, gia dĩ còn được chúng ta trợ lực nữa. Ngài có nhắc tới ngày xử cuối cùng. Nói ngài tha lỗi, ngài cho phép tôi được phì cười. Tôi vững dạ mà đợi nó: tôi đã từng trải qua điều ghê gớm hơn nhiều, là bị người đời xét xử. Với họ, không có trường hợp giảm khinh, cả đến thiện chí cũng bị khép tội. Chắc ngài cũng có nghe nói tới ổ khạc nhổ do một dân tộc nọ mới sáng chế vừa đây, để chứng minh rằng mình là dân tộc vĩ đại nhứt hoàn cầu? Tù nhân bị bắt đứng thẳng, không cựa quậy, trong một cái thùng xây bằng xi-măng. Cánh cửa kiên cố tống chặt y trong chiếc vỏ cát đá ấy cao đến ngang hàm. Thành thử, chỉ trông thấy có khuôn mặt, cứ mỗi lần bước qua là các tên cai ngục tha hồ mặc sức khạc nhổ lên khuôn mặt đó. Tù nhân, cứng đơ trong ổ, không giơ tay chùi được, tuy rằng, nói cho ngay, y được phép nhắm nghiền cặp mắt[10]. Ấy, ngài ạ, sáng tạo của loài người đó. Họ có cần tới Thượng đế để làm nên kiệt tác xinh xắn ấy đâu.

Vậy thì thế nào? Vậy thì chỗ lợi ích duy nhứt của Thượng đế là bảo đảm cho chúng ta được vô tội, và tôi sẵn sàng xem tôn giáo như một công cuộc tẩy uế, mà thật ra, thì nó cũng đã có làm việc ấy một thời gian ngắn ngủi, chỉ non ba năm, và tên gọi chẳng phải là tôn giáo[11]. Từ đó, thiếu thốn xà bông, lỗ mũi chúng ta hóa ra dơ dáy và chúng ta hỉ mũi cho nhau. Thảy đều nhớn nhác, thảy đều bị trừng phạt, hãy khạc nhổ vào nhau, rồi thì mau lên! Vô nằm trong dày vò! Kẻ nào khạc nhổ trước, thì thắng, gọn lỏn có vậy. Tôi xin tiết lộ hầu ngài bí mật sau đây. Ngài chớ có đón chờ ngày xử cuối cùng. Nó xảy ra mỗi ngày.

Cảm ơn ngài, chẳng sao cả, tôi chỉ rùng mình chút đỉnh trong lớp ẩm khí ác nghiệt này. Mà chúng ta cũng đã đến nơi. Đây rồi. Mời ngài. Nhưng xin ngài nán lại chút nữa, vui lòng đưa tôi một đoạn đường. Tôi vẫn chưa kể hết, còn phải kể tiếp. Tiếp tục, ấy mới là điều thiên nan vạn khổ. Mà nè, ngài có hiểu tại sao họ đã đóng đinh y trên cây thập giá không, vâng, đóng đinh con người có lẽ ngài đang nghĩ tới ngay lúc này đây[12]. Ờ, thì có hằng hà sa số nguyên cớ để làm vậy. Bao giờ cũng có nguyên cớ để sát hại một người nào. Ngược lại, khó bề mà biện bạch cho y được sống. Chính vì vậy mà kẻ nên tội lúc nào cũng được bào chữa, còn kẻ vô tội thì chỉ từng lúc nào mà thôi. Nhưng, ngoài các nguyên cớ đã được giải thích cặn kẽ cho chúng ta nghe suốt hai ngàn năm nay, còn có một nguyên cớ trọng đại gây nên cơn hấp hối khủng khiếp ấy, và tôi không hiểu tại sao người ta lại cố tình giấu kín nó đến thế kia. Cái nguyên cớ chánh xác là y biết rõ rằng mình không hoàn toàn vô tội. Ví như y chẳng phải gánh lấy cái tội y bị phao gian[13], thì y cũng đã phạm nhiều tội khác, cho dầu không hề hay biết tới chúng. Mà y có thật tình chẳng hay biết tới chúng không đã chớ? Dầu sao mặc lòng, thì y cũng là kẻ đứng ở ngọn nguồn: y cũng đã phải có nghe nói tới cuộc tàn sát hài nhi vô tội nọ. Bầy trẻ thơ xứ Judée bị tàn sát trong khi cha mẹ y mang y đi ẩn náu, tại sao chúng bị giết bỏ như vậy nếu không phải là vì y[14]? Dĩ nhiên y chẳng hề có mong muốn mọi điều đó. Bọn lính máu me bê bết và bầy trẻ thơ bị phanh thây xẻ xác ấy khiến y rùng mình kinh tởm. Song le, cứ như tôi biết, tôi dám chắc rằng y không làm sao quên được các hình ảnh đó. Và nét buồn thảm chúng ta đoán chừng trong từng cử chỉ của y, phải chăng chính là nỗi sầu nan giải của kẻ hằng nghe vọng suốt đêm trường tiếng nàng Rachel ai oán khóc con, tấm lòng chẳng lúc nào khuây? Lời rên rỉ nổi lên giữa đêm khuya, nàng Rachel réo gọi đàn con bị giết vì y, vậy mà y vẫn sống nhăn[15].

Biết rõ những điều y biết rõ, thấu triệt trọn hết con người - chao ôi! Ai mường tượng được rằng tội lỗi chẳng cứ gì là đang tay sát hại, mà là ở chỗ chính mình không tắt thở! - ngày đêm đối mặt với tội lỗi ngay tình của mình, thật khó cho y còn có thể duy trì và tiếp tục. Thà là chấm dứt, không tự bào chữa, chết đi cho xong để khỏi chỉ còn có một mình mình sống nữa và để dời đi nơi khác, ở chỗ nào tin rằng mình sẽ được trợ cứu. Y không được trợ cứu, y đã lên tiếng than phiền như vậy và, cơ hồ cho được trọn vẹn, y lại còn bị kiểm duyệt nữa. Vâng, đúng thế, chính ngài đệ tam tác giả sách Phúc âm, hình như vậy, đã khai mào cắt bỏ lời than phiền của y[16]. Câu “Sao cha nỡ bỏ con một mình?”[17] chẳng là tiếng kêu phản nghịch ư? Vậy thì, kéo đâu rồi, kéo đâu rồi! Ngài cũng nên nhớ rằng ví bằng thánh Luc[18] không có cắt bỏ chữ nào, thì đã chẳng mấy ai chú ý tới điều đó bao nhiêu; ít nữa, thì nó cũng đã chẳng chiếm một chỗ trọng đại ngần ấy! Cho hay kiểm duyệt hằng rao lớn những điều nó đang tay cấm kỳ. Sự đời nó cũng lập lờ như vậy.

Nhưng gì thì gì, riêng kẻ bị kiểm duyệt thì y đã không thể tiếp tục. Và tôi biết rõ điều tôi nói đó, ngài. Đã có một thời, từng giây từng phút, tôi không hiểu mình làm thế nào lách qua được giây phút sắp tới. Vâng, chúng ta vẫn có thể giao tranh trên thế gian này, giả bộ yêu thương, tra tấn đồng loại, nghinh ngang vác hất trên báo chí, hoặc giả chỉ là nói xấu chòm xóm những lúc trà dư tửu hậu. Song le, trong nhiều trường hợp nhứt định, tiếp tục, chỉ mỗi việc tiếp tục, ấy mới là điều siêu phàm. Mà y thì chẳng phải là kẻ siêu phàm, thật đó, ngài ạ. Y đã kêu than cơn hấp hối của mình và bởi vậy mà tôi mến thương y đó, ngài, đã chết mà không hay biết.

Khổ cái là y bỏ chúng ta lại một mình, để tiếp tục, dầu thế nào cũng mặc lòng, cả khi chúng ta xó ró trong dày vò, tới phiên mình biết rõ những điều y đã biết rõ, nhưng không làm được điều y đã làm và không dám chết như y. Cố nhiên là chúng ta cũng đã thử lợi dụng cái chết của y hòng giúp ích cho mình đôi chút. Dầu sao nữa, thì cũng là một sáng kiến thần tình khi họ bảo chúng ta: ”Ừ, thì các người không lấy gì làm tốt đẹp cho lắm, đã rõ như vậy rồi. Nhưng thôi, chẳng cần đi vào chân tơ kẽ tóc làm gì! Cứ thanh toán một cái rụp, trên cây thập giá, là xong!” Song le ngày nay, hằng bao nhiêu kẻ trèo leo lên thập giá trong mục đích duy nhứt là để được trông thấy từ xa hơn nữa, dầu có phải giở chân đạp lên đầu kẻ đã có mặt ở đó tự bấy lâu rồi. Hằng bao nhiêu kẻ đã quyết tình gạt ngang tánh khí hào hiệp để làm việc từ bi. Ôi oan ức, oan ức cho y đến mức nào, khiến lòng tôi se thắt quặn đau!

Ơ kìa, tôi lại ngứa nghề sắp sửa cất lời biện cãi nữa rồi! Ngài miễn thứ cho, và hiểu rằng tôi làm vậy là cũng có nguyên cớ. Cách đây mấy con đường, có một viện bác cổ gọi là “Chúa trên trang”[19]. Thuở trước, họ đặt để mồ mả dưới mái nhà. Buộc phải vậy, vì hầm nhà ở đây thảy đều ngập nước[20]. Nhưng ngài chớ nên ái ngại, ngày nay. Chúa của họ không còn trơ vơ trên trang hay dưới hầm nữa đâu. Họ đã rước Ngài lên ngồi ghế phán quyết, tận đáy lòng sâu kín của họ, và họ thẳng tay trừng phạt, nhứt là xét xử, họ nhân danh Ngài mà xét xử. Chúa đã ngọt ngào nhủ vào tai cô nàng lỗi đạo: “Ta nữa, ta cũng không kết tội nàng”[21]; nhưng cũng chẳng ngăn ngừa được điều gì, họ vẫn cứ kết tội như thường, họ không miễn thứ một ai. Nhân danh Chúa, phần số của mày đây. Chúa ư? Chúa đâu có đòi hỏi thái quá như vậy, ngài. Chúa chỉ mong muốn người ta yêu Chúa, gọn lỏn có vậy. Cố nhiên, cũng có người yêu Chúa thật tình, ngay cả trong số tín đồ Thiên chúa. Nhưng có thể đếm họ trên đầu mấy ngón tay. Chúa cũng đã nhìn thấy trước sự tình đó, Chúa vốn có óc u mặc. Pierre, ngài nhớ chớ, tên nhát gan đó mà, ừ, Pierre, chàng ta chối bai bải không dám nhìn mặt Chúa: “Tôi không có quen biết người này... Ta không hiểu mi muốn nói gì... vân vân”[22]. Thiệt là ăn nói ngang ngược quá chừng! Trong lúc đó, thì Chúa chơi chữ: “Trên khối đá này, ta sẽ dựng lên giáo đường”[23]. Không thể mỉa mai hơn thế được, ngài không nghĩ như vậy sao? Nhưng không, họ vẫn cứ còn đắc thắng! “Ngài hãy xem đó, Chúa đã nói vậy mà?”, Chúa đã nói vậy thật, Chúa biết rõ mọi chuyện ấy. Thế rồi Chúa bỏ đi vĩnh viễn, để họ lại sau lưng vừa xét xử vừa kết tội, câu bao dung trên đầu lưỡi, lời phán quyết ở đáy lòng.

Bởi không thể bảo là chẳng còn ai biết động lòng trắc ẩn nữa, không, không, chúng ta có lúc nào ngừng nói tới nó đâu. Duy có điều là chúng ta không tha bổng ai nữa. Trên xác hình thái vô tội, nhung nhúc đủ thứ quan tòa, quan tòa đủ loại, loại Thiên-chúa và loại Phản Thiên chúa[24], thật ra cũng chỉ là một thỏa hiệp với nhau trong dày vò. Bởi không nên buộc tội đơn phương loại Thiên-chúa thôi. Loại kia cũng đồng lõa chẳng ít. Ngài có biết một trong số chỗ trọ Descartes đã cư ngụ thuở xưa, giữa thành phố này, đã được biến làm nhà gì không[25]? Nhà thương điên. Vâng, đúng là tình trạng điên cuồng toàn thể, và thói đời bạo ngược. Chúng ta nữa, cố nhiên như vậy, chúng ta rồi tay cũng phải nhúng chàm. Ngài chắc đã nhận thấy rằng tôi không buông tha bất cứ điều nào và về phần ngài, thì tôi biết rõ ngài cũng chẳng rộng lượng gì hơn tôi. Vậy thì, bởi chưng chúng ta thảy đều là quan tòa, nên chi thảy đều có tội trước mặt nhau, thảy đều là Thiên-chúa theo cách thế xấu xa của mình, và bị đóng đinh từng người một, mà vẫn không hay biết. Ít nữa, chúng ta thảy đều như vậy, ví bằng tôi đây, tên gọi là Clamence, đã không tìm thấy được ngõ thoát, đã không tìm thấy được cách giải quyết độc nhứt, nghĩa là sự thật...

Không, tôi ngưng lại đây, ngài đừng ngại chi cả. Vả chăng, tôi cũng sắp xin phép chia tay ngài, chúng ta đã về tới trước cổng nhà tôi đây rồi. Sống cô độc một mình, lại thêm tâm thần bải hoải, làm thế nào được, ngài, người ta dễ hóa thành tiên tri. Dẫu sao, thì tôi cũng chẳng là gì khác, ẩn náu trong cõi sa mạc sỏi đá, mù sa và ủng nước, một thứ tiên tri tay không cho những thời buổi tầm thường, một thứ Élie không Chúa cứu thế[26], hâm hấp nóng và be bét rượu, lưng dựa vào cánh cửa ẩm mục này, ngón tay chĩa lên vòm trời trĩu thấp, nguyền rủa túi bụi đám người vô pháp không chịu nổi bất luận lời xét xử nào. Bởi vì họ thật tình không chịu nổi nó, ngài ạ, và tất cả vấn đề nằm ở chỗ đó. Kẻ chấp nhận một luật pháp vốn không sợ bị xét xử, nó đặt y vào trở lại trong thứ trật tự được y tán thành. Nhưng nỗi thống khổ tột cùng của con người bị xét xử không luật pháp. Vậy mà chúng ta lại ngụp đầu trong biển khổ mênh mông ấy. Thiếu sợi dây thiên nhiên ghì bớt họ lại, bọn quan tòa, được dịp tung hoành bất kể trời đất, liền ăn trừ bữa. Vậy thì, phải không ngài, chúng ta bó buộc phải ráng sức tiến bước mau hơn họ chớ? Và thế là một cuộc chạy đua ráo riết. Tiên tri và lang vườn ngày càng đông đảo, họ hối hả gấp rút hầu đến nơi với một luật pháp tốt đẹp hay một tổ chức vẹn toàn trong tay, trước khi địa cầu vắng bóng con người! May thay, phần tôi, thì tôi đã đến nơi rồi! Tôi vừa là phần cuối vừa là phần đầu, chính tôi là kẻ thông báo luật pháp. Tôi làm quan-tòa-sám-hối vậy.

Vâng, vâng, mai tôi sẽ miêu tả hầu ngài rõ cái nghề tốt đẹp ấy nó như thế nào. Ngày kia ngài đi, chúng ta phải gấp rút vậy. Mời ngài đến thăm tôi, ngài nhé, ngài cứ bấm chuông liên tiếp ba lần. Ngài trở về Paris? Paris xa vời, Paris kiều mỹ, lòng tôi chẳng hề quên nó bao giờ. Tôi hồi nhớ tới những buổi hoàng hôn suýt soát vào mùa này. Chiều hôm rơi rụng khô rắn và xạc xào trên những mái lầu xanh khói, thành phố âm ỉ xôn xao, con sóng tựa hồ chảy ngược dòng. Bấy giờ tôi hằng lê bước lang thang trên đường phố. Họ nữa, họ cũng đang lê bước lang thang ngay lúc này, tôi biết rõ như vậy! Họ lê bước lang thang, giả đò hối hả quay về với người vợ ê chề, với mái nhà nghiêm ngặt... Chao ôi! ngài ạ, ngài có thấu chăng nỗi lòng kẻ đơn chiếc lạc loài, lê bước lang thang trong những thành phố lớn?

❀ ❀ ❀

[1] Jan Vermeer (1632-1676) cũng gọi là Vermeer de Delft. Họa sĩ cổ điển Hòa Lan.

[2] Nguyên văn: foie gras. Trong nghệ thuật nấu ăn ở châu Âu, đặc biệt ở Pháp, gan ngỗng được xem như một món ăn sang trọng, dành cho tiệc tùng.

[3] Tháng 5-6/1940, quân đội Đức tràn sang Pháp, chánh phủ Philippe Pétain ký hiệp định ngưng chiến 22 tháng Sáu, chia nước Pháp thành hai Miền: Miền bắc (zone Nord, hay zône occupée, miền bị chiếm đóng; Miền Nam (zône Sud, hay zône Libre, miền tự do) Miền Bắc nằm dưới quyền kiểm soát và hành chính của quân đội Đức; miền Nam nằm dưới quyền kiểm soát và hành chánh của chánh phủ bại trận Pháp. Nhưng đến tháng 11/1942, thì quân đội Đức chiếm đóng và kiểm soát toàn lãnh thổ nước Pháp.

[4] Nghệ thuật làm thảm đòi hỏi nhiều đức kiên nhẫn, chịu khó, âm thầm, hết sức trái ngược với tính khí của Jean Baptiste Clamence vốn là kẻ thích được ở trên các đầu ngọn khoảng khoát.

[5] Nguyên văn: des brutes: ám chỉ bọn lính kín Gestapo Đức.

[6] Sau khi chánh phủ Philippe Pétain chịu hợp tác với Đức, tướng Charles de Gaulle (có chân trong chánh phủ Pháp bấy giờ) liền bỏ chạy sang London. Ngày 18 tháng 6/1940, de Gaulle đọc trên đài BBC lời kêu gọi quốc dân chống Đức, và biến thành biểu tượng cho tinh thần kháng Đức của dân tộc Pháp.

[7] Thái độ và lập trường của Tòa thánh Roma, đặc biệt của Giáo hoàng Pio XII, đối với khối Trục, trong thời Thế chiến thứ hai, hết sức mập mờ, thiếu dứt khoát. Riêng đối với nước Espana dưới quyền Franco là một nước Công giáo, Tòa thánh Roma còn có lập trường ủng hộ rõ rệt.

[8] Bertrand du Guesclin (1320-1380), nhân vật lịch sử Pháp. Nguyên súy quân đội hoàng gia (Connétable de l’Armée royale) cầm quân nhiều trận chống ngoại xâm Anh và Espana, thắng có, bại có. Nhiều giai thoại truyền tụng hành động anh hùng của ông. Tượng trưng cho con người dũng cảm và anh hùng.

[9] Thái độ và lập trường của Tòa thánh Roma, đặc biệt của Giáo hoàng Pio XII, đối với khối Trục, trong thời Thế chiến thứ hai, hết sức mập mờ, thiếu dứt khoát. Riêng đối với nước Espana dưới quyền Franco là một nước Công giáo, Tòa thánh Roma còn có lập trường ủng hộ rõ rệt.

[10] Nguyên văn: le Romain. Từ ngữ miệt thị và bất phục, ám chỉ Giáo hoàng Pio XII.

[11] Hubert Van Eyck (khoảng 1366-1426) và Jean Van Eyck (khoảng 1390-1441), sư tổ nền hội họa Flandres.

[12] Tranh hậu bộ l’Agneau mystique, kiệt tác đánh dấu bước đầu nền hội họa Flandre. Gồm tất cả mười hai bức. Đây là tranh hậu bộ thánh đường Saint-Bavon, thành phố Gand (Bỉ). Đề tài rút trong bộ Apocalypse (Mặc thị lục) theo thánh Jean.

[13] Mọi chi tiết kể trên đây đều có thật. Bức les Juges Intègres (Quan tòa công minh chánh đại), thuộc tranh hậu bộ l’Agneau Mystique, bị trộm năm 1934, và được thay thế bằng một bản sao. Đến nay, nguyên tác vẫn mất tích.

[14] Tên người ngợm, ông bạn của chúng ta, chỉ tên chủ tửu điếm Mexico-City.

[15] Trên thực tế, Albert Camus đã tham dự cuộc kháng chiến chống Đức thời 1940-1945, công tác bí mật khá nguy hiểm.

[16] Nguyên văn: En some, ils ont le saianisme vertueux. Hai từ saianisme (ác ma) và vertueux (đạo đức) đối nghịch nhau; hai ý niệm đối nghịch này hiện hữu song song, cũng như Jean Baptiste Clamence một người mà mang hai mặt.

[17] Nghĩa là lớn tiếng hô hào lòng chân thật của mình.

[18] Ám chỉ câu Tout est permis (Ta tuyệt đối tự do) do nhân vật Ivan Karamazov (trong Đôxtôievxkii: Anh em nhà họ Karamazov (1879-1880) thốt ra, khi cha y bị ám sát.

[19] Girolamo Savonarola (1425-1498) nhà truyền giáo Ý thuộc dòng Dominicain. Con người vừa nhiệt thành, vừa khắc khổ, Girolamo Savonarola quyết chí phục hưng và cải thiện Giáo hội, tin chắc ở tánh cách trọng đại phi thường của sứ mạng đó. Trong công cuộc cải thiện và phục hưng Giáo hội này, nhà truyền giáo đã tỏ ra vô cùng nghiêm nhặt, dùng nhiều biện pháp độc đoán (bắt nghệ sĩ phục vụ tư tưởng mình, ra lệnh thiêu đốt nhiều họa phẩm, văn phẩm, cấm đàn bà đeo vòng vàng, và nhiều thủ đoạn khác). Năm 1498, bị xử tử hình và chết treo.

[20] Tức là chúa Giêxu.

[21] Mikolaj Kopernik (1473-1543) nhà thiên văn Ba Lan. Trái với quan niệm đương thời, Mikolaj Kopernik chứng minh rằng Địa cầu không nằm ở trung tâm vũ trụ, mà vừa quay vòng quanh Mặt trời, cũng như các tinh cầu khác, vừa quay quanh chính mình.

[22] Ám chỉ câu Tout est permis của nhân vật Ivan Karamazov trong Đôxtôievxkii.

[23] Nguyên văn: “Sur cette pierre, je bâtirai mon église” (Trên khối đá này, ta sẽ dựng lên giáo đường). Pierre = đá. Thật ra, khi Chúa đặt pháp danh Pierre cho Simon, Chúa đã thốt ra như sau: “Tu es Pierre et sur cette pierre, je bâtirai mon église” (Người pháp danh là Đá, và trên khối đá này, ta sẽ dựng lên giáo đường). Đá tượng trưng cho vai trò nền tảng vững chắc của thánh Pierre trong việc xây dựng và phát triển Giáo hội.

[24] Nguyên văn: L’Antéchrist. Cũng gọi là l’Antichrist. Theo sách Apocalypse (Đào Duy Anh gọi là Mặc thị lục - sách cuối cùng trong bộ Tân ước), thì Phản Thiên chúa là kẻ sẽ xuất thế không bao lâu trước ngày tận thế phá khuấy con người để rồi cũng bị Chúa đánh bại. Nghĩa bóng: vô thần, vô tín ngưỡng.

[25] Réné Descartes (1596-1650) triết gia và nhà toán học Pháp. Là quân nhân, Réné Descarrtes có dịp châu du khắp vùng châu Âu, năm 1629, ông sang Hòa Lan cư ngụ ở đây cho đến năm 1648, non hai chục năm trời.

[26] Nguyên văn: Élie sans messie. Élie là nhà tiên tri Do thái sống khoảng thế kỷ IX trước công nguyên. Vào thời Chúa Giêxu ra đời, người ta tin rằng ông sẽ lại xuất hiện với Chúa Cứu thế.

THỰC HIỆN EBOOK Các thành viên của TVE-4U: • tinhthuvi • thanhbinhtran • inno14 • Trúc Quỳnh Đặng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.