Kính thưa Hoàng đế, nguyên tắc bất di bất dịch của thần là luôn tâu xin ngài chỉ thị trong mọi vấn đề còn hoài nghi, bởi chẳng ai có thể tháo gỡ mối bận tâm hay soi sáng sự u mê của thần tốt hơn ngài. Chưa từng tham gia bất kỳ phiên tòa nào xét xử những kẻ theo đạo Thiên Chúa, thần hoàn toàn mù mịt không chỉ về bản chất tội trạng hay mức độ trừng phạt, mà còn về việc liệu có nên tiến hành thẩm vấn họ đến cùng hay không. Do đó, thần vô cùng lúng túng trước hàng loạt câu hỏi: Liệu có cần phân biệt độ tuổi, hay người trẻ và người lớn tuổi phải chịu chung một cách đối xử? Sự ăn năn hối cải có đem lại cho họ lệnh ân xá hay không? Hay một khi đã từng là tín đồ Thiên Chúa, việc từ bỏ sai lầm cũng chẳng còn ích gì? Liệu bản thân việc xưng là tín đồ Thiên Chúa, dẫu không kèm theo hành vi phạm tội nào, hay chính những tội ác ẩn chứa trong danh xưng ấy mới là thứ đáng bị trừng trị?
Trong thời gian qua, cách thức thần áp dụng đối với những kẻ bị giải tới trước mặt thần với tư cách là tín đồ Thiên Chúa như sau: Thần gặng hỏi họ xem có đúng là tín đồ hay không; nếu họ thừa nhận, thần lặp lại câu hỏi thêm hai lần nữa và đe dọa sẽ trừng phạt; nếu họ vẫn khăng khăng bướng bỉnh, thần liền hạ lệnh đem đi trừng trị lập tức. Thần đinh ninh rằng, dẫu tín điều của họ có ra sao đi nữa, thì sự ngoan cố và thái độ thách thức chắc chắn đáng bị trừng phạt.
Vẫn có những kẻ khác mắc phải chứng mê muội tương tự được đưa đến trước mặt thần, nhưng vì họ là công dân La Mã, thần đã chỉ thị áp giải về Rô-ma. Thế nhưng, thói tệ này (như thường lệ) nhân lúc đang được tiến hành điều tra lại càng lan rộng hơn, khiến nhiều vụ việc tương tự liên tiếp xảy ra. Một đơn tố cáo ẩn danh đã được gửi lên, quy trách nhiệm cho nhiều cá nhân. Khi đem ra thẩm vấn, họ chối bay chối biến việc mình là tín đồ Thiên Chúa hoặc từng theo đạo. Họ đọc theo lời thần, cất tiếng khẩn cầu các vị thần linh, dâng lễ vật gồm rượu và hương thơm trước bức tượng của ngài (vốn được thần ra lệnh mang tới đặt cạnh tượng của các vị thần), thậm chí còn nguyền rủa danh tính Chúa Ki-tô — trong khi người ta đồn rằng không thể nào ép được những tín đồ thực thụ làm bất cứ điều gì trong số những việc đó; vì vậy, thần thấy nên phóng thích họ.
Một số kẻ bị nhân chứng trực tiếp tố cáo trước tòa thoạt đầu thừa nhận mình theo đạo, nhưng ngay sau đó lại phủ nhận; số khác thì thú nhận họ từng là tín đồ trong quá khứ, nhưng nay đã từ bỏ con đường lầm lạc ấy (có người từ bỏ hơn ba năm trước, có người lâu hơn, và một số ít là từ hơn hai chục năm về trước). Tất cả bọn họ đều bái lạy bức tượng của ngài cùng hình ảnh các vị thần, đồng thời thốt lên những lời nguyền rủa danh tính Chúa Ki-tô.
Họ khẳng định rằng toàn bộ lầm lỗi hoặc tội ác của họ chỉ gói gọn bấy nhiêu đây: Họ thường tụ họp vào một ngày cố định từ trước khi trời sáng, cất lời cầu nguyện dâng lên Chúa Ki-tô như một vị thần, và tự ràng buộc mình bằng một lời thề thiêng liêng — không phải để mưu tính bất kỳ hành vi đen tối nào, mà là để cam kết không bao giờ phạm tội gian lận, trộm cắp, ngoại tình, không bao giờ thất hứa, cũng như không bao giờ từ chối hoàn trả tài sản khi được chủ nhân yêu cầu. Sau những nghi thức ấy, họ thường giải tán và sau đó tụ họp trở lại để cùng nhau dùng một bữa ăn giản dị, vô hại. Thế nhưng, họ đã từ bỏ thói quen này sau khi sắc lệnh của thần được ban bố — sắc lệnh cấm mọi cuộc tụ họp theo đúng chỉ thị của ngài.
Nhận được những lời khai trên, thần càng thấy cần thiết phải tìm ra sự thật bằng cách tra tấn hai nữ nô lệ — những người được cho là đảm nhận vai trò chủ trì các nghi lễ của họ. Dù vậy, tất cả những gì thần khai thác được chỉ là bằng chứng về một thứ mê tín dị đoan vô lối và kỳ quặc.
Do đó, thần xét thấy nên tạm hoãn mọi tiến trình xử lý tiếp theo để thỉnh ý ngài. Vấn đề này quả thực rất đáng để ngài bận tâm, nhất là khi số lượng người vướng vào vòng nguy hiểm là rất lớn. Các cuộc điều tra này đã và đang lan rộng ra mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, thậm chí ở cả hai giới. Thực chất, thứ đạo giáo nhiễm độc này không chỉ gọng kìm trong các thành phố, mà đã lây lan sang cả các làng mạc và vùng quê lân cận. Dù vậy, xem ra ta vẫn có thể chặn đứng đà lây lan ấy. Bằng chứng là các đền thờ — vốn từng vắng bóng bóng người — nay bắt đầu đông đúc trở lại; các nghi lễ thiêng liêng sau một thời gian dài bị bỏ bẵng nay được phục hồi; và nhu cầu về các con vật tế lễ — vốn gần như chẳng có ai mua cho đến tận gần đây — nay bỗng tăng vọt. Từ những điều đó, ta dễ dàng đoán biết được có bao nhiêu người sẽ quay về với chính đạo nếu ban hành lệnh ân xá chung cho những kẻ chịu ăn năn lỗi lầm.