Góc nhìn: BÙI QUANG XUÂN
Khi đọc: TIẾNG CHUÔNG THẦN DUYỆT
của nhà văn Phạm Ngọc Dũ
TIẾNG VỌNG CỦA LÒNG NHÂN ÁI VÀ GIAI ĐIỆU ĐOÀN VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI
Trong dòng chảy không ngừng nghỉ của văn học đương đại, khi những xô bồ của nhịp sống đô thị và những giá trị vật chất thực dụng đôi khi làm mờ đi các góc khuất của tâm hồn, người đọc vẫn luôn mòn mỏi kiếm tìm những khoảng lặng thanh sạch, những trang văn có sức mạnh thanh lọc và cứu rỗi. Tiểu thuyết không chỉ đơn thuần là bức tranh rộng lớn phản ánh hiện thực xã hội, mà cốt lõi của nó phải là tiếng vọng của lòng nhân ái, là thánh đường gieo mầm cho những hạt giống thiện lương.
Như một cơ duyên văn chương đẹp đẽ, tiểu thuyết “Tiếng Chuông Thần Duyệt” của nhà văn Phạm Ngọc Dũ (Ngã Du Tử) xuất hiện như một dấu ấn nhân văn sáng giá.
Tác phẩm không chỉ khẳng định một ngòi bút kiên định phụng sự con người, mà còn là lời dẫn đưa độc giả hướng về những giá trị vĩnh hằng của tình thân và đạo lý dân tộc.
Hiện thực góc phố Sài Gòn và những hạt mầm thiện lương thường nhật:
Bố cục của “Tiếng Chuông Thần Duyệt” được kiến tạo một cách tự nhiên nhưng chứa đựng một tư duy hình tượng sắc bén. Nhà văn Phạm Ngọc Dũ không tìm kiếm những điều kỳ vĩ, lớn lao ở những không gian xa xôi, ông chọn đặt điểm nhìn nghệ thuật của mình ngay tại những không gian dung dị, quen thuộc nhất: Những con hẻm nhỏ, những góc phố bộn bề lo toan của Sài Gòn phồn hoa. Giữa dòng đời hối hả, vội vã ấy, tác giả đã khéo léo đan cài những câu chuyện tưởng chừng như vụn vặt thường nhật nhưng lại có sức lay động tâm can sâu sắc. Đó là câu chuyện về một người ăn xin, một anh xe ôm, một bà chủ quán phở nghèo… những con người có thể “vòng tay chưa ôm hết đời mình” nhưng lại sẵn sàng chìa tay ra để san sẻ hơi ấm cho kẻ khác khi nghịch cảnh bủa vây.
Bằng văn phong nghệ thuật lich lãm, trang nhã, Phạm Ngọc Dũ đã chứng minh một triết lý nhân sinh sâu sắc: Hạnh phúc và lòng nhân ái không phải là điều gì quá xa vời, nó được chắt chiu từ chính sự thấu cảm giữa những con người xa lạ. Những hành động tử tế thường nhật ấy tuy nhỏ bé nhưng mang sức mạnh chuyển hóa vĩ đại, làm bừng sáng cả một vùng không gian đô thị vốn dễ bị coi là lạnh lùng, ích kỷ.
Đó chính là cái nền hiện thực ấm áp để tác giả gieo vào lòng người đọc một niềm tin bất diệt vào bản chất thiện lương của con người.
Nhân vật Hùng và chiều sâu trữ tình của tình mẫu tử xuyên đại dương:
Bước vào tâm điểm của cấu trúc tiểu thuyết, nhân vật Hùng hiện lên như một hình tượng trung tâm kết tinh toàn bộ tư tưởng và cá tính sáng tạo độc đáo của tác giả. Qua ngòi bút miêu tả tâm lý tinh tế, Phạm Ngọc Dũ không sa đà vào việc khắc họa ngoại hình hay những biến cố mang tính chất ly kỳ, mà ông đi sâu vào thế giới nội tâm đầy trăn trở, nhưng vô cùng trong trẻo và nhân hậu của Hùng.
Xung đột cốt lõi của tác phẩm được đẩy lên từ nỗi đau chia cắt, thất lạc mấy mươi năm do những thăng trầm của lịch sử và số phận. Tuy nhiên, thay vì nhuốm màu bi kịch u uất, chủ đề tư tưởng của tác phẩm lại thấm đẫm chất trữ tình, nhẹ nhàng mà thấm sâu vào huyết quản người đọc qua hành trình kết nối lại tình mẫu tử thiêng liêng. Đỉnh cao của cảm xúc được dồn nén trong phân đoạn hai mẹ con gặp lại nhau rồi lại phải chuẩn bị cho cuộc chia ly định mệnh tại sân bay. Câu nói ngây ngô nhưng chứa đựng cả một trời hiếu nghĩa của đứa con: “Con bé nhỏ quá mẹ à, vòng tay chưa ôm hết đời con, làm sao ôm được tình mẹ cha” đã trở thành một trong những điểm sáng nghệ thuật đắt giá của tác phẩm.
Khoảnh khắc “giọt nước mắt cả hai cùng rơi trên đôi vai” không chỉ là giọt nước mắt của sự vui vầy tình mẹ con, mà còn là giọt nước mắt của sự giao thoa 2 thế hệ, của hơi ấm thiêng liêng đệ nhất tình thâm được thắp sáng sau bao năm dài đằng đẵng cách biệt. Người đọc dường như cũng lặng đi trước những rung động tinh tế, những khoảng lặng an yên mà tác giả đã kỳ công tạo dựng cho nhân vật của mình.
Tiếng chuông thức tỉnh và tư duy nghệ thuật mang đậm tính kịch tính
Cá tính sáng tạo của Phạm Ngọc Dũ trong cuốn tiểu thuyết này còn được khẳng định qua nghệ thuật xây dựng hình tượng mang tính biểu tượng cao: “Tiếng Chuông Thần Duyệt”. Tiếng chuông trong tác phẩm vượt thoát khỏi phạm vi của một âm thanh tôn giáo, tâm linh thuần túy để trở thành tiếng vọng của lòng trắc ẩn, tiếng gọi của lương tri và sự tỉnh thức. "Thần Duyệt" ở đây chính là sự đồng lòng, sự giao hòa tuyệt đẹp của những tâm hồn hướng thiện, là sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối đứa con nơi quê nhà với cha mẹ, em gái nơi bờ kia đại dương.
Tư duy hình tượng của tác giả vô cùng khoáng đạt và giàu chất thơ. Ở đoạn kết của tác phẩm, khi chuyến bay cất cánh trong đêm, hình ảnh nhân vật Hùng nán lại nhìn “cánh chim sắt” vút lên không trung, giữa bầu trời cao rộng với những chòm sao chớp nháy liên hồi, đã tạo nên một dư âm nghệ thuật tuyệt vời. Đó là một kích tính đầy nội lực nhưng được giải quyết bằng sự nhẹ nhàng, thanh thản. Cánh chim ấy mang theo người mẹ trở về mái nhà yên ả bên kia đại dương, khép lại nỗi đau đau đáu mấy mươi năm xa cách, nhưng đồng thời lại mở ra một tương lai bừng sáng, một bức tranh hạnh phúc của sự đoàn viên trong tâm tưởng. Nụ cười thỏa mãn bừng dậy trong tâm hồn Hùng chính là nụ cười của sự "giác ngộ"- cớ sự của chia lìa 2 mẹ con, sự chiến thắng của tình yêu thương trước những giới hạn của thời gian và khoảng cách địa lý.
Tiểu thuyết “Tiếng Chuông Thần Duyệt” của nhà văn Phạm Ngọc Dũ đã khép lại trang cuối cùng, nhưng tiếng ngân vang của lòng nhân ái và đạo lý nhân quả dường như vẫn tiếp tục lan tỏa, lay động sâu xa vào tâm thức độc giả. Bằng một ngòi bút dung dị nhưng đầy bản lĩnh, kết hợp giữa tư duy nghệ thuật sắc bén và một trái tim đa cảm, Phạm Ngọc Dũ đã hiến dâng cho đời một tác phẩm văn chương đích thực – Một tác phẩm viết về con người, vì con người và hướng con người tới những giá trị đạo lý trong xã hội đương đại, nhất là tuổi trẻ còn lắm chông chênh trong lễ nghĩa và yêu thương . Đây chắc chắn là một dấu son ý nghĩa, một đóng góp trân quý của ông cho nền văn xuôi nước nhà, xứng đáng nhận được sự đón nhận trân trọng từ giới chuyên môn và đông đảo công chúng yêu văn học.