Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Lượt đọc: 330 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

IV

Paris ngày 16 tháng 4

Thánh Droctovée và những thầy tu đầu tiên của nhà thờ Jean Toutmouillé giao việc cho tôi từ bốn mươi năm nay, nhưng tôi không biết nếu tôi viết lịch sử của họ trước khi gặp lại họ thì sao. Tôi già nua đã lâu rồi. Năm vừa qua, một hôm trên cầu Nghệ thuật, một bạn đồng nghiệp trong Học viện của tôi than thở buồn phiền trước mặt tôi, về nỗi sống lâu. “Ðó còn là cách duy nhất để nhận thấy sống lâu” – Saint Beuve trả lời anh ta – Tôi đã dùng cách này và tôi hiểu nó có giá trị tới mức nào. Sự thiệt hại không phải là sống lâu quá, mà kỳ thực là xem mọi sự diễn ra quanh mình. Mẹ, vợ, bạn bè, con cái, tạo hóa sinh ra và gạt bỏ những người yêu quý tuyệt diệu này một cách vô tình thảm đạm và cuối cùng thì ra chúng ta chỉ yêu, chỉ ôm hôn những cái bóng mà thôi. Nhưng có những cái bóng dịu dàng biết bao! Nếu lúc nào, có người lướt qua như cái bóng trong cuộc đời một con người, thì đúng đó là người thiếu nữ mà tôi đã yêu (việc không thể tin được là vào lúc này) khi tôi còn là một thanh niên trai trẻ. Ấy thế mà việc hồi tưởng lại cái bóng này hôm nay vẫn là một trong những hiện thực đẹp nhất của đời tôi.

Một áo quan của giáo đồ Cơ đốc trong các hầm mộ ở La Mã có ghi một lời nguyền rủa mà với thời gian tôi mới tập hiểu được ý nghĩa ghê gớm: “Nêu kẻ nghịch đạo nào xâm phạm mộ phần này thì người cuối cùng của bà con hắn phải chết”. Với tư cách là nhà khảo cổ, tôi đã khai quật những nấm mộ, đào bới những di hài để thu thập những mẫu vải, những đồ trang sức bằng kim loại, những đá quý chôn theo các di hài. Tôi làm việc này với khát vọng của nhà bác học, với lòng tôn kính và thương xót không thiếu một chút nào. Mong sao lời nguyền rủa do một trong số đệ tử đầu tiên của các tông đồ khắc trên mộ kẻ tử vì đạo không bao giờ tác hại đến tôi. Nhưng nó có thể trừng phạt tôi như thế nào? Hễ còn người trên quả đất thì tôi không phải sợ là kẻ sống sót sau khi bà con tôi chết, bởi vì luôn luôn con người có thể yêu thương.

Than ôi! Tình yêu thương kém đi và tan biến theo tuổi tác, như tất cả nghị lực khác của con người. Tấm gương đó chứng minh điều này và đó là điều khiến tôi sợ hãi. Có chắc rằng tôi đã không gặp phải sự tổn thất lớn lao đó chăng? Chắc chắn tôi sẽ phải chịu sự tổn thất đó mà không có cuộc hội ngộ may mắn làm cho tôi trẻ lại. Các thi nhân nói về mạch nước Jouvence: nó tồn tại, nó phun ra dưới lòng đất theo mỗi bước đi của ta. Và ta đi qua mà không uống được.

Từ khi tìm thấy đứa cháu gái của Clémentine, đời tôi đã không còn hữu ích thì nay trở lại có ý nghĩa và lý do tồn tại.

Hôm nay tôi tắm nắng, như ở Provence người ta khuyên bảo, trên bồn đất công viên Luxembourg, dưới chân tượng đài Marguerite de Navarre. Nắng xuân kích thích như một thứ rượu ngon. Tôi ngồi xuống suy tư. Tôi cảm thấy vui vui với bao nhiêu ý nghĩ nhẹ nhàng hớn hở thoát ra khỏi đầu óc như bọt một chai bia. Tôi mơ mơ màng màng. Tôi nghĩ rằng một anh chàng đã xuất bản ba chục tập văn bản cổ và cộng tác trong hai mươi sáu năm ở Tòa báo của các nhà bác học thì tha hồ mà suy nghĩ vẩn vơ. Tôi lấy làm thỏa mãn đã hoàn thành được nhiệm vụ và đã sử dụng trọn vẹn những năng lực tầm thường mà tạo hóa phú cho – Mọi cố gắng của tôi không phải hoàn toàn vô ích, tôi đã góp phần khiêm tốn của mình vào sự phục hưng những công trình lịch sử sẽ làm rạng danh thế kỷ bất ổn này. Chắc tôi sẽ được tính đến trong số mười hay số mười hai nhà bác học đã phát hiện cho nước Pháp những cổ vật văn học. Việc tôi xuất bản những thi phẩm của Gauthier de Coincy mở đầu một phương pháp đúng đắn đáng ghi nhớ. Trong trạng thái yên tĩnh nghiêm trọng của tuổi già, tôi tự trao cho mình phần thưởng xứng đáng này, và Thượng đế quan tâm đến tình cảm của tôi, Người vốn biết rằng tôi công bằng với mình, không để cho lòng tự hào hoặc tính kiêu căng chi phối.

Nhưng tôi mệt mỏi, hai mắt tôi mở, tay tôi run và tôi thấy hình ảnh mình trong những ông già yếu đuối của Homère bị loại khỏi cuộc chiến, ngồi trên bờ thành, cất cao tiếng hát như đàn ve trong cây lá.

Cứ thế tôi suy nghĩ thì bỗng ba thanh niên đến ngồi huyên náo gần tôi. Tôi không biết có phải mỗi người trong bọn đến bằng ba chiếc tàu, như con khỉ của La Fontaine nhưng chắc chắn họ ngồi trên mười hai chếc ghế. Tôi thú vị quan sát họ không phải họ có gì quá khác thường, nhưng vì thấy họ có vẻ bạo dạn và vui tươi là bản tính của tuổi trẻ. Họ đang đi học. Tôi tin chắc điều này do diện mạo đặc sắc của họ hơn là do sách vở họ cầm trong tay. Bồi vì tất cả những ai bận rộn với công việc trí óc có thể thấy rõ từ đầu do một điều gì khó tả thường thấy ở họ. Tôi rất thích thanh niên, và họ cũng làm vui lòng tôi, mặc dù một số phong cách khiêu khích và dữ tợn khiến tôi hay nhớ lại một thời cắp sách tới trường. Tuy nhiên họ không mang như chúng ta bộ tóc dài trên áo chẽn nhung, họ không đi dạo như chúng ta với cái đầu người chết, họ không kêu lên như chúng ta: “Ðịa ngục và sự trừng phạt của Chúa”. Họ ăn mặc chỉnh tề, quấn áo và ngôn ngữ của họ không theo thời trung cổ chút nào. Tôi phải nói thêm rằng họ chú tâm đến những người đàn bà đi qua trên bồn đất và đánh giá một số trong đám phụ nữ này bằng những lời lẽ khá sắc sảo. Nhưng những suy nghĩ của họ về vấn đề này không đến mức buộc tôi phải bỏ đi. Nói tóm lại, khi đám thanh niên chăm lo học tập thì tôi cho phép được vui đùa.

Một người trong bọn họ buông lời giễu cợt tình tứ gì đó tôi không hiểu.

- Thế nghĩa là sao? – Cậu nhỏ nhất, tóc nâu nhất trong bộ ba kêu lên với giọng nhẹ nhàng vùng Gascogne – Những nhà sinh lý học chúng tôi phải chú tâm đến chất sống. Còn anh, Gélis, như tất cả bạn đồng nghiệp lưu trữ chữ cổ của anh, anh chỉ sống với quá khứ, anh hãy quan tâm đến những phụ nữ bằng đá kia là những người cùng thời của anh.

Lúc ấy, cậu lấy tay chỉ cho anh chàng kia những pho tượng đàn bà trắng toát của nước Pháp xưa, dựng lên theo hình bán nguyệt dưới các gốc cây to trên bồn đất. Câu đùa này tự nó là vô nghĩa, ít ra cũng cho tôi biết có tên Gélis là học sinh trường pháp điển. Câu chuyện tiếp tục cho tôi biết người bên cạnh tóc hoe, nước da tái xanh đến mức không nhận ra được, im lặng, châm chọc là Boulmier, bạn cùng trường của anh chàng Gélis và ông bác sĩ tương lai (tôi hy vọng một ngày kia chàng trở thành bác sĩ) cùng nhau hăng say nói dông dài và rất ngông.

Sau khi đạt tới những lập luận trừu tượng cao nhất họ chơi chữ và nói những điều bậy bạ kỳ cục đối với trí thức, tôi muốn nói đó là những điều bậy bạ quá đáng. Tôi không cần thêm rằng họ chỉ đồng ý bảo vệ những ý kiến ngược đời quái gở nhất. Hay quá! Tôi không thích những thanh niên quá biết điều.

Chàng sinh viên ngành y nhìn thấy tên cuốn sách Boulmier cầm trên tay.

- Này, mày đọc Michelet hả?

- Ừ – Boulmier nghiêm trang đáp – Tao thích tiểu thuyết.

Gélis, trội hơn hẳn hai chàng kia, với thân hình đẹp dong dỏng cao, điệu bộ hống hách, nói năng mẫn tiệp, cầm cuốn sách lật qua các trang và nói:

- Đây là phong cách tột bậc Michelet, Michelet tuyệt vời. Thôi đừng truyện ngắn nữa! Những cơn giận dữ, những trận ngất xỉu, một cơn động kinh về những sự kiện ông ta không thèm trình bày. Những tiếng kêu của trẻ con, những chứng ăn dở của đàn bà có thai! Những tiếng thở dài mà chẳng một câu cho ra hồn! Lạ thật!

Và anh trả cuốn sách cho bạn. Lời nói dại này cho vui thôi, và không đến nỗi vô nghĩa như người ta tưởng – Tôi tự nhủ – Bởi vì trong những tác phẩm cuối cùng của nhà văn vĩ đại Michelet của chúng ta quả là ít thể hiện sự nhộn nhịp và có thể nói là sự sôi động.

Nhưng chàng sinh viên xứ Provence khẳng định lịch sử là một bài tập tu từ học không đáng kể. Theo chàng, lịch sử duy nhất và đích thực là lịch sử tự nhiên của loài người. Michelet đang trên đường thì gặp chứng rò của Louis XIV, nhưng ngay lập tức, ông lại rơi vào con đường mòn cũ kỹ.

Nói xong ý nghĩ chí lý đó, chàng thanh niên sinh lý học đi đuổi theo một toán bạn bè đang đi qua. Hai người lưu trữ ít có quan hệ bà con trong khu vườn ở quá xa đường phố Paradis-au-Marais, ngồi đối mặt nhau, bắt đầu chuyện trò về việc học tập của họ. Gélis học xong năm thứ ba, chuẩn bị một luận cương mà anh trình bày một phần đáng kể của luận cương. Ðó là tập Morasticon Gallicanum (Tu viện Pháp). Nhà bác học trẻ (tôi tặng chàng danh hiệu này như một dự báo) muốn giải thích tất cả những trang khắc năm 1690 cho tác phẩm mà Dom Germain đã đem in gặp phải trắc trở ít dự kiến tới và không bao giớ tránh được. Ít nhất khi qua đời, Dom Germain đã để lại tập bản thảo hoàn chỉnh và được sắp xếp rất có thứ tự. Tôi có thể làm được một bản như thế không? Nhưng đó không phải là vấn đề. Theo chỗ hiểu biết của tôi, Gélis dự định dành một bản chỉ dẫn khảo cổ học cho mỗi tu viện do các thợ khắc tầm thường của Dom Germain miêu tả bằng hình.

Bạn chàng hỏi có phải chàng biết tất cả những tài liệu viết tay và in liên quan tới đề tài của mình không? Lúc ấy tôi vểnh tai lên. Trước hết họ nói về những tài liệu gốc và tôi phải thừa nhận rằng họ làm việc này với một phương pháp đầy đủ, mặc dù gặp vô số trò chơi chữ quái gỡ. Rồi họ đề cập đến những công việc phê hình hiện đại.

- Cậu đã đọc tiểu dẫn của Courajod chưa? – Boulmier hỏi.

“Được!” tôi tự nhủ.

- Có – Gélis đáp – Ðó là một việc làm cẩn thận.

- Cậu đã đọc bài báo của Tamisey de Larroque trong Tạp chí các vấn đề lịch sử chưa? – Boulmier hỏi.

“Ðược!” lần thứ hai, tôi tự nhủ.

- Có, – Gélis đáp – và tớ đã tìm thấy trong đó những chỉ dẫn có ích.

- Cậu đã đọc Danh sách các tu viện dòng thánh Bơ-noa năm 1600 của Sylvestre Bonnard chưa?

“Được!” lần thứ ba, tôi tự nhủ.

- Trời ơi! Chưa – Gélis đáp – và tớ không biết nếu tớ đọc thì sao. Sylvestre Bonnard là một kẻ ngu xuẩn.

Quay đầu lại, tôi thấy mặt trời đã đứng bóng. Không khí mát lạnh. Tôi dại gì mà ngồi liều nghe những lời hỗn xược của hai gã tự phụ trẻ người non dạ cho bệnh thấp khớp hành hạ.

“Ái chà! Tôi đứng dậy, tự nhủ. Mong sao con chim con hay nói nhiều này làm và bảo vệ được bản luận cương của mình. Hắn sẽ tìm anh bạn đồng nghiệp Quicherat của tôi hoặc một vị giáo sự nào khác ở trường để phô bày sự khờ dại của hắn. Khi nghĩ như thế vào giờ phút này tôi gọi đúng hắn là đứa trẻ ranh mãnh, thực ra điều hắn nói về Michelet là không thể tha thứ và đi quá giới hạn. Ðối với người lão luyện bậc thầy đầy tài năng mà ăn nói như vậy ư! Thật ghê tởm!”.

Ngày 17 tháng 4

Chị Thérèse, cho tôi cái mũ mới, cái áo rơ-đanh-gốt tốt nhất và cây gậy có đầu quả táo bạc.

Nhưng do tuổi tác, chị Thérèse điếc như bao than, chậm chạp như tổ chức tư pháp. Tệ nhất là chị tưởng tai còn tinh tường, chân tay còn mạnh khỏe; tự hào với sáu mươi năm thân phận tôi đòi trung trực của chị, chị phục vụ ông chủ già của mình với quyền chuyên chế chu đáo nhất.

Tôi đã nói gì với chị?… Thế là chị không muốn đưa chiếc gậy đầu có quả táo bằng bạc, sợ tôi đánh mất. Sự thật là tôi thường bỏ quên ô và nạng trong xe khách và cửa hàng sách. Nhưng tôi có lý do đúng đắn để hôm nay cầm cây gậy song mây cũ kỹ có quả táo chạm bạc thể hiện Don Quichotte đang cho người phi nước đại, chĩa ngọn giáo vào những cối xay gió trong lúc đó Sancho Panca đưa hai tay lên trời van xin ông dừng lại mà không được. Cây gậy này là tất cả cái gì tôi thừa hưởng từ gia sản của bác tôi, đại tá Victor, lúc sinh thời giống Don Quichotte hơn Sancho Panca và thích đánh nhau cũng tự nhiên như người ta thường sợ chuyện đó.

Từ ba mươi năm nay, tôi cầm cây gậy này trong mỗi cuộc thi chạy đáng ghi nhớ hay long trọng của tôi, và hai tượng con – lãnh chúa và người kỵ sĩ theo hầu – khiến tôi thích thú, và như khuyên nhủ tôi, tôi tưởng chừng như đang nghe lời họ. Don Quichotte bảo tôi: “Hãy trù liệu nhiều cho những việc lớn, nên biết rằng ý định là thực tế duy nhất trên đời. Hãy nâng cao bản tính theo tầm vóc của mày, mong rằng toàn thể vũ trụ đối với mày chỉ là ảnh phản chiếu tâm hồn anh hùng của mày. Chiến đấu cho danh dự, chỉ điều đó mới xứng đáng với một trang nam nhi, và nếu mày bị thương thì hãy xem máu đổ như một giọt sương nghĩa hiệp và mỉm cười”.

Và đến lượt Sancho Panca bảo tôi:

“Này anh bạn, trời sinh ra anh thế nào thì cứ như thế. Hãy coi trọng vỏ bánh mì khô trong chiếc đãy hai túi của anh hơn những chim sẻ vườn được quay trong bếp của lãnh chúa. Hãy vâng lời thầy dù khôn ngoan hay điên dại, đừng làm tắc nghẽn đầu óc bằng những việc vô ích. Hãy sợ chuyện đánh nhau: Tìm vào nơi hiểm nguy là một việc làm nguy hiểm”.

Nhưng nếu đấng hiệp sĩ không ai sánh kịp và chàng kỵ sĩ theo hầu vô song có hình ở đầu cây gậy này thì thực ra họ ở trong đáy lòng tôi. Tất cả chúng ta đều có trong người một Don Quichotte và một Sancho mà chúng ta nghe theo, và cả đang khi Sancho thuyết phục chúng ta thì chính là Don Quichotte mà chúng ta phải khâm phục… Nhưng thôi, đừng chuyện lẩm cẩm nữa. Ta hãy đến chị De Gabry vì một việc vượt quá tốc độ bình thường của cuộc sống.

Cùng ngày ấy

Tôi gặp chị De Gabry mặc đồ đen và đeo găng tay.

- Tôi đã sẵn sàng – Chị bảo tôi.

Sẵn sàng, trong mọi trường hợp hành động đứng đắn, tôi nhận thấy chị đều như thế.

Chúng tôi xuống cầu thang và lên xe.

Tôi không dám phá vỡ sự yên lặng, sợ làm tiêu tan một uy lực tiềm ẩn nào tôi chưa biết, chúng tôi đi theo những đại lộ rộng lớn hoang vắng, âm thầm nhìn những thánh giá, những bia mộ, và những vòng hoa đang đợi khách hàng có tang, tại nhà buôn.

Cỗ xe ngựa dừng lại cuối mảnh đất của những người sống, trước tấm cửa trên có khắc những lời kỳ vọng.

Chúng tôi đi dọc theo một hành lang có trồng trắc bá rồi đến một con đường hẹp giữa các ngôi mộ.

- Ðấy – Chị bảo tôi.

Trên trụ ngạch trang trí bằng những cuộn dây lật ngược là câu khắc: Các dòng họ Allier và Alexandre.

Một chấn song ngăn lối vào công trình kỷ niệm. Bàn thờ đặt trên chỗ trong cùng, phủ đầy hoa hồng, một tấm đá cẩm thạch ghi các tên họ, trong đó có tên họ Clémentine và con gái nàng.

Ðiều tôi cảm thấy lúc bấy giờ là cái gì đó sâu xa, mơ hồ chỉ có thể diễn đạt bằng âm thanh của một bản nhạc êm đềm. Tôi nghe tiếng nhạc khí ca hát âu yếm dịu dàng tuyệt vời trong tâm hồn già nua của tôi. Những nốt nhạc không rõ của khúc hát tình yêu lẫn vào những hòa âm chậm rãi của bài ca tang lễ, bởi vì tâm hồn tôi pha trộn trong cùng một cảm giác, tính nghiêm trang của hiện tại và kính tạ ơn quen thuộc của quá khứ.

Rời ngôi mộ này mà chị De Gabry đã xông hương bằng những hoa hồng, chúng tôi đi qua nghĩa trang không nói với nhau một lời. Khi chúng tôi đã trở lại giữa những người sống, tôi mới lên tiếng với chị De Gabry:

- Khi đi theo chị trong những hành lang vắng lặng, tôi nghĩ tới những thiên thần trong các truyền thuyết ta gặp ở ranh giới huyền bí của cái sống và cái chết. Nấm mồ mà chị đưa tôi tới, mà tôi không biết cũng như hầu hết những gì liên quan đến người đàn bà dưới mộ cùng thân thuộc, làm tôi nhớ lại những cảm xúc duy nhất trong đời tôi, và trong cảnh đời tẻ nhạt đến thế này, như ánh sáng trên con đường tăm tối. Con đường càng kéo dài thì ánh sáng càng lùi xa, tôi gần như ở cuối đường dốc tột cùng, thế nhưng tôi vẫn thấy ánh sáng lờ mờ cũng chói lọi mỗi lúc tôi quay lại nhìn. Bao nhiêu kỷ niệm chen chúc trong lòng. Tôi như cây sồi già nhiều mắt đầy rêu, rung rinh cành lá để thức tỉnh những tổ chim mới nở biết hót. Chẳng may mà tiếng hót của bầy chim tôi cổ lỗ lắm rồi chỉ làm vui một mình tôi mà thôi.

- Tôi say mê tiếng hót kia – chị nói – xin kể cho tôi được nghe những kỷ niệm của ông và xin nói chuyện với tôi như với một bà lão. Sáng hôm nay, tôi đã phát hiện ba sợi bạc trong mái tóc tôi.

- Thưa chị, hãy trông chúng mọc ra mà không luyến tiếc. Thời gian chỉ êm dịu đối với những ai khoan thai thận trọng đón nhận nó. Theo chiều dài của năm tháng, khi một lớp bọt nhẹ trắng bạc tô vẽ thêm mái tóc đen vấn quanh trán, chị sẽ có một sắc đẹp mới lạ, kém rực rỡ hơn, nhưng làm cho người ta cảm động hơn sắc đẹp buổi đầu, lúc ấy chị sẽ thấy chồng tán thưởng mái tóc bạc ấy ngang với món tóc xoăn đen chị tặng anh khi cưới, mà anh đặt trong đồ trang sức như một vật thiêng liêng. Những đại lộ này rộng rãi, ít người qua lại, chúng ta có thể vừa đi vừa chuyện trò thoải mái. Trước hết, tôi sẽ trình bày vì sao tôi quen biết thân phụ Clementine. Nhưng đừng chờ đợi điều gì lạ thường, điều gì đáng chú ý, vì chị sẽ thất vọng lớn.

“Ông de Lessay ở đại lộ l’Obseratorie, trên tầng hai một ngôi nhà cũ, mặt trước bằng thạch cao được trang trí những tượng cổ nửa người, và khu vườn rộng hoang dã là những hình ảnh đầu tiên và dĩ nhiên đến một ngày nào đó không tránh được là những hình ảnh cuối cùng lẻn sâu vào cặp mắt trẻ thơ của tôi – Bởi vì tôi sinh ra chính trong tòa nhà này, tôi vừa chơi, vừa tập cảm nhận một số phận nhỏ của vũ trụ cũ kỹ này. Khi mà tâm hồn hoàn toàn thơm mát phát hiện thế giới khoác cho nó vẻ rạng rỡ dịu dàng và duyên dáng huyền bí, thì đó là những giờ phút thú vị, những giờ phút thiêng liêng. Thưa chị, thực tế vũ trụ là phản ảnh của tâm hồn chúng ta.

“Mẹ tôi là người rất may mắn có năng khiếu – Thức dậy cùng mặt trời như chim chóc, bà giống chúng do công việc nội trợ, do bản năng làm mẹ, do nhu cầu ca hát liên miên và do một thứ phong cách hoạt bát mà tôi cảm thấy rất rõ tuy tôi còn rất nhỏ bé. Mẹ là linh hồn của gia đình, mẹ sắp đặt nhà cửa ngăn nắp, vui vẻ. Cha tôi chậm chạp còn mẹ thì nhanh nhẹn. Tôi nhớ gương mặt bình thản của cha đôi lúc thoáng một nụ cười mỉm mỉa mai. Cha mệt mỏi nhưng lại thích như thế. Ngồi bên cửa sổ, trong chiếc ghế bành to, cha đọc cả ngày và nhờ cha mà tôi hết sức yêu thích sách vở. Tôi có trong tủ sách, trước tác của Mably và Ranal do cha tự tay ghi chú từ đầu tới cuối. Cha không cần phải hy vọng tham gia công việc gì trên đời. Khi mẹ tôi, bằng những mưu mẹo ân cần cố kéo cha ra khỏi sự nghỉ ngơi, cha lắc đầu với một sự thoải mái không lay chuyển được ấy làm thành sức mạnh cho những tính cách yếu đuối của cha. Cha làm thất vọng người vợ tội nghiệp không dính dáng gì đến thái độ thận trọng trầm tư này và chỉ hiểu cuộc đời qua bao nỗi 1o lắng hàng ngày và niềm vui lao động mỗi lúc. Mẹ tưởng cha ốm đau và lo sợ, cha càng ngày càng ốm nặng hơn. Nhưng sự lãnh đạm của cha có một lý do khác.

“Năm 1801, cha tôi vào làm ở văn phòng bộ hải quân dưới quyền ông Decrès, cha tỏ ra là một tài năng quản lý thực sự. Hoạt động trong bộ hải quân lúc ấy rất nhộn nhịp và năm 1805, cha tôi trở thành chỉ huy sư đoàn hành chính thứ hai. Năm đó, được bộ trưởng báo với hoàng đế và theo lệnh của hoàng đế, cha tôi phải làm báo cáo về tổ chức của hải quân Anh. Công việc này mang dấu ấn một đầu óc tự do và triết học sâu sắc mà người biên tập không biết, đến năm 1807 mới hoàn thành, khoảng mười tám tháng sau cuộc bại trận của đô đốc Villeneuve ở Trafalga. Từ cái ngày tai hại đó, Napoléon không muốn nghe nói tới một con tàu nào nữa, ngài liếc qua bản báo cáo khoa học, tức giận vứt nó vào lửa, và kêu lên: “Toàn là hàng loạt những lời huênh hoang”. Người ta báo cáo với cha tôi rằng hoàng đế tức giận đến nỗi còn lấy gót giày ống giẫm lên tập bản thảo trong lò sưởi. Kể ra thì hoàng đế có thói quen, khi giận dữ, lấy chân cời lửa cho tới khi gót giày bị cháy sém.

“Bị thất sủng từ đó, cha tôi không bao giờ ngóc đầu lên nổi và tất cả mọi cố gắng vô ích của cha để hành động đúng chắc chắn là nguyên nhân của sự lãnh đạm sau này. Nhưng từ đảo Elbe trở về, Napoléon cho gọi và ủy thác cha tôi soạn thảo các bản tuyên ngôn và kỷ yếu cho hải quân, theo tinh thần yêu nước và tự đo. Sau trận Waterloo, buồn phiền hơn là ngạc nhiên, cha tôi sống xa lánh và không bị quấy rầy. Chỉ có điều là người ta nhất trí với nhau rằng đó là một người phái Gia-cô-banh, một tên uống máu, một trong những người thiên hạ không ai hiểu được. Anh cả của mẹ tôi, Victor Maldent, đại tá lục quân, năm 1814 được vào ngạch sĩ quan hưởng nửa lương, bị sa thải năm 1815, vì thái độ xấu của mình, đã làm trầm trọng thêm những khó khăn do sự sụp đổ của đế chế gây ra cho cha tôi. Ðại tá Victor đã hét lên trong các quán cà phê và những buổi vũ hội công cộng rằng những người Buốc-bông đã bán nước Pháp cho bọn Cosaques. Với bất cứ ai, bác cũng để lộ phù hiệu tam tài giấu trong vải lót mũ của bác, nhằm phô trương, bác cầm cây gậy đầu hình quả táo, trau chuốt bằng máy tiện có khắc hình hoàng đế.

“Thưa chị, nếu chị chưa xem một số thạch bản của Charlet, thì chị không thể hình dung diện mạo bác Victor, khi bác dạo chơi trong vườn cung điện Des Tuileries, trong chiếc áo rơ-đanh-gốt, có nhiều nẹp ngang, bó chặt thắt lưng, ngực đeo huân chương danh dự, cài hoa tím, với vẻ thanh nhã của một kẻ yếm thế.

Sự nhàn rỗi và ăn chơi vô độ khiến người ta có ác cảm đối với những dục vọng chính trị của bác. Bác lăng nhục những ai đọc báo La Quotidienne hay Le Drapeau Blanc, buộc họ đánh nhau với bác. Vì thế mà bác đau khổ và hổ thẹn đã gây thương tích cho một thằng bé mười sáu tuổi trong cuộc đấu tay đôi. Tóm lại bác Victor hoàn toàn là kẻ đối lập với người thận trọng, và vì ngày nào do Chúa tạo ra, bác cũng đến ăn trưa, ăn tối tại nhà chúng tôi, nên tiếng xấu của bác gắn liền với gia đình chúng tôi. Người cha tội nghiệp của tôi đau khổ dữ dội về những lời lăng nhục của ông khách, nhưng cha tôi tốt bụng vẫn không nói gì, cứ để ngỏ cửa cho vị đại tá rất mực khinh thị mình như vậy.

“Thưa chị, điều đó kể với chị, đối với tôi trở nên sáng tỏ từ đấy. Nhưng bác đại tá lúc ấy, truyền cho tôi niềm phấn khởi trong trắng nhất và tôi quyết tâm một ngày kia theo gương bác càng nhiều càng tốt. Một sớm mai nọ, bắt đầu bắt chước bác, nắm tay đặt trên hông, tôi nguyền rủa như một kẻ ngoại đạo. Bà mẹ tuyệt vời của tôi tát một cái hết sức nhẹ vào má tôi, đến nỗi tôi sững sỡ một lúc rồi bật khóc. Ngày hôm ấy đằng sau cái ghế bành cũ kỹ bọc nhung vàng xứ Utrecht, tôi đã đổ bao nhiêu nước mắt.

“Lúc ấy tôi là một kẻ rất hèn. Một buổi sáng, theo thói quen, cha ôm tôi vào lòng, mỉm cười với vẻ chế giễu làm cho sự âu yếm dịu dàng muôn thuở của ông có cái gì chua chát. Ngồi trên đầu gối cha, tôi ve vẩy mái tóc dài hoa râm của cha, ông kể cho tôi những việc tôi không hiểu lắm, nhưng rất lấy làm thích thú chính vì chúng bí hiểm làm sao. Tôi tin không chắc lắm rằng sáng hôm ấy, cha kể lịch sử tiểu vương Yvetot theo bài ca. Bỗng chúng tôi nghe một tiếng ồn lớn, cửa kính kêu vang. Cha tôi để tôi tụt xuống chân ông, hai cánh tay cha dang ra run rẩy đập vào không khí, mặt mày hoàn toàn trắng bệch sững sờ, hai mắt tròn xoe. Cha cố thốt lên, nhưng hai hàm răng đánh cầm cập. Cuối cùng cha thì thầm: “Chúng nó đã xử bắn ông ấy”. Tôi không hiểu cha muốn nói gì, tôi lờ mờ cảm thấy khiếp sợ. Từ đấy, tôi hiểu rằng cha nói về thống chế Ney[1], ngã xuống ngày 7 tháng chạp năm 1815 dưới chân tường ngăn cách một mảnh đất rộng sát nhà tôi.

“Vào thời gian này, tôi thường gặp trong cầu thang một ông già (có thể không phải hoàn toàn là một ông già) có cặp mắt đen lóng lánh linh lợi khác thường trên khuôn mặt ngăm ngăm đen và trầm tính. Ông không có vẻ nhanh nhẹn hoặc ít ra ông không có vẻ sống như những người khác. Tôi đã thấy tại nhà ông Denon, nơi cha tôi dẫn đến, một xác ướp đem về từ Ai Cập; lúc ấy tôi thực bụng nghĩ rằng xác ướp của ông Denon, khi một mình tỉnh lại, đã bước ra khỏi cái tủ mạ vàng, mặc áo xám hung và mang tóc giả rắc phấn, và rằng đó là ông De Lessay. Và thưa chị thân mến, cả đến hôm nay, tôi vừa gạt bỏ ý này xem như không có cơ sở, tôi vừa phải thú nhận rằng ông De Lessay rất giống cái xác ướp của ông Denon. Thế cũng đủ để giải thích rằng nhân vật này đã làm cho tôi khiếp sợ lạ thường.

“Thực ra, ông De Lessay là một nhà quý tộc hàn vi và là một nhà triết học vĩ đại. Là đồ đệ của Mably và Rousseau, ông ta tự phụ là không có định kiến, và sự tự phụ này bản thân nó là một định kiến to lớn. Thưa chị, tôi nói với chị về một người cùng thời của một thời cổ đại đã biến mất. Tôi sợ không làm cho mình hiểu được và chắc không gây hứng thú cho chị. Con người ấy ở xa chúng ta quá! Nhưng tôi cố gắng tóm tắt câu chuyện, vả lại tôi không hứa với chị điều gì lý thú và chị không thể trông chờ những biến cố lớn trong cuộc đời của Sylvestre Bonnard”.

Chị De Gabry động viên tôi kể tiếp.

“Ông De Lessay thô bạo với đàn ông và lịch sự với đàn bà. Ông hôn tay mẹ tôi, thái độ phong nhã này với phụ nữ xa lạ, với tập quán của nền cộng hoa và thời đế chế. Do ông mà tôi dính dáng đến thời kỳ Louis 16. Ông De Lessay là nhà địa lý học, và theo chỗ tôi nghĩ, không ai tỏ ra tự hào như ông bận tâm đến bộ mặt quả đất này. Trong chế độ cũ, ông làm nông nghiệp với tư cách nhà triết học và như vậy đã vung phí ruộng đồng tới mẫu cuối cùng. Không còn một cục đất, ông bèn chiếm cả quả địa cầu và lập bản đồ với một số lượng phi thường theo lời kể của du khách. Trước kia được học tập phần cốt lõi của bách khoa toàn thư, ông không bằng lòng ngăn chia loài người ở bấy nhiêu phút, bấy nhiêu giây của vĩ độ, kinh độ nào đó – Than ôi! Ông chăm lo hạnh phúc của họ. Thưa chị, đáng chú ý là những ai bận tâm đến hạnh phúc các dân tộc thì lại làm cho thân thuộc họ rất khổ sở. Ông De Lessay bảo hoàng theo chủ nghĩa Voltaire, loại người khá thường thấy lúc bấy giờ trong đám quý tộc mất quyền. Ông giỏi hình học hơn Alembert, giỏi triết học hơn Jeanjacques và bảo hoàng hơn Louis XVIII. Nhưng lòng yêu mến của ông với nhà vua không là gì so với sự căm thù của ông với hoàng đế. Ông đồng mưu với Georges chống lại tổng tài thứ nhất; cơ quan thẩm cứu không biết hoặc coi khinh ông, nên ông không có tên trong danh sách bị cáo, lúc nào ông cũng lăng nhục Bonaparte mà ông gọi là con quỷ ăn thịt người đảo Corse và theo lời ông thì không đời nào ông phó thác cho y một trung đoàn, chính vì ông coi y là một quân nhân tồi.

“Ông De Lessay góa vợ từ lâu, năm 1813 vào khoảng tuổi năm mươi lăm, mới cưới một cô vợ rất trẻ nhằm giúp ông vẽ những bản đồ địa lý, cô vợ này sinh được một gái và chết lúc ở cữ. Mẹ tôi săn sóc cô trong cơn bệnh ngắn ngủi, chăm lo cho đứa bé không thiếu thứ gì. Cháu bé này tên là Clémentine.

“Gia đình tôi và ông De Lessay bắt đầu quan hệ với nhau từ đó. Lúc ấy tôi đã qua tuổi ấu thơ, còn tối tăm ngu muội tôi đã bỏ lỡ thiên tư đẹp đẽ biết nhìn và cảm nhận, và các sự việc không còn đem lại cho tôi những bất ngờ thú vị tạo thành điều say đắm của tuổi non dại. Vì vậy tôi không còn một kỷ niệm nào về những thời gian tiếp theo sự ra đời của Clémentine, tôi chỉ biết rằng sau mấy tháng, tôi gặp phải một tai họa, mỗi khi nghĩ tới còn làm cho tim tôi se lại. Mẹ tôi qua đời. Căn nhà bỗng chốc trở nên vô cùng vắng lặng, lạnh lùng và tăm tối.

“Tôi như rơi vào tình trạng đờ đẫn. Cha tôi đưa tôi đến trường trung học, và tôi phải vất vả mới hoàn hồn.

“Nhưng tôi hoàn toàn không phải là một thằng ngu độn, thầy dạy tôi học gần hết vốn của họ, nghĩa là một ít tiếng Hy Lạp và La tinh. Tôi chỉ giao thiệp với những người xưa. Tôi tập quý mến Miltiade, khâm phục Thémistocle, Quintus Fabius trở nên quen thuộc với tôi, ít ra, sự quen thuộc đó chừng nào hay chừng ấy cho tôi đối với một ông quan đại thần chấp chính như thế. Tự hào với những chỗ quen biết cao siêu như vậy, tôi không đoái hoài đến bé Clémentine và cha già của em, vả lại một ngày nọ, họ đi Normandie, mà tôi không thèm lo lắng đến ngày về của họ.

“Thưa chị, tuy vậy, họ lại trở về, họ trở về thật. Uy thế của trời, sức mạnh của tình máu mủ, thế lực huyền bí đã phú cho con người tư chất yêu thương, chị biết nếu tôi gặp lại Clémentine thì thế nào. Họ vào nơi ở buồn tẻ của tôi. Ông De Lessay không mang tóc giả nữa. Đầu hói, với mớ tóc hoa râm hai bên thái dương hồng hào, ông tỏ ra là một người già tráng kiện. Nhưng con người tuyệt trần lộng lẫy dưới cánh tay quàng của ông, soi sáng căn phòng cũ kĩ hoang tàn, không phải là ma hiện hình, đó là Clémentine. Tôi nói thực: đôi mắt nàng xanh, đôi mắt màu hoa cà nhạt, đối với tôi có vẻ là một điều phi thường và mãi tối hôm nay, tôi không thể tin rằng hai thứ châu báu có sinh khí đó đã hứng chịu bao nỗi khó nhọc của sự sống và sự thối rữa của cái chết.

“Nàng bối rối một chút lúc chào cha tôi mà nàng chưa quen biết. Da mặt phơn phớt hồng và cái miệng hé mỉm cười khiến người ta tưởng đến cái vô tận, có thể cái cười này không biểu lộ một ý nghĩ rõ ràng nào mà nó chỉ diễn đạt niềm vui được sống và niềm hạnh phúc được xinh đẹp. Gương mặt nàng sáng rực dưới cái mũ màu hồng như vật trang sức trong hộp tư trang để mở; nàng khoác khăn quàng ca-sơ-mia trên chiếc áo dài mu-xơ-lin trắng khâu nhíu ngang thắt lưng, để lộ mũi giày cao cổ màu nâu vàng óng. Thưa chị thân mến! Xin đừng chế nhạo, ấy là mốt lúc đó, còn bây giờ thì thời trang mới mẻ, giản đơn, duyên dáng đoan trang hơn nhiều thế nào thì tôi không rõ.

“Ông De Lessay cho chúng tôi biết rằng xuất bản xong một tấm bản đồ lịch sử thì ông trở lại Paris, vui sống trong căn hộ cũ nếu chưa ai đến ở. Cha tôi hỏi tiểu thư De Lessay có thích đến thủ đô không. Nàng mỉm cười, tỏ ra lấy làm sung sướng. Nàng thích các cửa sổ mở trông ra khu vườn xanh tươi, sáng sủa, thích bức tượng đồng tướng Marius ngồi trong phế tích Carthage trên mặt đồng hồ treo, thích những ghế bành cũ kỹ bọc nhung vàng, thích chàng sinh viên tội nghiệp không dám ngước nhìn nàng. Từ ngày ấy, tôi yêu nàng biết bao nhiêu”.

- Nhưng chúng ta đã đến phố Sèvres và chốc nữa chúng ta sẽ trông thấy các cửa sổ nhà chị. Tôi là một kẻ kể chuyện rất tồi, và nếu dạn nhất tôi dám sáng tác một cuốn tiểu thuyết thì tôi sẽ ít thành công. Tôi chuẩn bị thuật lại một câu chuyện dài dòng mà chỉ nói có mấy lời, bởi vì khi phát triển thỏa mãn những tình cảm yêu đương dù là trong sáng nhất, một ông già sẽ làm tổn thương sự tế nhị và sự duyên dáng nhất định của tâm hồn. Ta đi ít bước trên đại lộ này giữa hai bên tu viện và câu chuyện của tôi sẽ dễ dàng đứng vững trong khoảng không phân cách chúng ta với các gác chuông bé nhỏ đằng kia.

“Ông De Lessay biết tôi xuất thân từ trường pháp điển, xứng đáng cộng tác với ông vào tập bản đồ lịch sử. Vấn đề là xác định trên một loạt bản đồ điều mà ông già hiền triết này gọi là những thịnh suy của các đế chế từ Nóe đến Charlemagne. Ông De Lessay đã chất chứa trong đầu tất cả những sai lầm của thế kỷ 18 về mặt những đồ cổ. Về lịch sử, tôi thuộc trường phái canh tân và ở trong thời đại người ta ít biết bịa đặt. Cái cách ông già hiểu hay đúng hơn là không hiểu những thời đại dã man, sự khăng khăng chú ý ở thời thượng cổ những ông hoàng có nhiều tham vọng, những giáo sĩ tối cao đạo đức giả và tham lam, những công dân có đức hạnh, những thi nhân hiền triết và nhiều nhân vật khác, không hề có trong các tiểu thuyết của Marmontel, khiến tôi quá khốn khổ và trước hết gợi cho tôi đủ thứ ý kiến phản đối, tất nhiên là căn cứ nhiều vào lý trí, nhưng hoàn toàn vô ích và đôi khi nguy hiểm. Ông De Lessay rất hay cáu giận, còn Clémentine thì hết sức xinh đẹp. Giữa nàng và ông, tôi đã trải qua những giờ phút tra khảo và vui thú. Tôi đã yêu, tôi đã hèn nhát và nhanh chóng đồng ý với tất cả những đòi hỏi của ông đối với diện mạo lịch sử và chính trị mà quả đất dành cho các thời đại của Abraham, của Ménès và của Deucalion và sau này hẳn phải sản sinh ra Clémentine.

“Chúng tôi lập bản đồ đến đâu thì tiểu thư De Lessay tô màu đến đó. Cúi xuống bàn, hai ngón tay nàng cầm bút vẽ, từ mí mắt một hình bóng sa xuống má và cặp mắt lim dim tràn ngập một vẻ buồn yêu kiều. Thỉnh thoảng nàng ngẩng đầu lên, miệng hé mở. Vẻ đẹp của nàng chứa đựng bao nhiêu sắc thái đến nỗi lúc nào nàng đều như có vẻ thở dài. Lúc ấy, những tư thế bình thường nhất của nàng cũng đưa tôi vào cõi mộng thâm trầm. Chiêm ngưỡng nàng, tôi đồng ý với ông De Lessay rằng thần Jupiter ngự trị chuyên chế trên các vùng đồi núi Thessalie và nhà thơ Orphée khinh xuất giao phó cho giới tăng lữ dạy triết học. Ngày nay tôi vẫn còn chưa biết mình là một tên hèn nhát hay một trang anh hùng khi thừa nhận điều đó với ông già bướng bỉnh.

“Tiểu thư De Lessay không chú ý nhiều tới tôi. Sự vô tình này đối với tôi hình như rất chính đáng và rất tự nhiên đến nỗi tôi không dám phàn nàn, tôi đau khổ nhưng không biết. Tuy vậy tôi hy vọng: chúng tôi chỉ còn ràng buộc bởi đế chế thứ nhất của Assyrie.

“Ông De Lessay chiều nào cũng đến uống cà phê với cha tôi. Tôi không hiểu các cụ kết giao với nhau thế nào, bởi vì hiếm khi gặp phải hai bản chất hoàn toàn khác nhau như vậy. Cha tôi cảm phục thì ít mà tha thứ thì nhiều. Với tuổi tác, ông căm ghét mọi sự phóng đại. Ông phủ hàng nghìn sắc thái tinh vi lên ý nghĩ của mình và bao giờ cũng chỉ theo một ý kiến với tất cả mọi thứ dè dặt. Những thói quen này của một đầu óc tế nhị làm giãy nảy nhà quý phái già nua khô khan và đanh thép mà sự ôn hòa của địch thủ không bao giờ tước bỏ được, hoàn toàn trái lại. Tôi đoán thấy một hiểm họa. Mối hiểm họa này là Buonaparte – Cha tôi không thích tí nào, nhưng đã làm việc dưới quyền y, cha không thích nghe y chửi rủa, nhất là vì lợi ích của những người Bourbons mà cha phàn nàn cay đắng. Ông De Lessay theo chủ nghĩa Voltaire và phái chính thống hơn bao giờ hết, truy nguồn gốc mọi tai họa chính trị xã hội và tôn giáo là do Buonaparte. Trong sự tình đó, đại tá Victor làm cho tôi lo lắng trước hết. Ông bác gai ngạnh này trở nên hoàn toàn khó chịu từ lúc cô em không còn đấy nữa để làm cho bác bình tĩnh. Cây đàn hạc của David bị vỡ gãy và Saiil phó mặc cho những cơn thịnh nộ. Sự sụp đổ của Charles X gia tăng sự táo tợn của ông già phái Napoléon dám nghĩ tới mọi hành động yêng hùng. Bác không siêng đến căn nhà của chúng tôi vì nó quá yên lặng đối với bác. Nhưng thỉnh thoảng, vào giờ ăn tối, chúng tôi thấy bác xuất hiện, người phủ đầy hoa như một lăng mộ.

“Bác thường vừa ngồi vào bàn ăn vừa nguyền rủa trong họng, và giữa hai miếng ăn, bác ca ngợi những vận may của mình, của một người già dũng cảm. Rồi, bữa tối xong, bác xếp khăn ăn thành miếng phao câu, nốc nửa chai rượu trắng, rồi vội vàng đi ra như có ý sợ bỏ qua một lúc nào đó không đối ẩm với một nhà triết lý già và một nhà bác học trẻ. Tôi cảm thấy đúng rằng một ngày nào đó, nếu bác gặp ông De Lessay thì mọi việc sẽ hỏng. Thưa chị ngày ấy đã đến.

“Lần này, bác đại tá xuất hiện trên người toàn hoa là hoa, rất giống đài kỷ niệm vĩ nhân của đế chế, đến nỗi người ta có ý khoác lên mỗi cánh tay bác một vòng hoa bất tử. Bác thỏa mãn lạ thường và người đầu tiên được hưởng tâm trạng sung sướng này là chị nấu ăn được bác ôm ngang lưng khi chị đặt món thịt quay lên bàn.

“Sau bữa ăn tối, bác gạt cái lọ người ta đưa cho, nói rằng chốc nữa bác sẽ nốc rượu trắng trong quán rượu. Tôi vừa run vừa hỏi có phải bác không muốn gì hơn là được phục vụ cà phê ngay. Bác Victor rất ngờ vực và không ngu ngốc. Sự hấp tấp của tôi đối với bác tỏ ra không phải lúc, bác nhìn tôi với một vẻ nào đó rồi nói:

- “Gắng chút nữa, cháu ạ. Quái nhỉ! Đâu phải là báo hiệu rút lui cho thiếu sinh quân. Này ngài thông thái rởm, vậy ngài rất muốn xem tôi có đinh thúc ngựa ở giày ống không chứ gì?”

“Rõ ràng bác đại tá đoán được ý tôi muốn bác ra về nhanh. Biết vậy, tôi chắc bác sẽ ở lại. Bác đã ở lại thật. Những tình tiết nhỏ nhất của buổi tối hôm đó in sâu trong ký ức tôi. Bác hoàn toàn hân hoan. Bác lấy làm vui với ý nghĩ duy nhất là quấy rầy người khác. Quả vậy, bằng một thể văn tuyệt vời của trại lính, bác kể chuyện một nữ tu sĩ, một anh thổi kèn tờ-rông-pét và năm chai rượu vang săng-bec-tanh, chuyện này chắc được quân đội đồn trú ưa thích, mà tôi không kể lại cho chị, dù tôi còn nhớ – Khi chúng tôi đi qua phòng khách, bác báo cho biết tình trạng tồi tệ các giá gác củi trong lò và dạy chúng tôi một cách thông thạo, việc dùng đá nhám đánh bóng đồ đồng – Còn về chính trị thì không một lời. Bác không muốn phí sức. Chuông điểm tám tiếng trong phế tích Carthage. Đó là giờ của ông De Lessay. Mấy phút sau, ông vào phòng khách với con gái. Sinh hoạt bình thường các buổi tối bắt đầu. Clémentine thêu thùa bên ngọn đèn có chao tỏa bóng tối nhẹ nhàng lên đầu xinh đẹp của nàng, và quy tụ ánh sáng vào trên các ngón tay nàng làm cho chúng gần như chói lọi. Ông De Lessay nói về một sao chổi do các nhà thiên văn thông báo, và nhân dịp này, phát triển những lý thuyết dù phiêu lưu đến thế nào, cũng chứng tỏ một sự trau dồi trí tuệ. Cha tôi có kiến thức thiên văn học, trình bày những ý nghĩ đúng đắn và kết thúc bằng một câu muôn thuở: “Tóm lại, tôi biết được cái gì?”. Đến lượt tôi, tôi giới thiệu quan điểm của ông láng giềng giám đốc đài thiên văn là ông Arago vĩ đại. Bác Victor khẳng định rằng sao chổi ảnh hưởng đến chất lượng rượu vang và để chứng minh, kể ra một chuyện vui ở quán rượu – Tôi rất thỏa lòng cuộc đàm thoại này đến nỗi nhờ những buổi thảo luận mới nhất của tôi, tôi ra sức giữ nguyên nó bằng một bản thuyết trình về cấu tạo hóa học của các thiên thể nhẹ kia, rải tung ra, trong những không gian vũ trụ vào khoảng hàng tỷ dặm, có thể chứa đựng trong một cái chai. Cha tôi hơi ngạc nhiên về tài hùng biện của tôi, nhìn tôi với thái độ mỉa mai bình thản của ông. Nhưng người ta không thể ở mãi trên trời. Vừa nhìn Clémentine, tôi vừa nói về một ngôi sao chổi bằng kim cương ở chiếc đồng hồ quả quýt của một người bán kim hoàn mà tôi lấy làm lạ hôm trước. Tôi dại quá.

- “Này cháu – đại tá Victor kêu lên – ngôi sao chổi của cháu không giá trị bằng ngôi sao chổi lóng lánh trong mái tóc của hoàng hậu Joséphine[2] khi bà đến Strasbourg gắn huân chương cho quân đội.

- “Con mẹ Joséphine hèn mọn này thích trang sức lắm. – Ông De Lessay nói tiếp giữa hai ngụm cà phê. – Tôi không chê trách mụ về việc đó, mụ có cái tốt, tuy hơi nhẹ dạ. Đó là một mụ Tascher và mụ làm vẻ vang cho Buonaparte khi lấy ông ta. Một mụ Tascher, chẳng phải nói nhiều, nhưng một Bounaparte thì không phải là không nói hết.

- “Thưa ngài hầu tước – ông De Lessay trả lời cụt ngủn – tôi hiểu hắn là Buonaparte rất đẹp đôi khi cưới một trong những mụ đàn bà ăn thịt người, trần truồng, xăm mình, một cái vòng trong lỗ mũi và vui thú nhai nghiến ngấu chân tay người đã thối rửa, mà đại tá Cook mô tả trong những chuyến đi của ông ấy.

Tôi đã dự kiến việc này – tôi nghĩ – và trong nỗi kinh hoàng của tôi (ôi, tấm lòng tội nghiệp của con người), ý nghĩ đầu tiên của tôi là nhận thấy những dự kiến của mình là đúng. Tôi phải nói câu trả lời của đại tá thuộc loại tuyệt vời. Bác chống nạnh, khinh bỉ nhìn kỹ ông De Lessay rồi nói:

- “Thưa ngài đại diện tòa giám mục, Napoléon có một bà vợ khác, không phải là Joséphine và Marie Louis[3]. Người bạn gái này, ngài không biết, còn tôi, tôi đã nhìn gần bà ta, bà mặc áo khoác màu xanh da trời lốm đốm sao, mang vòng nguyệt quế, ngực lấp lánh huân chương danh dự, bà tên là Vinh Quang.

“Ông De Lessay đặt chén tách trên lò sưởi, bình thản nói:

- “Buonaparte của ông là một dâm đãng.

“Cha tôi uể oải đứng dậy, chậm rãi dang cánh tay, và bằng một giọng rất đỗi dịu dàng, nói với ông De Lessay:

- “Dù người chết ở Saint Hélène trước đây là ai, nhưng tôi đã làm việc mười năm trong chính phủ ông ấy, anh vợ tôi ba lần bị thương dưới cờ ông ấy. Tôi van ngài, với tư cách là bạn, từ nay về sau, không được quên lãng ông ấy.

“Điều mà hỗn láo tuyệt vời và hài hước quá lố của bác đại tá không tạo ra được, thì lời khiển trách nhã nhặn của cha tôi lại đặt ông De Lessay vào tình trạng tức giận điên người.

- “Tôi đã quên hẳn – ông tái mặt kêu lên, hàm răng khít chặt sùi bọt mép – tôi sai. Thùng mắm thì hôi mùi mắm và khi người ta đã phục vụ bọn vô lại…

“Nghe tới đó, bác đại tá nhảy vào nắm họng ông ta. Tôi tưởng bác sẽ bóp cổ ông ta nếu không có tôi và con gái ông ta.

“Cha tôi khoanh tay, nước da hơi hơi tái hơn theo thường lệ, nhìn cảnh tượng này có vẻ thương hại một cách khó tả. Điều gì tiếp theo còn thảm hại hơn nữa, những nhấn mạnh hành động điên rồ của hai ông già để làm gì? Cuối cùng tôi cũng can được hai cụ. Ông De Lessay ra hiệu cho con gái và đi ra. Khi nàng bước theo cha, tôi chạy theo nàng trong cầu thang.

- “Thưa tiểu thư – tôi cuống cuồng nói với nàng vừa siết chặt tay nàng – Tôi yêu tiểu thư! Tôi yêu tiểu thư!

“Nàng cầm giữ tay tôi trong giây lát, miệng hé mở. Nàng sẽ nói gì? Nhưng bỗng ngước nhìn cha leo lên gác, nàng rút tay lại và tỏ ý tạm biệt.

“Từ đó tôi không gặp lại nàng. Cha nàng đến ở phía điện Panthéron trong một căn hộ thuê với tiền bán tập bản đồ lịch sử. Mấy tháng sau, ông chết ở đấy do chứng ngập máu cấp phát. Con gái ông lại trở về Nevers sống với gia đình bên ngoại và lấy Achille Allier, con trai một nông dân giàu có ở đấy”.

- Còn tôi, thưa chị, tôi sống một mình yên phận, đời tôi khá hạnh phúc, không gặp tai họa lớn, cũng không gặp niềm vui lớn. Nhưng trong những đêm đông, tôi không thể nhìn lâu chiếc ghế bành trống không bên cạnh mà lòng không đau xót. Clémentine qua đời đã lâu. Con gái cô ấy cũng theo mẹ về nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Tôi được gặp tại nhà chị đứa cháu gái của nàng. Tôi sẽ chưa nói như ông già trong kinh thánh: “Và bây giờ, xin Chúa triệu hồi kẻ phụng sự Chúa trở về với Người”. Nếu một người như tôi có thể hữu ích cho ai, thì chính là tôi muốn dành cho cô gái mồ côi này, những sức lực cuối cùng của tôi, với sự giúp đỡ của chị.

Tôi nói những lời sau cùng này trong phòng ngoài căn hộ của chị De Gabry, và tôi định chia tay với người đàn bà dẫn đường tử tế này, thì chị bảo tôi:

- Thưa ngài thân mến, về việc ấy tôi không thể giúp ông được. Jeanne mồ côi và chưa thành niên. Ông không thể làm gì cho cháu nếu không được phép của người giám hộ cháu.

- Chao ôi! Tôi kêu lên – Tôi không nghĩ tí nào rằng cháu Jeanne có một người giám hộ.

Chị De Gabry nhìn tôi có phần ngạc nhiên. Chị không ngờ một ông già lại giản đơn như vậy.

Chị nói tiếp:

- Giám hộ của Jeanne Alexandre là luật sư Mouche, công chứng viên ở Levallois Perret. Tôi ngại ông không hòa hợp tốt với ông ta, vì đó là một người nghiêm nghị.

- Này, trời ơi! – Tôi kêu lên – Vậy thì chị muốn rằng ở vào tuổi tôi, tôi nên hòa hợp với ai, nếu chẳng phải là những người nghiêm nghị?

Chị mỉm cười dịu dàng ranh mãnh như cha tôi và nói:

- Với những ai giống ông. Đúng là luật sư Mouche không thuộc những người như thế, ông ta không gợi cho tôi một sự tin cậy nào. Ông sẽ phải xin phép ông ta đến thăm Jeanne mà ông ta gửi vào một ký túc xá ở Des Ternes, nơi đây cháu không được sung sướng.

Tôi hôn tay chị De Gabry và chúng tôi chia tay.

Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng năm

Tôi gặp luật sư Mouche, giám hộ của Jeanne trong văn phòng ông. Người nhỏ, gầy, khô khan, nước da trong như bụi giấy lộn. Đó là một động vật đeo kính vì không thể hình dung ông ta nếu không đeo kính. Luật sư nói giọng the thé, lời lẽ chọn lọc, nhưng tôi lại thích giá mà ông đừng lựa chọn lời lẽ gì hết. Tôi quan sát luật sư vẻ trịnh trọng của luật sư và dưới cặp kính, đôi mắt ông luôn dò xét người làm của mình.

Luật sư cho tôi biết ông sống hạnh phúc. Ông rất mừng về sự quan tâm của tôi đối với cháu gái mồ côi do ông giám hộ. Nhưng ông không tin rằng người ta sống trên quả đất để nhởn nhơ mất thì giờ – Không, ông không tin như vậy. Công bằng mà nói, tôi sẽ bảo là người ta đồng ý với ông một khi ở gần ông, chính vì ông ít giải trí – Ông sợ người ta làm cho đứa trẻ mồ côi thân yêu được ông giám hộ, có ý nghĩ lệch lạc và độc hại về cuộc đời khi cho trẻ vui chơi quá nhiều. Cho nên, ông đã năn nỉ chị De Gabry chỉ đón thiếu nữ về nhà rất ít thôi.

Tôi giã từ người công chứng viên cũ kỹ lỗi thời và văn phòng bụi bặm của ông với giấy phép đúng luật lệ (tất cả cái gì của luật sư Mouche đều đúng luật lệ) mỗi tháng vào ngày thứ năm thứ nhất đến thăm tiểu thư Jeanne Alexandre tại nhà cô giáo tiểu học Préfère, phố Demours ở Ternes.

Ngày thứ năm thứ nhất tháng năm, tôi đến nhà cô Préfère từ khá xa, tôi đã trông thấy có ngôi nhà do tấm biển hiệu bằng chữ xanh. Màu xanh này với tôi là dấu hiệu đầu tiên về tính tình cô Virginie Préfère mà từ đó tôi mới có dịp nghiên cứu đầy đủ.

Một chị đầy tớ hốt hoảng cầm tấm danh thiếp của tôi, rồi bỏ mặc tôi không một lời đảm bảo, trong phòng khách lạnh lẽo có mùi nhạt nhẽo riêng biệt ở nhà ăn của các nhà giáo dưỡng. Sàn phòng khách này được đánh xi quá công phu đến nỗi tôi thấy mình lạc lõng lúng túng trên ngưỡng cửa. Nhưng vừa sung sướng nhận thấy những mẩu len vuông nhỏ vung vãi trên sàn ván trước, các ghế tựa độn lông, vừa tiếp tục đặt chân lên mỗi đống thảm thêu, tôi tiến tới góc lò sưởi và ngồi xuống đó, mệt nhoài.

Trong một bộ khung mạ vàng trên lò sưởi này, là một tấm biển nhan đề bằng chữ gô-tic sáng chói: Bảng danh dự. Trên tấm biển có ghi rất nhiều tên nhưng không thấy tên của Jeanne Alexandre, khiến tôi không vui. Sau khi đọc đi đọc lại danh sách các học sinh trong bảng danh dự theo ý kiến của cô Préfère, tôi lo không nghe thấy gì xảy ra. Cô Préfère dựa vào thế lực sư phạm của mình chắc sẽ thiết lập thành công những khoảng trời yên lặng tuyệt đối, nếu lũ chim sẻ không chọn sân trường của cô để bay đến từng đàn kêu ríu rít; biết làm thế nào. Nghe chúng kêu thật vui tai. Nhưng có cách nào nhìn được chúng qua những cửa kính đã mờ. Tôi đành phải bằng lòng với cảnh trí từ trên xuống dưới của phòng khách, trên bốn bức tường với những hình vẽ của học sinh nội trú, hình những nữ tu sĩ, những hoa lá, những túp nhà tranh, những lều, những vật hình cuộn và cái đầu lớn của Tatius, vua của những người Sabius, ký tên Estelle Mouton.

Tôi cảm phục khá lâu sức mạnh diễn đạt của cô Mouton làm nổi bật hàng lông mày rậm rối bù và cặp mắt giận dữ của người quân nhân thời cổ đại, thì một tiếng nhẹ hơn tiếng lá rụng theo chiều gió, khiến tôi ngoảnh đầu lại. Quả nhiên, không phải chiếc lá rụng mà là cô Préfère. Cô chắp hai tay, tiến bước trên mặt sàn bóng lộn như những nữ thánh trong Tập truyện thánh kỳ diệu trên mặt nước trong như pha lê.

Nhưng trong bất cứ trường hợp nào khác, tôi tin rằng cô Préfère không làm tôi nghĩ tới những cô gái đồng trinh quý giá theo tư duy thần bí. Chỉ trông diện mạo cô thôi, cô đã làm tôi nhớ tới ngay mặt con nhái bén của bà nội trợ khôn ngoan bảo quản trong vựa thóc về mùa đông. Chiếc áo choàng có viền trên vai tự nó chẳng đem lại điều gì đáng kính, nhưng cô mặc nó xem như là áo giới tăng lữ hoặc biểu hiện của chức quan tòa cao cấp.

Tôi trình bày mục đích cuộc viếng thăm và đưa cho cô thư giới thiệu.

- Ông đã gặp luật sư Mouche – cô nói – sức khỏe ông ấy tốt lắm chứ? Đó là một người rất đứng đắn, đến nỗi…

Cô chưa hết lời và bỗng nhìn lên trần nhà. Tôi cũng đưa mắt theo và bắt gặp một cuộn nhỏ đăng ten xoắn bằng giấy treo nơi đèn chùm, tôi đoán là nhằm để kéo bầy ruổi bay khỏi các khung mạ vàng, các tấm kính và các bảng danh dự:

- Tôi đã gặp tiểu thư Alexandre ở nhà bà Gabry, – tôi nói. – Tôi có thể nhận thấy tính nết tuyệt vời và trí thông minh sắc sảo của tiểu thư – Ngày xưa tôi quen biết cha mẹ cháu nên tôi muốn chăm sóc cháu theo ý nguyện của họ.

Thay cho mọi câu trả lời, cô Préfère kính cẩn thở dài, ép sát chiếc áo choàng huyền diệu vào lòng rồi lại ngắm cuộn giấy xoắn nhỏ.

Cuối cùng cô bảo:

- Thưa ông, bởi vì ông quen biết ông bà Noel Alexandre, tôi muốn tin rằng ông cũng như luật sư Mouche và tôi, lấy làm tiếc nhưng chuyện đầu cơ điên rồ đã làm cho họ sạt nghiệp và buộc con gái họ phải chịu cảnh khốn cùng.

Nghe thế, tôi nghĩ rằng bất hạnh là một lầm lỗi lớn, và đối với những kẻ sa đà với dục vọng thì lầm lỗi này là không thể tha thứ. Sự thất bại của họ trả thù cho chúng ta, khiến chúng ta thích thú và không thương xót.

Sau khi hết sức thật thà trình bày rằng tôi hoàn toàn xa lạ với công việc tài chính, tôi hỏi bà chủ nhà ký túc có bằng lòng tiểu thư Alexandre không.

- Con bé này khó dạy – Cô Préfère kêu lên.

Lúc ấy, cô lấy dáng điệu của trường cao cấp để diễn đạt một cách tượng trưng hoàn cảnh của mình do người học trò gái khó bảo gây nên. Rồi trở lại với những tình cảm bình tĩnh hơn:

- Thiếu nữ này không phải là không thông minh, nhưng chung quy cháu không thể học tập các việc bằng nguyên tắc.

Cô Préfère thật kỳ lạ! Cô đi thì không đưa chân lên, nói năng thì không động đậy làn môi. Không dừng lại quá nhiều ở những đặc điểm này, tôi trả lời cô rằng dĩ nhiên nguyên tắc là cái gì ưu tú và về điểm này tôi trông cậy vào trí thức của cô, nhưng cuối cùng là khi người ta hiểu biết một việc nào đó là người ta học nó bằng cách này hay cách khác, điều đó không quan trọng.

Cô Préfère chậm rãi tỏ ý phủ nhận. Rồi cô thở dài:

- À, thưa ông, những người xa lạ với nền giáo dục, quen suy nghĩ rất sai trái. Tôi chắc họ nói năng theo ý muốn hay nhất của thiên hạ, nhưng tốt hơn, tốt hơn nhiều là họ để tùy những người có thẩm quyền định đoạt.

Tôi không cố tranh luận và yêu cầu cô cho được thăm ngay tiểu thư Alexandre.

Cô lặng ngắm chiếc áo khoác như để tìm ở những tua viền rối tung cũng như trong cuốn sách phù thủy, câu trả lời của mình. Cuối cùng cô lên tiếng.

- Tiểu thư Alexandre đang phụ trách một buổi ôn tập, ở đây các nữ sinh lớn phải dạy cho các em gái nhỏ. Người ta gọi đó là sự dạy dỗ lẫn nhau. Nhưng tôi sẽ rất tiếc khi thấy ông phải tốn công vô ích. Tôi sẽ cho gọi tiểu thư. Thưa ông, để hợp thức hơn, xin ông cho phép ghi tên ông vào sổ những khách đến thăm.

Cô ngồi trước bàn, mở cuốn vở lớn, và lấy ra lá thư của luật sư Mouche nhét dưới áo choàng.

- Bonnard có một chữ d phải không? – Cô vừa viết vừa hỏi. Xin lỗi ông tôi phải nhấn mạnh chi tiết này. Mà theo tôi, những danh từ riêng đều có một chính tả những danh từ riêng, dĩ nhiên là những danh từ lịch sử.

Vừa ghi tên tôi bằng bàn tay khéo léo, cô vừa hỏi có thể không ghi tiếp theo một tư cách nào đó như là cựu thương gia, viên chức, người thực lợi, hoặc gì gì khác. Trong cuốn sổ của cô, có một cột dành ghi các tư cách.

- Trời ơi, thưa bà, nếu nhất định phải điền vào cột đó, thì xin để là ủy viên Học viện.

Đứng trước mắt tôi là chiếc áo choàng của cô Préfère, nhưng không phải cô Préfère mặc áo đó nữa mà là một người đàn bà mới lạ duyên dáng, niềm nở, dịu dàng mơn trớn, sung sướng, hớn hở. Đôi mắt cô tươi sáng, những vết nhăn nhỏ trên mặt (rất nhiều) có vẻ tươi vui, miệng cô cũng mỉm cuời, nhưng chỉ một mép thôi. Giọng nói của cô hợp với dáng người, một thứ giọng ngọt xớt.

- Thưa ông, vậy ông cho rằng tiểu thư Jeanne thân mến này rất thông minh. Về phía tôi, tôi cũng nhận xét như vậy, và tôi rất tự hào được gặp ông. Hẳn là thiếu nữ này gợi cho tôi nhiều lý thú. Dù hơi nóng tính, cháu có cái mà tôi gọi là tính cách vui vẻ. Nhưng xin ông tha lỗi, tôi đã lạm dụng thời giờ quý báu của ông.

Cô gọi chị đầy tớ, chị tỏ ra vồn vã, hốt hoảng hơn trước và biến mất theo lệnh đi báo cho tiểu thư Alexandre rằng ông Sylvestre Bonnard, ủy viên Học viện đang đợi cháu ở phòng khách.

Cô Préfère chỉ còn thời giờ thổ lộ với tôi rằng cô kính trọng sâu sắc những quyết định của Học viện, bất cứ quyết định gì, lúc ấy Jeanne xuất hiện, thở hổn hển mặt đỏ như gấc, hai mắt mở to, hai cánh tay đung đưa, xinh đẹp trong sự vụng về thơ ngây của mình.

- Con yêu quý của mẹ, con đã đến thì. – Cô Préfère thì thầm với sự dịu dàng của người mẹ, vừa sửa lại cổ áo cho cháu.

Quả là Jeanne đã lớn lên rất lạ thường, mái tóc hất ra phía sau, bỏ trong túi lưới, từng mớ sổ ra ngoài, hai cánh tay gầy trong hai ống tay áo vải láng ngắn đến khuỷu tay đỏ do cước làm cho cháu có vẻ rất lúng túng, áo dài cháu quá ngắn để lộ đôi bít tất quá rộng và đôi giầy có cổ đã vẹt gót, một dây để nhảy, vấn quanh thắt lưng như dây nịt, tất cả những thứ đó làm cho Jeanne thành một cô gái ít coi được.

- Con bé kì cục! – Cô Préfère thở dài lần này ra vẻ không phải là một người mẹ mà là một bà chị cả.

Rồi cô chuồn ra ngoàỉ, lướt trên sàn nhà sáng loáng như một cái bóng.

Tôi bảo Jeanne:

- Jeanne, cháu ngồi xuống và nói chuyện với bác như một người bạn. Cháu không thích ở đây sao?

Cháu lưỡng lự rồi trả lời với nụ cười nhẫn nhục:

- Không nhiều.

Hai tay cháu cầm hai đầu dây và im lặng.

Tôi hỏi cháu đã lớn thế này mà còn nhảy dây?

- Ồ, không thưa ông – cháu hăng hái đáp – khi chị giúp việc bảo cháu có một ông đợi ở phòng khách thì cháu đang tập các em nhảy dây. Lúc ấy cháu thắt dây quanh mình cho khỏi mất. Thế là không đứng đắn, cháu xin lỗi ông. Nhưng mà cháu rất ít quen tiếp khách.

- Trời ơi, tại sao bác lại bị xúc phạm vì cái dây của cháu? Các nữ tu sĩ dòng thánh Cle-rơ cũng mang dây ở thắt lưng và đó là những cô gái chân chính

- Thưa ông, ông đến thăm và nói chuyện với cháu như vừa rồi thật tốt quá. Cháu không nghĩ tới chuyện cảm ơn ông khi bước vào, vì cháu rất đỗi ngạc nhiên. Ông có gặp bà De Gabry không? Xin ông vui lòng nói chuyện với cháu về bà ấy.

- Bà De Gabry khỏe mạnh. Bà đang ở trong vùng đất Lusance xinh đẹp. Khi có người lo lắng cho bà thì bác làm vườn già của bà chủ lâu đài cho biết bà đang ung dung tiến bước trên con đường rất chi là thuận lợi này. Ngày nọ, trước khi bà đi Lusance, bác đã cùng đến một vùng xa, lúc ấy hai người đã nói chuyện về con. Con ơi, bác và bà đã nói chuyện về con trên nấm mồ của mẹ con.

- Cháu hạnh phúc quá – Jeanne nói và bắt đầu khóc. Tôi trân trọng để thiếu nữ tuôn trào dòng lệ. Rồi trong lúc cô gái lau nước mắt, tôi yêu cầu cháu cho biết sống trong nhà này thế nào.

Cháu cho biết cháu vừa là học sinh vừa là cô giáo.

- Người ta sai bảo cháu và cháu lại sai bảo người khác, sự tình này thường gặp trong đời. Hãy chịu đựng việc đó, con ạ.

Nhưng cháu làm cho tôi hiểu rằng cháu không được học tập mà cũng chẳng giảng dạy. Cháu phải lo mặc quần áo cho các em lớp mẫu giáo, tắm rửa các em, dạy các em phép lịch sự, bảng chữ cái, cách dùng kim may, hướng dẫn các em vui chơi, và cho các em đi ngủ sau khi đọc kinh cầu nguyện.

- A! – Tôi kêu lên – Thế mà cô Préfère bảo đó là sự dạy bảo lẫn nhau. Không giấu gì cháu, bác không thích cô Préfère lắm và bác tin rằng cô ấy cũng không tốt.

- Ồ! – Jeanne đáp – Cũng như phần đông mọi người, cô ấy tốt với những ai cô thích và không tốt với những ai cô không ưa. Đấy! Cháu tin rằng cô không yêu mến cháu lắm.

- Còn ông Mouche. Phải nghĩ thế nào về ông ấy?

Tiểu thư hăng hái trả lời:

- Thưa ông, cháu xin ông đừng nói với cháu về ông Mouche. Cháu xin ông.

Tôi thuận theo lời yêu cầu nóng vội và gần như rụt rè này và chuyển hướng câu chuyện.

- Ở đây Jeanne có nặn đắp những hình sáp phải không? Bác không quên nàng tiên đã làm cho bác sửng sốt dữ dội ở Lusance.

- Cháu không có sáp. Tiểu thư vừa đáp vừa buông xuôi hai tay.

- Trong một xã hội loài ong mà không có sáp sao? Bác sẽ đem cho cháu nhiều sáp có màu sắc và trong suốt như châu báu.

- Xin cảm ơn ông, nhưng ông đừng làm thế. Ở đây cháu không có thì giờ để làm ra những con búp bê bằng sáp. Tuy vậy cháu đã bắt đầu đắp cho bà De Gabry một tượng thánh nhỏ hết sức bé, tượng thánh Georges trong bộ áo giáp vàng rực. Nhưng các em gái hiểu rằng đó là con búp bê, và các em đem chơi làm vỡ ra từng mảnh.

Cháu lấy ra khỏi túi tạp dề một bức tượng nhỏ, chân tay bị tháo rời chỉ còn dính lại chút ít bằng một lõi dây thép. Nhìn tượng, cháu vừa buồn, vừa vui nhưng niềm vui thắng thế, lúc ấy, cháu mỉm cười, nhưng bỗng nhiên ngừng lạỉ.

Cô Préfère đã đứng, hiền lành trước cửa phòng khách.

- Con bé thân yêu này – bà chủ ký túc xá than thở, giọng dịu dàng nhất – tôi sợ cháu làm mệt ông, lãng phí thì giờ quý báu của ông.

Tôi yêu cầu cô đừng nghĩ nhầm như thế, và vừa đứng dậy cáo lui vừa rút ra khỏi túi áo mấy thanh sô-cô-la và kẹo bánh mang theo.

- Chao ôi! Thưa ông – Jeanne kêu lên – cả ký túc xá cũng có các thứ ấy.

Người đàn bà mặc áo choàng can thiệp:

- Tiểu thư Alexandre, hãy cảm ơn ông về lòng hào hiệp của ông.

Jeanne nhìn bà với vẻ khá rụt rè và quay sang tôi.

- Thưa ông cháu xin cảm ơn ông đã cho kẹo bánh và nhất là cảm ơn ông có lòng tốt đến thăm cháu.

- Jeanne hãy ngoan ngoãn và can đảm như trước – Tôi vừa nói vừa siết chặt tay cháu – Bác tạm biệt cháu.

Khi rút lui với mấy gói sô-cô-la và bánh kẹo, Jeanne để đầu dây tập đập đôm đốp vào lưng ghế tựa. Cô Préfere tức giận hai tay ép ngực dưới áo khoác, lúc ấy tôi chờ đợi chứng kiến sự tan biến tâm hồn nhà giáo của cô. Khi còn hai chúng tôi, cô bình tâm trở lại và tôi không vui phải nói rằng cô đã cười gằn với tôi. Tuy vậy tôi cũng tranh thủ tâm trạng đó của cô:

- Thưa cô, tôi để ý thấy Jeanne Alexandre hơi xanh xao. Cô biết hơn tôi, ở lứa tuổi trẻ người non dạ, cháu mong muốn được đối xử ngọt ngào, và được chăm sóc nhiều. Tôi mạo muội khẩn khoản gửi gắm cháu cho cô theo dõi dạy bảo.

Những lời này hình như làm cho cô vui lòng. Cô ngắm cuộn xoắn nhỏ trên trần nhà, vẻ trầm tư mê ly, cô chắp tay kêu lên:

- Những con người lỗi lạc này biết đi vào những chi tiết nhỏ nhất.

Tôi lưu ý cô sức khỏe một thiếu nữ không phải là một chi tiết nhỏ và tôi vinh dự chào cô. Nhưng cô ngăn lại ở ngưỡng cửa và tâm sự:

- Thưa ông, xin ông thứ lỗi cho sự kém cỏi của tôi. Tôi là phụ nữ, tôi ưa tiếng tăm. Tôi không thể giấu ông rằng tôi lấy làm vinh hạnh về sự có mặt của một ủy viên Học viện trong nhà trường nhỏ mọn của tôi.

Tôi tha thứ sự kém cỏi của cô và nghĩ đến Jeanne với tính ích kỷ mù quáng, dọc đường tôi tự nhủ:

Chúng ta sẽ giáo dục con bé này thành người thế nào đây.

Ngày 2 tháng 6

Ngày hôm đó, tôi đưa một đồng nghiệp già lớn tuổi đến nghĩa trang Marnes, ông ấy chịu chết, theo cách nghĩ của Geothe. Geothe vĩ đại có sức sống lạ thường, thực sự tin rằng người ta chỉ chết khi người ta muốn, nghĩa là khi tất cả sức mạnh chống lại sự phân hủy cuối cùng, khi toàn bộ khí lực làm nên sự sống bị hủy diệt đến tận cùng. Nói cách khác, ông nghĩ rằng người ta chỉ chết khi không muốn sống nữa. Vào lúc thích hợp vậy! Vấn đề chỉ là đồng tình với nhau và tư tưởng tuyệt vời của Geothe rút lại là tiếng hát của La Palice, khi người ta biết sử dụng nó.

Vậy nên ông bạn đồng nghiệp ưu tú của tôi chịu chết do hai ba cơn ngập máu cấp phát nặng nhất, và đến cơn cuối cùng thì không còn cứu vãn gì nữa.

Sinh thời, tôi ít giao du với ông, nhưng dường như tôi trở thành bạn ông từ khi ông không còn nữa, bởi vì các bạn đồng nghiệp của tôi với nét mặt đầy tự tin nghiêm trang bảo tôi phải cần một trong cái dây quàng khăn phủ quan tài và phát biểu ý kiến trên mộ.

Sau khi đọc quá tồi một bài diễn văn ngắn do tôi cố gắng viết, chẳng phải nói ngoa, tôi đi dạo trong khu rừng Ville d’Avray, và không cần chống mạnh lắm cây gậy của đại tá, tôi theo một lối mòn cây cối rậm rạp được ánh nắng chiếu xuống hình thành những đĩa vàng. Chưa bao giờ mùi cỏ lá ẩm ướt, chưa bao giờ cái đẹp của bầu trời và sự yên tĩnh tuyệt đối của cây cối thấm sâu vào giác quan và cả người tôi như thế, và trong cái yên lặng thoáng qua một tiếng chuông không dứt, tôi cảm thấy một sức ép vừa phàm tục vừa trang nghiêm đè nặng tâm hồn.

Tôi ngồi dưới bóng một cây sồi bên đường. Ở đấy tôi quyết không chết hay ít nhất không chịu chết, trước khi ngồi lại dưới một cây sồi, ở đây, trong cảnh yên tĩnh của đồng quê mênh mông, tôi nghĩ đến bản chất của tâm hồn, và cứu cánh của loài người. Một con ong, thân màu nâu lóng lánh dưới ánh mặt trời như áo giáp bằng vàng xưa, đến đậu trên hoa cẩm quỳ rườm rà âm u, và nở đúng trên thân cây rậm rạp. Chắc không phải lần đầu tôi trông thấy một cảnh tượng thông thường đến thế, nhưng đây là lần đầu tôi nhìn cảnh tượng này với sự tò mò trìu mến và thông minh đến thế. Tôi nhận thấy tất cả mọi thứ giao cảm và trăm nghìn mối quan hệ tài tình không ngờ giữa sâu bọ và loài hoa.

Con ong no nê mật, mạnh dạn vùng bay lên. Tôi cố sức đứng dậy, ngay ngắn trên hai chân.

- Chào tạm biệt – tôi nói với hoa và ong – Chào tạm biệt. Có thể ta chẳng còn thời gian thể nghiệm để khám phá sự hòa hợp bí mật của các người. Ta mệt lắm rồi. Nhưng con người sinh ra không phải là để từ bỏ công việc này vì một công việc khác. Chính hoa lá và sâu bọ sẽ làm cho ta thư thái khỏi bận rộn với ngôn ngữ văn học và công thư văn học, nếu Chúa muốn như vậy. Câu chuyện thần thoại ngày xưa về Antée chứa đựng bao nhiêu là ý nghĩa! Chân ta đã chạm đất và ta là một người khác hẳn, và đến tuổi sáu mươi tám, những điều lạ lùng mới lạ nảy sinh trong tâm hồn ta như ai cũng thấy những chồi vươn lên từ thân rỗng của một cây liễu già.

Ngày 4 tháng 6

Vào những buổi mai xám nhạt đem lại cho cảnh vật sự êm dịu vô hạn, tôi thích nhìn, từ cửa sổ, con sông Seine và các kè của nó. Tôi ngắm bầu trời xanh quang tạnh trên vịnh Naples. Nhưng bầu trời Paris của chúng ta náo nhiệt hơn, khoan dung hơn, và huyền bí hơn. Nó mỉm cười, đe dọa, mơn trớn, buồn vui như sắc mặt con người. Lúc ấy nó chiếu ánh sáng yếu ớt xuống người và súc vật trong thành phố đang làm nhiệm vụ hàng ngày. Trên bờ sông đằng kia, những phu khuân vác nặng cảng Saint Nicolas dỡ hàng sừng bò, còn một số khác ngồi trên cầu tàu di động nhanh nhẹn vứt qua tay nhau những mẩu bánh ngọt xuống tận hầm tàu. Trên kè sông phía bắc, ngựa để cho thuê đứng thẳng hàng dưới bóng cây tiêu huyền, đầu trong túi dết, im lặng nhai yến mạch, con các bác đánh xe đỏ mặt vừa cạn chén trước quầy hàng rượu, vừa liếc mắt theo dõi ông chủ dậy sớm.

Dân bán sách cũ đặt các hộp lên lan can. Những nhà buôn tinh thần trung hậu này luôn luôn sống ngoài trời, áo bờ lu trước gió, tuyết giá, sương mù, nắng mưa to hành hạ họ, khiến họ giống những pho tượng cổ trong nhà thờ lớn. Bọn họ là bạn của tôi. Ít khi đi qua trước quầy sách họ mà tôi không lấy vài cuốn sách cũ nào đó chắc tôi còn thiếu.

Về đến nhà, thì nghe chị quản gia kêu toáng lên là tôi đã làm bục hết các túi áo, vứt bỏ đầy nhà bao nhiêu giấy má nên kéo lũ chuột tới. Chị Thérèse đứng đắn trong việc này, bởi chị đứng đắn nên tôi không nghe lời chị, mặc dù lặng im, tôi vẫn thích sự ham mê điên rồ hơn sự đứng đắn dửng dưng. Những đam mê của tôi không phải là những dục vọng bùng nổ, tàn phá, làm hại sức khỏe mà người thường không để ý. Nhưng chúng giày vò tôi và hơn một lần, tôi mất ngủ vì mấy trang viết của một tu sĩ đã bị lãng quên, hoặc do một người học viện tầm thường của Pierre Schoeffer in ra. Và nếu những khát vọng đẹp đẽ đó tắt ngấm trong tôi khi tôi cũng chết dần chết mòn. Những dục vọng của chúng ta. Những sách cũ của tôi, đó chính là tôi. Tôi già và khô đét như chúng.

Một làn gió nhẹ với mặt đường cuốn đi hạt có cánh của những cây tiêu huyền và những cọng cỏ khô tuột khỏi mỏm mấy con ngựa. Đám bụi bặm này chẳng là gì, nhưng khi nó bay lên, tôi lại nhớ thời thơ ấu, tôi đã nhìn thấy một đám bụi như thế quay cuồng, và lòng người dân già thành Paris của tôi lấy làm cảm động. Qua cửa sổ, tất cả những gì tôi nhìn thấy, từ chân trời chạy dài bên trái tôi cho đến núi đồi Chaillot, nào là khải hoàn môn như con súc sắc bằng đá, nào là sông Seine, con sông vinh quang với các cây cầu của nó, nào là những cây đoạn trên thềm cung điện Des Tuileries, nào là cung điện Le Louvre thời Phục hưng được chạm trổ như đồ châu báu; ở bên phải, về phía cầu Mới, pons Lutetiac Novus dictus, như người ta đọc trên các bức tranh in tay thời xưa, là thành Paris cổ kính với những tháp và chóp tháp, tất cả cái đó là đời tôi, là chính tôi và tôi sẽ chẳng là cái gì nếu không có những cảnh vật đó được phản chiếu trong tâm hồn tôi, với muôn nghìn sắc thái tư tưởng của tôi, gợi cho tôi thích thú và khích lệ tôi. Vì thế, tôi yêu Paris vô hạn.

Ấy thế mà tôi chán ngấy, tôi cảm thấy người ta không thể nghỉ ngơi giữa chốn đô thành đang nghĩ ngợi nhiều này, đã từng dạy tôi suy nghĩ và đang thôi thúc tôi không ngừng suy nghĩ. Làm sao mà không bị khuấy động giữa đống sách vở kia luôn luôn khêu gợi sự tò mò của tôi, làm cho nó mệt mỏi mà vẫn không thỏa mãn được nó. Khi thì một ngày tháng nào đó phải tìm, khi thì một địa phương nào đó cần xác định, hoặc một từ ngữ cổ nào đó mà hiểu ra ý nghĩa đích thực của nó thì thật lý thú. Còn những từ? – A – vâng, những từ. Là nhà ngữ văn học, tôi là chúa tể của chúng, chúng là thần dân của tôi, và với tư cách là đấng minh quân, tôi ban cho chúng tất cả cuộc đời tôi. Tôi sẽ không thoái vị một ngày nào đó chăng? Trong khi chờ đợi một sự yên tĩnh phi thường nhất, bất di bất dịch, hoàn toàn bao bọc lấy tôi, tôi đoán rằng đâu đây cách xa nơi này, bên rìa một khu rừng, có một căn nhà nhỏ, nơi đây tôi có thể tìm thấy sự yên tĩnh cần thiết cho mình. Tôi mơ ước một chiếc ghế dài trên ngưỡng cửa, và những cánh đồng xa tít mù khơi. Nhưng phải có một gương mặt trẻ trung tươi dáng ở gần tôi để phản ảnh và tập trung tất cả vẻ mát mẻ này; tôi sẽ tự cho mình là ông, lúc ấy mọi trống rỗng của đời tôi sẽ được san lấp.

Tôi không phải là kẻ hung bạo, ấy thế mà tôi nổi giận dễ dàng và mọi trước tác của tôi đem lại cho tôi bao nhiêu buồn thì cũng với bấy nhiêu vui. Tôi không hiểu tại sao lúc bấy giờ, tôi nghĩ tới sự xấc láo rất vô ích và rất không đáng kể của anh bạn trẻ ở công viên Luxembourg đối với tôi xảy ra đã ba tháng rồi. Tôi không muốn mỉa mai khi gọi anh là bạn, bởi vì tôi quý thanh niên chăm học với những tính táo bạo những lầm lạc trong đầu óc họ. Tuy nhiên anh bạn trẻ của tôi đã đi qua giới hạn. Giáo sư Ambroise Paré người đầu tiên cho tiến hành thắt động mạch và là người đã nhận thấy ngành phẫu thuật của đám thợ cạo dựa vào kinh nghiệm thực hành, đã nâng cao nó lên trình độ hiện nay, thì khi về già, bị tất cả những người học nghề mổ xẻ công kích. Bị thóa mạ bởi một thanh niên dại dột có thể là chàng trai tốt nhất trên đời, nhưng không có ý thức về lòng kính trọng, vị giáo sư già đã đáp lại anh ta trong chuyên luận của ông về bột xác ướp, về kỳ lân, về nọc độc và về bệnh dịch hạch. “Tôi yêu cầu hắn – bậc vĩ nhân bảo – tôi yêu cầu nếu hắn có ý dùng một vài sự phản bác để đối đáp với tôi thì hãy từ bỏ những ác ý và đối xử dịu dàng hơn với ông già tốt bụng”. Câu trả lời này là tuyệt diệu dưới ngòi bút của Ambroise Paré; nhưng nếu là của bác nắn xương nhà quê bạc tóc với công việc và bị một chàng trai chế giễu thì câu trả lời này còn đáng khen thêm.

Biết đâu chẳng có người tin rằng kỷ niệm này chỉ là biểu hiện mối thù oán thấp hèn. Tôi cũng tin như vậy và tôi có lỗi đã dính dáng một cách thảm hại vào những lời gièm pha của thằng trẻ con không biết mình nói gì. May sao, những suy nghĩ của tôi về vấn đề này là một bài giảng hay nhất, vì thế tôi chép vào vở. Tôi nhớ lại một ngày nào đó, năm tôi hai mươi tuổi (đến nay đã gần nửa thế kỷ) tôi đi dạo trong khu vườn Luxembourg với mấy người bạn. Chúng tôi nói về các thầy cũ, và một trong chúng tôi đi tới chỗ gọi tên ông Petit Radel, nhà bác học đáng quý, người đầu tiên phát ra một vài ánh sáng về nguồn gốc xứ Etoruri, nhưng không may đã dựng lên bảng niên đại những người tình của Hélène. Bảng này làm chúng tôi phì cười và tôi kêu lên: “Petit Radel là một thằng ngu, không phải bằng ba chữ mà đúng là bằng mười hai tập”.

Lời nói quá bộp chộp này của thiếu niên không đè nặng lên lương tâm một ông già. Có thể nào trong cuộc đấu tranh trong cuộc sống, tôi chỉ bắn những phát tên vô hại như thế! Nhưng tôi tự hỏi ngày nay, nếu trong đời tôi, tôi không phải làm một cái gì đó cũng lố lăng như bảng niên đại những người tình của Hélène thì sao. Sự tiến bộ của khoa học làm cho những công trình đã giúp nhiều nhất cho sự phát triển này, trở nên vô ích. Bởi vì những công trình này không còn có ích bao nhiêu nữa thì đám thanh niên thực tâm tin rằng những công trình đó không bao giờ có ích gì hết, họ coi thường chúng và hơi tìm thấy một vài ý niệm lỗi thời trong đó là họ đã chế giễu ngay. Đấy ở tuổi hai mươi, tôi đã chế giễu ông Petit Radel và cái bảng niên đại tình tứ của ông như thế nào; đấy, vì sao hôm qua ở công viên Luxembourg, anh bạn trẻ vô lễ của tôi…

Octave, hãy suy nghĩ về bản thân mình và đừng phàn nàn nữa.

Sao, mày muốn người ta rộng lượng với mày, còn mày thì không rộng lượng gì hết.

Ngày 6 tháng 6

Đó là ngày thứ năm thứ nhất của tháng sáu. Tôi gấp sách lại, chào từ biệt vị trưởng tu viện chí tôn Droctovée, người hưởng thụ niềm cực lạc tuyệt vời, không quá vội vàng xem thanh danh và những công trình được ca tụng của mình trên trần gian này, trong một sưu tập tầm thường của tôi. Tôi sẽ ghi lại chuyện này chăng? Gốc cây cẩm quỳ kia tôi trông thấy tuần nọ được một con ong đến thăm, làm cho tôi chú ý nhiều hơn những vị trưởng tu viện già tối cao có quyền cầm pháp trượng và đội mũ lễ. Lại còn chốc nữa, chị quản gia chộp được tôi ở cửa sổ nhà bếp đang khảo sát bằng kính lúp những đóa hoa quế trúc. Trong một cuốn sách của Sprengel tôi đã đọc hết thuở hoa niên, có một số ý kiến về lòng yêu hoa, mà nay, sau nửa thế kỷ lãng quên, trở lại trong tâm trí tôi, gây hứng thứ cho tôi đến mức tôi lấy làm tiếc đã không dành những khả năng tầm thường của mình để nghiên cứu sâu bọ và cây cối. Tôi suy nghĩ như vậy trong khi lục tìm chiếc cà vạt. Nhưng sục sạo vô ích, rất nhiều ngăn kéo, tôi phải nhờ đến chị quản gia. Chị Thérèse đi tới bước thấp bước cao: “Thưa ông, ông phải bảo là đi chơi thì tôi mới đưa cà vạt cho ông”.

- Nhưng này chị Thérèse, để nó vào một chỗ nhất định, tôi có thể tìm thấy, khỏi nhờ chị có phải hơn không.

Chị Thérèse không thèm trả lời.

Chị không cho tôi quyền sử dụng cái gì hết. Cần một cái khăn tay cũng phải hỏi chị, bởi vì chị điếc, bị suy nhược, hơn nữa chị hoàn toàn mất trí nhớ, còn tôi thì ốm mòn trong cảnh nghèo khổ suốt đời. Nhưng chị có quyền lực trong nhà với một niềm kiêu hãnh âm thầm đến nỗi tôi không có can đảm thử làm một cuộc đảo chính chống lại sự quản lý của chị đối với những tủ của tôi.

- Chiếc cà vạt của tôi, chị Thérèse! Chị có nghe không? Chiếc cà vạt của tôi ấy mà! Hay là nếu chị làm tôi thất vọng bằng những chuyện chậm chạp mới, thì không phải là chiếc cà vạt tôi cần mà là dây treo cổ.

- Thưa ông, vậy thì ông vội lắm. Cà vạt của ông không mất. Ở đây không mất cái gì cả vì tôi chăm lo tất cả. Nhưng ít ra ông cũng để tôi có thì giờ tìm cho được chiếc cà vạt.

“Đấy – tôi nghĩ bụng – đó là kết quả của nửa thế kỷ tận tụy. A! Nếu may mà chị Thérèse khắc nghiệt này có một lần, chỉ một lần duy nhất trong đời, chị không làm tròn nhiệm vụ đầy tớ gái, nếu chị đã mắc một chút lỗi lầm, không áp đặt cái quyền lực không gì lay chuyển được này với tôi ít nhất tôi sẽ dám chống lại chị thì sao. Nhưng ai mà đi chống lại người đàn bà đức hạnh? Những kẻ không có nhược điểm thì thật ghê gớm; không ai tác động đến họ được. Thử xem xét chị Thérèse: Không một tật xấu nào chi phối nổi chị. Chị không nghi ngờ mình, không nghi ngờ Thượng Đế, cũng không nghi ngờ thiên hạ. Đó là người đàn bà đầy nghị lực, đó là người đàn bà khôn ngoan trong trắng trong Kinh Thánh và nếu những người đàn ông không biết chị thì tôi biết chị. Chị xuất hiện trong tâm linh tôi, tay cầm đèn, một cây đèn xoàng dùng trong gia đình sáng rực dưới rầm nhà nơi thôn dã và không bao giờ tắt ở đầu cánh tay gầy, khoèo và khỏe như một cành nho bánh tẻ”.

- Chị Thérèse! Chiếc cà vạt của tôi đâu? Khổ quá chị không nhớ hôm nay là ngày thứ năm thứ nhất của tháng sáu và tiểu thư Jeanne đang đợi tôi hay sao? Bà chủ ký túc xá đã phải cho đánh xi sàn nhà phòng khách đúng lúc, tôi chắc hiện nay người ta đang soi mình ở đấy và đối với tôi sẽ là một cách tiêu khiển được thấy dưới sàn nhà như nhìn trong gương, khuôn mặt buồn thiu của tôi khi bị ngã gãy xương ngay tại đó.

Lúc ấy, bắt chước người anh hùng kính yêu có hình chạm trên cây gậy của bác Victor, tôi cố gắng tỏ ra tươi vui và kiên nhẫn… Chị hãy nhìn mặt trời xinh đẹp kia. Các kè sông đều một màu vàng ánh và con sông Seine tươi sáng với muôn ngàn gợn sóng nhấp nhô chói lọi. Thành phố bằng vàng, một lớp bụi vàng hoe phấp phới trên các vùng chung quanh xinh đẹp như một mái tóc… Chị Thérèse, lấy cà vạt cho tôi!… A, hôm nay tôi hiểu lão Chrysale siết chặt cổ áo lớn bẻ ra ngoài của lão theo cách thức của một Plutarque to bự. Noi gương lão, từ nay tôi sẽ để tất cả cà vạt của tôi giữa các tờ sách Tập truyện các thánh”.

Chị Thérèse để mặc tôi nói và im lặng tìm kiếm. Bỗng tôi nghe có người bấm chuông nhẹ ngoài cửa.

- Chị Thérèse, có người bấm chuông. Đưa cà vạt cho tôi và đi mở cửa hay là chị đi mở cửa và nhờ trời giúp, chị đưa cà vạt cho tôi sau. Nhưng nếu tôi được phép nói thì yêu cầu chị đừng đứng như thế giữa tủ có ngăn kéo của tôi và cửa ra vào như một con ngựa cho phụ nữ cưỡi giữa hai yên.

Chị đi ra cửa như đi đến kẻ thù. Chị quản gia rất tốt của tôi trở nên chẳng niềm nở chút nào. Chị khả nghi ông khách lạ. Theo lời chị, tâm trạng này do kinh nghiệm lâu dài của con người. Tôi không có thì giờ để cân nhắc xem một kinh nghiệm như thế do một người thí nghiệm khác tạo nên có đem lại kết quả như thế không. Luật sư Mouche đợi tôi trong phòng.

Ông còn vàng hơn tôi tưởng – ông đeo kính xanh, hai mắt nhìn xuống như bầy chuột sau bình phong.

Luật sư xin lỗi đã đến quấy rầy tôi một lúc – Ông không nói rõ một lúc đó là gì, nhưng tôi nghĩ ông muốn nói một lúc đó là lúc tôi chưa đeo cà vạt. Như các bạn biết, không phải lỗi của tôi. Lưật sư Mouche không biết chuyện này, vả lại ông không tỏ ra chút nào rằng mình bị xúc phạm. Ông chỉ ngại mình là kẻ quấy rầy. Tôi làm ông yên tâm mới một nửa. Ông cho biết với tư cách là người giám hộ của tiểu thư Alexandre, ông đến nói chuyện vói tôi. Trước hết, ông khuyên tôi đừng để ý những hạn chế phải viện ra đầu tiên cho việc cấp phép thăm tiểu thư Jeanne trong ký túc xá. Từ nay trường của cô Préfère ngày nào cũng mở cửa cho tôi từ trưa tới bốn giờ chiều. Hiểu được sự quan tâm của tôi đối với thiếu nữ, ông cho biết về con người mà ông đã phó thác cô gái mồ côi được ông giám hộ. Ông quen biết từ lâu và rất tín nhiệm cô Préfère. Cô là con người sáng suốt, khôn ngoan sành sỏi và phẩm hạnh tốt.

- Cô Préfère – ông nói – có những nguyên tắc đạo đức; thưa ông, trong hoàn cảnh hiện nay đó là điều hiếm thấy. Bây giờ tất cả đều thay đổi, thời đại này không giá trị bằng các thời đại trước.

- Thưa ông – tôi đáp – bằng chứng là cái cầu thang của tôi, đã hai lăm năm người ta lên xuống thoải mái nhất đời, nay thì nó làm cho tôi đứt hơi, mới bước lên đã muốn gãy chân. Nó đã hỏng. Cũng có những báo chí, sách vở ngày xưa tôi đọc ngấu nghiến không mệt mỏi dưới trăng, mà nay vào lúc nắng đẹp tôi thấy chán ngán và tôi chỉ thấy màu trắng và màu đen khi không đeo kính. Bệnh thống phong lại hành hạ tứ chi. Đây còn là một trong những nỗi trớ trêu của thời đại.

- Thưa ông không phải chỉ có thế – luật sư Mouche trịnh trọng đáp lời – những điều gì thực sự xấu xa trong thời đại chúng ta là không ai bằng lòng địa vị của mình. Trong xã hội trong mọi tầng lớp, từ trên xuống dưới, bao trùm sự túng thiếu, nỗi khoắc khoải lo âu, sự khát khao hạnh phúc.

- Trời ơi! Thưa ông, ông có tin rằng sự khát khao hạnh phúc này là dấu hiệu của thời đại không? Không có thời đại nào, con người lại thèm muốn sự túng thiếu – Họ luôn luôn tìm cách cải thiện địa vị xã hội của mình. Sự cố gắng kiên trì này đã sản sinh ra những cuộc cách mạng trường kỳ. Nó tiếp tục, thế thôi!

- Chao ôi! Thưa ông – luật sư Mouche đáp – người ta thấy đúng là ông sống trong sách vở, xa công việc làm ăn. Ông không như tôi chứng kiến những xung đột quyền lợi, những cuộc đánh vật tiền bạc. Từ người lớn đến trẻ con cùng một thứ sôi sục. Nguời ta tiến hành một sự đầu cơ vô độ – Điều tôi trông thấy làm cho tôi ghê sợ.

Tôi tự hỏi có phải luật sư Mouche đến tôi chỉ để tỏ bày thái độ yếm thế đoan chính của ông không, mà tôi nghe toàn những lời an ủi từ miệng ông. Luật sư giới thiệu với tôi Virginie Préfère như một con người đáng kính, đáng quý mến, đáng được cảm tình, tiết hạnh hoàn toàn trong trắng, tận tụy kín đáo, có học thức, đọc to và biết đặt thuốc làm rộp da. Lúc ấy, tôi hiểu rằng ông vẽ ra cho tôi một bức tranh xã hội đen tối hư hỏng phổ biến đến thế cốt làm nổi bật hơn bằng sự tương phản, những đức hạnh của cô giáo tiểu học. Tôi được biết trường học phố Demours rất đắt khách, nhiều lợi lộc, được công chúng hoan nghênh. Để khẳng định những lời tuyên bố của mình, luật sư duỗi bàn tay mang găng len đen và nói thêm:

- Do nghề nghiệp, tôi có khả năng hiểu đời. Một công chứng viên là một linh mục nghe xưng tội chút ít. Với bổn phận, tôi tin là đã đem lại cho ông những điều chỉ dẫn đúng đắn đó, vào lúc tình cờ may mắn ông tiếp xúc cô Préfère. Tôi chỉ thêm một lời: Cô này hoàn toàn không biết câu chuyện giữa tôi và ông ngày nọ, cô nói với tôi về ông bằng những lời lẽ thiện cảm sâu sắc mà khi nhắc lại tôi đã giảm bớt, vả lại, có thể gọi là tôi không thể nào thuật lại mà không phụ lòng tin của cô Préfère.

- Thưa ông xin đừng phụ lòng tin của cô ấy – tôi đáp – xin đừng phụ lòng tin của cô ấy. Nói thực với ông tôi không hay là cô Préfère có biết tôi ít nhiều. Tuy vậy, với quan hệ giao hảo cũ giữa ông và cô ấy, nhờ thiện ý của ông đối với tôi, tôi yêu cầu ông dùng uy tín của mình đối với cô bạn ông, vì tiểu thư Jeanne Alexandre. Cháu bé này bị buộc phải làm việc quá sức. Vừa là học sinh vừa là cô giáo, cháu mệt nhoài. Hơn nữa, tôi ngại người ta làm cho cháu cảm thấy quá đỗi sự nghèo khổ của mình, đó là một bản chất cao thượng nếu bị làm nhục nhiều sẽ đi tới chỗ nổi loạn.

- Chao ôi! – Luật sư Mouche đáp – Phải chuẩn bị cho cháu vào đời. Người ta không phải sống trên trái đất để vui chơi, và để muốn làm gì thì làm.

- Người ta sống trên đời để yêu nhau trong cái mỹ, cái thiện và muốn làm gì cũng được khi đó là những việc thanh cao, tài trí và hào hiệp. – Tôi đáp lại gay gắt – Một nền giáo dục rèn luyện không ý chí là một nền giáo dục làm đồi trụy tâm hồn. Thầy giáo phải dạy người ta có ý chí.

Tôi nghĩ luật sư cho tôi là một kẻ kém cỏi nên ông nói tiếp, rất bình tĩnh và tự tin:

- Thưa ông, xin ông hiểu rằng giáo dục những kẻ kém cỏi, phải hết sức thận trọng, phải thấy tình trạng phụ thuộc của họ trong xã hội. Có lẽ ông không biết rằng Noel Alexandre chết đi không trả nổi nợ và con gái ông ấy được nuôi dưỡng hầu như nhờ vào lòng từ thiện.

- Ồ! Thưa ông – tôi kêu lên – chúng ta đừng đả động đến chuyện đó. Nói chuyện đó thì phải trả giá và không còn thích hợp.

- Tài sản nợ trong di sản vượt quá tài sản có – ông công chứng viên tiếp tục – nhưng tôi đã dàn xếp với các chủ nợ, vì lợi ích của người con gái vị thành niên.

Ông ngỏ ý cung cấp cho tôi những giải thích chi tiết, tôi từ chối vì không có khả năng hiểu những vụ kiện của luật sư Mouche nói riêng. Ông công chứng viên còn cố biện bạch cách giáo dục của cô Préfère và nói thay lời kết luận:

“Khi chơi đùa thì không học tập được”.

- Người ta chỉ vừa học vừa chơi – tôi đáp – nghệ thuật giảng dạy chỉ là nghệ thuật kích thích tính tò mò ham biết của những tâm hồn non trẻ, tiếp đó là thỏa mãn tính tò mò ham biết đó, và tính tò mò ham biết chỉ mãnh liệt và lành mạnh trong những đầu óc sung sướng. Dùng quyền lực nhồi nhét kiến thức vào những đầu óc thông minh là bít chúng lại, bóp nghẹt chúng. Trí thức phải được nuốt vào một cách ngon lành thì mới tiêu hóa được. Tôi hiểu Jeanne. Nếu đem gửi cháu cho tôi, tôi sẽ làm cho cháu trở thành không phải một nữ bác học mà là một em gái thông minh xuất chúng, có cuộc sống huy hoàng, cháu sẽ tiếp thu tất cả những gì tốt đẹp của tạo hóa và của nghệ thuật một cách rạng rỡ dịu dàng, tôi muốn điều tốt lành cho cháu. Tôi sẽ làm cho cháu sống hòa hợp cảm thông với những cảnh đẹp, với những cảnh trí lý tưởng của thơ ca, của lịch sử, với nền âm nhạc xúc động thanh cao. Mọi cái gì tôi muốn ưa thích đều đáng yêu đối với cháu. Cho đến cả chuyện kim chỉ vá may tôi cũng đề cao với cháu cách chọn vải, sự ham thích thêu thùa và kiểu các đăng ten. Tôi sẽ tặng cháu một con chó xinh xắn và một con ngựa tơ để dạy cháu điều khiển súc vật; tôi sẽ tặng cháu chim chóc để nuôi, nhằm dạy bảo cháu biết quý giá trị một giọt nước và một mẩu bánh mì. Để tạo cho cháu một niềm hoan hỉ hơn nữa, tôi mong muốn cháu vui vẻ tham gia công việc từ thiện. Bởi vì sự đau khổ là không thể tránh, bởi vì cuộc đời đầy rẫy những khốn cùng, nên tôi sẽ dạy cháu đạo lý Cơ đốc nhằm nâng cao phẩm giá chúng ta lên trên mọi bất hạnh và đem lại cái đẹp cho cả sự thống khổ. Đấy, tôi hiểu thế nào là giáo dục một thiếu nữ.

- Tôi chịu thua – luật sư Mouche vừa đáp vừa chắp hai tay đeo găng len đen.

Lúc ấy ông đứng lên.

- Ông hiểu rõ rằng – tôi vừa nói vừa tiễn ông đi ra – tôi không có ý định áp đặt cho cô Préfère phương thức giáo dục hoàn toàn không hợp với tổ chức của những ký túc xá được xem là tốt hơn. Tôi chỉ xin ông thuyết phục cô ấy bố trí việc ít hơn và dành nhiều thời gian nghỉ ngơi cho Jeanne, đừng sỉ nhục cháu và cho cháu được hưởng bao nhiêu tự do về tinh thần và thể chất theo quy chế của nhà trường.

Với nụ cười nhạt và bí hiểm, luật sư cam đoan sẽ coi trọng và hết sức chú ý những nhận xét của tôi.

Thế rồi, ông chào qua tôi và ra về, để mặc tôi trong trạng thái lúng túng và khó chịu. Trong đời tôi, tôi giao du với đủ hạng người nhưng không ai giống vị công chứng viên này và cô giáo nọ.

Ngày 6 tháng 7

Ngày hôm ấy, luật sư Mouche đến nhà tôi nên tôi phải hoãn lại việc đi thăm Jeanne. Những ngày còn lại trong tuần lại do bao nhiêu công chuyện nghề nghiệp choán hết. Mặc dù đã trong lứa tuổi muốn xa lánh thế tục, tôi vẫn tha thiết, bởi muôn nghìn mối ràng buộc với cái thế giới tôi đã sống. Tôi chủ tọa các viện hàn lâm, các cuộc họp, các hội. Nhiều chức trách danh dự đè nặng trên vai; tính ra tôi đã giữ đúng tới bảy chức vụ chỉ trong một bộ. Các cơ quan rất muốn tống khứ tôi và tôi cũng rất muốn tống khứ họ. Nhưng thói quen mạnh hơn họ và tôi, lúc ấy tôi cứ bước thấp bước cao leo lên các cầu thang của nhà nước. Sau lưng tôi, bọn tiếp tên già đời chỉ trỏ cho nhau cái bóng tôi lang thang trong các hành lang. Khi người ta già quá thì hết sức khó chết. Tuy vậy đã đến đúng lúc tôi về hưu, và nghĩ tới việc chuẩn bị từ giã cõi đời, như một bài hát đã nói.

Tôi đã gặp tại nhà thân phụ tôi ngày xưa, một bà hầu tước tuổi cao có triết lý sống, bạn của Helvétius thời thanh xuân, bà già lắm, bị bệnh nặng, lúc lâm chung, tiếp cha xứ đến ngỏ ý chuẩn bị tinh thần cho bà sang thế giới bên kia. Bà trả lời ông ta:

“Việc đó cần thiết đến thế ư? Tôi thấy mọi người hoàn toàn đạt được mục đích này ngay từ đầu mà”.

Sau đó ít lâu cha tôi đến thăm bà, bệnh tình bà lúc ấy đã nguy kịch. Bà vừa nói vừa siết chặt tay cha tôi.

“Chào anh bạn, tôi sắp sửa chứng kiến có phải Thượng Đế được biết đến, là có lợi cho Người chăng”.

Đấy, những người bạn gái cao thượng của các triết gia chết như thế nào. Chắc chắn cách chết như vậy không phải là hành động ngu muội, những thằng ngốc làm gì có được đầu óc khinh bạc như thế. Nhưng thái độ khinh bạc ấy làm tôi khó chịu – Không phải những điều lo sợ của tôi, cũng không phải những hy vọng của tôi thích nghi với sự ra đi như vậy – Tôi muốn nếu phải ra đi thì tĩnh tâm một chút, và từ đây cho tới mấy năm nữa, tôi sẽ phải nghĩ đến chuyện thuận nghe theo ý của chính mình, nếu không tôi sẽ có nhiều nguy cơ bị… Nhưng hãy im lặng! Mong rằng thần chết đi qua không quay nhìn lại khi nghe gọi tên mình. Không có thần, tôi vẫn còn có thể thừa sức nhấc bó củi lên.

Tôi thấy Jeanne rất sung sướng. Cháu kể cho tôi, ngày thứ năm vừa qua, sau chuyến đến thăm của viên giám hộ, cô Préfère đã giải phóng cháu khỏi điều lệ nhà trường, giảm nhẹ cho cháu nhiều việc. Từ cái ngày thứ năm may mắn đó, cháu đi chơi tự do trong vườn chỉ thiếu hoa lá; cháu có cả điều kiện dễ dàng để ra sức nặn chiếc tượng con khốn khổ tội nghiệp của thánh Georges.

Cháu cười bảo tôi:

- Cháu hiểu rõ là nhờ bác cháu mới có tất cả những thứ đó.

Tôi nói chuyện khác với cháu, nhưng thấy cháu không nghe, mặc dù cháu muốn.

- Bảc cảm thấy cháu đang suy nghĩ gì, hãy cho bác biết – tôi nói – hoặc là chúng ta không có gì đáng nói cả, đối với bác cũng như với cháu.

Cháu trả lời:

- Ồ! Thưa bác, cháu nghe bác nhiều, nhưng quả thực đang nghĩ tới một điều gì đó. Bác tha lỗi cho cháu chứ? Cháu nghĩ rằng cô Préfère mến bác lắm, mới đùng một cái trở nên tốt bụng với cháu đến thế”.

- Điều đó làm cho cháu ngạc nhiên?

- Rất ngạc nhiên

- Vì sao?

- Bởi vì cháu không thấy lý do nào mà bác được lòng cô Préfère.

- Vậy cháu nghĩ rằng bác khó chịu đáng ghét lắm sao.

- Ồ! Không, nhưng thực cháu không thấy một lý do nào để bác được cô Préfère ưa thích. Thế mà bác được cô ấy yêu mến nhiều, rất nhiều. Cô đã cho gọi cháu và hỏi cháu nhiều về bác.

- Thật à?

- Vâng, cô muốn biết nhà riêng của bác, cô ấy hỏi cháu cả đến tuổi tác của bà quản gia của bác.

- Này, cháu nghĩ thế nào về việc ấy?

Cháu cúi nhìn lâu, chăm chăm vào miếng da đã sờn mòn của đôi giày cao cổ như chìm đắm trong suy nghĩ sâu kín. Cuối cùng cháu ngẩng đầu lên:

- Cháu đang ngờ vực. Khi người ta chưa hiểu được điều gì thì người ta áy náy, đó là lẽ rất tự nhiên, phải không bác. Cháu biết cháu là đứa con gái dại dột, nhưng cháu mong bác đừng giận cháu.

- Không, bác không giận cháu.

Thú thật là sự ngạc nhiên của cháu chinh phục tôi, và lúc ấy tôi lật đi lật lại trong đầu óc già nua của mình, ý nghĩ kia của thiếu nữ; khi có điều gì chưa hiểu được thì người ta áy náy không yên.

Nhưng Jeanne vừa cười vừa tiếp tục:

- Cô ấy hỏi cháu… bác thử đoán xem nào!… Cô ấy hỏi cháu bác có thích ăn ngon không.

- Thế cháu đã tiếp nhận một lô câu hỏi như thế, thế nào?

- Cháu đáp: Thưa cô cháu không biết”, thế là cô bảo cháu “Em là con bé ngu ngốc. Phải chú ý những chi tiết nhỏ nhất về cuộc sống của một người cao siêu. Em phải biết rằng ông Sylvestre Bonnard là một vĩ nhân của nước Pháp”.

- Ghê thật! – Tôi kêu lên. – Thế cháu nghĩ gì về điều ấy.

- Cháu nghĩ rằng cô Préfère có lý. Nhưng cháu không quan tâm… (điều cháu sắp thưa với bác là sai) cho dù cô Préfère có lý đối với bất cứ việc gì, cháu cũng chẳng thiết tha đến.

- Này Jeanne, cháu phải hài lòng. Cô Préfère không có lý.

- Có! Có! Cô ấy rất có lý. Nhưng cháu muốn yêu mến tất cả những ai yêu mến bác, tất cả không trừ một ai, nhưng nay thì không được nữa, bởi vì cháu sẽ không bao giờ có thể yêu mến cô Préfère.

- Jeanne hãy nghe bác – tôi nghiêm trang đáp. Cô Préfère đã tốt bụng với cháu, thì cháu phải tốt với cô ấy.

Cháu trả lời cụt ngủn:

- Cô Préfère rất dễ tốt với cháu, còn cháu thì rất khó mà tốt với cô ấy.

Tôi tiếp tục giọng nghiêm trang hơn:

- Uy quyền của thầy giáo là thiêng liêng con ạ. Cô giáo phụ trách ký túc xá của con bên cạnh con, đại diện cho người mẹ quá cố của con.

Vừa nói xong bậy bạ theo công thức đó, tôi thấy hối vô cùng. Con bé tái mặt, tròn xoe hai mắt, kêu lên:

- Ồ! Thưa bác, làm sao mà bác có thể nói ra một điều như thế.

Phải, vì sao tôi có thể nói ra điều đó?

Thiếu nữ nhắc lại:

“Mẹ ơi! Mẹ thân yêu của con! Mẹ tội nghiệp của con!

Tình thế ngẫu nhiên đó làm tôi ngượng nghịu đến vô cùng. Tôi không hiểu vì sao tôi gần như muốn khóc. Ở lứa tuổi tôi, không ai còn khóc nữa. Phải một cơn ho dữ dội mới khiến tôi khỏi rơi nước mắt. Thế là ai cũng lầm. Jeanne cũng lầm – Chao ôi! Nụ cười tinh khiết biết mấy, tươi vui biết mấy, lúc ấy, sáng rực dưới hai hàng mi xinh đẹp thấm ướt như ánh nắng trong cành cây sau trận mưa hè. Chúng tôi nắm tay nhau, im lặng hồi lâu sung sướng.

- Con ơi, cuối cùng tôi cất tiếng, bác đã già lắm, bao nhiêu chuyện sâu kín của đời bác, mà con sẽ phát hiện dần dần, đã lộ rõ với bác. Hãy tin bác: Tương lai được tạo thành từ quá khứ. Mọi việc con sẽ làm để sống thoải mái ở đây, không căm ghét, đừng đắng cay, sẽ giúp con sống một ngày kia hòa thuận và vui vẻ trong nhà. Hãy dịu dàng và phải biết đau khổ. Khi người ta đau khổ nhiều thì người ta ít đau khổ hơn. Nếu một ngày nào đó thực sự con có cớ để phàn nàn thì bác sẽ có mặt lúc ấy để nghe con. Nếu con bị xúc phạm thì bà De Gabry và bác sẽ cùng chia sẻ với con.

- Thưa ông thân mến, sức khỏe ông hoàn toàn tốt chứ?

Đó là cô Préfère lén lút đến, hỏi tôi câu này kèm theo một nụ cười. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là tống cổ cô đi, hai là nhận thấy cái miệng cô sinh ra để cười như cái xoong để chơi vĩ cầm, ba là đáp lễ và chúc cô sức khỏe.

Cô đưa thiếu nữ dạo chơi trong vườn, rồi một tay đặt trên áo khoác, tay kia đưa về phía bảng danh dự, chỉ cho tôi tên của Jeanne Alexandre viết theo kiểu chữ rông ở đầu danh sách – Tôi nói vói cô:

- Tôi lấy làm vui thích rõ rệt là cô vừa ý hạnh kiểm của cháu gái này, không có gì có thể làm đẹp lòng tôi hơn và tôi muốn quy cái kết quả mỹ mãn này vào sự chăm chú theo dõi trìu mến của cô. Tôi xin tự tiện gửi đến cô một số sách có khả năng gây hứng thú cho các cháu gái và giáo dục các cháu; sau khi lựa chọn, cô sẽ xét có nên chuyển các sách đó cho tiểu thư Alexandre và các bạn cháu không.

Cô giáo ký túc xá tỏ ra hết sức biết ơn và cảm động bằng những lời lẽ dông dài. Để cắt đứt, tôi nói:

- Hôm nay trời đẹp quá.

- Vâng – cô đáp – nếu cứ tiếp tục như thế này, thì các cháu gái thân yêu đây sẽ được thời tiết tốt để nô đùa.

- Có thể cô muốn nói về các kỳ nghỉ. Nhưng tiểu thư Alexandre không còn cha mẹ, sẽ không đi khỏi nơi đây. Trời ơi, cháu sẽ làm gì trong gian nhà rộng trống vắng này.

- Chúng tôi sẽ gắng hết sức tạo cho cháu tối đa nhiều cách giải trí. Tôi sẽ dẫn cháu vào các viện bảo tàng và…

Cô ngập ngừng rồi đỏ mặt:

- … Và đến nhà ông, nếu ông cho phép.

- Tất nhiên! – Tôi kêu lên. – Đó là một ý kiến tuyệt vời. Chúng tôi từ biệt nhau rất đỗi thân tình. Tôi yêu chuộng cô ta vì tôi đã đạt điều mong muốn còn cô yêu chuộng tôi không có lý do chính đáng đáng kể, điều mà theo Platon, đặt cô ta lên tột đỉnh của thứ bậc những tâm hồn.

Tuy nhiên, với linh cảm xấu, tôi dẫn người này về nhà. Lúc ấy tôi muốn rằng thà Jeanne sống với những kẻ khác hơn là với thân nhân của mình. Luật sư Mouche và cô Préfère là những đầu óc vượt quá đầu óc tôi. Tôi không bao giờ hiểu vì sao họ làm điều nọ; ở họ có những sự sâu kín bí hiểm làm cho tôi lo ngại. Bởi vì vừa rồi Jeanne đã nói với tôi: người ta không hiểu điều gì thì người ta áy náy băn khoăn.

Than ôi! Ở lứa tuổi tôi, người ta hiểu quá rằng cuộc đời là không mấy hiền lành bao nhiêu; người ta hiểu quá điều người ta mất đi để còn sống và người ta chỉ có tin vào tuổi thanh niên.

Ngày 16 tháng 8

Tôi đợi họ. Tôi sốt ruột thực sự chờ họ. Để khuyên bảo chị Thérèse tiếp đón họ tử tế, tôi đã dùng tất cả nghệ thuật nói xa nói gần và làm vui lòng chị, nhưng không được bao nhiêu. Bỗng họ đến. Quả là Jeanne hoàn toàn tươi tắn và duyên dáng. Chắc chắn đó không phải là mẹ cháu. Nhưng hôm nay, lần đầu, tôi nhận thấy cháu có gương mặt dễ thương rất cần thiết cho một người đàn bà trên đời này. Cháu mỉm cười, tô điểm cả khu nhà sách thêm vui mắt.

Tôi theo dõi chị Thérèse, tôi quan sát xem sự khắc nghiệt của chị quản gia già nua có dịu đi khi trông thấy thiếu nữ không. Chị nhìn đăm đăm Jeanne với cặp mắt lờ đờ, gương mặt chậm chạp, cái miệng sâu lõm, cái cằm nhọn của bà già lẩm cẩm khó chịu, có quyền thế. Thế thôi.

Cô Préfère mặc đồ xanh, tới, lui, nhảy nhót, chạy lon ton, thở dài, nhìn xuống, nhìn lên, rối rít chào hỏi, nào là không dám, dám, lại không dám, rồi lại dám, rồi kính chào, tóm lại, một thủ đoạn.

- Bao nhiêu là sách vở! – Cô kêu lên – Ông Bonnard, ông đọc hết cả rồi chứ?

- Chao ôi! Vâng – tôi đáp – chính vì thế mà tôi chẳng hiểu gì hết, bởi vì không có một cuốn sách nào lại không phủ định một cuốn sách khác, đến nỗi đọc hết chúng, người ta không biết suy nghĩ gì. Thưa cô, tôi mới đến mức đó thôi.

Ngay lúc ấy, cô gọi Jeanne để chia sẻ cảm tưởng của mình. Nhưng lúc đó Jeanne đang nhìn qua cửa sổ:

- Đẹp quá! Cháu thích nhìn dòng sông chảy. Nó làm cho người ta nghĩ tới bao nhiêu điều!

Cô Préfère bỏ mũ, đầu để trần với mái tóc xoắn hoe vàng, chị quản gia của tôi vừa giật mạnh chiếc mũ vừa kêu là chị bực mình với đống quần áo cũ vung vãi trên bàn ghế. Rồi chị đến gần Jeanne, hỏi xin cháu quần áo cũ, gọi cháu là “tiểu thư thân yêu” của chị. Cô bé biếu chị áo choàng ngắn và mũ, để lộ một cái cổ yêu kiều, một thân hình tròn trịa với những đường viền nổi bật rõ ràng trong ánh sáng quang đãng nơi cửa sổ, lúc ấy, tôi mong mỏi người khác ngắm nhìn cháu, chứ không phải là chị đầy tớ già, cô giáo ký túc xá tóc xoắn như con cừu non và gã lưu trữ chữ cổ.

- Cháu nhìn con sông Seine sáng chói dưới ánh mặt trời. – Tôi bảo cháu.

- Vâng – cháu đáp, khuỷu tay chống trên thanh gỗ tựa. – Có thể nói là một ngọn lửa đang cháy. Nhưng bác trông đằng kia, con sông phản chiếu rặng liễu trên bờ, có vẻ tươi mát biết bao. Cái góc bé nhỏ kia còn làm cho cháu vui thích hơn tất cả cái gì còn lại.

- Này, con sông đang cám dỗ cháu. Cháu nghĩ sao nếu cô Préfère đồng ý, chúng ta cùng đến Saint Cloud bằng tàu thủy đang chờ khách ở phía dưới cầu Royal.

Jeanne rất bằng lòng ý kiến của tôi và cô Préfère quyết hy sinh tất cả. Nhưng chị quản gia không muốn chúng tôi như vậy. Chị dẫn tôi vào phòng ăn, tôi vừa theo chị vừa run.

- Thưa ông – chị nói – khi chúng ta một mình, ông không bao giờ nghĩ tới cái gì hết, chính tôi phải gánh vác mọi việc – May thay trí nhớ tôi tốt.

Tôi thấy không phải lúc làm lung lay ảo tưởng táo bạo này. Chị tiếp tục:

- Vậy các người đi khỏi mà không bảo tôi cái gì làm vui lòng tiểu thư thân yêu sao? Ông thì rất khó vừa lòng ông, nhưng ít nhất ông cũng biết cái gì tốt chứ? Chẳng phải như bọn thanh niên kia, không thông thạo chuyện bếp núc. Miếng ăn thật ngon thì họ chê là dở quá, còn miếng dở hình như là ngon với họ, do lòng hăng hái chưa được bảo đảm chắc chắn đúng chỗ, đến nỗi người ta không biết làm gì với họ. Xin cho tôi biết có phải tiểu thư thân yêu thích món bồ câu hầm với đậu xanh và bánh phồng có nhân không?

- Chị Thérèse tốt bụng – tôi đáp – cứ làm theo sở thích của chị, thế là tốt quá rồi. Mấy người đàn bà kia sẽ bằng lòng với món ăn khiêm tốn hằng ngày của nhà ta.

Chị Thérèse xẵng giọng:

- Thưa ông, tôi nói với ông về tiểu thư thân yêu, không được để tiểu thư đi khỏi nhà mà không được chút ít gì. Còn mụ già tóc xoăn, nếu bữa trưa của tôi không hợp với mụ thì mụ cứ việc ngồi không. Mặc kệ mụ.

Tâm hồn thư thái, tôi quay lại nhà sách, nơi đây cô Préfere đang thêu móc, bình thản tự nhiên như ở nhà mình vậy. Cả tôi cũng suýt tin như thế. Cô ngồi sát gọn trong góc cửa sổ, cô chọn đúng ghế tựa và ghế kê chân xem như đồ đạc này đóng cho cô dùng.

Jeanne trái lại nhìn rất lâu sách vở và tranh, có vẻ quyến luyến phải tạm biệt.

- Này – tôi bảo cháu – cháu lật các tờ sách này mà giải trí, nó có thể làm cho cháu vui thích với nhiều tranh ảnh đẹp.

Và tôi mở trước mặt cháu, tập y phục của Vecellio, không phải là bản sao chép tầm thường nghèo nàn của các nghệ sĩ hiện đại đâu nhé, mà đúng là một bản tuyệt vời đáng kính trọng của lần xuất bản thứ nhất, quý giá ngang với các bà quý tộc, có mặt trên những tờ sách đã vàng ra và đẹp ra theo thời gian.

Vừa tò mò ngây thơ lật các tranh ảnh, Jeanne vừa nói với tôi:

- Bác cháu ta nói chuyện đi dạo, nhưng thực tế bác cho cháu đi du lịch, một chuyến du lịch lớn.

- Này cháu phải thu xếp sao cho thuận tiện để đi đường. Còn cháu xem tập Vecellio đặt trên đầu gối, và ngồi trên mép ghế tựa chỉ đứng có một chân thế kia thì mỏi gối. Cháu hãy ngồi đàng hoàng ngay ngắn vững vàng trên ghế tựa, và đặt tập sách lên bàn.

- Thưa bác, bác nhìn bộ y phục đẹp đẽ này (đó là bộ y phục của một bà thống lĩnh cộng hoà). Cao quý quá, nó gợi lên bao nhiêu ý nghĩ tuyệt vời. Thế nhưng sự xa hoa cũng tao nhã.

- Tiểu thư không được nói năng như vậy. – Cô giáo ký túc xá vừa nói vừa nghếch cái mũi bé nhỏ có khuyết tật lên khỏi tầm tấm móc thêu.

- Thật quá ngây thơ – tôi đáp – có những con người xa xỉ có sở thích bẩm sinh về tính xa hoa.

Ngay lúc ấy, cái mũi bé nhỏ có khuyết tật sà xuống.

- Cô Préfère cũng thích xa hoa – Jeanne nói – cô cắt những màu lồng đèn giấy – Đó là sự xa hoa tiết kiệm, nhưng cũng cứ là sự xa hoa.

Trở về Venise, chúng tôi làm quen một bà quý tộc, mặc áo lễ thêu, thì nghe chuông gọi. Tôi tưởng đó là thằng bé phụ việc nào ở xí nghiệp bánh ngọt với chiếc giỏ của nó, nhưng cửa nhà sách bỗng mở ra và… Lão Sylvestre Bonnard, vừa rồi mày mong những cặp mắt khác hơn là những cặp mắt đeo kính, khô khan, quan tâm đến người con gái được mày che chở trong vẻ kiều diễm của nó; ước mong của mày được thỏa mãn bất ngờ nhất. Và một giọng nói cất lên với mày, như với chàng Thésée[4] khinh xuất:

“Bẩm điện hạ, xin ngài hãy biết rằng Trời xanh nghiêm khắc khá ghét bỏ ngài nên không chấp thuận ước nguyện của ngài”.

Cửa nhà sách bỗng mở và một chàng trẻ tuổi đẹp trai hiện ra, theo sau Thérèse. Con người già nua đơn giản này chỉ biết mở hay đóng cửa cho mọi người; chị không nghe gì hết những điều tế nhị trong phòng đợi hay phòng khách. Thói quen của chị là không báo tin cũng không bảo chờ đợi. Chị vứt bỏ người ta trên thềm nghỉ cầu thang hoặc chị hất hàm đẩy họ vào với anh. Đó là chàng thanh niên đẹp trai hoàn toàn được dẫn đến, và tôi thực không thể đem nhốt chàng trong phòng bên cạnh ngay lập tức như một con thú nguy hiểm. Tôi chờ chàng phát biểu ý kiến, chàng không lúng túng khi trình bày, nhưng tôi có cảm giác là chàng đang chú ý đến thiếu nữ đang cúi xuống bàn lật qua tập Vecellio. Tôi nhìn chàng, hoặc tôi hết sức nhầm lẫn, hoặc tôi đã gặp chàng đâu đây. Chàng tên là Gélis, một cái tên không biết tôi đã nghe ở đâu. Thực tế hình dáng Gélis rất chi là đẹp – Chàng cho tôi biết đang học năm thứ ba trường pháp điển và đang chuẩn bị từ mười lăm đến mười tám tháng luận án ra trường, với đề tài tình trạng các tu viện cấp cao thuộc dòng thánh Bơ-noa năm 1700. Chàng vừa đọc những công trình của tôi về Tu viện và chàng tin chắc rằng không thể kết thúc tốt đẹp luận án mà không có ý kiến của tôi và trước hết là nếu không có bản thảo nào đó của tôi mà chẳng phải cái gì khác là cuốn sổ những tài khoản của tu viện cấp cao Côteaux từ năm 1683 đến năm 1704.

Vừa làm cho tôi sáng tỏ những điểm đó, chàng vừa trao cho tôi một bức thư giới thiệu của một bạn đồng nghiệp nổi tiếng nhất của tôi ký tên. Hay quá, tôi hiểu ra. Gélis chính là chàng thanh niên năm ngoái dưới rặng dẻ, đã cho tôi là ngu xuẩn. Vừa mở phong thư giới thiệu, tôi vừa suy nghĩ:

“Ái chà! Đáng tiếc, mày còn rất lâu để ngờ rằng ta đã hiểu mày và rằng ta đang nhớ điều gì mày đang nghĩ về ta… hay ít nhất điều gì mày nghĩ tới ngày nọ, bởi vì những đầu óc non trẻ kia mới hời hợt đến thế! Chàng trai khinh suất! Ta đã chộp được mày. Thế là mày đã ở trong hang sư tử và nếu bỗng nhiên quả thực con sư tử già sửng sốt không biết làm gì con mồi thì sao. Nhưng mày, con sư tử già, há chẳng phải mày là thằng ngốc đó sao? Nếu bây giờ mày chẳng là thằng ngốc, thì trước đây mày đã là thằng ngốc rồi. Dưới chân tượng đài Marguerite de Navarre, mày lắng nghe Gélis thì mày đã là thằng ngốc rồi, mày lại thản nhiên tiếp tục nghe hắn, thế là hai lần ngốc và vẫn không quên điều không đáng nghe thế là ba lần ngốc”.

Vừa mắng con sư tử già như thế, tôi vừa khích lệ nó tỏ ra khoan hồng. Nó không nấn ná mãi mới chịu mà nhanh chóng trở nên phóng túng đến mức phải tự kiềm chế để không phá lên gầm thét vui mừng.

Theo cách tôi đọc lá thư của bạn đồng sự, tôi có thể lướt qua không nhớ đến những thư từ của tôi. Đợi lâu, Gélis có thể chán nản, nhưng chàng nhìn Jeanne và chịu đựng không phàn nàn. Thỉnh thoảng Jeanne quay đầu khỏi phía chúng tôi. Người ta không thể ngồi yên phải không? Cô Préfère sửa lại món tóc xoắn, ngực cô phồng lên những hơi thở dài yếu ớt. Phải nói rằng chính tôi cũng đã thường hay tự hào về những hơi thở dài yếu ớt như vậy.

- Này anh, tôi vừa nói vừa gấp bức thư lại, tôi lấy làm sung sướng có thể giúp ích anh. Anh chú tâm đến những công trình nghiên cứu đã từng gây hứng thú mạnh mẽ đối với tôi. Tôi đã làm theo khả năng. Tôi hiểu như anh và còn hơn anh nữa, bao nhiêu việc sẽ phải làm – Tùy anh sử dụng tập bản thảo của tôi, anh có thể mang đi nhưng nó không phải là tập ngắn nhất và tôi ngại…

- Ồ! Thưa ông – Gélis nói – những cuốn sách to tướng không làm cho tôi sợ hãi.

Tôi yêu cầu anh chàng chờ tôi và tôi vào phòng bên lục tìm cuốn sổ, mới đầu chưa thấy và cũng không hy vọng tìm lại được, khi thấy một số dấu hiệu chứng tỏ chị quản gia đã sắp xếp lại trật tự trong phòng. Nhưng cuốn sổ to quá, lớn quá, chị Thérèse không thể đặt nó đâu tùy tiện. Tôi vất vả nhấc nó lên và mừng thấy nó nặng như mong muốn .

“Này, chàng thanh niên, đợi đã – tôi tự nhủ với một nụ cười đáng lẽ hết sức mỉa mai cay độc – hãy đợi đã – ta sẽ cười mỉa mai cay độc dồn dập với anh, nụ cười đó sẽ bẻ gãy tay anh, làm váng óc anh. Đó là sự trả thù đầu tiên của Sylvestre Bonnard. Rồi ta sẽ nghĩ tiếp”.

Trở lại nhà sách, tôi nghe Gélis nói với Jeanne:

- Phụ nữ thành Venise nhúng tóc trong thuốc nhuộm hoe vàng. Họ có màu hoe của mật và màu hoe của vàng. Nhưng có những mái tóc màu sắc tự nhiên đẹp hơn rất nhiều so với màu sắc của mật và của vàng.

Thay cho câu trả lời, Jeanne im lặng suy tư và trầm mặc. Tôi đoán gã Vecellio nhãi ranh kia có tham gia sự việc và cả hai đang cúi xuống tập sách cùng nhau nhìn bà thống lĩnh cộng hòa và các bà quý tộc.

Tôi xuất hiện với cuốn sách kếch xù, nghĩ rằng Gélis sẽ nhăn mặt. Đây là chức trách của người môi giới buôn bán và hai tay tôi lấy đó làm đau đớn. Nhưng chàng thanh niên nhấc bổng nó lên như cái lông, và vừa mỉm cười vừa cắp sách vào tay. Đoạn anh chàng cảm ơn tôi một cách ngắn gọn được tôi ưa thích, anh nhắc lại sự cần thiết của ý kiến của tôi và sau khi thống nhất ngày giờ cho cuộc nói chuyện tiếp theo, anh chào tất cả chúng tôi một cách thoải mái nhất đời và đi ra.

Tôi nói: “Chàng trai này tử tế”.

❀ ❀ ❀

[1] Ney (1769-1815): Thống chế, công khanh nước Pháp tỏ ý ủng hộ Napoléon đệ nhất, bị tòa án các công khanh buộc tội phản bội và bị xử bắn.

[2] Josephine: (1763-1814) trước lấy tử tước De Baeauharnais, sau lấy Napoléon đến năm 1809 thì ly dị với Napoléon.

[3] Marie Louise: 1791 – 1847 kết hôn với Napoléon đệ nhất năm 1810.

[4] Thésée: tráng sĩ huyền thoại người Attique (thuộc Hy Lạp) nổi tiếng với những chiến công và hành động dũng cảm (theo thần thoại Hy Lạp La Mã).

Nguyên tác: Le Crime de Sylvestre Bonnard, Dịch giả: Nguyễn Xuân Phương, Đánh máy:Thanh Hà, Thu Thủy, Đình Đình, Thanh Loan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 13 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.