Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Lượt đọc: 332 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiểu Thư Jeanne Alexandre - I

❊ ❊ ❊

Phần hai

TIỂU THƯ JEANNE ALEXANDRE

I

Lusance, ngày 8 tháng 8 năm 1874

Khi tôi bước xuống ga xép Melun thì màn đêm đã bao phủ vùng quê yên tĩnh. Cả ngày bị nắng mặt trời nung nấu, thứ nắng làm chảy mỡ như thợ gặt thung lũng Vire thường nói, mặt đất xông lên một mùi nóng bức nặng nề. Là là mặt đất, cỏ thơm nồng nặc lê thê một vệt dài. Tôi giũ bụi của toa xe, và thở phào nhẹ nhàng khoan khoái. Tôi xách túi du lịch đu đưa trong tay, nó không nặng bao nhiêu mặc dù được chị quản gia nhét đầy quần áo, và đồ dùng vệ sinh lặt vặt, sạch sẽ lịch sự, cầu kỳ như một cậu học trò vung vẩy chiếc cặp chứa đầy sách vỡ lòng, đi ra khỏi lớp.

Lạy trời phù hộ cho tôi được còn là một cậu bé học sinh dốt nát của nhà trường. Sáu mươi năm trước, bấy giờ người mẹ hiền từ đã qua đời của tôi, tự tay chuẩn bị bánh mì phết mứt nho, đặt vào giỏ, đeo quai vào tay rồi dẫn tôi đến nhà ký túc do ông Douloir quản lý, giữa sân và vườn, trong góc một lối qua phố cụt rất quen thuộc đối với các chú chim sẻ. Ông Douloir to bự vui vẻ duyên dáng hồn nhiên mỉm cười với chúng tôi, vuốt má tôi, có lẽ để tỏ ra âu yếm hơn với tôi. Nhưng khi mẹ tôi đã đi qua sân, giữa bầy chim sẻ bay lên trước mặt, thì ông Douloir không cười nữa, không tỏ ra dịu dàng chút nào nữa với tôi, mà trái lại có vẻ như xem tôi là một sinh vật nhỏ bé hết sức khó chịu rầy rà. Từ đó tôi nhận ra rằng ông bắt tất cả bọn học trò phải gánh chịu những tâm địa như vậy của ông. Với vóc người vạm vỡ thô kệch, ông nện chúng tôi những cú thước kẻ một cách nhanh nhẹn bất ngờ. Nhưng mỗi khi nói chuyện với các bà mẹ, trước mặt chúng tôi, thì ông âu yếm dịu dàng như buổi đầu, lúc ấy, ông vừa trìu mến nhìn chúng tôi vừa ca ngợi những năng khiếu tốt lành của chúng tôi. Ðó là một thời rất tươi đẹp của tôi cùng với những bạn bè thơ ấu sớm chiều cười khóc hả hê như tôi trên ghế nhà trường ông Douloir.

Sau hơn nửa thế kỷ, những kỷ niệm kia lại hiện ra tươi rói, và chói lọi trong tâm trí tôi, dưới bầu trời sao không thay đổi từ đây mà ánh sáng thanh bình bất di bất dịch sẽ chứng kiến không nhầm lẫn, bao nhiêu học sinh khác như tôi ngày trước, trở thành những nhà bác học hay chảy nước mũi và bạc tóc như tôi hôm nay.

Hỡi các vì sao, đã tỏa sáng, nhẹ nhàng hay nặng nề trên đầu tất cả tổ tiên đã bị quên lãng của ta, chính nhờ ánh sáng các ngươi mà ta cảm thấy một sự thương tiếc đau đớn thức dậy trong lòng. Ta mong có một hậu thế sẽ còn nhìn thấy các ngươi khi ta không còn nhìn thấy các ngươi nữa. Hỡi Clémentine có cặp má hết sức thơm mát dưới chiếc mũ màu hồng! Ta sẽ là cha, là ông nếu nàng ưng thuận. Nhưng bỗng nàng lấy Achiller Allier, một nông dân giàu có, chút ít quý phái vùng Niverne, bởi vì cụ thân sinh bình dân của gã, sỡ hữu những tài sản quốc gia, đã tậu được sở lưu trữ pháp điển cùng với lâu đài và đất đai các lãnh chúa. Từ ngày nàng lấy chồng, ta không gặp lại nàng, và ta hình dung cuộc đời nàng trôi đi êm đẹp, âm thầm trong trang viên thôn dã. Một ngày nọ, ta tình cờ được một người bạn nàng cho biết nàng đã vĩnh biệt cảnh đời kia, để lại một mụn con gái giống nàng. Hai mươi năm trước, tin này đã rung chuyển lòng ta, khiến ta lặng người. Tình cảm tràn ngập lòng ta không phải là nỗi đau buốt mà là nỗi buồn sâu sắc, lặng lẽ của một tâm hồn ngoan ngoãn đối với những bài học vĩ đại của tạo hóa. Ta hiểu rằng người mà ta yêu thương chỉ là một hình bóng, nhưng kỷ niệm về nàng mãi mãi là niềm mê say của đời ta. Tư dung đáng yêu của nàng đã qua. Cái đẹp thanh xuân kia tất nhiên đã bị tước bỏ. Thế mà, Clémentine, ta vẫn gặp nàng luôn với mái tóc xuân vàng hoe và chiếc mũ màu hồng.

Ðêm đẹp làm sao! Trong ưu tư mơ mộng thanh cao, đêm ngự trị trên con người và muông thú đã được giải phóng khỏi mọi câu thúc hàng ngày, và tôi nghiệm thấy thế lực dịu hiền của nó, dù rằng, do thói quen của lứa tuổi trên sáu mươi, tôi không còn cảm thấy sự vật chỉ bằng những dấu hiệu tiêu biểu. Ðối với tôi, trong thế gian, chỉ có những từ, chính vì tôi là nhà văn ngữ học; mỗi người theo cách riêng của mình, tạo ra giấc mơ cho đời mình. Tôi thực hiện giấc mơ này trong thư viện của tôi, và đến lúc phải từ giã cõi trần, cầu Chúa vui lòng đón con trên cầu thang của con, trước những chiếc bàn nhỏ chất đầy sách vở.

- A! Ðúng là ông ấy! Chào ông Sylvestre Bonnard. Ông đi đâu lang thang lê gót chân phóng túng lùng sục khắp đồng quê, trong khi tôi chờ ông trước nhà ga với cỗ xe độc mã? Khi xuống tàu, ông đã không trông thấy tôi, thế là tôi phải trở về Lusance tay không – Ông hãy đưa túi xách cho tôi và lên xe cạnh tôi, ông biết không, từ đây đến tòa lâu đài đúng bảy ki-lô-mét.

Ai từ trên cao xe độc mã gào lên với tôi như thế? Ðó là Paul de Gabry, cháu trai và là người thừa kế ông Honoré de Gabry, công khanh nước Pháp năm 1842, vừa qua đời ở Monaco. Ðúng là tôi đến nhà Paul de Gabry với chiếc vali do chị quản gia khóa lại. Con người rất tốt bụng này và hai anh rể vừa được thừa kế tài sản của ông bác xuất thân từ một gia đình luật sư rất xa xưa, tại lâu đài Lusance, ông này có một tủ sách dồi dào nhiều bản thảo, trong đó một số có từ thế kỷ thứ mười ba – Chính là để kiểm kê và lập danh mục những bản thảo đó nên tôi đến Lusance, theo yêu cầu của Paul de Gabry mà cụ thân sinh là một người phong nhã đặc biệt ham mê sách và sinh thời đã có những mối quan hệ hết sức lịch sự với tôi – Thực ra thì anh con trai chẳng thừa hưởng chí hướng thanh cao của cha. Paul lao vào chuyện thể thao, rất thông thạo về ngựa và chó, và tôi tin rằng trong tất cả các môn thích hợp cho việc thỏa mãn hay nhằm đánh lừa óc tò mò vô tận của con người, thì môn ngựa đua và cũi chó là những môn anh am hiểu đầy đủ nhất.

Tôi không thể nói là mình ngạc nhiên khi gặp anh, nhưng thú thật là tôi đang mải suy tư miên man, nên quên khuấy lâu đài Lusance và các ông chủ, đến nỗi anh chàng quý phái nhà quê ở đầu đường trước mắt phải thét vào tai tôi như một tiếng ồn khác thường.

Tôi có lý lẽ để lo ngại rằng, gương mặt ngơ ngẩn thế nào đó của mình đã để lộ sự đãng trí khiếm nhã thường được che giấu trong nhiều cuộc giao tiếp xã hội. Chủ nhà thực thà và giản dị khiến tôi yêu mến.

- Tôi không bằng lòng chút nào tước vị cũ của bác – anh ta bảo tôi – nhưng bác sẽ phải nói chuyện với ai ở nhà chúng tôi. Không kể cha xứ làm sách, và ông thầy thuốc rất dễ thương, dù là con người tự do, bác sẽ gặp một người chống đối. Ðó là nhà tôi. Cô ta không phải là một nữ bác học, nhưng tôi tin rằng không có điều gì cô không biết. Vả lại, may quá, tôi tính giữ bác lại khá lâu cho bác gặp tiểu thư Jeanne có những ngón tay thuật sĩ và một tâm hồn thiên thần.

- Cô gái có năng khiếu mỹ mãn đến thế là người của gia đình ta? – Tôi hỏi.

- Không, – Paul đáp, mắt nhìn vào tai con ngựa đang nện vó xuống mặt đường đầy ánh trăng xanh – đấy là một cô bạn trẻ của nhà tôi. Cô ấy mồ côi cha lẫn mẹ. Cha cô ấy đã làm cho chúng tôi mạo hiểm chạy theo một vụ làm ăn lớn và chúng tôi đã phải một phen sợ hãi ghê gớm với ông ấy.

Rồi anh lắc đầu nói qua chuyện khác, anh cho tôi biết tình trạng công viên và lâu đài bị bỏ hoang hoàn toàn từ ba mươi hai năm nay.

Tôi được biết ông bác Honoré de Gabry của anh, lúc sinh thời là người trông coi khu săn bắn, rất xấu với những người săn bắn trái phép trong vùng, thường bắn họ như bắn thỏ. Một nông dân trong bọn họ bị lãnh chúa bắn viên chì vào ngay giữa mặt. Nhằm trả thù, một tối nọ, gã nấp rình sau rặng cây trên đường dạo chơi và gã đã bắn trệch ông ta một tí, chỉ đốt cháy dái tai.

- Bác tôi – Paul nói thêm – cố phát hiện phát đạn từ đâu tới, nhưng không thấy gì hết và bình thản trở về lâu đài. Ngay hôm sau, bác gọi viên quản lý đến, ra lệnh rào lâu đài, công viên, không cho ai vào, và dứt khoát cấm sờ mó vào vật gì, cấm giữ gìn, tu sửa cái gì trên đất của bác trong phạm vi các bức tường cho đến khi bác về. Bác lầu bầu lúng búng thêm trong miệng rằng bác sẽ trở về vào dịp lễ phục sinh hoặc lễ Chúa Ba Ngôi. Lễ Chúa Ba Ngôi đã qua mà không thấy bác quay lại. Bác đã từ trần ở Monaco năm vừa qua, và chúng tôi, anh rể tôi và tôi là những người đầu tiên vào lâu đài bỏ hoang từ ba mươi hai năm nay. Chúng tôi thấy một cây dẻ giữa phòng khách. Còn muốn thăm công viên thì phải có các lối vào.

Anh bạn tôi bỗng nín lặng và người ta chỉ còn nghe tiếng ngựa đi nước kiệu đều đều giữa âm thanh xạc xào của côn trùng trong cỏ. Những bó lúa mì dựng thẳng trên các cánh đồng hai bên đường, dưới ánh trăng mờ, trông như những người đàn bà to lớn mặc đồ trắng quỳ xuống, lúc ấy tôi say đắm những trò trẻ con tuyệt vời trong đêm tối đầy quyến rũ. Sau khi vượt qua bóng tối dày đặc của lối đi, chúng tôi rẽ ngoặt góc vuông cho xe chạy trên một đại lộ thuộc lãnh địa, và tòa lâu đài xuất hiện ở cuối đường như một khối đen ngòm với những tháp lầu canh của nó. Chúng tôi lần theo con đường đắp cao không vào sân chính, vắt qua rãnh nước chảy, thay cho cầu rút bị phả hủy từ lâu. Tôi nghĩ việc mất chiếc cầu rút là điều nhục nhã đầu tiên của tòa lâu đài hiếu chiến này, trước khi nó biến thành quang cảnh thanh bình để đón tiếp tôi. Các vì sao được phản chiếu rõ ràng huyền ảo trong dòng nước sẫm đen. Với tư cách chủ nhà lịch sự, Paul dẫn tôi tới phòng dành cho tôi ở tầng dưới nóc nhà, cuối một hành lang dài, rồi xin lỗi không giới thiệu ngay tôi với vợ vì đã quá khuya và chúc tôi ngủ ngon.

Phòng tôi ở mang dáng vẻ duyên dáng của thế kỷ 18, quét vôi trắng, tường phủ vải Crơ-ton in hoa. Lò sưởi còn đầy tro nóng hổi, chứng tỏ người nhà đã cố gắng làm tan khí ẩm thấp. Trên mặt lò sưởi, đặt tượng nửa người của hoàng hậu Marie Antoinette bằng sứ không men. Tôi vội vàng treo cao chiếc đồng hồ quả quýt của tôi lên hai cái móc đồng trên khung trắng của mặt kính sẫm loang lổ, mà ngày xưa các bà dùng treo túi xách; bởi vì trái với châm ngôn của bọn khoái lạc chủ nghĩa, tôi cho rằng con người chỉ làm chủ thời gian khi chia nó ra thành giờ, thành phút, thành giây, nghĩa là thành những khoảng cách cân đối với đời người ngắn ngủi bởi vì thời gian chính là cuộc đời. Lúc ấy, tôi nghĩ rằng cuộc đời hình như chỉ ngắn ngủi đối với chúng ta là do chúng ta dại dột sử dụng nó ít ỏi vào những kỳ vọng điên rồ. Như ông già trong chuyện ngụ ngôn, tất cả chúng ta phải thêm cánh vào nhà mình. Trước khi chết, tôi muốn hoàn thành lịch sử của trưởng tu viện nhà thờ Saint-Germain-des-Prés – Thời gian Chúa ban phát cho mỗi người chúng ta như một hàng dệt quý giá, chúng ta phải ra sức tô vẽ thêm. Tôi đã thêu ren khổ vải của tôi bằng mọi thứ tranh ảnh minh họa ngữ văn học. Cứ thế mà tư tưởng tôi tiến triển, ý niệm về thời gian đưa tôi trở về quá khứ và lần thứ hai trong một vòng quanh mặt đồng hồ, vừa thắt khăn quàng cổ lên đầu, tôi vừa nghĩ tới nàng, tới Clémentine, cầu phúc cho nàng ở hậu thế, trước khi tắt nến đi ngủ theo tiếng kêu của ếch nhái.

Nguyên tác: Le Crime de Sylvestre Bonnard, Dịch giả: Nguyễn Xuân Phương, Đánh máy:Thanh Hà, Thu Thủy, Đình Đình, Thanh Loan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 13 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.