Jeanne lật mấy tờ sách của Vecellio và không đáp.
Chúng tôi đi đến Saint Cloud.
Tháng chín – tháng chạp
Những cuộc thăm viếng con người hiền hậu kế tiếp nhau chính xác, tôi cảm ơn sâu sắc cô Préfère và cuối cùng một góc nhà sách trở thành quen thuộc với cô. Bây giờ cô nói: “ghế tựa của tôi”, “ghế đẩu của tôi”, “tủ ngăn của tôi” – Cô đã tống khứ những thi nhân vùng Champagne khỏi chiếc bàn con mà cô lấy làm tủ ngăn cho cô để túi đồ khâu. Cô rất nhã nhặn, và phải là con quỷ tôi mới không ưa thích cô. Tôi bằng lòng cô theo tính chính xác hoàn toàn của từ này. Nhưng đối với Jeanne người ta không bằng lòng gì sao? Cháu đem lại cho nhà sách vẻ duyên dáng mà cháu đi khỏi là tôi thiết tha tưởng nhớ. Cháu học thức ít, nhưng rất có năng khiếu, khi tôi muốn dạy cháu điều gì tốt đẹp, hóa ra tôi chưa bao giờ hiểu điều ấy thì cháu lại làm cho tôi sáng mắt ra – Nếu cho đến nay, tôi không thể khiến cháu nghe theo ý tôi, thì tôi lại thường thích theo dõi tính thất thường hóm hỉnh trong ý kiến cháu.
Một con người biết phải trái hơn tôi sẽ nghĩ tới việc đào tạo cháu thành người có ích. Nhưng phải chăng tử tế ở đời là vô ích? Không đẹp, nhưng cháu quyến rũ. Quyến rũ, điều đó có lẽ cũng có ích như vá bít tất. Vả lại tôi không phải bất tử và dĩ nhiên cháu sẽ chưa già lắm khi công chứng viên của tôi (không phải luật sư Mouche) sẽ đọc cho cháu giấy tờ nào đó tôi vừa ký.
Tôi không muốn người nào khác tôi, tác thành cho cháu của hồi môn. Bản thân tôi không giàu lắm, tài sản của thân sinh để lại không tăng lên trong tay tôi. Không ai gom góp những đồng écu bằng cách tra cứu văn bản cổ. Nhưng những cuốn sách của tôi, theo giá bán ngày nay, món thực phẩm cao quý đó cũng đem lại ít nhiều giá trị – Trên chiếc bàn con này có nhiều thi hào thế kỷ XVI mà các ông chủ ngân hàng tranh giành cho các ông hoàng. Tôi tin rằng tập “Thời gian” kia của Simon Vostre, tập “Kinh cầu nguyện tuyển chọn” cho nữ hoàng Claude không ai không thấy ở khách sạn Sylvestre. Tôi chăm chú tập họp, bảo quản tất cả những bản hiếm có và lý thú ấy trong nhà sách, từ lâu tôi tin rằng chúng cần thiết cho đời tôi như không khí và ánh sáng. Tôi rất quý chúng, ngày nay tôi vẫn không thể không mỉm cười vuốt ve chúng. Những da dê thuộc kia trông vui mắt làm sao, những giấy trắng mịn kia sờ mới êm dịu làm sao! Không phải chỉ có một cuốn có giá trị đặc biệt nào đó đáng cho con người phong nhã mến chuộng. Kẻ chiếm hữu nào khác có thể đánh giá chúng đúng đắn không? Biết đâu rơi vào tay một chủ khác, chúng không bị bỏ mặc cho hư hỏng hoặc biến dạng do một ý thích nhất thường ngu dốt? Tập sách vô song về Lịch sử tu viện Saint-Germain-des-Prés do chính tác giả Dom Jacques Bouillard tự tay ghi những lời chú thích quan trọng bên lề sẽ rời vào tay ai?… Luật sư Bonnard, mày là một thằng điên già. Chị quản gia của mày, con người tội nghiệp hôm nay nằm liệt giường vì bệnh thấp khớp khắc nghiệt. Jeanne phải đến với bà già đi kèm, đáng lẽ nghĩ tới chuyện tiếp đón họ, mày lại nghĩ tới muôn nghìn việc làm dại dột. Sylvestre Bonnard, mày chẳng đi tới đâu, chính ta nói với mày điều đó.
Và từ cửa sổ, tôi thấy đúng họ xuống xe. Jeanne nhảy nhót như đứa trẻ nũng nịu, còn cô Préfère với vẻ duyên dáng trong trắng của một cô Virginie thoát khỏi vụ đắm tàu, lần này chịu cho người ta cứu sống, thì gửi mình vào cánh tay lực lưỡng của người lái xe. Jeanne ngẩng lên thấy tôi ra dấu hiệu âu yếm tin cậy khó nhận ra. Tôi thấy cháu xinh đẹp, tuy không xinh bằng mẹ. Nhưng vẻ duyên dáng của cháu đưa lại niềm vui và niềm an ủi cho tôi, lão già điên khùng. Còn về những người điên trẻ (hiện nay vẫn có) tôi không hiểu họ sẽ nghĩ gì về vẻ duyên dáng này, đó chẳng phải là việc của tôi… Nhưng anh bạn Bonnard của tôi ơi, có cần nhắc lại với mày rằng, chị quản gia đang trên giường và mày phải đi mở cửa không?
Ông lão Mùa Đông, hãy mở cửa… Chúa Xuân đang bấm chuông.
Quả nhiên chính là Jeanne, hoàn toàn hồng hào. Còn một tầng gác nữa mới với tới thềm nghỉ mà cô Préfère đã mệt đứt hơi và bực bội.
Tôi giải thích tình hình sức khỏe chị quản gia và đề nghị ăn trưa ở nhà hàng. Nhưng chị Thérèse tuy trên giường bệnh vẫn có quyền lực vô bạn. Chị quyết định phải ăn trưa tại nhà, theo chị những người phong nhã không ăn uống ở nhà hàng. Vả lại chị đã dự trù tất cả, thức ăn trưa đã mua rồi, chị gác cổng sẽ nấu.
Jeanne táo bạo muốn đi xem có phải con bệnh già không cần gì hết không. Như người ta nghĩ đúng, cháu bị đuổi nhanh về phòng khách nhưng không phải là một cách quá thô bạo như tôi phải lo sợ.
- Nếu cần được giúp đỡ – điều tôi đâu có dám – tôi sẽ tìm người ít đáng yêu hơn cô. Tôi cần nghỉ ngơi. Đó là món hàng không buôn bán ở phiên chợ với bảng hiệu “yên lặng – một ngón tay – trên miệng”. Đi mà vui đùa, đừng ở đây, ở đây có hại, sẽ lây phải cảnh già yếu.
Jeanne thuật lại những lời đó với chúng tôi và nói thêm rằng cháu rất thích ngôn ngữ của chị Thérèse già. Dựa vào đó, cô Préfère mắng cháu có những sở thích không mấy lịch sự. Tôi cố biện giải cho cháu bằng gương bao nhiêu người xây dựng giỏi tiếng mẹ đẻ đã coi những phu khuân vác cỏ khô, những chị thợ giặt già nua như những bậc thầy về ngôn ngữ. Nhưng cô Préfère có những sở thích quá tao nhã nên cô không nghe những lý lẽ của tôi.
Còn Jeanne tỏ ý van nài yêu cầu tôi cho cháu mặc tạp dề, xuống bếp làm cơm.
- Jeanne – tôi đáp với vẻ nghiêm trang của thầy giáo – bác tin rằng nếu vấn đề làm đổ vỡ sứt mẻ bát đĩa, bóp méo xoong chảo, phá đáy thùng nước nóng, thì con người bẩn thỉu mà chị Thérèse đặt vào nhà bếp, đáp ứng đủ công việc của chị, trong lúc này dường như bác nghe có tiếng ồn ào tai hại trong bếp. Tuy nhiên bác giao cháu phụ trách món tráng miệng. Hãy đi tìm một chiếc tạp dề trắng và bác sẽ tự tay quấn vào cho cháu.
Quả thực tôi trang trọng buộc tạp dề vải vào thắt lưng cháu, thế là cháu xông vào nhà bếp sửa soạn những món ăn ngon như chúng ta biết sau này.
Tôi không phải tự khen về chuyện thu xếp nhỏ nhặt đó, vì cô Préfère ở lại một mình với tôi, có vẻ lo lắng. Cô nhìn tôi nồng cháy yêu thương, nước mắt đầm đìa và thốt ra những tiếng thở dài.
- Tôi ái ngại cho ông – cô nói – một người như ông, một con người ưu tú, sống cô độc với một con đòi thô bạo (chị ấy thô bạo là điều không thế chối cãi!). Cuộc đời sao mà khắt khe đến thế! Ông cần được nghỉ ngơi, được đối xử khéo, được tôn kính, được chăm sóc đủ thứ, ông có thể ốm đau. Thế mà không có đàn bà được vinh dự mang tên ông. Không! Không có ai, tôi nói điều này xuất phát từ đáy lòng.
Lúc ấy hai tay cô ép nén quả tim luôn luôn sẵn sàng thoát khỏi lồng ngực
Tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi cố vạch cho cô Préfère thấy tôi không đòi hỏi thay đổi gì trên con đường đời đã tàn tạ lắm của tôi, và tôi đã có bấy nhiêu hạnh phúc theo bản chất và số phận của tôi.
- Không! Ông không hạnh phúc! – Cô kêu lên – Phải có một người hiểu ông bên cạnh. Đừng uể oải nữa, hãy đưa mắt nhìn quanh. Ông có những quan hệ rộng rãi, những người quen biết tốt. Không thể là ủy viên của Học viện mà lại không giao tiếp với xã hội. Ông hãy xem xét, nhận định, so sánh. Một người đàn bà biết điều sẽ không từ chối lời cầu hôn của ông. Thưa ông, tôi là phụ nữ, bản năng của tôi không đánh lừa tôi, có cái gì đó cho tôi biết rằng ông sẽ có hạnh phúc trong hôn nhân. Những bà vợ đều bận tâm biết mấy, thương chồng biết mấy (dĩ nhiên không phải tất cả nhưng một vài người)! Và rồi họ nhạy cảm với vinh quang! Chị nấu ăn của ông không còn sức lực, chị điếc, yếu đuối, nếu ban đêm ông gặp chuyện không may! Này, chỉ nghĩ tới chuyện này là tôi đã run lên!
Lúc ấy cô run thật sự, cô nhắm mắt siết chặt nắm tay, giậm chân. Tôi mệt mỏi quá chừng. Nhưng cô cứ tiếp tục một cách hăng say kinh khủng:
- Sức khỏe của ông! Sức khỏe quý báu của ông! Tôi vui lòng hiến dâng tất cả máu của tôi để bảo toàn cuộc đời của một nhà bác học, một nhà văn học, một người tài năng, một ủy viên Học viện. Một người vợ mà không làm được bấy nhiêu thì tôi lấy làm khinh bỉ. Này, thưa ông, tôi quen vợ một nhà toán học vĩ đại, một người biến hết những quyển vở của mình thành những phép tính xếp đầy tất cả các tủ trong nhà – ông ta bị bệnh tim và sa sút trông thấy. Lúc ấy tôi chứng kiến vợ ông ở đó, yên lặng bên cạnh ông. Tôi không thể cầm lòng nổi, một hôm bảo chị “Bà chị thân mến, chị không có quả tim, ở địa vị chị, tôi sẽ làm… Tôi không biết tôi sẽ làm gì!”.
Cô dừng lại mệt nhoài. Tình thế của tôi thật khó xử. Nói rõ với cô suy nghĩ của tôi đối với những lời khuyên của cô thì không nên. Bởi vì giận nhau với cô có nghĩa là bỏ mất Jeanne. Tôi đành đấu dịu, vả lại cô đang ở nhà tôi, lý do này giúp tôi giữ lịch sự.
- Thưa cô – tôi trả lời – tôi già lắm, tôi e rằng những lời khuyên của cô đến hơi chậm. Tuy nhiên, tôi sẽ suy nghĩ thêm. Trong khi chờ đợi, xin cô yên tâm. Mời cô uống một cốc nước đường cho tốt.
Tôi hết sức ngạc nhiên những lời nói đó bỗng chốc làm cho cô bình tĩnh, cô ngồi yên trong xó của mình, cạnh giá sách, trên ghế tựa, hai chân đặt trên ghế đẩu.
Bữa ăn tối hoàn toàn bị hỏng. Cô Préfère chìm đắm trong mơ, không quan tâm đến. Thường thường tôi rất nhạy cảm đối với những chuyện không may như vậy, nhưng chuyện này lại thành một niềm vui với Jeanne, đến nỗi cuối cùng tôi cũng vui lây. Ở tuổi tôi, tôi chưa hề biết một con gà tơ cháy một bên, sống một bên, là điều buồn cười, nhưng tiếng cười trong trẻo của Jeanne đã dạy tôi điều này. Con gà tơ này khiến chúng tôi nhớ tới vô vàn sự việc rất dí dỏm mà tôi đã quên và tôi rất vui mừng nhận thấy người ta từng quay nó non hay già lửa.
Bữa ăn tối kết thúc vui vẻ, khi thiếu nữ vận tạp dề trắng, dáng người mảnh khảnh, thẳng thắn đem món lòng trắng trứng do cháu chuẩn bị, đánh nổi như tuyết, sáng chói trong bộ đĩa màu vàng nhạt và tỏa mùi vani thơm ngon – Cháu đặt món ăn lên bàn với dáng nghiêm trang chất phác của bà nội trợ của Chardin.
Trong thâm tâm, tôi rất lo lắng. Hình như tôi không thể giữ gìn lâu lời lẽ tốt đẹp với cô Préfère về những điều quá khích về hôn nhân của cô. Thế là cô giáo đi ra, chào tạm biệt em nữ học sinh! Lợi dụng lúc con người tốt bụng này đi khoác áo choàng, tôi hỏi Jeanne chính xác bao nhiêu tuổi. Cháu mười tám tuổi một tháng. Tôi tính trên ngón tay, và thấy cháu chưa tới tuổi thành niên trước hai năm mười một tháng. Làm thế nào mà qua cho hết thời gian ấy?
Khi chào từ biệt, cô Préfère nhìn tôi với bao nhiêu ý tứ, khiến tay chân tôi run rẩy.
- Chào tạm biệt – tôi trịnh trọng nói với thiếu nữ – nhưng hãy nghe bác: người bạn của cháu già nua có thể mắc khuyết điểm với cháu. Cháu hãy hứa với bác là không bao giờ mắc khuyết điểm với chính mình và bác sẽ bình tâm. Chúc con mạnh khỏe con ạ!
Đóng cửa sau lưng cháu xong, tôi liền mở ngay cửa sổ nhìn cháu đi ra. Đêm tối mò, tôi chỉ thấy những cái bóng lờ mờ lướt trên kè sông đen. Thành phố vang lên tiếng rì rầm mênh mông và đục; lòng tôi se lại.
Ngày 15 tháng chạp
Vua xứ Thulé giữ một cái cốc bằng vàng do người tình để lại làm kỷ niệm. Khi lâm chung, cảm thấy mình đã dùng uống lần cuối cùng, nhà vua liền vứt cốc xuống biển. Tôi giữ cuốn vở kỷ niệm này như vị chúa già của biển cả mịt mù nọ giữ cái cốc chạm và cũng như nhà vua phá hỏng món quà tình yêu quý báu của mình, tôi sẽ đốt cuốn nhật ký này. Hẳn không phải do tính hà tiện kiêu kỳ và tự hào ích kỷ mà tôi phá hoại tác phẩm này của một đời tầm thường; nhưng tôi ngại những sự việc thân thiết, thiêng liêng đối với tôi ở đấy, do khuyết điểm và nghệ thuật, trở thành dung tục, lố lăng.
Tôi không nói điều đó để thấy điều gì sẽ nối tiếp – Lố lăng, chắc chắn tôi sẽ như thế khi được mời đến ăn tối tại nhà cô Préfère. Tôi ngồi trong ghế bành thấp có nệm (đúng là ghế bành thấp có nệm) bên phải con người đáng lo ngại này. Bàn ăn đặt trong phòng khách nhỏ. Đĩa sứt mẻ, cốc bẻ bộ, dao long cán, nĩa có răng vàng, nghĩa là không thiếu thứ gì làm cho khách phong nhã còn ngon miệng được.
Người ta thổ lộ với tôi rằng bữa ăn tối tổ chức riêng cho tôi, cho một mình tôi thôi, dù có luật sư Mouche tham dự. Phải là cô Préfère tưởng tượng rằng tôi thích loại bơ của người Sarmate dùng, vì thứ bơ cô dọn cho tôi hôi dầu quá. Nhưng có món thịt quay làm cho tôi hết bực bội. Tôi còn cái thú nghe luật sư Mouche và cô Préfère nói về đức độ. Tôi nói sự vui thú, đáng lẽ phải nói là sự hổ thẹn, vì họ diễn đạt ý kiến hết sức coi thưởng bản tính thô thiển của tôi.
Điều họ nói chứng tỏ rõ như ban ngày rằng, sự tận tâm là món ăn thường xuyên của họ và sự hy sinh cũng cần cho họ như không khí và nước. Thấy tôi không ăn, cô Préfère cố gắng khắc phục điều mà cô gọi khá đúng là sự kín đáo của tôi. Jeanne thì không vui vì theo người ta bảo tôi, sự có mặt của cháu trái với quy chế, đã xúc phạm sự bình đẳng cần phải giữ vững giữa bao nhiêu học sinh.
Người đầy tớ gái buồn thiu phục vụ món tráng miệng ít ỏi, rồi biến mất như một cái bóng.
Lúc bấy giờ, cô Préfère với những rung cảm cao thượng kể cho luật sư Mouche, tất cả những gì cô đã nói với tôi tại nhà sách, trong khi chị quản gia của tôi còn nằm trên giường. Sự cảm phục của cô đối với một ủy viên Học viện, những nỗi lo ngại của cô thấy tôi đau yếu và độc thân, sự tin chắc của cô rằng một người đàn bà thông minh sẽ hạnh phúc và tự hào được chia sẻ cuộc đời với tôi, cô không che giấu điều gì hết, trái lại, cô còn thêm thắt những lời nói vui nhộn, mới lạ. Luật sư Mouche vừa gật đầu tán thưởng vừa cắn những quả phỉ. Rồi, sau tất cả những câu chuyện dài dòng này, ông hỏi với nụ cười thích thú là tôi đã trả lời thế nào.
Cô Préfère một tay đặt trên ngực, tay kia chìa sang tôi, thốt lên:
- Ông ấy trìu mến đến thế, cao thượng đến thế, tốt bụng đến thế, vĩ đại đến thế! Ông ấy trả lời… Nhưng tôi, một người đàn bà chất phác, tôi không thể nhắc lại những lời nói của một ủy viên Học viện, chỉ cần tôi tóm tắt lại: Ông ấy đã trả lời: “Vâng, tôi hiểu cô và tôi vui lòng chấp nhận”.
Vừa nói thế, cô vừa nắm tay tôi. Luật sư Mouche đứng lên hết sức cảm động, cầm lấy tay kia của tôi và nói:
- Thưa ông, tôi xin chúc mừng ông.
Trong đời, đôi lúc tôi cũng sợ hãi nhưng tôi chưa bao giờ gặp phải một sự kinh hoàng ghê tởm như vậy.
Tôi rút hai tay lại, đứng dậy cho lời nói được hết sức nghiêm nghị:
- Thưa bà, tôi bị hiểu sai tại nhà tôi hay tôi đã hiểu sai bà ở đây. Trong cả hai trường hợp, một lời tuyên bố rõ ràng là cần thiết. Thưa bà, cho phép tôi được nói thẳng. Không, tôi không hiểu bà, không, tôi không vui lòng chấp nhận điều gì cả, tôi hoàn toàn không biết cái đám nào mà bà có trong tầm tay dành cho tôi, nếu có. Trong tất cả các trường hợp, tôi đều không thể lấy vợ. Ở tuổi tôi, chuyện đó sẽ là một sự điên rồ không thể tha thứ và lúc này tôi không thể hình dung một người biết phải trái như bà lại có thể khuyên tôi cưới vợ. Tôi có đủ cả lý do để tin rằng tôi lầm và tin rằng bà không nói gì tương tự như thế. Trong trường hợp này, xin bà tha lỗi cho một người già đã mất thói quen tiếp xúc với nhiều người, ít quen với ngôn ngữ của phụ nữ và rất lấy làm tiếc về sai lầm của mình.
Luật sư Mouch nhẹ nhàng ngồi xuống lại chỗ cũ và hạt phỉ đã hết, ông đành cắt gọt cái nút chai.
Cô Préfère nhìn kỹ tôi một lúc với cặp mắt tròn nhỏ, khô ráo mà tôi chưa hề biết, và cô trở lại dịu dàng, duyên dáng bình thường. Với giọng ngọt xớt cô kêu lên:
- Những nhà bác học này! Những chính khách này! Họ như trẻ con. Vâng, thưa ông Bonnard, ông đích thực là một đứa trẻ con.
Rồi quay sang viên công chứng đang đứng lặng, mũi cúi xuống cái nút chai, cô van xin:
- Ồ! Đừng buộc tội ông ấy. Đừng nghĩ xấu về ông ấy nhé, đừng. Tôi có phải quỳ xuống mà van xin như vậy không?
Luật sư Mouche đang quan sát mọi mặt cái nút chai, không phát biểu gì khác.
Tôi tức giận, cảm thấy nóng đầu, hai má đỏ ửng. Tình huống này làm cho tôi hiểu những lời nói nghe được lúc ấy qua tiếng vù vù của thái dương:
- Ông bạn tội nghiệp của chúng ta, ông ấy làm cho tôi khiếp sợ. Này ông Mouche, xin ông vui lòng mở cửa sổ. Tôi nghĩ rằng một miếng gạt cồn thuốc kim sa có thể làm cho ông ấy khỏe ra.
Tôi vụt chạy trốn ra đường với một cảm giác kinh tởm, hãi hùng khó tả.
Ngày 20 tháng chạp
Đã tám ngày tôi không nghe nói đến trường của cô Préfère. Không thể bặt tin Jeanne lâu hơn nữa, vả lại tôi đặt ra nhiệm vụ cho mình là không được rút lui, tôi lên đường đi Ternes.
Đối với tôi, phòng khách dường như lạnh lẽo hơn, ẩm thấp hơn, không mến khách hơn, nham hiểm hơn, còn chị đầy tớ sợ hãi hơn, im lặng hơn bao giờ hết. Tôi hỏi Jeanne và sau một lúc lâu, cô Préfère xuất hiện, nghiêm trang xanh xao, hai môi mỏng, cặp mắt dữ tợn.
- Thưa ông, tôi hết sức lấy làm tiếc – cô vừa nói vừa khoanh tay trong áo choàng – hôm nay không thể cho phép ông thăm tiểu thư Alexandre, điều đó rất khó cho tôi.
- Vì sao vậy?
- Thưa ông, lý do buộc tôi yêu cầu ông đến thăm đây ít thường xuyên hơn, có tính chất đặc biệt tế nhị, xin ông miễn cho tôi phải phiền lòng nói ra.
- Thưa bà, tôi được người giám hộ của Jeanne cho phép thăm hàng ngày đứa trẻ mồ côi, bà viện lý do nào để ngăn cản ý muốn của luật sư Mouche.
- Người giám hộ của tiểu thư Alexandre (lúc ấy cô nhấn mạnh tên vị giám hộ như đè trên một điểm tựa vũng chắc) cũng như tôi rất mong ông kết thúc những chuyện xun xoe.
- Nếu như vậy, xin bà vui lòng cho biết lý do của ông ấy và của bà.
Cô ngắm cái cuốn nhỏ giấy xoắn và trả lời một cách bình thản nặng nề.
- Ông muốn thế sao? Dù cho sự giải thích như vậy khó chịu đối với một người đàn bà, tôi cũng chiều theo ý ông. Thưa ông, nhà này là một nhà danh giá. Tôi có trách nhiệm của tôi, tôi phải để mắt đến mỗi một nữ học sinh như một người mẹ. Những chuyện xun xoe của ông với tiểu thư Alexandre không thể kéo dài mà không tổn hại đến thiếu nữ. Bổn phận của tôi là phải chấm dứt chuyện này.
- Tôi không hiểu bà.
- Đúng đó là sự thật! – Cô tiếp tục chậm rãi nói – Những người đáng kính nhất và những người ít đa nghi nhất đã biết rõ những sự xun xoe của ông ở nhà này, do đó tôi phải vì quyền lợi của trường tôi, quyền lợi của tiểu thư Alexandre chấm dứt những chuyện đó một cách nhanh nhất.
- Thưa bà, trong đời tôi, tôi đã nghe nhiều chuyện dại dột, nhưng không có chuyện dại dột nào có thể so sánh với chuyện bà vừa nói.
Cô trả lời giản đơn:
- Những lời lăng nhục của ông không tác động gì đến tôi. Người ta rất đầy đủ nghị lực khi làm tròn một nghĩa vụ.
Và cô ép áo choàng vào lòng, lần này không phải để giữ mà dĩ nhiên để vuốt ve trái tim hào hiệp này.
- Thưa bà – tôi vừa nói vừa lấy tay chỉ vào bà – bà đã khơi dậy sự phẫn nộ của một ông già. Bà hãy làm thế nào cho già này quên hẳn bà và xin bà đừng thêm những cái mới vào những hành động xấu tôi đã phát hiện. Tôi báo cho bà biết tôi sẽ tiếp tục chăm sóc tiểu thư Alexandre. Nếu bà hành hạ cháu về bất cứ điều gì thì trời tru đất diệt bà.
Tôi càng sôi nổi thì cô càng yên lặng và cô bình tĩnh đáp lời:
- Thưa ông, tôi quá rõ tính chất sự quan tâm của ông đối với thiếu nữ để giúp em thoát khỏi sự trông nom mà ông dùng đe dọa tôi. Thấy sự thân mật rất đáng ngờ của ông với chị quản gia, tôi phải miễn sự tiếp xúc của ông với em bé gái thơ ngây. Sắp tới tôi sẽ làm việc đó. Nếu cho đến nay tôi đã quá cả tin, thì không phải ông mà là tiểu thư Alexandre mới có thể chê trách tôi, nhưng tiểu thư quá ngây thơ, quá trong trắng, nhờ có tôi, mới không nghi ngờ tính chất của hiểm họa mà mình bị đe dọa, do ông mở ra. Tôi cho rằng ông sẽ không buộc tôi cho em biết chuyện này.
Này – tôi vừa nhún vai vừa tự nhủ – lão Bonnard tội nghiệp của tôi ơi, mong rằng lão sống cho tới ngày nay để biết chính xác thế nào là người đàn bà độc ác. Về mặt này, sự thông hiểu của lão bây giờ là đầy đủ.
Tôi không đáp lại, đi ra và lấy làm thú vị thấy mặt mày cô giáo ký túc xá bỗng đỏ bừng do sự im lặng hơn là những lời nói của tôi.
Giá như không thoáng thấy Jeanne thì thôi đã vừa đi qua sân vừa nhìn khắp nơi. Cháu đã rình để chặn đường và chạy để với tôi.
- Jeanne, nếu người ta động đến một sợi tóc của cháu thì viết thư cho bác – Chào tạm biệt.
- Không! Không tạm biệt!
- Không! Không! Không, tạm biệt – Hãy viết cho bác.
Tôi đi thẳng đến nhà bà De Gabry.
- Bà đang ở Rome với ông nhà. Vậy ông không biết sao?
- Có chứ – tôi đáp – bà có viết cho tôi biết việc đó.
Quả thật bà có viết cho tôi, nhưng vì cuống cuồng nên tôi quên phắt. Đó là ý kiến của tên gia nhân, bởi vì hắn nhìn tôi có vẻ muốn nói: “Ông Bonnard lẩm cẩm rồi”, và hắn cúi xuống lan can cầu thang xem có phải tôi đang miệt mài với việc gì đặc biệt chăng. Tôi từ từ bước xuống cầu thang thất vọng ra về.
Vừa tới nhà, tôi được báo cho biết Gélis đang ở trong phòng khách. Chàng thanh niên này chuyên cần đến chỗ tôi. Anh không có năng lực phán đoán vững vàng, nhưng trí tuệ anh không phải tầm thường. Lần này anh đến không chỉ làm cho tôi lúng túng mà thôi. Tôi nghĩ bụng: “Chao ôi! Tôi sẽ nói với anh bạn trẻ vài việc dại dột và anh cũng sẽ nhận thấy rằng tôi sút đi. Nhưng tôi không thể giải thích với anh rằng tôi bị đi hỏi vợ và bị xem là người vô hạnh, rằng Thérèse bị ngờ vực và Jeanne vẫn trong quyền lực của người đàn bà gian ác nhất trần gian. Tôi thực sự chẳng sung sướng gì để nói và các tu viện dòng Xitô với một nhà bác học trẻ tuổi hung hăng. Thế mà, này, này!…”
Nhưng chị Thérèse chặn tôi lại:
- Thưa ông, mặt ông đỏ quá! – Chị nói giọng trách móc.
- Đang là mùa xuân mà – Tôi đáp.
Chị kêu lên:
- Đang là tháng chạp mà là mùa xuân à?
Thực tế là đang tháng chạp. A! Đầu óc tôi thế nào đây; tội nghiệp cho Jeanne có một nơi nương tựa tệ hại là tôi.
- Chị Thérèse, đem cây gậy của tôi để vào chỗ nào cho dễ tìm thấy. Chào anh, Gelis – Anh khỏe không?
Không ngày tháng
Hôm sau, ông lão muốn dậy mà không được. Bàn tay xù xì vô hình đặt lão nằm dài trên giường. Lão bị buộc phải nằm yên không được cựa quậy, nhưng bao nhiêu ý nghĩ luẩn quẩn trong đầu.
Lão phải một cơn sốt nặng, bởi vì cô Préfère, các thầy tu nhà thờ Saint-Germain-des-Prés và gã đầu bếp của bà De Gabry xuất hiện dưới mắt lão thành những hình thù quái dị, đặc biệt gã đầu bếp vừa nằm dài trên đầu vừa nhăn nhó như miệng ống máng nhà thờ. Tôi có cảm tưởng nhiều người, quá nhiều người trong phòng tôi.
Đồ đạc trong phòng bày biện theo kiểu cổ. Chân dung cha tôi trong bộ quân phục oai vệ và chân dung mẹ tôi mặc chiếc áo dài ca-sơ-mia treo trên tường, trên tấm giấy phủ có in cành lá xanh tươi. Tôi nhận thức được hơn nữa, còn biết tất cả các thứ đó đã bạc màu lắm rồi. Nhưng căn phòng của một người già cần gì phải xinh xắn. Nó chỉ sạch sẽ là đủ và chị Thérèse đã giải quết việc đó. Ngoài ra chị dùng lời nói khá bóng bẩy để làm vui đầu óc tôi còn hơi trẻ con và lông bông. Trên tường và đồ đạc có những vật thường trò chuyện với tôi, làm cho tôi vui. Nhưng hôm nay tất cả những vật ấy muốn gì? Chúng trớ trêu hay kêu ca, càu nhàu, nhăn nhó và đe dọa. Chiếc tượng con kia nặn theo khuôn mẫu một trong số đối thần tam đức của nhà thờ Đức Bà ở Brou, ngây thơ duyên dáng đến thế, trong trạng thái tự nhiên, thì giờ đây, uốn éo thè lưỡi trêu chọc tôi. Trong tiểu phẩm xinh đẹp này có hình một trong số đệ tử ôn hòa của Jehan Fouquet, lưng thắt dây tơ của các chàng trai của Saint Francois, quỳ xuống dâng cuốn sách của mình cho công tước Angoulême nhân hậu, vậy ai đã cắt bỏ tiểu phẩm ra khỏi khung để đặt thay vào một cái đầu to tướng của con mèo nhìn tôi với cặp mắt lân quang? Những cành lá giấy cũng trở thành những cái đầu, những cái đầu tái mét dị dạng – Không phải, hôm nay cũng như cách đây hai mươi năm, nói đúng, đó là những cái đầu với những con mắt, một cái mũi, một cái miệng, những cái đầu!… Tôi hiểu đó vừa là những cái đầu, vừa là những hình lá. Tôi không dám nhìn chúng.
Kìa, ở bên phải tôi, bức tiểu họa xinh xắn của thầy tu dòng thánh Phơ-răng-xoa vẫn ở chỗ cũ, nhưng tôi có cảm tưởng là tôi đang cố gắng hết sức nặng nề để treo nó lại và nếu tôi bực bội thì cái đầu mèo xấu xí sẽ xuất hiện trở lại. Tôi không mê sảng: Tôi thấy có chị Thérèse đứng ở cuối giường; tôi nghe rõ chị đang nói chuyện với tôi, và nếu tôi không lo giữ nguyên hình thù tự nhiên những đồ vật quanh tôi thì tôi sẽ đáp lời chị một cách tỉnh táo hoàn toàn.
Thầy thuốc đến. Tôi không mời ông ta, nhưng cũng thích tiếp ông. Đó là ông láng giềng già tôi ít nhờ vả, nhưng tôi rất quý mến. Nếu tôi không nói bao nhiêu với ông, ít nhất tôi cũng còn đủ tri giác và cũng lắm mưu mẹo, bởi vì tôi dò xét cử chỉ của ông, cái nhìn của ông, những nếp nhăn nhỏ nhất trên mặt ông. Bác sĩ khôn khéo, tôi không biết đích xác ông nghĩ gì về tình trạng của tôi. Tôi nhớ lại một danh ngôn sâu xa của Goethe và nói:
- Thưa bác sĩ, người già đã đành chịu ốm đau, nhưng lần này thì sẽ không cho phép tạo hóa bắt họ phải ốm đau thêm nữa.
Cả bác sĩ và chị Thérèse đều không cười với câu đùa của tôi. Họ không cần phải hiểu.
Bác sĩ đi khỏi, màn đêm buông xuống, đủ thứ bóng tối hình thành rồi tan biến như những chòm mây trong nếp màn. Qua bóng tối lũ lượt đi ngang trước mắt, tôi nhìn thấy những gương mặt điềm tĩnh của chị đầy tớ trung thành. Bỗng một tiếng kêu trong mà cao, một tiếng kêu cô chiếc tuyệt vọng xé tai tôi. Có phải là cháu Jeanne gọi bác đó chăng?
Ngày đã hết, bóng tối ụp xuống đầu giường tôi suốt đêm dài.
Vào lúc bình minh, tôi cảm thấy yên tĩnh, một sự yên tĩnh bao la vây bọc hoàn toàn lấy tôi. Trời ơi, có phải Chúa mở ra cảnh thiên đường cho tôi chăng.
Tháng hai năm 1876
Bác sĩ rất vui. Hình như tôi đứng thẳng được là niềm vinh dự của ông. Cứ theo lời ông thì vô số bệnh tật đã cùng nhau giáng xuống tấm thân già của tôi.
Những bệnh tật kia là nỗi hãi hùng của loài người, thì tên tuổi của chúng lại là nỗi lo sợ của nhà ngữ văn học. Đó là những tên lai tạp, nửa Hy Lạp, nửa La tinh với những vĩ tố bằng ite để chỉ chứng viêm, bằng algie để diễn đạt sự đau đớn. Bác sĩ đọc cho tôi tên các loại bệnh với đủ số tính từ với tiếp vị ngữ là ique để nêu rõ đặc tính đáng ghét của chúng. Tóm lại là một cột dài trong Từ điển y học.
- Thưa bác sĩ, đồng ý thôi. Ông trả tôi lại cho đời, tôi công nhận, ông trả tôi lại cho các bạn tôi, tôi cảm ơn. Tôi khỏe mạnh. Tất nhiên mà tôi còn sống lâu. Tôi là đồ đạc cũ kỹ có thể so sánh với chiếc ghế bành của cha tôi. Đó là chiếc ghế được con người có đức hạnh này thừa kế và ngồi vào từ sáng tới tối. Mỗi ngày hai mươi lần, khi còn là thằng nhóc, tới đứng trên tay vịn của cái ghế kiểu cổ này. Nó rất vững chắc, không phải coi chừng. Nhưng nó bắt đầu khập khiễng một chân và người ta bắt đầu nói rằng nó nguyên là một chiếc ghế bành tốt. Tiếp đó nó khập khiễng ba chân, chân thứ tư thì kêu cọt kẹt và hai tay vịn thì hầu như cụt. Bấy giờ người ta kêu lên: “Cái ghế bành chắc quá!”. Người ta lấy làm lạ rằng không còn tay ghế vững chãi, kông có một chân thẳng đứng, nó vẫn giữ dáng vẻ ghế bàn, còn đứng khá vẫn và còn dùng được vào một vài việc. Nhưng rồi lông độn đã sổ ra khỏi thân, nó chết. Lúc ấy khi Cyprien gia nhân của chúng tôi đem cưa các chân ghế xếp vào đông củi thì tiếng kêu khâm phục gia tăng: “Chiếc ghế bành tuyệt vời, tốt phi thường! Pierre Sylvestre Bonnard buôn dạ, Epiménide Bonnard con trai ông ta, Jean Baptiste Bonnard chỉ huy sư đoàn hải quân thứ ba đã dùng nó. Chiếc ghế bành đáng kính và khỏe biết mấy!”. Thực ra đó là chiếc ghế bành đã tiêu ma. Này, thưa bác sĩ, tôi là chiếc ghế bành đó. Ông nhận xét tôi khỏe mạnh vì tôi đã chống lại những cuộc tấn công đã giết chết hoàn toàn vô số người và chỉ giết tôi mới được ba phần tư thôi. Xin cảm ơn nhiều. Thế mà tôi lại là cái gì đó hư hỏng hết phương cứu chữa.
Với những lời lẽ quan trọng bằng tiếng Hy Lạp và La tinh, bác sĩ muốn chứng minh tình trạng sức khỏe của tôi tốt. Tiếng Pháp thì quá sáng sủa để chứng minh kiểu này. Tuy nhiên tôi đồng ý chịu tin như vậy và tôi tiễn ông ra tận cửa.
- May quá! – Chị Thérèse bảo tôi – Đấy, tại sao phải đuổi các ông thầy thuốc. Mới hơi một tí mà còn hành động theo cách đó, tốt hơn là lần sau đừng làm thế nữa nhé.
- Này chị Thérèse, tôi đã khỏe lại, chị hãy đưa hết thư từ cho tôi. Dĩ nhiên là cả một bó to và sẽ là một tội ác nếu còn cấm tôi đọc chúng.
Sau một vài lời khách sáo, chị Thérèse đưa các lá thư cho tôi. Nhưng ích gì? Tôi nhìn tất cả phong bì. Nhưng không có chiếc nào do bàn tay xinh xắn kia viết mà tôi muốn gặp ở đây đang lật giở tập Vecellio. Tôi vứt hết cả bó, chẳng thiết gì đến nữa.
Tháng tư – tháng sáu
Sự việc nóng hổi.
- Thưa ông, đợi tôi mặc quần áo sạch đã. – Chị Thérèse bảo tôi – Lần này tôi sẽ đi với ông, tôi sẽ đem theo cái ghế xếp của ông như những ngày qua và chúng ta sẽ đi tắm nắng.
Thực ra chị Thérèse tưởng tôi còn yếu. Tất nhiên tôi vừa ốm dậy, nhưng mọi việc đều phải kết thúc. “Bệnh hoạn phu nhân” đã ra đi, trời hôm nay đẹp, thế là đúng ba tháng, là “Thời kỳ dưỡng bệnh”, nữ tùy tùng mặt mày xanh xao duyên dáng của phu nhân đã tử tế từ biệt tôi. Nếu tôi là chị quản gia, tôi sẽ là ông Argant thực sự, tôi sẽ đội cái mũ có băng quấn trong những ngày còn lại… Không có chuyện đó! Tối muốn đi chơi một mình. Chị Thérèse không nghe. Chị cầm ghế xếp và muốn theo tôi.
- Này chị Thérèse, ngày mai chúng ta sẽ đứng thành rặng cây áp vào tường ở vùng Provence thân yêu, nó sẽ làm cho chị ưa thích biết bao nhiêu – Nhưng hôm nay tôi bận nhiều công việc gấp.
Lại những công việc! Chị tưởng đây là vấn đề tiền nong và giải thích cho tôi rằng chẳng có việc gì gấp.
“Càng hay, nhưng trên đời này có nhiều việc khác hơn những việc kia”.
Tôi năn nỉ, tôi làu bàu, cáu kỉnh rồi chuồn ra ngoài.
Thời tiết khá đẹp. Dàn xếp thuê một chiếc xe ngựa và nếu Chúa không ruồn bỏ tôi, tôi sẽ hoàn thành thắng lợi cuộc phiêu lưu.
Đây là bức tường mang dòng chữ xanh: Ký túc xá các tiểu thư do cô Virginie Préfère quản lý. Đây chấn song khi mở rộng thì thông thẳng sân chính – Ổ khóa gỉ và các lá tôn gắn vào các thanh sắt, bảo vệ giữ gìn những con người bé bỏng, phòng những con mắt tò mò, và được cô Préfère dạy dỗ không một chút nghi ngờ về đức tính khiêm tốn, thành thật, công bằng và vô tư.
Đây một cửa sổ có chấn song với những mặt kính bôi lem luốc để lộ nhà dưới, là con mắt lờ đờ duy nhất mở ra với thế giới bên ngoài.
Còn cái cửa nhỏ hỗn tạp tôi bước vào nhiều lần từ nay bị cấm chỉ với tôi, và lỗ nhìn mới được đặt lưới sắt. Bậc đá trước cửa đã mòn, và không cần có cặp mắt quá tốt dưới mục kỉnh mới thấy trên phiến đá những đường tuyến nhỏ mà các nữ sinh mang giày đế sắt đi qua đã để lại. Vậy thì, đến lượt tôi, tôi có thể đi qua chăng? Tôi có cảm tưởng là Jeanne đang đau khổ trong căn nhà âm u này và cháu đang thầm gọi tôi. Tôi không thể tránh xa. Tôi lo lắng, tôi gõ cửa. Chị đầy tớ sợ hãi ra mở cửa, chị sợ hãi hơn bao giờ. Lệnh phạt giữ lại trường đã ban bố, tôi không thể thăm Jeanne. Nhưng ít ra tôi cũng phải hỏi tin tức cháu. Sau khi nhìn trước nhìn sau, chị đầy tớ cho tôi biết rằng cháu khỏe mạnh, rồi ngang nhiên đóng cửa lại. Thế là tôi ở ngoài đường.
Và từ đó, tôi nhiều phen lang thang như vậy, dưới bức tường này, qua trước cổng nhỏ, hổ thẹn, thất vọng thấy chính mình nhu nhược hơn đứa trẻ chỉ còn tôi là nơi nương tựa trên đời.
Ngày 10 tháng sáu
Tôi vượt qua sự ghê sợ và đi gặp luật sư Mouche. Trước hết, tôi để ý thấy văn phòng luật sư bụi bậm và mốc meo hơn năm ngoái. Viên công chức xuất hiện, thái độ thân thiết, cặp mắt nhanh nhẹn dưới mục kỉnh. Tôi phàn nàn với ông ta. Ông trả lời tôi… Mà cần gì xác định kỷ niệm về một tên đểu giả hèn hạ ngay trong một cuốn sổ phải đốt cháy? Ông cho cô Préfère có lý, một người từ lâu ông đánh giá cao tài trí và tính tình. Không muốn đi sâu vào cuộc tranh luận, ông phải nói rằng những hiện tượng bề ngoài là không lợi cho tôi. Điều đó ít liên quan tới tôi. Ông nói thêm (và điều này liên quan tới tôi) rằng số tiền ít ỏi ông có trong tay dành cho việc giáo dục đứa con gái được giám hộ đã cạn kiệt và rằng trong hoàn cảnh này, ông hết sức cảm phục sự vô tư của cô Préfère đồng ý chăm sóc Jeanne ở bên mình.
Ánh sáng huy hoàng, ánh sáng một ngày đẹp rót hào quanh thanh khiết xuống chốn bẩn thỉu này và soi đường cho con người này. Bên ngoài thì nó tỏa sáng rực rỡ lên tất cả sự khốn cùng của một phường dân cư đông đúc.
Từ rất lâu mắt tôi tràn ngập thứ ánh sáng êm dịu bao nhiêu này, thế mà nay tôi sắp không còn hưởng thụ nó nữa. Tư lự, hai tay chắp sau lưng, tôi bỏ đi dọc theo các công sự và không biết thế nào mà tôi lại lạc vào những khu ngoại ô hẻo lánh gồm những mảnh vườn cằn cỗi. Trên bờ một con đường bụi bặm, tôi bắt gặp một cây có hoa vừa lộng lẫy vừa sẫm màu như để hòa hợp vào những đám tang cáo quý nhất và thanh bạch nhất. Đó là cây cỏ bồ câu. Tổ tiên chúng ta gọi là cái bao tay của Đức Bà. Một Đức Bà làm ra vẻ rất nhỏ bé để xuất hiện trước lũ trẻ, có thể một mình luồn những ngón tay xinh xắn vào những đài hoa chật hẹp này.
Đây một con ong gấu hung tợn chui vào đài hoa, miệng nó không với được tới mật và anh chàng tham ăn cố gắng vô ích. Cuối cùng nó phải thôi, bay ra, mình lem luốc phấn hoa. Nó lại nặng nề bay đi, nhưng hoa rất hiếm trong vùng ngoại ô bị bồ hóng các nhà máy làm ô nhiễm. Nó trở lại cây cỏ bồ câu, lần này thì nó chọc thủng tràng hoa, nhờ đó nó hút được mật. Tôi không tin một con ong gấu lại thông minh đến thế. Điều đó thật tuyệt diệu, khi càng quan sát sâu bọ và hoa. Như anh chàng Rollin hiền hậu, tôi cũng mê hoa anh đào. Tôi muốn có một mảnh vườn xin đẹp và sống ở rìa một khu rừng.
Tháng 8 - tháng 9
Một sáng chủ nhật tôi bỗng nảy ra ý định đến đó xem lúc học trò cô Préfère xếp hàng đi lễ nhà thờ xứ. Các cháu sắp hàng hại, các em nhỏ đi đầu, vẻ mặt nghiêm nghị. Có ba cháu thấp tròn trùng trục ăn mặc như nhau ra vẻ ta đây, tôi nhận ra đó là các cô tiểu thư nhà Mouton. Cô chị cả là nghệ sĩ đã vẽ cái đầu dễ sợ của Tatius, vua của người Sabins. Cô trợ giáo tay cầm sách kinh, hối hả cau mày đi bên cạnh các cháu. Các cháu trung bình rồi đến các cháu lớn, vừa đi vừa thì thầm. Nhưng tôi không thấy Jeanne.
Tôi hỏi bộ Giáo dục công cộng có phải trong nội dung cập hồ sơ không có nhận xét về nhà trường phố Demours sao. Tôi được trả lời là đã phái nhiều nữ thanh tra viên đến đó. Các vị này trở về với những nhận xét tốt nhất. Theo họ, ký túc xá Préfère là ký túc xá kiểu mẫu. Nếu tôi gây ra một cuộc điều tra thì chắc chắn cô Prèfère sẽ được thưởng huy chương giáo dục.
Ngày 3 tháng 10
Thứ năm này là ngày ra trường, tôi gặp ba tiểu thư nhà Mouton ở vùng phụ cận phố Demours. Sau khi chào bà mẹ, tôi hỏi cô chị cả chừng mười hai tuổi về bạn của cháu là tiểu thư Jeanne sức khỏe thế nào.
Tiểu thư Mouton trả lời một mạch:
- Jeanne Alexandre không phải là bạn cháu. Chị ấy ở ký túc xá là do lòng từ thiện, người ta bắt chị ấy quét dọn lớp học. Chính chị đã nói với cháu như thế.
Ba cô gái nhỏ lại tiếp bước, bà Mouton theo sau vừa đưa mắt ngờ vực quay lại nhìn tôi.
Chao ôi! Tôi buộc phải tiến hành những thủ đoạn ám muội. Sớm nhất cũng ba tháng nữa, bà De Gabry mới trở về Paris. Xa bà, tôi không còn khéo léo, cũng không còn tài trí, tôi chỉ là một cỗ máy nặng nề, bất tiện có hại.
Nhưng tôi không thể chịu đau khổ khi biết Jeanne là đầy tớ của ký túc xá, phải trải qua những hành động xúc phạm của luật sư Mouche.
Ngày 28 tháng chạp
Thời tiết u ám lạnh lẽo. Trời đã tối. Bình tĩnh không sợ gì hết, tôi gõ cửa. Ngay khi người tớ gái rụt rè vừa mở, tôi giúi vào tay chị một đồng vàng và hứa cho chị một đồng nữa nếu chị tìm cách cho tôi gặp tiểu thư Alexandre. Chị đáp:
- Một giờ nữa, ở nơi cửa sổ có chấn song sắt
Rồi chị thản nhiên đóng sầm cửa đến nỗi cái mũ trên đầu tôi rung rinh.
Tôi đợi một giờ lâu giữa những cuộn tuyết xoáy rồi lại gần cửa sổ. Không gì hết. Gió dữ dội, tuyết rơi dày. Những công nhân vai vác dụng cụ, đầu cúi dưới những cục tuyết đặc, đi qua gần va vào tôi. Không gì cả. Tôi ngại người ta để ý mình. Tôi biết thuê tiền chị đầy tớ là sai, nhưng tôi không hối tiếc chút nào. Ai đó khi cần khi cần không biết thoát khỏi quy luật chung thì người đó đáng khinh bỉ. Mười lăm phút trôi qua. Không gì hết. Cuối cùng cửa sổ hé mở.
- Bác Bonnard đó phải không?
- Jeanne phải không. Cháu thế nào?
- Cháu khỏe, rất khỏe.
- Nhưng còn gì nữa?
- Người ta đưa cháu vào nhà bếp và cháu quét phòng.
- Cháu vào bếp, quét phòng à? Trời đất ơi!
- Vâng, vì người giám hộ cháu không trả tiền cơm tháng nữa.
- Người giám hộ cháu là một tên khốn nạn.
- Vậy là bác hiểu?…
- Cái gì?
- Ồ! Bác đừng bắt cháu nói ra điều đó. Nhưng cháu thích thà chết còn hơn ở một mình với ông ấy.
- Thế tại sao cháu không viết cho bác?
- Cháu bị theo dõi.
Lúc ấy tôi quyết định và không gì có thể thay đổi ý kiến tôi. Tôi bỗng nghĩ ra mình không có quyền làm thế, nhưng tôi lại coi thường ý nghĩ này. Tôi quả quyết hành động thận trọng và hết sức bình tĩnh.
- Jeanne – tôi hỏi – căn phòng cháu đang ở có thông ra sân không?
- Có.
- Cháu có thể tự mình kéo dây kéo cửa được không?
- Được, nếu không có ai trong nhà người gác cổng.
- Thử đến xem và đừng để ai thấy cháu.
Tôi vừa đợi vừa giám sát cổng ra vào và cửa sổ. Chỉ trong giây lát Jeanne hiện ra sau các thanh sắt.
- Chị giúp việc đang ở trong nhà người gác cổng. – Cháu nói.
- Tốt, cháu có bút, mực đó không.
- Không.
- Một cây bút chì không?
- Có.
- Đưa đây cho bác.
Trong gió thổi có thể làm tắt đèn, tuyết rơi làm tôi lóa mắt, tôi rút ngay trong túi ra một tờ báo cũ ra sức bọc lại bằng một cái băng ghi địa chỉ cô Préfère.
Vừa viết tôi vừa bảo Jeanne.
- Khi người phát thư đi qua, hắn bỏ thư từ, giấy má vào thùng rồi bấm chuông. Chị giúp việc sẽ ra mở thùng và đem ngay các thứ tìm thấy đó vào cho cô Préfère. Có phải mọi việc diễn ra như thế, sau mỗi chuyến phát thư từ không?
Jeanne cho biết là cháu tin mọi việc diễn ra đúng như thế.
- Ta cứ thử xem, Jeanne, cháu tiếp tục quan sát và ngay khi chị giúp việc ra khỏi nhà người gác cổng, cháu kéo dây kéo cổng và đi ra ngoài.
Nói xong, tôi dúi tờ báo vào thùng thư, bấm mạnh chuông và chạy đến nấp trong khuông cửa cổng bên cạnh.
Tôi đứng đấy mấy phút thì cửa nhỏ rung chuyển rồi hé mở, một cái đâu người non trẻ ló ra. Tôi đón lấy và kéo nó về phía tôi.
- Jeanne, đến đây, đến đây.
Cháu lo lắng nhìn tôi. Chắc cháu sợ tôi điên chăng.
Trái lại tôi rất tỉnh táo.
- Đi, đi con ạ.
- Đi đâu?
- Đến nhà bà De Gabry.
Lúc ấy cháu cầm tay tôi. Chúng tôi chạy một lúc như những kẻ trộm. Với thể tạng tốt béo, tôi không quen chạy. Tôi dừng lại gần như nghẹt thở, tôi tựa vào một vật gì thì ra là lò sưởi của ngừoi bán hạt dẻ đặt ở góc một quầy bán rượu lẻ cho những bác đánh xe ngựa – Một người trong bọn họ hỏi tôi có cần xe không. Hẳn là chúng tôi cần một chiếc. Người cầm roi, đặt cốc trên bàn bán hàng bằng thiếc, ngồi trên ghế và thúc ngựa đi tới. Chúng tôi được cứu thoát.
- May quá! – Tôi vừa thốt lên vừa lau mồ hôi trán, mặc dù trời lạnh tôi vẫn đổ mồ hôi hột.
Điều lạ lùng là Jeanne nhận thức hơn tôi hành động vừa rồi. Cháu rất nghiêm nghị và lo lắng ra mặt – Vào bếp nhé! – Tôi phẫn nộ thét lên.
Cháu lắc đầu như muốn nói: “Ở đấy hay bất cứ đâu cháu có cần gì!” Lúc ấy nhờ ánh đèn, tôi đau đớn nhận thấy mặt mày cháu gầy và có những nét mệt nhọc. Tôi không còn thấy cháu nhanh nhẹn hăm hở đột nhiên, nói năng hoạt bát đã làm cho tôi vui bao nhiêu. Cái nhìn của cháu chậm chạp, cử chỉ không tự nhiên, thái độ buồn bã. Tôi cầm tay cháu: Một bàn tay chai cứng, đau đớn, giá lạnh. Con bé tội nghiệp đã chịu nhiều thống khổ. Tôi hỏi, cháu bình thản kể cho nghe rằng một hôm cô Prèfère cho gọi cháu, mắng cháu là quái vật, là con nhỏ độc ác mà cháu không hiểu vì sao.
“Cô ấy còn thêm: “Em sẽ không gặp lại ông Bonnard nữa là người đã đưa ra những lời khuyên xấu xa với em và cư xử rất tồi đối với cô”. Cháu trả lời: “Thưa cô, em không bao giờ tin điều đó”. Cô bèn tát cháu và đuổi về phòng học. Cái tin cháu không còn gặp bác nữa với cháu như đêm tối ập xuống. Bác biết không, những buổi tối đó, khi màn đêm bao phủ thì buồn lắm bác ạ, bác có nghĩ là cái thời khắc đó kéo dài hàng tuần hàng tháng. Hôm nọ cháu được biết bác đang ở trong phòng khách với cô giáo, cháu đã kín đáo theo dõi bác, rồi bác cháu ta cùng chào tạm biệt. Cháu mới được an ủi một chút. Sau đó ít lâu, người giám hộ đến đón cháu vào một ngày thứ năm. Cháu từ chối đi chơi với ông ấy. Ông ấy trả lời rất đỗi dịu dàng rằng cháu là con bé đồng bóng và ông để mặc cháu. Nhưng hôm sau, cô Préfère đến gặp cháu vẻ mặt dữ tợn dễ sợ. Tay cầm lá thư, cô bảo: “Này em, người giám hộ của em báo cho cô biết là ông đã tiêu xài hết tiền của em – đừng lo, cô không muốn ruồng bỏ em, nhưng rồi em phải làm ăn kiếm sống, là chuyện chính đáng”.
Thế là cô sử dụng cháu lau chùi nhà cửa và đôi lúc nhốt cháu trên gác thượng nhiều ngày. Đấy, thưa bác, vắng bác thì sự việc diễn ra như vậy. Nếu cháu có thể viết cho bác, cháu không hiểu rồi sẽ ra sao, vì cháu không tin rằng bác có thể đưa cháu ra khỏi ký túc xá và do người ta cũng không buộc cháu đi gặp ông Mouche, nên không gì phải vội vã. Cháu có thểu cứ ở trên gác thượng và trong nhà bếp mà chờ đợi.
- Jeanne – tôi kêu lên – Phải chăng ta chạy trốn sang tận Châu Đại dương thì ả Préfère ghê tởm mới không còn chửi mắng cháu nữa. Bác dám thề mạnh dạn như vậy. Tại sao chúng ta không đến Châu Đại dương? Ở đây khí hậu lạnh. Và có cả pi-a-nô theo tin tức báo chí bác xem hôm nọ. Trong khi chờ đợi, ta đến nhà bà De Gabry, may mà bà đang ở Paris từ ba bốn ngày nay bởi vì chúng ta là hai kẻ vô tội vcà đang rất cần sự giúp đỡ.
Trong khi tôi nói, Jeanne tái mặt, mắt mờ đẫm lệ, một nếp nhăn đau khổ làm co lại đôi môi hé mở. Cháu ngả đầu vào vai tôi bất tỉnh nhân sự.
Tôi ôm cháu trong vòng tay và đem lên cầu thang nhà bà de Gabry như bế một thằng bé đang ngủ. Quá mệt mỏi và cảm động, tôi quỵ xuống với cháu trên chiếc ghế dài nơi thềm nghỉ. Ở đó một lát thì cháu tỉnh lại.
- Bác đấy à! Cháu vừa nói vừa mở mắt ra. Cháu lấy làm sung sướng.
Đến đó thì chúng tôi gọi cửa nhà chị bạn.
Chuông đồng hồ điểm tám giờ. Chị De Gabry vui mừng tiếp ông già và đứa trẻ. Chắc chị ngạc nhiên nhưng không hỏi gì.
- Thưa chị – tôi nói – cả hai chúng tôi đến nhờ chị che chở, nhưng trước hết xin cho ăn tối đã. Ít nhất cho Jeanne, cháu mới bị ngất xỉu trên xe vì đuối sức. Còn tôi vào lúc khuya khoắt này, tôi cũng ăn một miếng để chuẩn bị cho một đêm phiền muộn. Cầu mong anh De Gabry khỏe mạnh.
- Nhà tôi đang ở đây, chị nói.
Và chị báo ngay cho chồng biết sự có mặt của chúng tôi.
Tôi vui mừng thấy gương mặt De Gabry cởi mở và tôi siết chặt bàn tay vuông vức của anh. Cả bốn chúng tôi vào phòng ăn. Jeanne được phục vụ món thịt nguội nhưng cháu không đụng đến, trong lúc đó tôi kể lại sự việc. Paul De Gabry xin phép đốt dọc tẩu rồi yên lặng nghe. Khi tôi dứt lời, anh gãi chòm râu ngắn và rậm trên má và kêu lên:
- Khổ thay! Thưa ông Bonnard, ông đang ở vào một tình thế khó khăn.
Rồi, để ý thấy Jeanne mở to mắt sợ hãi hết nhìn tôi lại nhìn sang ông, ông bảo tôi:
- Ta sang phòng bên.
Tôi theo anh vào phòng có ánh đèn soi sáng các khẩu các bin và dao săn treo trên trướng phủ tường màu sẫm. Anh vừa kéo tôi ngồi lên ghế trường kỷ bọc da vừa nói:
- Trời ơi! Ông đã làm gì? Đã làm gì? Quyến rũ trẻ vị thành niên, lừa phỉnh, bắt cóc. Ông gặp phải một chuyện tệ hại, có thể bị tù từ năm năm đến mười năm.
- Khổ thay! – Tôi kêu lên – Mười năm tù do cứu vớt một em gái vô tội sao?
- Đó là luật pháp! – De Gabry đáp – Tôi hiểu khá rõ về luật, ông thấy không, ông Bonnard thân mến, không phải vì tôi đã học luật, nhưng vì khi làm đốc lý Lusance, chính tôi phải nắm tình hình để hướng dẫn những người dưới quyền. Mouche là tên đểu giả, ả Préfère là con đàn bà trơ trẽn đáng khinh, còn ông, một… tôi chưa tìm ra từ nào thích đáng.
Mở tủ sách đựng các vòng cổ chó, roi ngựa, bàn đạp ở yên ngựa, đinh thúc ngựa, hộp xì gà và mấy cuốn sách thường dùng, anh ta lấy ra một bộ luật và bắt đầu lật qua các tờ sách.
- Trọng tội và tội phạm… tạm giữ người, không phải trường hợp của ông… Bắt cóc trẻ vị thành niên, đây rồi điều 354. Người nào bằng man trá hay bằng cưỡng bức, bắt cóc hoặc sai khiến người khác bắt cóc trẻ vị thành niên, hoặc lôi kéo quyến rũ hay thuyên chuyển chúng khỏi những nơi chúng được người giám hộ ủy thác cho nhà cầm quyền hay cơ quan quản lý trông nom, thì phải chịu hình phạt cầm cố. Xem bộ luật hình sự 21 và 28… 21 – Thời hạn cầm cố ít nhất là năm năm… 28, hình phạt cầm cố bao hàm mất quyền công dân. Rõ lắm, phải không ông Bonnard?.
- Hoàn toàn rõ.
- Ta tiếp tục. Điều 356 – Nếu kẻ bắt cóc chưa đủ hai mươi mốt tuổi thì y chỉ sẽ bị phạt một… điều này không liên quan tới ông – Điều 357 – Trong trường hợp, kẻ bắt cóc lấy người con gái bị bắt cóc làm vợ thì y chỉ có thể bị truy tố do khiếu nại của những người có quyền yêu cầu vô hiệu cuộc hôn nhân theo luật dân sự và cũng chỉ bị xử phạt sau khi công bố tính vô hiệu cuộc hôn nhân. Tôi không biết ông có dự định cưới tiểu thư Alexandre không. Tôi thấy luật này dễ dãi và mở đường cho ông về hướng đó. Nhưng tôi đùa vô duyên bởi vì hoàn cảnh của ông đen đủi. Làm sao có thể hình dung được ở Paris thế kỷ 19, một người như ông có thể bắt cóc một thiếu nữ mà không bị trừng phạt. Chúng ta không còn ở thời đại trung cổ và chuyện bắt cóc bị cấm.
- Xin anh đừng tưởng luật cũ cho phép bắt cóc. Anh sẽ tìm thấy ở Baluze một sắc lệnh của vua. Chidebert công bố ở Cologne trong điều 543 hay 94 về vấn đề này. Vả lại ai không biết đạo dụ Blois nổi tiếng tháng năm năm 1579 quy định dứt khoát rằng những ai cám dỗ nam nữ vị thanh niên hai mươi lăm tuổi viện cớ hôn nhân hay lý do nào khác, không có sự thỏa thuận, muốn hay đồng ý rõ ràng của cha mẹ và của những người giám hộ sẽ bị kết án tử hình sao? Đạo dụ còn thêm rằng tất cả những ai tham gia vụ bắt cóc nói trên, khuyến dụ, cung cấp tiện nghi và giúp đỡ bất cứ bằng cách nào đều bị trừng phạt nặng như nhau. Hầu như đó là những lời lẽ thích đáng của đạo dụ. Còn về điều này của luật Napoléon anh vừa cho biết, điều này không truy tố người bắt cóc thành hôn với người thiếu nữ bị bắt cóc, làm tôi nhớ lại theo tập quán của Bretagne, việc bắt cóc tiếp theo là hôn nhân, thì không bị trừng phạt. Những tục lệ này gây ra những lạm dụng, bị bãi bỏ năm 1720. Tôi đưa ra thời điểm này xem như chính xác trong khoảng mười năm lại đây. Trí nhớ tôi không còn tốt và vào lúc tôi không còn có thể đọc thuộc lòng một hơi một nghìn năm trăm câu thơ của Girart de Roussillon.
Đối với điều thuộc chiếu chỉ của Charlemagne, giải quyết sự bù trừ của việc bắt cóc, nếu tôi không nói với anh vì chắc anh còn nhớ. Vậy, anh De Gabry thân mến, anh nhận thấy rõ việc bắt cóc bị coi như một tội ác có thể bị trừng phạt dưới ba triều đại của nước Pháp cổ xưa. Người ta rất sai lầm nếu tưởng rằng thời đại trung cổ là thời đại hỗn mang. Trái lại xin anh tin chắc…
De Gabry ngắt lời tôi:
- Ông biết sắc lệnh của Blois, Baluz, Childebert và những chiếu chỉ mà vẫn chưa biết luật Napoléon.
Tôi trả lời quả là tôi chưa bao giờ đọc luật này, lúc ấy anh tỏ vẻ ngạc nhiên và nói tiếp:
- Bây giờ thì ông đã hiểu ra tính chất nghiêm trọng của hành vi vừa qua của ông chưa?
Thực tế thì tôi còn chưa hiểu. Nhưng dần dần, do những miêu tả rất hợp lý của Paul, tôi đi tới chỗ cảm thấy tôi sẽ bị xét xử, không phải vì những ý định vô hại của mình, mà vì hành động của tôi là đáng kết tội.
Lúc ấy tôi thất vọng và than vãn:
- Làm gì, làm gì bây giờ. Vậy phải chăng tôi tuyệt vong không phương cứu chữa, phải chăng cùng với mình, tôi đã làm hại con bé tội nghiệp mà tôi muốn cứu vớt?
De Gabry im lặng nhồi thuốc vào điếu và châm lửa rất chậm rãi đến nỗi khuôn mặt hiền lành to lớn của anh ửng đỏ trong mấy phút như mặt gã thợ rèn bên lò lửa. Rồi thì:
- Ông hỏi tôi nên làm gì, thưa ông Bonnard thân mến, đừng làm gì hết. Vì tình yêu Thượng Đế, vì quyền lợi của ông đừng làm gì hết. Sự việc của ông khá đen đủi, ông đừng xen vào nữa, sợ lại bất lợi thêm. Nhưng xin ông cho phép tôi chịu trách nhiệm về mọi việc tôi sẽ làm. Ngay từ ngày mai, tôi sẽ đi gặp luật sư Mouche, và nếu ông ấy như chúng ta nghĩ, nghĩa là đồ tồi, thì tôi chắc sẽ có cách làm cho y vô hại khi y can thiệp vào sự việc. Bởi vì mọi việc tùy thuộc vào y. Bây giờ quá muộn để đưa tiểu thư trở lại ký túc xá, thì nhà tôi sẽ giữ tiểu thư lại đêm nay với bà ấy. Điều đó thực sự cấu thành tội tòng phạm, nhưng như thế chúng tôi tước bỏ được mọi tính chất đáng ngờ cho hoàn cảnh của thiếu nữ. Còn ông, ông bạn thân mến, ông hãy nhanh chóng trở lại kè sông Malaquais, nếu người ta đến đây tìm Jeanne thì ông sẽ dễ dàng chứng minh rằng thiếu nữ không ở nhà ông.
Trong khi chúng tôi nói chuyện như thế, chị De Gabry thu xếp cho thiếu nữ đi ngủ. Người hầu gái đi qua hành lang mang đến khăn trải giường thơm ngát mùi oải hương.
- Đấy, một mùi vị dịu dàng thanh nhã – Tôi nói.
- Biết làm thế nào hơn? Chúng tôi là những kẻ quê mùa – Chị De Gabry đáp lời.
- A! Tôi có thể mong trở thành một người quê mùa như thế không? Mong sao một ngày kia, như anh chị ở Lusance, tôi có thể hít thở hương thơm đồng nội, dưới mái nhà lẩn khuất trong tán lá cây, và nếu điều ao ước này quá cầu kỳ đối với một ông già mà cuộc đời đang kết thúc, tôi khao khát ít ra vải liệm tôi cũng được như tấm ga trải giường này có tẩm mùi oải hương ngào ngạt.
Chúng tôi thỏa thuận ngày mai tôi sẽ trở lại ăn sáng. Nhưng người ta dứt khoát cấm tôi có mặt trước mười hai giờ trưa. Jeanne vừa ôm hôn tôi vừa van xin đừng đưa cháu trở lại ký túc xá. Chúng tôi từ biệt nhau, cảm động và lo lắng.
Trên thềm nghỉ cầu thang, tôi gặp chị Thérèse đang lo lắng không yên, chị giận điên người, tuy chị không bảo rằng từ nay về sau chị sẽ nhốt tôi lại.
Tôi qua một đêm hãi hùng, không nhắm mắt được chút nào, khi thì như một chàng tinh nghịch, tôi chế giễu cuộc mạo hiểm thành công của mình, khi thì với nỗi lo sợ không thể tả, tôi thấy bị truy tố trước tòa, trên ghế bị cáo chịu trách nhiệm về tội ác phạm phải dễ dàng như thế. Tôi lo sợ nhưng không hối tiếc. Ánh sáng vui mắt chiếu vào phòng, lướt nhẹ chân giường và tôi cầu nguyện:
“Lạy Chúa, Người đã tạo nên trời đất, sương gió như đã ghi trong truyền thuyết Tristan, xin Người phán xét con với lòng công minh của Người, không phải theo hành vi của con mà theo ý định của con, những ý định ngay thẳng trong sáng, và con sẽ tuyên bố: “Vẻ vang thay Đức Chúa trên trời và bình an trên trần gian cho những người có thiện ý”. Con xin giao lại trong tay Người đứa bé gái con đã bắt cóc, xin Chúa hãy làm điều gì con chưa biết làm; xin Người bảo vệ thiếu nữ khỏi mọi kẻ thù và cầu mong tên tuổi Người được ca ngợi!”.
Ngày 29 tháng chạp
Khi vào nhà chị De Gabry, tôi thấy Jeanne đã thay hình đổi dạng.
Phải chăng, cũng như tôi, vào lúc ánh bình minh đầu tiên chiếu sáng, tiểu thư đã cầu khẩn Đấng sinh ra trời đất, sương sa? Tiểu thư mỉm cười trong không khí yên tĩnh dịu dàng.
Chị De Gabry gọi lại cháu lần nữa để hoàn thành kiểu tóc, vì bà chủ đáng yêu này muốn tự tay làm đầu cho đứa trẻ đã phó thác cho bà. Đến hơi sớm hơn thời gian đã thỏa thuận một chút, tôi đã làm gián đoạn việc trang điểm duyên dáng này. Để phạt tôi, người ta bắt tôi chờ một mình trong phòng khách, nhưng rồi anh De Gabry nhanh chóng trở lại đó với tôi. Rõ ràng anh vừa ở ngoài về, trên trán còn in dấu mũ đội. Anh tỏ ra vui tươi linh lợi. Tôi nghĩ không nên hỏi gì anh vội và chúng tôi cùng đi ăn sáng. Khi gia nhân đã chuẩn bị xong, Paul mới dành câu chuyện của mình cho lúc dùng cà phê, anh nói:
- Này, tôi đã đến Levallois.
- Anh đã gặp luật sư Mouche? – Chị De Gabry mau miệng hỏi chồng.
- Không! Anh vừa đáp, vừa quan sát thần sắc chúng tôi đang tỏ ra thất vọng.
Sau một phen vừa phải làm chúng tôi lo lắng, con người tuyệt vời này mới thêm:
- Luật sư Mouche không còn ở Levallois nữa. Luật sư đã rời nước Pháp. Đến ngày kia là đúng tám ngày ông ấy trốn đi, đem theo tiền bạc của khách hàng, một số tiền khá tròn. Tôi thấy văn phòng đóng cửa. Một chị láng giền thuật lại câu chuyện với tôi với bao nhiêu lời nguyền rủa, chửi bới. Viên công chứng không đi một mình trên chuyến tàu bảy giờ năm lăm phút, y còn bắt cóc con gái anh thợ cắt tóc ở Levallois, chuyện này được ông cẩm xác nhận. Thực ra luật sư Mouche có thể đánh bài chuồn đúng lúc hơn không? Nếu ông ta hành động chậm một tuần thì ông ta có thể sẽ thay mặt xã hội đưa ông ra tòa như một tội phạm, ông Bonnard ạ. Bây giờ chúng ta không còn sợ gì nữa. Thôi xin chúc sức khỏe luật sư Mouche! – Anh vừa kêu lên vừa rót rượu ác-ma-nhắc.
Tôi muốn sống lâu để nhớ mãi buổi sáng này. Chúng tôi bốn người tập họp trong phòng ăn lớn màu trắng quanh chiếc bàn gỗ sồi đánh si. Paul quá vui và cũng hơi thô lỗ, con người trung hậu này nốc rượu ác-ma-nhắc một hơi dài. Còn chị De Gabry và tiểu thư Alexandre mỉm cười với tôi, một nụ cười trả giá cho bao nỗi vất vả của tôi.
Trở về nhà, tôi bị chị Thérèse khiển trách chua chát hơn, chị không còn hiểu gì hết cách sống mới của tôi. Theo ý chị, thì ông chủ phải là kẻ đã mất trí.
- Đúng, chị Thérèse ạ, tôi là một lão điên, còn chị là một bà già điên. Chắc chắn như thế chị Thérèse ạ. Cầu Chúa ban phúc lành cho chúng ta, ban sức mạnh mời cho chúng ta, vì chúng ta có những bổn phận mới. Nhưng để tôi ngả lưng trên ghế tràng kỷ đây đã, tôi không thể đứng vững được nữa.
Ngày 15 tháng giêng năm 1877
- Chào bác – Jeanne vừa chào vừa mở cửa nhà chúng tôi, lúc chị Thérèse bị cô bé vượt lên, càu nhàu trong bóng tối hành lang.
- Cháu, yêu cầu gọi bác long trọng bằng danh hiệu của bác là: Chào bác giám hộ của cháu.
- Nhất định rồi. Hạnh phúc quá! – Cô bé vỗ tay nói với tôi.
- Cháu ạ, việc đó đã bắt đầu trong phòng công cộng trước mặt quan tài phán trị an và ngay từ hôm nay cháu phải chịu quyền lực của bác. Cháu mồ côi, bị bác giám hộ chế giễu chăng? Qua cách nhìn của cháu, bác đoán một vài ý nghĩ đang lướt qua đầu óc cháu. Lại tính khí bất thường rồi!
- Ô! Không, thưa bác… bậc giám hộ của cháu. Cháu nhìn mái tóc bạc của bác cuộn mình trên vành mũ bác như cây kim ngân trên ban công. Mái tóc đẹp quá, cháu rất thích.
- Cháu ngồi xuống, nếu có thể, đừng nói những chuyện phi lý nữa; bác có những việc quan trọng phải nói với cháu. Hãy nghe bác, bác nghĩ rằng cháu nhất định không thiết tha trở lại trường cô Préfère phải không?… Không. Nếu bác giữ cháu lại đây để hoàn tất việc giáo dục cho đến lúc… tôi đang nói gì? Bao giời cũng vẫn như người ta thường nói.
- Ồ, thưa bác! – Cháu kêu lên đỏ bừng sung sướng.
Tôi tiếp tục:
- Ở đằng sau có một căn phòng nhỏ do chị quản gia của bác chuẩn bị theo ý cháu. Cháu hãy thay các sách cũ ở đó như ngày thay đêm. Hãy đi cùng với chị Thérèse xem căn phòng này ở được không. Đã thỏa thuận với chị De Gabry là tối nay, cháu sẽ ngủ tại đó.
Cháu đã chạy đến phòng rồi thì tôi gọi lại:
- Jeanne, nghe bác nói thêm: Dù sao cho đến nay, cháu tự rèn luyện được là nhờ chị quản lý của bác. Như mọi người già cả, tính khí chị ấy cũng khá gắt gỏng. Hãy đối xử khéo với chị. Chính bác, bác cũng có bổn phận phải đối xử khéo với chị và chịu đựng những cảm giác bực bội của chị. Phải kính trọng chị. Khi nói thế, bác không quên rằng chị là người đầy tớ gái của bác và của cháu. Chị sẽ không bao giờ quên điều đó. Cháu phải trọng thị tuổi tác và tấm lòng cao thượng của chị. Đó là một con người khiêm nhường sống lâu dày dạn với điều thiện. Hãy chịu đựng với con người cứng nhắc thẳng thắn này. Phải biết sai bảo, chị sẽ biết vâng lời. Này, con gái của bác, hãy thu xếp căn phòng thế nào cho hợp nhất với công việc và sự nghỉ ngơi của con.
Sau khi thúc giục, động viên Jeanne như vậy, vào công việc của người nội trợ giỏi, tôi bắt đầu đọc một tạp chí xuất sắc do đám thanh niên phụ trách. Giọng văn thô lỗ nhưng ý tứ sốt sắng. Bài báo tôi đọc vượt qua mọi việc người ta làm trong thời trai trẻ của tôi về mặt chính xác và tính kiên nghị. Tác giả bài báo là ông Paul Meyer chỉ trích gay gắt mỗi một sai lầm.
Về phần chúng tôi, chúng tôi không có sự công bằng tàn nhẫn đó. Lòng khoan dung của chúng tôi rộng rãi. Nó đi tới chỗ ca ngợi lẫn lộn nhà bác học với kẻ dốt nát. Nhưng phải biết chê trách, đó là một nhiệm vụ khắc nghiệt. Tôi nhớ đến cậu bé Raymond (người ta gọi cậu như vậy). Cậu không biết gì hết, đầu óc thiển cận chật hẹp, nhưng cậu rất thương mẹ. Chúng tôi tránh không công bố sự dốt nát và ngốc nghếch của một con người chí hiếu đến thế, thế là cậu bé Raymond nhờ lượng bao dung của chúng tôi, được vào Học viện. Cậu không còn mẹ nhưng được rạng danh. Cậu có quyền vô hạn gây thiệt hại lớn cho đồng nghiệp và cho khoa học. Nhưng kìa, người bạn trẻ của tôi ở Luxembourg lại đến.
- Chào anh Gélis. Hôm nay trông anh có vẻ hoan hỉ. Anh gặp việc gì vậy, anh bạn trẻ của tôi?
Anh đã bảo vệ thích đáng luận án của mình và được thu nhận vào một cương vị tốt. Anh vừa thông báo cho tôi tin này vừa nói thêm rằng những công trình nghiên cứu của tôi cũng được bàn đến trong thời gian cuộc họp và được các giáo sư của nhà trường hết lời khen ngợi.
- Đấy công việc tiến triển thuận lợi. – Tôi đáp – Anh Gélis, tôi rất lấy làm sung sướng thấy thanh danh cũ của tôi kết hợp với vinh quang mới của anh, nhưng bao nhiêu việc phải thu xếp trong nhà làm tôi quên rằng hôm nay anh bảo vệ luận án.
Vừa lúc tiểu thư Jeanne đến cho tôi biết tình hình sắp đặt những công việc kia. Người con gái lơ đễnh bước vào như cơn gió thoảng trong nhà sách và kêu lên rằng căn phòng của cháu là một tiểu kỳ quan. Cháu đỏ mặt khi gặp Gélis. Nhưng không ai lẩn tránh được số mệnh.
Lần này tôi để ý thấy hai trẻ đều rụt rè, không nói chuyện gì với nhau.
Thong thả đã! Này Sylvestre Bonnard, khi quan sát đứa trẻ mồ côi được mình trông nom, bảo vệ quyền lợi, ông quên rằng bắt đầu từ sáng nay, ông là người giám hộ rồi sao. Chức vụ mới này đặt ra cho ông nhiều bổn phận tế nhị. Ông phải khéo léo cách ly anh chàng trẻ tuổi này, ông phải… Này, tôi có biết phải làm gì không?…
Gélis trích những ghi chép trong tập sách duy nhất của tuôi “Cây đỗ tùng của các phu nhân lừng danh”. Tôi lấy hú họa trên bàn gần nhất một cuốn sách, mở ra và kính cẩn tham dự vào giữa một tấn thảm kịch của Sophocle. Về già, tôi yêu thích hai thời đại xa xưa, và từ nay về sau, những thi nhân Hy Lạp và Ý đều xếp đặt vừa tầm tay, trong nhà sách của tôi. Tôi đọc bản hợp xướng êm ái, rõ ràng triển khai khúc ngâm tao nhã giữa một hành động dữ dội, bản hợp xướng của các ông lão thành Thèbes, “Eros, chiến sĩ vô địch… Thần ái tình vô địch, người ơi, người sà xuống những nhà giàu, người yên nghỉ trên má mảnh mai của thiếu nữ, người vượt trùng dương, viếng thăm những chuồng trâu bò, không có ai bất tử cũng không có ai chết yểu, có thể lánh xa người, và ai chi phối đươc người thì cuồng nhiệt”. Và khi tôi đọc lại khúc hát tuyệt vời này, thì nhân vật Antigone[1] xuất hiện trước mắt tôi, trong trắng, bất di bất dịch. Những hình ảnh ghê thật, các thần và nữ thần phấp phới trên bầu trời trong sáng nhất! Ông lão mù lòa, nhà vua ăn xin lang thang, lâu ngày nhờ Antigone dắt dẫn, bây giờ nhận được phần mộ thánh và con gái họ đẹp như những hình ảnh đẹp nhất mà tâm hồn con người chưa bao giờ tưởng tượng nổi, chống lại bạo chúa và thành kính chôn cất anh nàng. Nàng yêu con trai bạo chúa, chàng trai này cũng yêu nàng. Và trong khi nàng chịu khổ hình nơi lòng sùng đạo đưa nàng đến thì các cụ già đều hát:
“Thần ái tình vô địch, ôi, người vồ bắt những nhà giàu, người yên nghỉ trên má mảnh mai của thiếu nữ…”
Tôi không phải một kẻ ích kỷ. Tôi đứng đắn, tôi phải nuối nấng dạy dỗ cháu gái này, cháu trẻ quá, tôi không thể lấy cháu. Không! Tôi không phải một kẻ ích kỷ, nhưng tôi phải giữ cháu lại ít năm với tôi, với một mình tôi. Cháu không thể chờ tôi chết chăng? Antigone hãy bình tâm. Ông già Oedipe sẽ kịp thời tìm được đất thánh cho nấm mồ của mình.
Lúc này Antigone đang giúp chị quản gia gọt vỏ củ cải. Chị bảo điều đó thuộc niệm vụ của chị như của nghệ thuật điêu khắc.
Tháng 5
Ai nhận ra được khu nhà sách? Bây giờ trên mọi đồ đạc đều có hoa, Jeanne có lý: Trong cái chậu màu xanh kia, thì các đóa hoa hồng trông rất đẹp. Mỗi ngày cháu theo chị Thérèse ra chợ mua hoa đem về. Những đóa hoa thực tế là những sáng tác thú vị.
Mong rằng một ngày nào đấy, tôi phải theo ý định của mình nghiên cứu chúng tại chỗ, ở thôn quê với tất cả khả năng đầu óc phương pháp của tôi.
Còn ở đây thì làm gì? Tại sao lại kết thúc việc làm cay mắt với những giấy má cũ kỹ không nói lên cái gì có giá trị? Xưa kia tôi đã đọc những văn bản cổ với lòng hăng say cao thượng. Vậy tôi hy vọng tìm được cái gì trong đó? Ngày tháng của một tổ chức sùng đạo, tên tuổi một vài tu sĩ làm tranh hay công việc biên chép, giá cả một cái bánh, một con bò hay một đám ruộng, một cách bố trí hành chính hay tư pháp, cái đó và còn cái gì nữa, cái gì huyền bí mơ hồ cao cả đã kích thích cảm hứng của tôi. Cái điều gì đó trải qua sáu mươi năm tìm kiếm tôi vẫn không thấy. Những người xứng đáng hơn tôi, những bậc thầy, những vĩ nhân, những Faurie, những Thierry đã phát minh bao nhiêu việc, đã chết trong khi làm nhiệm vụ cũng không phát minh ra cái gì đó không có hình hài, không có tên tuổi, nhưng không có nó thì không có công trình nào của trí tuệ sẽ đươc thực hiện trên quả đất này. Bây giờ tôi chỉ mong tìm cái gì có thể tìm ra một cách hợp lý, nhưng tôi không tìm được gì hết nữa và có thể tôi sẽ không bao giờ hoàn thành cuốn sử của thầy tu nhà thờ Saint-Germain-des-Prés.
- Bác giám hộ, bác đoán xem cháu đang có cái gì trong khăn tay đây.
- Có thể là những bông hoa.
- Ồ! Không, không phải hoa – Này, bác nhìn xem.
Tôi nhìn, thì ra một cái đầu nhỏ của chú mèo con màu xám thò ra ngoài khăn tay. Chiếc khăn mở ra, con vật nhảy lên tấm thảm, cụ cựa, vểnh tai này, rồi tai kia, thận trọng quan sát chung quanh và mọi người.
Chiếc thúng cầm tay, chị Thérèse thở hổn hển đi tới. Khuyết điểm của chị là không để bụng điều gì. Chị trách mắng dữ dội tiểu thư đã đem con mèo về mà chị không biết. Để tự bào chữa, Jeanne kể lại câu chuyện tình cờ này… Cùng với chị Thérèse đi qua cửa hàng dược phẩm, cháu thấy một gã học việc đá ra đường một chú mèo con. Chú mèo sửng sốt bực bội, tự hỏi nếu cứ ở ngoài đường mặc cho khách vãng lai xô đẩy, làm cho khiếp sợ hay đá trở về cửa hàng để rồi có thể lại bị một cú mũi giày đá ra đường nữa thì sao. Jeanne cho là nó đã ở vào tình thế nguy khốn, nó đang lưỡng lự nên có vẻ ngơ ngẩn. Cháu đưa tay bế nó lên, tuy phân vân không thoải mái nhưng rồi nó cũng cam chịu, và yên tâm với những cái vuốt ve của cháu. Cháu nói với gã học việc dược sĩ:
- Nếu con vật này làm ông bực mình, xin ông đừng đánh nó và ông hãy cho tôi.
- Cô hãy bắt lấy, – gã dược sĩ đáp.
- Đấy!… – Jeanne nói thêm để kết luận.
Rồi cháu bắt đầu ngọt giọng dành mọi cử chỉ dịu dàng cho con mèo.
- Nó gầy quá – tôi vừa nói vừa quan sát con vật đáng thương – hơn nữa, nó xấu xí quá.
Jeanne không cho nó là xấu xí, nhưng thấy nó có vẻ ngớ ngẩn hơn bao giờ; theo cháu lần này không phải là do dự mà là sự ngạc nhiên khiến gương mặt nó trông buồn thiu. Cháu nghĩ nếu chúng ta ở vào địa vị nó, chúng ta sẽ nhất trí rằng nó không thể không hiểu gì hết về cuộc mạo hiểm của mình. Chúng ta chế giễu con vật tội nghiệp đang giữ vẻ nghiêm nghị buồn cười. Jeanne muốn bế nó nhưng nó trốn dưới gầm bàn, không chịu ra dù đã thấy một đĩa sữa để đó.
Chúng tôi đi tránh xa thì chỉ còn cái đĩa không.
- Jeanne – tôi nói – kẻ được cháu che chở có vẻ mặt buồn bã, nhưng bản tính nó xảo trá. Bác mong rằng nó không phạm phải những hành động xấu trong nhà sách buộc chúng ta phải trả nó lại cửa hàng dược phẩm. Trong khi chờ đợi, phải đặt tên cho nó. Bác đề nghị gọi nó là Don Gris de Gouttìere; nhưng cái tên này có lẽ hơi dài. Gọi là Pilule, Drogue hay Ricin thì ngắn gọn hơn và được cái lợi là khiến ta nhớ tới cái thân phận ban đầu của nó. Cháu nghĩ sao?
- Gọi nó là Pilule là hay nhất – Jeanne đáp – Nhưng tốt hơn là đặt cho nó cái tên nào khiến nó luôn luôn nhớ tới những tai họa mà chúng ta đã giải thoát cho nó và sẽ khiến nó biết đền đáp lòng mến khách của chúng ta. Ta nên khoan dung đặt cho nó cái tên thật đẹp, hy vọng nó xứng đáng với cái tên đó. Nó nhìn chúng ta như thế, nó thấy người ta săn sóc nó. Từ khi hết khốn khổ, nó đã bớt ngu dốt hơn. Cháu hiểu lắm, tai họa làm cho con người đần độn.
- Này, nếu cháu muốn thế, ta sẽ gọi con vật được cháu che chở là Hannibal. Trước hết sự tương hợp của cái tên này không làm cháu ngạc nhiên. Nhưng con mèo Angora ở nhà sách trước, bác thường tâm sự với nó, vì nó hôn ngoan kín đáo, tên nó là Hamilcar. Tên này đẻ ra tên nọ, như thế con Hannibal nối nghiệp con Hamilcar là lẽ đương nhiên.
Chúng tôi nhất trí về điểm này.
- Hannibal lại đây! – Jeanne gọi to.
Sợ sệt vì độ vang lạ thường của cái tên riêng của nó, con Hannibal đến nấp dưới một tủ sách trong một khoảng nhỏ đến con chuột cũng không ở được.
Đấy, một cái tên phi thường được đặt đúng.
Ngày hôm ấy tôi làm việc theo thói quen, vừa nhúng bút vào lọ mực thì nghe có tiếng gọi cửa.
Nếu có ngày một vài kẻ nhàn rỗi đọc những trang viết nguệch ngoạc này của một ông già không có sức tưởng tượng, họ sẽ rất coi thường những cú chuông kia lúc nào cũng vang lên trong quá trình theo dõi diễn biến câu chuyện của tôi mà không thấy có nhân vật mới, cũng không thấy sắp đặt một tình huống bất ngờ. Trái lại về sân khấu, ông Scribe lại có ý thức chỉ thả lỏng sự vui thích quá lắm của các bà, các cô – Nghệ thuật như thế đó. Tôi thà tự treo cổ còn hơn là viết một bản hài kịch thông tục, không phải vì coi khinh cuộc đời mà vì tôi không thể sáng tạo ra cái gì để giải trí. Sáng tạo! Phải hấp thụ ảnh hưởng sâu kín mới làm được. Thiên tư này có thể sẽ tai hại đối với tôi. Người ta thấy trong cuốn sử tu viện Saint-Germain-des-Prés của tôi, tôi hư cấu một vài thầy tu trẻ măng. Các nhà bác học trẻ nghĩ sao? Tai tiếng cho nhà trường biết mấy! Còn Học viện sẽ không nói gì và cũng không suy nghĩ gì thêm. Các bạn đồng nghiệp của tôi, nếu họ còn viết một ít, họ cũng không còn đọc gì nữa hết. Họ theo ý kiến của Parny:
Một sự dửng dưng bình tĩnh
Là đức tính khôn ngoan nhất.
Càng ít bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, những tín đồ Phật giáo nọ cố theo hướng đó mà không hay. Nếu đó là đạo lý đúng mực hơn thì tôi sẽ đi trình bày với La Mã. Tất cả điều đó liên quan đến tiếng gõ cửa của Gélis.
Con người trẻ tuổi này đã thay đổi triệt để lối sống. Trước chàng hời hợt thì nay chàng trịnh trọng, trước chàng ba hoa thì nay ít nói. Jeanne theo gương chàng. Chúng tôi đang trong trạng thái say đắm bị dồn nén lại. Bởi vì tuy già nua, nhưng tôi không nhầm lẫn: Đôi trẻ này yêu nhau vững bền và lâu dài. Bây giờ thì Jeanne tránh mặt chàng, cháu trốn vào buồng khi chàng vào thư viện. Nhưng lúc một mình, cháu tâm sự với chàng bằng tiếng dương cầm với tiết tấu dồn dập rung vang biểu lộ một tâm hồn non trẻ.
Này, tại sao không bày tỏ điều đó? Tại sao không thú nhận sự yếu đuối của mình? Tính ích kỷ của tôi, nếu tôi che giấu với mình thì có thể trở nên ít đáng chê trách hơn không? Vậy tôi sẽ bảo: Vâng, tôi chờ đợi chuyện khác; vâng, tôi tính giữ tiểu thư riêng cho tôi, như con trai tôi, như con gái yêu của tôi, không phải mãi mãi, cũng không lâu, nhưng một vài năm nữa. Tôi đã già. Có thể Jeanne không đợi tôi. Và ai biết được? Với bệnh thống phong, thêm vào là viêm khớp, có lẽ tôi sẽ không quá lạm dụng sự kiên nhẫn của cháu. Đó là mong ước của tôi, là hy vọng của tôi. Tôi tính toán nếu không có cháu, không có anh chàng lơ đễnh kia thì sao. Nhưng nếu sự tính toán là xấu xa thì sự tính nhầm không kém phần độc ác. Rồi tôi lại nghĩ rằng: Này anh bạn Sylvestre Bonnard của ta, mày kết tội mày quá nhẹ. Nếu mày muốn giữ thiếu nữ này một vài năm nữa, đó là vì lợi ích của thiếu nữ cung như của mày. Thiếu nữ phải học tập nhiều và mày chẳng phải là ông thầy đáng khinh. Khi viên công chứng Mouche một kẻ đã tiến hành từ hồi ấy, một hành động đểu giả đúng lúc đến thế, đến thăm mày, mày đã trình bày với hắn cách giáo dục của mày bằng nhiệt tình của một tâm hồn say mê. Tất cả sự hăng hái của mày nhằm tới việc áp dụng cách thức đó thì Jeanne là kẻ phụ bạc, còn Gélis là một tên quyến rũ.
Nhưng cuối cùng, tôi không đuổi chàng mà phải đón tiếp chàng có thể do sở thích và tình cảm đáng ghét. Chàng ngồi đợi trong phòng khách nhỏ của tôi đã khá lâu, đối diện với những lọ vừng Sèvres của vua Louis Philippe tặng tôi. Bức tranh “Những người thợ gặt” và “Những người đánh cá” của Léopold Robert được vẽ trên các lọ sành này mà Gélis và Jeanne đều nhất trí với nhau là xấu kinh người.
“Con thân yêu, hãy tha lỗi cho ta không tiếp con ngay vì ta phải hoàn thành một công việc…”.
Tôi nói thật: Trầm ngâm suy nghĩ là một công việc nhưng Gélis không hiểu như vậy; chàng tưởng là vấn đề khảo cổ học và mong tôi hoàn thành nhanh cuốn sử các tu sĩ nhà thờ Saint-Germin-des-Prés. Chỉ sau khi tỏ ra quan tâm đến công trình đó, anh chàng mới hỏi tôi về sức khỏe tiểu thư Alexandre thế nào. Với một giọng khô khan chứng minh quyền lực tinh thần của người giám hộ, tôi trả lời: “Rất tốt”.
Sau một lúc im lặng, chúng tôi nói chuyện về trường phái kinh viện, về những tài liệu mới xuất bản và về những tiến bộ trong khoa sử học – Chúng tôi đi vào những đại cương của phương sách lớn. Tôi cố gắng khắc sâu vào tâm trí Gélis một ít thái độ trọng thị đối với thế hệ các sử gia trong đó có tôi. Tôi bảo anh chàng: “Lịch sử đã từng là một nghệ thuật, đã chứa đựng tất cả mọi lức tưởng tượng ngông cuồng, thì trong thời đại chúng ta ngày nay, trở thành một khoa học phải tiến hành với một phương pháp chính xác”.
Gélis xin phép không tán thành ý kiến của tôi. Anh chàng tuyên bố với tôi rằng anh không tin lịch sử là một khoa học mà cũng không bao giờ trở thành một khoa học.
- Và trước hết – anh nói – lịch sử là gì? Là sự thể hiện bằng chữ nghĩa những sự kiện đã qua. Nhưng sự kiện là gì? Có phải là một việc nào đó không? Không phải! Đó là một việc nổi tiếng. Thế mà, lịch sử đánh giá thế nào một sự việc nổi tiếng hay không. Nó đánh giá tùy tiện theo thị hiếu, theo ý thích thất thường, theo quan niệm của nó và cuối cùng là với tư cách người nghệ sĩ, bởi vì những sự việc do bản chất đặc biệt của nó, không chia ra thành những sự việc do bản chất đặc biệt của nó, không chia ra thành những sự việc lịch sử và phi lịch sử. Vả lại một sự việc là điều gì đó cực kỳ phức tạp của chúng không? Không, điều này không thể được. Họ sẽ trình bày với chúng thiếu nhiều đặc điểm đã cấu tạo chúng, vì thế bị cắt xén, xuyên tạc khác với cái chúng đã tồn tại thực sự. Còn về mối quan hệ giữa các sự kiện, chúng ta không bàn đến. Nếu một sự kiện gọi là lịch sử được viện dẫn, điều này có thể có, do một hoặc nhiều sự việc không có thực trong lịch sử và như một số sự kiện nào đó, chưa ai biết, thì có cách nào cho nhà sử học đánh dấu mối quan hệ các sự kiện với nhau. Thưa bác Bonnard, trong tất cả mọi điều cháu phát biểu đó, cháu giả định rằng nhà sử học có dưới mắt họ những bằng chứng chắc chắn, còn thực ra, họ chỉ tín nhiệm những bằng chứng này, nọ với những lý do cảm tính. Lịch sử không phải là một khoa học, đó là một nghệ thuật và người ta chỉ thành công do sức tưởng tượng mà thôi.
Lúc ấy, Gélis làm tôi nhớ lại một thằng điên trẻ nào đó mà hôm nào, tôi nghe hắn nói dông dài quàng xiên trong công viên Luxembourg dưới tượng đài Marguerite de Navarre. Và đây ở một khúc ngoặt của câu chuyện, chúng tôi gặp nhau, mặt giáp mặt với Walter Scott, nhà thơ và là nhà tiểu thuyết này, anh chàng trẻ tuổi khinh người của tôi tìm thấy một dáng vẻ lỗi thời theo lời người hát thơ rong, với giọng nam cao. Đó là những lời phát biểu của chính anh ta.
- Nhưng – tôi nói một cách sôi nổi để bảo vệ người cha hào hoa của Lucy và cô gái xinh đẹp của Perth – tất cả quá khứ sống mãi trong những tiểu thuyết tuyệt diệu của họ – đó là lịch sử, đó là sử thi.
- Đó là quần áo cũ rích – Gélis trả lời tôi.
Và bạn có tin rằng đứa trẻ rồ dại này, khẳng định với tôi là, dù có thông thái bao nhiêu, người ta cũng không thể suy tưởng chính xác cách sống của loài người cách đây năm hoặc mười thế kỷ, bởi vì ngay tới cách sinh sống của con người cách đây mươi hay mười lăm năm, người ta cũng phải khó khăn lắm mới hình dung nổi một cách tương đối. Đối với những anh chàng này, sử ca, tiểu thuyết lịch sử, tranh lịch sử đều là những thứ dối trá tồi tệ.
- Trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật – anh chàng nói thêm – người ngệ sĩ chỉ miêu tả tâm hồn mình; tác phẩm của họ, dù cái vỏ bề ngoài thế nào, vẫn là người cùng thời tinh thần của họ. Chúng ta khâm phục cái gì trong “Hài kịch thần thánh”, nếu chẳng phải là tâm hồn cao thượng của Dante? Và những tượng đá hoa của Michello Angelo thể hiện với ta cái gì khác thường, nếu chẳng phải chính là Michel Angelo đó sao? Là nghệ sĩ, người ta dâng đời mình cho những sáng tạo hay là người ta gọt đẽo những con rối và mặc quần áo cho những con búp bê.
Bao nhiêu ý kiến ngược đời và lời lẽ vô lễ! Nhưng sự táo tợn đó ở một người trẻ tuổi không làm tôi phật ý. Gélis đứng, ngồi không yên, tôi thừa biết anh bận tâm điều gì và chờ đợi ai. Con người này đây đã nói với tôi món tiền một nghìn năm trăm quan kiếm được cộng vào khoản lợi tức nhỏ bé hai nghìn quan thừa kế gia sản. Nhưng những chuyện tâm sự này của anh không lừa được tôi. Tôi hiểu rõ anh phô trương tài khoản nhỏ như thế cốt để tôi hiểu rằng anh là người đã trưởng thành, có nền nếp, có công ăn việc làm, được hưởng tô tức để nói lên mọi sự là: Cưới vợ được rồi. C. Q. F. D. (đó là điều phải chứng minh) như những nhà toán học đã nói.
Anh đứng lên, ngồi xuống vài chục lần. Đến lần thứ hai mưoi mốt, vì không thấy Jeanne, anh chàng ra về buồn tiếc.
Ngay khi anh chàng đi khỏi, Jeanne vào nhà sách lấy cớ là trông nom con Hannibal. Cháu đau buồn ảo não gọi con mèo đến cho nó ăn sữa. Bonnard, ngươi hãy nhìn gương mặt ủ ê kia. Tên bạo ngược! Hãy ngắm công trình của ngươi. Ngươi bắt chúng nó xa nhau, nhưng chúng nó cùng một sắc mặt và qua những nét biểu hiện giống nhau của chúng nó, ngươi thấy rằng, dù ngươi không muốn, chúng cũng gắn bó với nhau trong tâm tưởng. Hỡi họa sĩ Cassandre, ông gặp may! Hỡi nhà điêu khắc Bartholo! Hãy vui mừng lên! Đó là thế nào được làm một người giám hộ. Các ông có thấy cô nàng quỳ trên tấm thảm, hai tay ôm đầu con Hannibal không?
Được, hãy vuốt ve con vật ngốc nghếch này! Hãy thương xót nó! Hãy rên rỉ với nó! Hỡi cô bé không ngay thật thân yêu, người ta hiểu những tiếng thở dài của cháu sẽ đi tới đâu và điều gì khiến cháu rên rỉ.
Điều đó tạo thành một bức tranh mà tôi lặng ngắm hồi lâu; rồi sau cùng tôi liếc nhìn thư viện, nói:
- Jeanne, bác chán ngấy những cuốn sách kia, chúng ta sẽ đem đi bán chúng.
Ngày 20 tháng 9
Chúng nó là vợ chồng chưa cưới, đó là cái chắc, Gélis mồ côi như Jeanne, ngỏ lời cầu hôn với tôi qua một giáo sư của anh là bạn đồng nghiệp của tôi, người được đánh giá cao do trình độ học vấn và tính tình của ông. Nhưng trời ơi! Sứ giả của tình yêu gì mà kỳ thế. Một người cà khịa, không phải là dân quê mùa vùng Pyrénées, mà là một học giả thô lỗ, và điều khác nhau thứ hai này ghê gớm nhiều hơn điều thứ nhất.
“Đúng hay sai (theo tôi thì sai) Gélis không thiết của hồi môn; hắn lấy con bé được anh giám hộ cùng với chiếc áo sơ mi của thiếu nữ mà thôi. Anh ừ cho một tiếng là xong. Nhanh lên, tôi muốn đưa anh xem vài ba đồng tiền vùng Lorraine khá lạ mà chắc anh chưa biết”.
Đó là điều ông ấy nói đúng từng chữ. Tôi trả lời là sẽ hỏi ý kiến Jeanne và tôi chẳng vui thích chút nào để cho ông biết rằng con bé tôi giám hộ, có của hồi môn.
Của hồi môn thì đấy! Đó là tủ sách của tôi. Henri và Jeanne không đời nào nghi ngờ điều đó, thông thường thiên hạ tưởng tôi giàu có hơn mà tôi thì không giàu. Tôi có gương mặt một lão già hà tiện – Nhất định là gương mặt rất dối trá, khiến tôi đáng được quý mến nhiều. Không có hạng người nào được kính trọng ngang hàng với kẻ giàu có keo kiệt.
Tôi đã hỏi ý kiến Jeanne, nhưng cần gì nghe cháu trả lời để hiểu cháu. Chúng nó là vợ chồng chưa cưới, đó là cái chắc.
Theo dõi đôi trẻ này, chú ý lời ăn tiếng nói, cử chỉ của chúng nó là không hợp với tính tình cũng như diện mạo của tôi. Đừng đụng đến tôi. Đó là danh ngôn của những tình yêu cao thượng. Tôi hiểu bổn phận của mình, đó là phải kính trọng điều thầm kín của con người ngây thơ mà tôi chăm sóc. Mong rằng đôi trẻ yêu nhau! Không có những thổ lộ tâm tình dài lâu của chúng, không có những điều khinh suất trong trắng ngây thơ nào của chúng được người giám hộ già nua mà quyền lực ôn hòa tồn tại không lâu đến thế, ghi lại trong quyển vở này.
Vả lại tôi không bó tay, nếu chúng nó có công việc của chúng thì tôi có công việc của tôi. Tự tay tôi lập một nhiệm vụ làm tôi đau khổ, đồng thời cũng làm tôi vui thích. Tôi kéo rê công việc có lẽ lâu hơn quá mức một ít, những tập sách quen thuộc đến thế với tư tưởng tôi, với tay tôi, với mắt tôi. Đó là một cách chào vĩnh biệt, bản tính con người lúc nào cũng muốn kéo dài nhưng cuộc vĩnh biệt mà.
Tập sách dày cộm này đã phục vụ tôi rất nhiều từ ba mươi năm nay, có thể nào tôi rời bỏ nó mà không vó sự tôn trọng phải có đối với một người đầy tớ tốt, người đầy tớ đã làm vững lòng tôi với học thuyết đúng đắn của nó, há tôi chẳng nên chào nó như một bậc thầy lần cuối cùng hay sao? Nhưng mỗi lần tôi gặp một cuốn sách lừa phỉnh tôi, đã gây đau khổ cho tôi vì những ngày tháng sai, những thiếu sót, những hư ngôn và những lý thuyết độc hại khác của nhà khảo cổ học, thì với niềm vui cay đắng, tôi bảo nó: “Nào, nào, tên bịp bơm, tên phản bội, tên làm chứng dối trá, hãy trốn khỏi tao, hãy cút đi. Và phải chăng là mày có thể phủ đầy vàng trái với lẽ thường, đi vào tủ kín của một viên chức hối đoái nghiện sách nào đó mà mày có thể mua chuộc như đã mua chuộc tao, bởi vì hắn ta không bao giờ đọc mày”.
Tôi để riêng ra, để giữ mãi mãi những cuốn sách người ta tặng tôi làm kỷ niệm. Khi đặt vào trong số này bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu, tôi muốn hôn nó để tưởng nhớ phu nhân Trépof vẫn còn hàm ơn, mặc dù sống trong cảnh phú quý, một người đàn bà muốn chịu ơn tôi, lại trở thành nữ ân nhân của tôi. Tôi có kho sách riêng. Chính bây giỡ tôi mới hiểu thế nào là tội ác. Những tà dục đến cám dỗ về đêm cho đến lúc bình minh thì không thể nào cưỡng lại chúng. Lúc ấy, khi mọi người còn ngủ thì tôi thức dậy và lén lút chạy ra khỏi phòng.
Lũ ma quỷ yêu quái, nếu sau tiếng gà gày, chúng mày kề cà ở nhà tao, chúng mày thấy ngay lúc ấy tao nhón chân len lỏi vào nhà sách, chắc chắn chúng mày sẽ không kêu lên như phu nhân Trépof ở Naples: “Ông già này có cái lưng thanh nhã!”. Tôi vào nhà, con Hannibal thẳng đuôi, vừa gừ gừ vừa cọ xát vào chân tôi. Tôi tóm lấy một tập sách trên chiếc bàn con, tác phẩm của một vài kiên trúc sư đáng tôn kính hay một thi nhân thanh cao thời Phục hưng, đồ quý giá, bảo vật mà tôi mơ tưởng cả đêm tôi mang đi dúi vào đáy tủ đầy ắp những sách để dành. Nói ra thì thật ghê tởm: Tôi ăn trộm của hồi môn của Jeanne, và khi tội ác đã hoàn thành, tôi lại bắt đầu hăng hái lập danh mục cho đến lúc Jeanne đến hỏi ý kiến tôi một vài chi tiết về trang điểm hay về quần áo mang theo của cô dâu. Tôi không bao giờ hiểu nổi đó là vấn đề gì, vì không thông thạo từ ngữ hiện thời về nghề may quần áo và đồ lót của nữ. Chà! Nếu mong có một vị hôn thê nào đó của thế kỷ XIV bàn với tôi chuyện trưng diện thì hay quá. Tôi sẽ hiểu ngôn ngữ của cô nàng. Nhưng Jeanne không cùng thời với tôi, nên tôi bảo cháu đến gặp bà De Gabry giúp cháu với tư cách người mẹ lúc bấy giờ.
Trời tối, bóng đêm đã đến! Chống khuỷu tay trên cửa sổ, chúng tôi nhìn vào khoảng không bao la đen ngòm, lỗ chỗ những điểm sáng. Jeanne cúi mình trên thanh chống, tay bóp trán vẻ buồn bã. Tôi quan sát và tự nhủ: “Tất cả mọi đổi thay cả đến những đổi thay mong ước nhất đều kéo theo sầu muộn, bởi vì cái mà chúng ta từ bỏ chính là một phần của chính chúng ta; phải chết vì một cuộc đời để bước vào một cuộc khác”.
Như đáp lại suy tư của tôi, thiếu nữ nói: “Bác giám hộ của cháu, cháu rất hạnh phúc, thế nhưng cháu lại muốn khóc”.
TRANG CUỐI CÙNG
Ngày 21 tháng 8 năm 1882
Trang thứ tám mươi bảy… Còn chừng hai mươi dòng nữa thì cuốn sách của tôi về sâu bọ và hoa lá sẽ kết thúc. Trang thứ tám mươi bảy và là trang cuối cùng… Như người ta vừa thấy, những cuộc viếng thăm của sâu bọ có tầm quan trọng to lớn đối với cây cối, quả vậy, chúng đảm nhận vận chuyển đến nhụy cái, phấn hoa của nhụy đực. Hình như hoa trang điểm sẵn sàng chờ đón cuộc thăm viếng có tính chất hôn lễ này. Tôi tin rằng đã chứng minh là tuyến mật hoa để nhỏ ra từng giọt nước ngọt quyến rũ con sâu và buộc nó tiến hành một cách không tự giác sự thụ tinh trực tiếp hay lai tạo. Phương thức sau cùng này là phổ biến nhất. Tôi đã trình bày rằng những đóa hoa đều có hương và sắc để lôi cuốn sâu bọ và được cấu tạo bên trong bằng cách phô ra cho các vị khách đến thăm này một lối đi qua thế nào, mà khi đi vào tràng hoa, chúng đặt được phấn hoa chúng mang theo đầy lên trên đầu nhụy – Sprengel bậc thầy đáng kính của tôi, đã nói về lông to phủ kín tràng hoa loại cây mỏ hạc trong rừng; “Đấng tạo hóa khôn ngoan không muốn sản sinh ra dù chỉ một cái lông thừa”. Đến lượt tôi phát biểu: “Nếu hoa huệ ngoài đồng mà sách Phúc Âm nói tới khoác bộ cánh sang trọng hơn vua Salomon, thì cái áo choàng bằng vải nhuộm tía cuả nó là một cái áo choàng trong lễ cưới và đồ trang sức trang trọng này là một sự cần thiết cho cuộc sống vĩnh hằng”.
Brolles ngày 21 tháng 8 năm 1882
Brolles! Nhà tôi ở cuối đường làng đi vào rừng. Đó là một căn nhà có đầu hồi mái lợp đá đen lóng lánh ngũ sắc dưới ánh mặt trời như ức chim bồ câu. Cây chong chóng chỉ chiều gió dựng trên mái nhà đáng cho tôi quý mến hơn tất cả những công trình sử học và ngữ văn học của tôi ở quê hương. Không một chú nhóc nào không biết cây chong chóng của ông Bonnard. Nó đã han gỉ và kêu cọt kẹt the thé theo chiều gió. Thỉnh thoảng nó dở chứng khước từ mọi việc như chị Thérèse vừa càu nhàu vừa để cho chị nhà quê trẻ tuổi giúp mình một tay.
Căn nhà không lớn, nhưng tôi sống thoải mái ở đây. Buồng tôi có hai cửa sổ tiếp nhận ánh nắng đầu tiên. Phía trên là buồng trẻ con. Mỗi năm hai lần Jeanne và Henri đến ở đây.
Bé Sylvestre có cái nôi treo đó. Nó là chú nhóc xinh đẹp, nhưng rất xanh xao – Khi cháu chơi trên cỏ mẹ cháu lo lắng nhìn nó, theo dõi nó và hay ngừng may vá để bế con lên đầu gối. Thằng bé tội nghiệp không muốn ngủ. Nó bảo là khi ngủ, nó đi rất xa, rất xa đến một chốn đen ngòm và trông thấy những vật làm cho nó sợ hãi và nó không muốn nhìn nữa.
Lúc ấy, mẹ nó gọi tôi và tôi đến ngồi cạnh nôi; bàn tay nhỏ bé nóng hổi, khô khan của nó cầm một ngón tay tôi và nói:
- Cha đỡ đầu, cha phải kể chuyện cho con nghe.
Tôi kể cho cháu mọi thứ chuyện hoang đường, cháu nghe một cách nghiêm trang. Tất cả đều gây hứng thú cho cháu, nhưng có một chuyện khiến cho tâm hồn bé bỏng của nó lấy làm kinh ngạc thán phục nhất. Đó là chuyện Con chim xanh. Khi tôi kể xong, nó bảo:
- Kể nữa, kể nữa đi!
Tôi lại bắt đầu lại và cái đầu xanh xao, nổi gân của nó rơi xuống gối.
Đối với mọi câu hỏi của chúng tôi, thầy thuốc trả lời:
- Không có gì khác thường.
Không! Thằng bé Sylvestre không có gì khác thường. Một tối năm vừa qua, cha nó gọi tôi:
- Mời bác đến, thằng cháu ốm nặng.
Tôi lại gần nôi, mẹ nó đứng yên bên cạnh, mọi nghị lực của tâm hồn hướng vào nó. Thằng bé chậm chạp quay sang tôi, hai mắt mở to dưới mí và không muốn nhắm lại nữa.
- Cha đỡ đầu ơi – nó nói – không cần phải kể chuyện cho con nghe nữa.
Không, không cần phải kể chuyện cho nó nữa.
Tội nghiệp cho Jeanne, tội nghiệp một người mẹ.
Tôi quá già nua, không còn nhiều nhạy cảm, nhưng hẳn cái chết của thằng bé là điều bí ẩn đau lòng.
Hôm nay cha mẹ nó trở lại dưới mái nhà ông già trong sáu tuần lễ. Thế là họ từ rừng, giơ tay đỡ nhau đi trở về. Jeanne gọn gàng trong chiếc áo choàng không tay màu đen, còn Henri mang một cái băng tang trên mũ rơm; nhưng cả hai đều sáng rực tuổi thanh xuân, họ dịu dàng mỉm cười với nhau, với quả đất sản sinh ra họ, với không khí bao quanh họ, với ánh sáng lấp lánh tron mắt mỗi người. Từ cửa sổ tôi lấy khăn tay ra hiệu cho họ, và họ hớn hở tươi cười trước cảnh già yếu của tôi.
Jeanne nhanh nhẹn bước lên cầu thang, ôm hôn tôi và thì thầm bên tai tôi mấy lời mà tôi đoán ra hơn là nghe được, lúc ấy tôi trả lời cháu:
- Jeanne, cầu Chúa ban phúc cho các con, con và chồng con, mãi mãi cho đến đời sau xa xôi nhất của con. Và lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Người.
❀ ❀ ❀
[1] Antigone là con gái Oedipe – Oedipe là vua thành Thèbes, phạm tội giết cha và loạn luân với mẹ. Kinh hãi trước hai tội ác tày trời, Oedipe đã tự trừng phạt bằng cách chọc mù hai mắt rồi mặc quần áo ăn mày, có con gái là Antigone dẫn đường dắt cha đi ăn xin. Sau khi cha chết, nàng quay về thành Thèbes. Trong thời gian này, hai anh trai nàng đã giết chết nhau trong một cuộc chiến để giành giật ngôi báu. Tên bạo chúa Créon (kẻ kế vị Oedipe) cấm chôn cất một người anh của nàng bị coi là kẻ phản bội. Nhưng Antigone, vì tình nghĩa con người, vì tình nghĩa anh em đã trái lệnh vua, cứ làm lễ mai táng cho anh, nàng bị kết án chôn sống. Antigone đã thắt cổ tự tử, còn vị hôn phu của nàng là con trai của Créon cung tự sát (theo thần thoại Hy Lạp – La Mã).