Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Lượt đọc: 332 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần Một - Khúc Củi

❊ ❊ ❊

Phần một

KHÚC CỦI

Ngày 24 tháng 12 năm 1861

Tôi xỏ chân vào giày vải, khoác lại áo mặc trong nhà rồi lau giọt nước mắt do cơn gió bấc thổi ngoài bến tàu làm cho tôi tối tăm mặt mũi. Lửa rực sáng trong lò sưởi phòng làm việc của tôi. Những tinh thể băng tuyết hình lá dương xỉ phủ đầy bên ngoài mặt kính các cửa sổ, che lấp con sông Seine, các cây cầu và cung điện Louvre des Valois.

Tôi đẩy ghế bành và bàn di động đến gần lò sưởi chiếm lấy chỗ của chú mèo Hamilcar. Nó nằm khoanh tròn trên chiếc ghế lông, bốn chân ôm lấy mũi, ở đầu các thanh gác củi. Một làn gió đều đều phe phẩy bộ lông dày và nhẹ của nó. Thấy tôi đến gần, nó hé hai hàng mi, đưa cặp mắt mã não ra nhìn dịu dàng rồi nhắm lại ngay, nghĩ rằng: “Không hề gì, đó là bạn ta.” “Hamilcar!”. Tôi vừa kéo chân vừa gọi nó – “Hamilcar, ông hoàng ngủ gà của khu nhà sách, người canh gác ban đêm ơi! Mày chống lũ gặm nhấm hèn hạ, bảo vệ những bản thảo và ấn phẩm mà nhà bác học già nua đã mua với số tiền dành dụm ít ỏi là lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Hamilcar, trong chốn thư viện im lặng này được các đức tính nhà binh của mày bảo vệ, mày hãy ngủ ung dung đài các như một bà hoàng! Bời vì ở mày hội tụ được dáng vóc tuyệt vời của một quân nhân Hung Nô với vẻ yêu kiều của một phụ nữ phương Đông. Hỡi chú Hamilcar anh hùng và thích khoái lạc, hãy vừa ngủ vừa chờ cơ hội lũ chuột nhảy múa dưới ánh trăng, trước giáo đường của nhà thông thái giáo phái Bông-lăng”.

Lời mở đầu bài diễn văn này làm vui lòng con Hamilcar, nó phụ theo bằng một tiếng khò khò trong họng như tiếng reo trong ấm nước sôi. Nhưng khi tôi cất cao lời nói, con Hamilcar cụp tai xuống, nhăn cái trán vằn, có ý cảnh cáo tôi nói năng cầu kỳ hoa mỹ như vậy là nghe chướng và nó nghĩ:

“Con người sách vở này nói năng chẳng đâu vào đâu, còn bà quản gia thì bao giờ cũng chỉ tuôn ra những lời lẽ đầy ý nghĩa, chứa đựng sự việc, hoặc báo tin một bữa ăn hoặc một trận đòn. Người ta biết chắc điều gì bà nói. Còn ông già này ghép lại những âm chẳng có ý nghĩa gì hết”.

Con Hamilcar nghĩ như vậy đó. Để mặc cho nó suy tư, tôi mở một cuốn sách và chăm chú đọc. Đó là cuốn danh mục các bản thảo. Tôi thấy không có gì dễ dàng hơn, thú vị hơn, êm đềm hơn bằng đọc một cuốn danh mục. Cuốn danh mục tôi đọc, do ông Thompson, cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh, soạn thảo vào năm 1824 là cuốn sách hỏng, đúng thế, vì sự vắn tắt quá đáng và không thể hiện chút nào thứ chính xác mà các nhà lưu trữ thế hệ tôi đầu tiên đưa vào các tác phẩm về ngoại giao và về khoa chữ cổ. Nó chưa hoàn hảo, phái đoán mò. Có lẽ vì thế mà khi đọc nó, theo một bản tính tưởng tượng phong phú hơn bản tính của mình, tôi có cái cảm giác đáng được gọi là sự mơ mộng. Tôi lâng lâng thả mình trong dòng suy tư lơ mơ thì chị quản gia bằng một giọng cáu kỉnh bảo tôi biết có ông Coccoz yêu cầu nói chuyện với tôi.

Quả nhiên, một người nào đó lặng lẽ theo chị đi vào thư viện. Đó là một con người bé nhỏ, một con người bé nhỏ thảm hại, vẻ mặt ốm yếu, mặc chiếc áo mỏng dài đến đầu gối. Anh tiến về phía tôi, cúi chào mỉm cười nhiều lần, một cách tự tin. Anh rất đỗi xanh xao, tuy còn trẻ và nhanh nhẹn, nhưng hình như đang ốm. Nhìn anh, tôi nghĩ tới một con sóc bị thương. Anh cầm trong tay một mảnh vải bọc hàng màu xanh, đặt lên ghế, rồi mở bốn đầu mối của mảnh vải, để lộ một lô sách màu vàng.

- Thưa ông – lúc ấy anh cất tiếng – tôi không có hân hạnh được ông quen biết. Thưa ông, tôi là người môi giới cho hiệu sách. Tôi làm việc này cho các nhà buôn chính ở thủ đô, và với hy vọng rằng ông vui lòng cho tôi được hết sức tự hào về sự tin cậy của ông, tôi xin tự tiện mời ông một vài cuốn sách mới.

Trời đất ơi! Sách mới gì mà con người Coccoz nhỏ bé này mời tôi mua thế. Tập thứ nhất anh ta đặt vào tay tôi là cuốn Lịch sử tháp chiến Nesle với những chuyện dan díu giữa Margurite de Bourgogne và đại tá Buridan.

- Đó là cuốn sách lịch sử. – Anh vừa cười vừa bảo tôi. – Một cuốn sách đích thực.

- Trong trường hợp này – tôi đáp – thì chán lắm, bởi vì những cuốn sách lịch sử mà không nói láo thì đều buồn thiu buồn thỉu. Chính tôi đã viết những sách xác thực kia và nếu chẳng may cho anh, anh đi từ nhà này sang nhà khác giới thiệu cuốn nào, anh sẽ có nguy cơ suốt đời giữ nó lại trong cái bọc vải xanh của anh, không bao giờ tìm ra một chị cấp dưỡng nào khá kém chín chắn mua cho anh.

- Thưa ông, tất nhiên – Con người nhỏ bé đáp lại hoàn toàn chiều theo ý tôi.

Và vừa cười, anh ta đưa cho tôi cuốn Những chuyện dan díu của Héloise và Abeilard, nhưng tôi làm cho anh hiểu ngay rằng ở tuổi tôi, tôi chẳng làm gì với một chuyện tình.

Vẫn nụ cười trên môi, anh đề nghị tôi mua cuốn Luật về trò chơi đông người bài pikê, bài béji, bài các tê, bài uýt, bài súc sắc, bài con đam, cờ tướng.

- Chao ơi! – Tôi bảo anh ta – nếu anh muốn tôi nhớ lại luật chơi bài béji, anh hãy trả lại ông bạn già Bignan của tôi đã cùng tôi chơi bài mỗi buổi chiều, trước lúc ông ấy được năm viện hàn lâm long trọng đưa đến nghĩa địa, hoặc anh hãy làm xẹp sự thông minh trang trọng của con Hamilcar mà anh thấy nằm ngủ trên chiếc gối này, đối với chuyện phù phiếm về các trò chơi của con người, vì ngày nay, nó là người bạn duy nhất trong các buổi tối của tôi.

Nụ cười của con người nhỏ bé trở nên mơ hồ và hốt hoảng.

- Đây – anh bảo tôi – một tập mới xuất bản về các trò giải trí đông người, những câu pha trò, những trò chơi chữ, với những cách đổi một hoa hồng đỏ thành hoa hồng trắng.

Tôi bảo anh rằng từ lâu tôi đã rối lên với những hoa hồng, còn đối với những câu pha trò thì tôi chỉ cần những câu nào tôi được phép dùng một cách tự nhiên trong quá trình tiến hành các công việc khoa học.

Con người bé nhỏ lại đưa cho tôi cuốn sách cuối cùng với nụ cười lần chót. Anh nói:

- Đây là Sách giải mộng, giải thích tất cả mọi giấc mộng của người đời: mộng được vàng, mộng thấy mình là kẻ trộm, mộng thấy mình chết, mộng thấy từ trên cao trơi xuống… Đủ cả!

Tôi cầm cái gắp than, vung mạnh và trả lời ông khách luôn:

- Đúng, anh bạn ạ, nhưng những giấc mơ đó và muôn nghìn giấc mơ khác, vui có, buồn có, tóm lại chỉ là một mà thôi, đó là giấc mộng cuộc đời, và cuốn sách bìa vàng nhỏ của anh có cho tôi cái chìa khóa để giải giấc mộng đó không?

- Thưa ông có – anh chàng nhỏ bé trả lời tôi. – Cuốn sách này có đầy đủ và không đắt: một quan hai mươi lăm xu, ông ạ.

Tôi không đi xa hơn nữa câu chuyện với người bán hàng rong. Mong rằng những lời nói của tôi đúng như tôi thuật lại, tôi không dám khẳng định điều này. Biết đâu tôi đã chẳng thêm vào một cái chi tiết khi viết ra giấy. Rất khó tuân thủ sự thật từng chữ, dù trong một tờ báo. Nhưng nếu không phải là lời nói của tôi thì cũng là ý nghĩ của tôi.

Tôi gọi chị quản gia, vì không có chuông trong nhà.

- Chị Thérèse – tôi nói – ông Coccoz mà tôi yêu cầu chị đưa về, có một cuốn sách có thể làm cho chị thích thú: đó là cuốn Sách giải mộng. Tôi sẽ sung sướng tặng chị cuốn sách đó.

Chị quản gia đáp lời tôi:

- Thưa ông, khi người ta không có thì giờ để mơ mộng lúc thức, thì lúc ngủ, cũng không có nhiều thì giờ hơn để mà mơ mộng. May thay! Ngày giờ của tôi đủ cho công việc của tôi, và công việc của tôi cũng đáp ứng đủ ngày giờ của tôi, và mỗi buổi tối; tôi có thể nói: “Lạy Chúa, xin Người hãy ban phúc lành cho giấc ngủ sắp tới của con!”. Tôi không mơ mộng lúc đứng hay nằm, không xem cái chăn bông là con quỷ như đã xảy ra với cô em họ tôi. Và nếu ông cho phép tôi phát biểu ý kiến, tôi sẽ nói rằng ở đây chúng ta có đủ sách rồi. Ông có những hàng nghìn hàng vạn cuốn khiến ông phát điên, phát cuồng, còn tôi hai cuốn là đủ: cuốn Sách kinh và cuốn Chị cấp dưỡng tầm thường.

Nói thế xong chị quản gia giúp con người nhỏ bé nọ gói cất lại số hàng số xấu kia vào mảnh vải xanh.

Con người nhỏ bé Coccoz không cười nữa. Nét mặt ỉu xìu của anh tỏ ra đau khổ đến nỗi tôi lấy làm hối hận đã chế giễu một con người đáng thương như vậy. Tôi gọi anh lại và nói tôi đã liếc thấy anh có một bản cuốn Chuyện nàng Estelle và chàng Nemorin rằng tôi rất yêu những nam nữ chăn cừu và tôi vui lòng mua với giá hợp lý cuốn chuyện hai người tình tuyệt vời kia.

- Tôi sẽ bán cho ông cuốn sách này một quan hai mươi lăm xu ông ạ – Coccoz trả lời tôi mặt mày rạng rỡ vui vẻ. – Đó là chuyện có thực và ông sẽ bằng lòng. Bây giờ tôi biết cái gì thích hợp với ông. Tôi thấy ông là một người thành thạo. Ngày mai tôi sẽ đem tới ông cuốn Những tội ác của các giáo hoàng. Đó là một tác phẩm hay. Tôi sẽ đem tới ông cuốn sách ông muốn mua với nhữn hình ảnh tô màu.

Tôi bảo anh đừng đả động gì đến chuyện đó và để anh thỏa mãn đi về. Khi tấm vải màu xanh biến mất với người bán hàng rong trong bóng tối hành lang, tôi mới hỏi chị quản gia anh chàng nhỏ bé tội nghiệp kia từ đâu rơi xuống.

- Đúng là rơi xuống – chị đáp. – Hắn từ mái nhà rơi xuống, ông ạ, hắn ở với vợ hắn trên đó.

- Chị bảo hắn có vợ phải không? Điều đó thật phi thường. Đàn bà là những người lạ lùng. Chị này hẳn phải là một người đàn bà hèn mọn tội nghiệp.

- Tôi không biết nhiều về chị ấy – chị Thérèse đáp – nhưng tôi thấy sáng nào chị ta cũng kéo lê trên cầu thang những chiếc áo lụa dài lốm đốm vết mỡ. Mắt chị ta sáng ngời và theo lẽ công bằng, cặp mặt và những áo dài kia liệu có phù hợp với một phụ nữ được người ta thu nhận do lòng tự thiện? Trong khi sửa chữa lại mái nhà người ta bắt gặp họ ở tầng thượng, anh chồng thì ốm đau còn chị vợ đang mang bầu. Cả bà gác cổng sáng nay cũng bảo rằng chị ấy thấy đau đớn và đi nằm vào lúc đó. Dù sao họ cũng cần có một đứa con.

- Chị Thérèse – tôi đáp – dĩ nhiên họ chẳng thiết gì có con. Nhưng tạo hóa lại muốn họ sinh ra một đứa, phải có một sự khôn ngoan gương mẫu mới làm thất bại những mưu mẹo của tạo hóa. Phải thương xót họ, đừng chê trách họ. Còn về những áo lụa dài, không có người phụ nữ trẻ nào lại không thích. Những nàng con gái của bà Eve đều say mê trang sức. Cả chị, Thérèse, chị nghiêm trang và đứng đắn, thế mà khi thiếu một tấm tạp dề trắng để phục vụ bữa ăn, chị đã toáng lên như thế nào. Nhưng chị cho tôi biết, ở trên tầng thượng kia, họ có đủ đổ dùng cần thiết không?

- Thưa ông, làm sao họ có được. Cứ theo lời bà gác cổng nói với tôi, thì anh chồng, ông vừa gặp đó, là tay môi giới bán đồ nữ trang, nhưng không hiểu vì sao anh ta không bán đồng hồ quả quýt nữa. Bây giờ anh ấy bán sách lịch. Đó không phải là một nghề lương thiện và tôi không bao giờ tin rằng Chúa ban phúc lành cho một gã bán sách lịch. Còn mụ vợ, nói riêng giữa chúng ta với nhau, có vẻ đối với tôi là đồ vô dụng, là một con mẹ lẳng lơ. Tôi tin rằng con mẹ này không thể như tôi, dạy nổi một thằng bé chơi đàn ghi ta. Không biết bọn họ từ đâu đến, nhưng tôi chắc rằng họ tới bằng thứ xe ngựa chở hàng cà tàng từ cái xứ sở Vô tư lự.

- Chị Thérèse, dù từ đâu đến, nhưng họ là những kẻ bất hạnh và tầng thượng nơi họ ở thật lạnh lẽo.

- Tất nhiên, mãi nhà bị bục vỡ nhiều chỗ, khi trời mưa nước chảy xuống thành rãnh. Họ chẳng có đồ đạc quần áo gì hết. Tôi nghĩ rằng thợ mộc và thợ dệt không làm cho đám con chiên loại đó.

- Điều đó rất đáng buồn, chị Thérèse ạ, và đây là một nữ tín đồ Cơ đốc không được cấp phát đầy đủ, kém hơn con Hamilcar không tín ngưỡng này. Chị ta có nói gì không?

- Thưa ông, tôi không bao giờ trò chuyện với bọn ấy. – Tôi không hiểu ả nói gì cũng không biết ả hát gì. Nhưng ả hát cả ngày. Từ cầu thang, tôi đã nghe tiếng ả, khi tôi đi vào hay đi ra.

- Này, cậu con trai của vợ chồng Coccoz có thể nói như thằng ngốc trong câu nói bóng bẩy của nông dân: “Mẹ tôi vừa hát vừa sinh ra tôi”. Henri VI cũng gặp chuyện như vậy. Khi Jeane d’Albret thấy đau đớn, nàng bắt đầu hát bài thánh ca xứ Bearn:

Lạy Đức bà ở đầu cầu

Hãy đến cứu giúp con giờ phút này!

Hãy cầu mong Đức Chúa trời

Người đỡ đẻ nhanh chóng cho con.

Người cho con một đứa con trai.

Tất nhiên sinh ra những kẻ bất hạnh là vô lý. Nhưng chị Thérèse tội nghiệp của tôi ơi, điều đó lại thường xảy ra, và tất cả những nhà triết học trên thế gian không đạt tới chỗ triệt bỏ được cái tập quán điên rồ này. Chị Coccoz đã theo tập quán này và chị ta đang hát. Thế là phải đấy! Nhưng chị Thérèse này, hôm nay chị không nấu món thịt bò hầm chăng?

- Thưa ông, tôi đã nấu rồi và chỉ còn đi hớt bọt nữa thôi.

- Tốt lắm! Nhưng chị đừng quên múc ra một bát to nước dùng đem cho chị Coccoz là người láng giếng hết sức gần gũi của chúng ta.

Chị quản gia sắp rút lui khi tôi nói thêm rất kịp thời:

- Chị Thérèse, trước hết xin chị gọi bảo người bạn chở hàng của chị vào trong đống củi nhà ta, lấy ra một bó to mang lên tầng thượng cho gia đình Coccoz, và chú ý đặt vào bó củi một khúc lớn nhất, một khúc củi thực sự cho lễ Noel. Còn anh chàng nhỏ bé kia, nếu anh ta trở lại, xin chị lễ phép không cho anh ấy và tất cả những sách bìa vàng của anh ấy vào nhà.

Sau khi thu xếp xong những chuyện lặt vặt này, với tính ích kỷ của một ông già độc thân, tôi trở lại tiếp tục đọc cuốn mục lục.

Thật bất ngờ, xúc động, bối rối xiết bao khi tôi thấy trong cuốn sách lời cước chú mà tôi không thể ghi lại không run tay:

Tập truyện thánh kỳ diệu của Jacques de Gênes (Jacques de Voragine) bản dịch tiếng Pháp.

“Bản thảo này ở thế kỷ 14, ngoài bản dịch khá đầy đủ tấc phẩm nổi tiếng của Jacques de Voragine, gồm có: 1 – Truyện các thánh Ferreol, Ferrution, Germain, Vincent và Droctovée. 2 – Một bài thơ về tang ma huyền diệu Đức thánh Germain d’Auxerre. Bản dịch này, những truyện thánh này, và bài thơ này là của học giả Jean Toutmouillé.

“Tập bản thảo viết giấy vê lanh, chứa đựng nhiều văn chương hoa mỹ và hai tiểu phẩm được thể hiện tinh tế nhưng bị bảo quản tồi: một miêu tả lễ Thánh mẫu hiến đường, còn tiểu phẩm kia miêu tả lễ đăng quang của Prosepine”.

Một phát hiện kỳ lạ đến thế! Trán tôi đổ mồ hôi, mắt tôi mờ đi. Tôi run lên. Tôi đỏ mặt không nói nên lời. Tôi thấy cần kêu to một tiếng.

Một vật quý đến thế! Từ bốn mươi năm tôi nghiên cứu nước Gaule Cơ đốc giáo và đặc biệt tu viện vinh quang cao cấp Saint-Germain-des-Prés này, từ đây xuất thân các vị vua tăng lữ đã sáng lập ra triều đại quốc gia của chúng ta. Thế mà, mặc dầu việc diễn đạt còn kém cỏi có lầm lỗi, đối với tôi, rõ ràng bản thảo này là từ tu viện lớn kia. Tất cả chứng minh cho tôi điều đó. Tất cả những tiểu thuyết do người dịch thêm vào đều liên quan tới việc thành kính sáng lập tu viện của vua Childebert. Truyện thánh Droctovée đặc biệt có ý nghĩa vì đó là truyện của vị trưởng tu viện đầu tiên của tu viện thân yêu của tôi. Bài thơ tiếng Pháp liên quan tới việc mai tang thánh Germain dẫn dắt tôi cả vào giữa nhà thờ lớn đáng tôn kính là cái rốn của nước Gaule Cơ đốc giáo.

Tập truyện thánh kỳ diệu tự nó là một tác phẩm quảng đại và thanh nhã. Jacques de Voragine, phụ tá cai quản dòng thánh Dominique và là tổng giám mục địa phận Gênes tập họp vào thế kỷ 13 những truyền thuyết liên quan tới các vị thánh của giáo dân đạo Thiên chúa và lấy đó tạo thành một tập phong phú đễn nỗi trong các tu viện và các cung điện người ta phải kêu lên: Đó là Tập truyện thánh kỳ diệu. Tập truyện thánh kỳ diệu phong phú nhất về khoa thánh tích nước Ý. Những nước Gaule, những nước Đức, nước Anh ít có địa vị trong đó. Qua làn sương mù lạnh lẽo, Voragine chỉ thấy những bậc thánh vĩ đại nhất của phương Tây. Cho nên phải chăng những dịch giả các xứ Aquitaine, Germain và Saxe của tập truyện kỳ diệu đầy đủ này đã chú ý thêm vào tập truyện kể của họ cuộc đời các vị thánh nước họ…

Tôi đã đọc và kiểm tra kỹ các bản thảo “Tập truyện thánh kỳ diệu”. Tôi thuộc lòng những bản thảo do ông bạn đồng sự thông thái của tôi là Paulin mô tả, trong cuốn danh mục to lớn các bản thảo của thư viện nhà vua. Tôi chú ý đặc biệt hai bản thảo. Một viết vào thế kỷ 14 gồm bản dịch của Jean Belet; bản kia viết sau một thế kỷ là bản dịch của Jacques Vignay. Cả hai bản đều từ kho sách Colbert mà ra, và được người cán bộ thư viện Baluze chăm sóc đặt lên giá sách của gia đình Colbert vinh quang này, và tôi không thể đọc tên Baluze mà không ngả mũ xuống, bởi vì trong thế kỷ những nhà học thức uyên bác khổng lồ, Baluze khiến người ta kinh ngạc về sự vĩ đại của ông. Tôi biết một tập bản thảo hết sức lý thú của kho sách Bigot, tôi biết có bảy mươi tư lần in xuất bản, bắt đầu từ lần xuất bản in mẫu trân trọng bằng chữ gôtích vùng Strasbourg, khởi sự năm 1471 đến năm 1475, mới xong. Nhưng không có một tập nào của các bản thảo này, không có một lần xuất bản nào này chứa đựng chuyện các thánh Ferreol, Ferrrution, Germain Vincent và Droctovée, không có tập nào mang tên Jean Toutmouillé, tóm lại không ai xuất thân từ tu viện Saint-Germain-dé-Prés. Tất cả cái gì là tỳ vết của vàng ngọc đều được ông Thompson mô tả trong bản thảo là quý giá. Chính mắt tôi thấy, tay tôi sờ một bằng chứng không thể bác bỏ sự tồn tại của tài liệu này. Nhưng chính tài liệu này tự nó sẽ trở thành cái gì? Ngài Thomas Raleigh kết thúc cuộc đời trên bờ hồ Coome, nơi đây ông đã mang đi một phần của cải quý giá của mình. Vậy thì những của cải này bay đi đâu, sau cái chết của con người thanh lịch thu nhập của quý này? Vậy thì tập bản thảo của Jean Toutmouillé bay đi đâu?

“Vì sao, tôi tự nhủ – vì sao tôi được biết cuốn sách quý giá kia đang còn, khi tôi không chiếm hữu nó, không thấy nó bao giờ? Tôi sẽ đi tìm nó giữa châu Phi nóng bỏng hay trong băng tuyết địa cực nếu tôi biết nó ở đấy – Nhưng tôi không biết nó đang ở đâu. Tôi không biết có phải nó được giữ trong tủ sắt với ba lần khóa, bởi một anh chàng mê sách bo bo cất kỹ, tôi không biết có phải nó mốc meo trong gác thượng của một tên dốt nát. Tôi run rẩy nghĩ rằng biết đâu những tờ sách của nó chẳng bị xé ra bọc những lọ dưa chuột của một bà nội trợ nào đó.

Ngày 30 tháng 8 năm 1862

Trời nóng bức làm chậm bước của tôi. Tôi lướt qua các bức tường những bến cảng phía bắc và trong bóng mát những hiệu sách cũ, tranh ảnh và đồ đạc cũ làm vui mắt tôi và tôi trò truyện với chúng trong tâm trí – Vừa tìm sách cũ vừa đi lững thững, tôi thưởng thức thoáng qua mấy câu thơ rất kêu của một thi sĩ nhóm Tao đàn, tôi liếc trộm một đám cưới giả trang duyên dáng của Watteau, tôi đưa mắt nhìn một kiếm khách, một tay cầm diềm mũ che cổ bằng thép, một tay cầm mũ quân nhân thời xưa. Trời đất ơi! Mũ gì mà dày thế! Áo giáp gì mà nặng thế! Quần áo của người khổng lồ chăng? Không, đó là vỏ bảo vệ sâu bọ. Con người lúc ấy được bọc sắt như bọ hung. Sự yếu đuối của họ là ở phía trong và tâm hồn vũ trang của chúng ta tồn tại trong một thân thể bạc nhược.

Đây là tranh màu phấn một phu nhân thời xưa, gương mặt mờ nhạt như bóng tối, mỉm cười và người ta thấy một bàn tay mang bao tay cập nhật hở ngón, đang giữ trên đầu gối nhẫn mịn một bàn chải nhung quấn băng. Hình ảnh này làm tràn ngập trong tôi một nỗi buồn thú vị. Mong rằng những ai không có trong tâm hồn một bức tranh màu phấn nửa phần mờ nhạt hãy chế nhạo tôi đi.

Như đàn ngựa đánh hơi chuồng, tôi bước vội khi gần tới nhà. Đây là tổ ong người mà tôi có một lỗ riêng để luyện thứ mật hơi hà khắc của học thức uyên bác. Tôi bước nặng nề lên cầu thang. Còn mấy bậc nữa thì tôi tới cửa. Chưa thấy chị ta, nhưng tôi đoán một chiếc áo lụa dài nhàu nát đang bước xuống. Tôi dừng lại tránh sát vào lan can. Thiếu phụ sột soạt đi tới, đầu để trần; nàng còn trẻ, nàng hát, cặp mắt và hàm răng lóng lánh trong bóng tối vì nàng nhìn và mở miệng tươi cười. Chắn chắn là chị láng giềng quen thuộc nhất. Nàng bế một chú bé xinh đẹp trên tay, một chú bé trần truồng, như con trai một nữ thần, cháu mang ở cổ một ảnh tượng buộc vào một sợi dây chuyền nhỏ bằng bạc. Cháu đang bú tay và mở to hai mắt nhìn tôi như một thế giới cũ kỹ đối với cháu còn mới lạ. Người mẹ cũng nhìn tôi, vẻ bí hiểm và láu lỉnh, nàng đứng lại, đỏ mặt, theo tôi nghĩ, và chìa cậu bé về phía tôi. Thằng bé có cái ngấn đẹp giữa cổ tay và cánh tay, ở cổ cũng có một cái ngấn, và trên má lúm đồng tiền xinh đẹp tươi vui trên nước da hồng hào.

Người mẹ tự hào chỉ thằng bé với tôi.

- Thưa ông – nàng nói giọng du dương – thằng con trai bé bỏng của tôi đẹp lắm phải không ông?

Nàng vừa cầm tay con để lên miệng, rồi đưa về phía tôi những ngón tay xinh xắn hồng tươi vừa nói:

- Bé của mẹ, hôn ông đi nào. Ông tốt lắm, ông không muốn trẻ con phải rét. Hãy thơm ông một cái nào.

Và ghì chặt chú nhóc trong tay, nàng chạy thoát nhanh qua tôi như con mèo cái và đi sâu vào một hành lang mà theo mùi vị thì thông tới nhà bếp.

Tôi về nhà.

- Chị Thérèse, người mẹ trẻ tôi gặp trên cầu thang đầu để trần với một thằng bé xinh đẹp kia là ai vậy?

Và chị Thérèse trả lời đó là chị Coccoz.

Tôi nhìn lên trần nhà như để tìm một chút ánh sáng.

Chị Thérèse nhắc tôi nhớ lại anh chàng bán hàng rong bé nhỏ năm ngoái đã đưa sách lịch đến cho tôi khi vợ anh ở cữ.

- Thế còn anh Coccoz? – Tôi hỏi.

Tôi được trả lời là tôi sẽ không bao giờ gặp lại anh ấy nữa. Anh chàng nhỏ bé tội nghiệp đã qua đời không lâu sau khi chị Coccoz sinh đẻ mẹ tròn con vuông mà tôi và rất nhiều người khác không biết. Tôi được biết quả phụ đã khuây khỏa, tôi cũng như nàng.

- Nhưng chị Thérèse này – tôi hỏi – chị Coccoz không thiếu thốn gì trong tầng thượng của chị ấy chứ?

- Thưa ông, nếu ông quan tâm đến người đàn bà này thì ông sẽ dễ bị lừa quá. – Chị quản gia trả lời. – Mái tầng thượng đã được sửa chữa lại và người ta không cho chị ấy thuê nữa. Nhưng chị cứ ở lì đó, mặc dù viên quản lý, người gác cổng, và nhân viên phục vụ không muốn. Tôi tin rằng chị đã bỏ bùa mê tất cả bọn họ. Thưa ông, chị sẽ ra khỏi tầng thượng khi nào chị thích, nhưng chị sẽ đi ra bằng xe ngựa bốn bánh. Tôi đoán chắc với ông như vậy.

Chị Thérése suy nghĩ một lúc rồi đọc câu châm ngôn này:

- “Một gương mặt xinh đẹp là một tai họa trời giáng”.

Dù biết rằng chẳng nghi ngờ gì, chị Thérèse vốn xấu xí và không có mọi vui thú từ thời son trẻ, tôi lắc đầu và nói với chị một cách hiểm độc đáng ghét:

- Ờ, chị Thérèse, tôi được biết chị cũng có một thời có bộ mặt xinh đẹp. Không nên thử thách người nào trên đời, dù là bậc thánh nhân nhất.

Chị Thérèse nhìn xuống đáp:

- Không được người ta coi là xinh đẹp, tôi không bực mình, và nếu muốn, tôi sẽ hành động như người khác.

- Vậy thì ai dám nghi ngờ điều đó. Nhưng hãy đi lấy gậy và mũ cho tôi. Để giải trí, tôi sẽ đi đọc vài trang của Moréri – Nếu tôi tin vào tài đánh hơi cáo già của tôi, thì chúng ta sẽ ăn trưa một con gà mái tơ vỗ béo thơm ngon. Chị ơi, chị lo cho món gia cầm giá trị này và đối xử rộng lượng với đồng loại để họ rộng lượng với chúng ta, với chị và ông chủ già nua của chị.

Nói xong như vậy, tôi chăm chú theo dõi những chi phái rườm rà của một phổ hệ hoàng tộc.

Ngày 7 tháng 5 năm 1863

Tôi qua mùa đông theo sở thích của những nhà hiền triết ở một xó xỉnh với cuốn sách nhỏ, và đây những cánh chim én trên bến Malaquais tìm thấy tôi khi chúng trở về cũng gần như khi chúng rời bỏ tôi. Ai sống lâu thì ít thay đổi và hầu như chỉ sử dụng đời mình vào những chủ đề cũ.

Nhưng hôm nay, hơn bao giờ hết, tôi cảm thấy thấm thía một ít về nỗi buồn mơ hồ này do cuộc đời gây ra. Cái vốn hiểu biết của tôi được tích lũy (tôi không dám thú nhận điều này với chính tôi) bị rối tung từ thời điểm đặc biệt khi tôi phát hiện sự tồn tại bản thảo của Jean Toutmouillé.

Thật lạ, vì một vài tờ giấy súc cũ kỹ mà tôi không ngủ được, nhưng sự thực là như vậy. Người nghèo không tham vọng là có món tài sản vĩ đại nhất, hắn tự kiềm chế được mình, còn người giàu mà thèm muốn thì chỉ là một tên nô lệ khốn khổ. Tôi là tên nô lệ đó. Những thú vui thanh đạm nhất, cái thú chuyện trò với một người có trí tuệ ưu việt và ôn hòa, cái thú được ăn tối với một anh bạn thân không làm tôi quên được tập bản thảo mà tôi không có, khi vui cũng như buồn, tôi đều nhớ nó.

Tôi nhớ lại những ước ao thuở bé. Ngày nay tôi mới hiểu những sự thèm muốn thở hoa niên là ghê gớm biết bao nhiêu.

Tôi thấy lại một cách chính xác lạ lùng con búp bê trưng bày trong một cửa hàng tồi tàn phố Seine. Tôi không hiểu làm sao mà tôi lại thích con búp bê này. Thuở ấy tôi rất tự hào là một chàng trai; tôi khinh thường những thiếu nữ nhỏ bé và tôi nóng lòng chờ đợi cái dịp (than ôi! dịp ấy đã đến) râu nhọn mọc tua tủa trên cằm. Tôi chơi trò đóng vai người lính, để nuôi con ngựa gỗ, tôi đã phá hoại cây cối mà người mẹ tội nghiệp của tôi trồng gần cửa sổ. Tôi cho đó là những trò chơi hùng dũng! Ấy thế mà tôi lại thèm một con búp bê. Những kẻ rất khỏe cũng có nhược điểm này. Ít ra thì con búp bê tôi thích cũng đẹp đấy chứ? Không. Tôi còn gặp nó. Nó có một vết đỏ son ở mỗi bên má, hai cánh tay mềm mại và ngắn, hai bàn tay dễ sợ bằng gỗ, và cặp chân dài xoạc ra. Váy hoa của nó đính vào thắt lưng bằng hai cây kim găm. Tôi còn thấy hai đầu đen của hai cây kim găm. Đấy là một con búp bê thô kệch có vẻ dân ngoại ô. Tôi nhớ rõ rằng dù còn hoàn toàn là một thằng nhóc, chưa dùng nhiều quần cụt, tôi cảm thấy theo cách của tôi, nhưng rất nhanh chóng rằng con búp bê này không duyên dáng, không đoan trang; rằng cô nàng thô lỗ hung tợn. Nhưng mặc dù vậy tôi vẫn yêu nàng, vì thế mà tôi yêu nàng. Tôi chỉ yêu nàng. Tôi thích nàng. Đám lính tráng và bọn đánh trống của tôi đối với tôi không ra gì nữa. Tôi không cho ngựa gỗ ăn cành vòi voi và cành huyền sâm. Con búp bê này là tất cả đối với tôi. Tôi nghĩ ra những mưu mẹo thô lỗ để buộc chị đầy tớ Virginie đi với tôi đến trước cửa hàng bé nhỏ phố Seine. Tôi áp sát mũi vào tủ kính và người ở gái phải lấy tay kéo tôi ra. “Cậu Sylvestre, muộn rồi, mẹ sẽ mắng cậu đấy”. Cậu Sylvestre lúc ấy rất coi thường những người rầy la và những trận đòn. Nhưng người ở gái nhấc bổng cậu lên như một cái lông, thế là cậu Sylvestre chịu thua sức mạnh. Từ đó, với tuổi tác, cu cậu đâm ra hư hỏng không biết sợ, không sợ gì hết.

Tôi khổ sở. Một sự xấu hổ nông nổi nhưng không thể cưỡng lại, ngăn cản tôi thú thật với mẹ, đối tượng yêu thương của tôi. Từ đó tôi rất đau khổ. Trong mấy ngày cô nàng búp bê luôn luôn hiện ra trong trí tôi, nhảy múa trước mắt tôi, chăm chăm nhìn tôi, dang hai tay ra, để lại trong trí tưởng tượng của tôi một thứ lối sống khiến cô nàng đối với tôi bí hiểm và dễ sợ nhưng lại thân thiết và đáng ao ước hơn nữa.

Cuối cùng, một ngày nọ, ngày tôi không bao giờ quên, người hầu gái dắt tôi tới nhà bác tôi là đại tá Victor, bác mời tôi đến ăn trưa. Tôi rất khâm phục bác đại tá, vì bác đã bắn viên đạn Pháp cuối cùng ở trận Waterloo hơn là vì tự tay bác soạn món bánh mỳ xát tỏi, đặt vào món rau diếp xoăn sống trên bàn ăn của mẹ tôi. Tôi thấy chuyện đó đẹp đẽ quá. Bác Victor cũng khiến tôi quý mến biết bao với những áo giáp có nẹp và nhất là bằng cách nào đó làm cho cả nhà rối rít khi bác vào. Mãi tới ngày nay, tôi không biết sợ gì nhiều nhưng tôi khẳng định rằng không biết bác xử trí thế nào mà trong một cuộc hội nghị vài chục người, người ta chỉ thấy và nghe bác mà thôi. Người cha tuyệt vời của tôi, theo ý tôi, không chia sẻ sự khâm phục của tôi đối với bác Victor, với tẩu thuốc lá của mình, bác quấy rầy cha tôi, buộc tội cha tôi thiếu nghị lực. Mẹ tôi vừa giữ sự độ lượng của cô em, vừa thỉnh thoảng khuyên bác bớt vuốt ve những bình rượu trắng. Nhưng tôi không tham gia vào những chuyện chán ghét đó cùng những lời chê trách đó và bác Victor truyền cho tôi lòng nhiệt thành trong sáng nhất. Vậy nên với một niềm kiêu hãnh, tôi bước vào căn nhà bé nhỏ của bác ở phố Guénégaud. Tất cả thức ăn trưa gồm thịt lợn ướp và kẹo mứt đã đặt trên chiếc bàn một chân nơi góc bếp.

Bác đại tá tọng cho tôi bánh ngọt và rượu vang nguyên chất. Bác nói với tôi bao nhiêu chuyện bất công mà bác là nạn nhân. Nhất là bác than phiền những người Bourbons, bác không chú ý cho tôi biết những người Bourbons là ai, nên tôi không hiểu vì sao bọn Bourbons là những tên buôn ngựa ở Waterloo. Bác chỉ ngừng nói để rót rượu cho hai bác cháu, thêm vào bác buộc tội nhiều thằng oắt con mà đã lên mặt, là đồ tồi, đồ vô dụng mà tôi chẳng biết gì cả và cũng hết sức ghét. Lúc ăn tráng miệng, tôi tưởng chừng nghe ai nói với bác đại tá rằng cha tôi là người bị thiên hạ xỏ mũi, nhưng tôi không chắc chắn lắm là mình đã hiểu. Tôi nghe ù tai và cái bàn một chân dường như đang nhảy múa. Bác tôi mặc áo rơ-danh-gốt có nẹp, đội mũ loe chỏm và chúng tôi xuống đường phố mà tôi thấy có vẻ thay đổi khác thường. Dường như lâu lắm tôi chưa đến đây. Tuy nhiên khi chúng tôi ở trên đường phố Seine tôi bỗng nghĩ tới con búp bê của tôi và thấy hứng khởi lạ. Đầu óc tôi bị kích động. Tôi quyết định thử thực hiện một hành động đột ngột liều lĩnh phi thường. Chúng tôi đã qua trước cửa hàng; con búp bê vẫn ở sau mặt kính, má đỏ, váy hoa và hai chân to lớn.

- Bác ơi – tôi gọi lớn – bác có muốn mua cho cháu con búp bê này không? và tôi chờ đợi.

- Mẹ kiếp! Mua búp bê cho một trang nam nhi! – Bác tôi kêu lên như sấm vang. – Vậy là cháu muốn làm ô danh cháu sao? Và con đàn bà lẳng lơ kia còn làm cho cháu thèm muốn à. Này anh chàng ngây ngô, bác khen cháu đấy. Nếu cháu không bỏ những sở thích đó và nếu ở tuổi hai mươi cháu chọn những con búp bê của cháu như hồi lên mười, cháu sẽ ít vui thú trong đời. Bác báo trước cho cháu điều đó, bạn bè cháu sẽ bảo cháu là thằng khờ có tiếng. Hãy đòi hỏi ở bác một thanh kiếm, một khẩu súng. Chàng trai của ta ạ, bác sẽ mua cho cháu các thứ đó với đồng ê quy trắng cuối cùng từ số tiền trợ cấp hưu trí của bác. Nhưng mua cho cháu một con búp bê, chết chửa, để cho bác hết sức xấu hổ hay sao? Không đời nào! Nếu bác thấy cháu chơi với một con bé lẳng lơ ăn mặc như con này, thì thưa ông con trai của cô em tôi ơi, tôi sẽ không thừa nhận ông là cháu của tôi nữa.

Nghe thế, tôi đau lòng đến nỗi niềm tự hào, một niềm tự hào quỷ quái ngăn chặn tôi khóc một mình.

Bác tôi, bỗng bình tĩnh, trở lại suy nghĩ về những người họ Bourbons nhưng tôi vẫn còn chịu cơn phẫn nộ của bác, tôi cảm thấy một sự xấu hổ khó tả. Tôi nhanh chóng quyết định. Tôi tự hứa không được ô danh của mình, tôi kiên quyết mãi mãi từ bỏ con búp bé má hồng. Ngày hôm ấy tôi mới biết mùi vị dịu ngọt khắc khổ của sự hy sinh.

Bác đại tá, nếu quả sinh thời, bác nguyền rủa như một kẻ nghịch đạo, bác tức giận như một người gác cổng, và uống rượu như một người thổi kèn, tuy vậy bác vẫn được tiếng thơm, không những chỉ vì bác là một người dũng cảm, mà còn là vì bác đã phát hiện cho thằng cháu còn mặc quần ngắn của bác, ý thức về chủ nghĩa anh hùng. Bác Victor của cháu ơi! Tính kiêu hãnh và thói lười biếng đã làm cho bác gần như không ai chịu nổi, nhưng một trái tim vĩ đại đã đập dưới những nẹp áo rơ-đanh-gốt của bác. Cháu nhờ bác có đeo một hoa đóa hoa hồng ở lỗ khuy áo mà bác rất vui lòng chìa ra cho các cô bán hàng, đóa hoa nơi trái tim vĩ đại cởi mở, rung cánh trước gió, là tượng trung của thời thanh xuân vinh quang của bác. Bác không xem khinh rượu, cũng không xem khinh thuốc lá, nhưng bác xem khinh cuộc sống. Bác đại tá ơi, thiên hạ không thể học được ở bác về lương tri cũng như về sự khó tính, nhưng bác đã cho cháu, ở cái tuổi phải được người ở gái hỉ mũi cho, một bài học về danh dự và sự hy sinh mà cháu không bao giờ quên.

Bác yên nghỉ từ lâu trong nghĩa trang Montparnasse, dưới một tấm đá lát xoàng xĩnh mang văn bia sau đây:

Ở đây yên nghỉ

Aristide Victor Maident

Đại tá lục quân

Người được thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng năm

Nhưng bác đại tá ơi, đó không phải là câu khắc trên bia mộ bác dành cho nắm xương tàn của bác đã từng lăn lộn trên chiến trường và trong những chốn ăn chơi. Người ta tìm thấy trong giấy tờ của bác, văn bia cay đắng và đáng tự hào này, mặc dù lời trối trăng của bác, người ta không dám ghi trên bia mộ:

Ở đây yên nghỉ

Một kẻ cướp vùng Loire

- Chị Thérèse ngày mai chúng ta sẽ đem một vòng hoa cúc trường sinh đặt trên mộ tên kẻ cướp vùng Loire[1].

Nhưng chị Thérèse không có đây. Và tại sao chị sẽ đứng gần tôi trên bồn tròn ngã tư đại lộ Deschamps Elysées? Ở đây tại đầu đại lộ, cổng khải hoàn mang dưới các vòm tên tuổi các chiến hữu của bác Victor, mở cánh cửa khổng lồ lên trời. Dưới mặt trời xuân, cây cối trên đại lộ phô những lá non còn nhợt nhạt yếu chịu rét. Bên cạnh tôi, những chiếc xe ngựa mui gập chạy về phía rừng Boulogne. Tôi tiếp tục đi dạo trên con đường trần tục này và vô tình dừng lại trước một cửa hàng ngoài trời bán bánh có gia vị và những lọ nước cam thảo nút lại với một quả chanh. Một thằng bé khốn khổ quần áo rách rưới để lộ lớp da nứt nẻ, mở to hai mắt trước những của ngon ngọt xa hoa không phải dành cho nó. Nó tỏ vẻ thèm muốn một cách ngây thơ sỗ sàng. Cặp mắt tròn và chăm chú của nó lặng ngắm lão bán bánh gia vị có thân hình cao lớn. Đó là một ông tướng, hơi giống bác Victor. Tôi túm lấy lão, trả tiền cho lão và dẫn lão tới thằng bé tội nghiệp không dám chạm tay vào lão, bởi vì do một kinh nghiệm sớm phát triển, nó không tin vào hạnh phúc. Nó nhìn tôi với dáng vẻ những con chó to lớn như muốn nói lên rằng: “Ông thật tàn ác khi chế nhạo tôi”.

- Này, thằng nhóc ngốc nghếch – tôi bảo nó với giọng bình thường – hãy cầm lấy, cầm lấy mà ăn, bởi vì vào cái tuổi mày, tao cũng chẳng sung sướng gì hơn, mày có thể thỏa mãn những ham thích của mày mà không bị ô danh. Và bác, bác Victor, ông tướng bán bánh gia vị này đã gợi cháu nhớ lại gương mặt hùng dũng của bác, hỡi vong linh vinh quang của bác, hãy đến giúp cháu quên đi con búp bê khác của cháu. Chúng cháu mãi mãi là trẻ con, chúng cháu không ngừng cố đuổi theo những đồ chơi mới lạ.

Cùng ngày

Tôi nghĩ kỳ lạ nhất là gia đình Coccoz lại có quan hệ với nhà học giả Toutmouillé.

- Chị Thérèse – tôi vừa nói vừa buông mình xuống ghế bành – chị cho tôi biết có phải là thằng nhóc Coccoz khỏe mạnh, đã mọc răng sữa phải không? Và chị hãy cho tôi đôi giày vải!

- Thưa ông, nó đã mọc răng từ lâu – chị Thérèse đáp – nhưng tôi chưa thấy răng nó. Vào một ngày đầu xuân đẹp trời, người mẹ đã cùng thằng bé biến mất, bỏ lại đồ đạc và quần áo. Người ta tìm thấy ở tầng thượng, ba mươi tám lọ sáp xức tóc rỗng không. Điều này quá sức tưởng tượng, nhưng dù sao vào giờ phút này ông vẫn nghĩ rằng chị không ở trong một tu viện nào của nữ tu sĩ. Người cháu gái của bà gác cổng nói đã gặp chị ấy đi xe ngựa mui gập trên các đại lộ – Tôi đã nói rõ với ông rằng chị ấy sẽ hư hỏng mà.

- Chị Thérèse – tôi đáp – người thiếu phụ ấy không trở nên xấu cũng không trở nên tốt. Hãy đợi chị ta kết thúc cuộc đời mới nên phán xét. Và hãy coi chừng nói năng quá nhiều ở nhà bà gác cổng. Chị Coccoz mà tôi đã gặp một lần ở cầu thang có vẻ rất quý con. Ta phải coi trọng tình thương đó của chị ấy.

- Thưa ông, về điều đó, thằng bé không thiếu gì hết. Người ta sẽ không tìm ra đâu được trong cả phường này một kẻ nào được nhồi nhét thức ăn tốt hơn, được chải chuốt tốt hơn, được nuông chiều tốt hơn như nó. Trong tất cả những ngày do Chúa tạo ra, mẹ nó đeo dải yếm trắng cho nó và hát từ sáng tới tối các bài ca khiến thằng bé cười vui.

- Chị Thérèse này, một nhà thơ viết: “Trẻ em không được mẹ mỉm cười với mình thì không xứng đáng với cái bàn của các thần, cũng không xứng đáng với cái giường của các nữ thần”.

Ngày 8 tháng 7 năm 1863

Được biết người ta từ chối lát đá bàn thờ Đức Mẹ trong nhà thờ Saint-Germain-des-Prés, tôi đến giáo đường, hy vọng tìm ra một vài câu khắc mà những người thợ còn để trống.

Tôi không lầm – kiến trúc sư chỉ cho tôi một hòn đá ông đặt vào tường làm nền. Tôi quỳ xuống để đọc câu khắc trên tấm đá này và trong bóng tối của hậu cung cổ kính, tôi khe khẽ đọc những dòng chữ sau đây nó làm cho tim tôi rung động.

“Ở đây yên nghỉ Jean Toutmouillé, tu sĩ nhà thờ này đã nhờ lấy bạc tra vào cằm thánh Vincent, thánh Amant và chân các thánh hài, là người sinh thời luôn luôn trung thực và dũng cảm. Xin hãy cầu nguyện cho linh hồn ông”.

Tôi lấy khăn tay lau nhẹ lớp bụi đã làm bẩn phiến đá lát kỷ niệm người quá cố. Tôi muốn hôn phiến đá.

- Chính ông ta, chính là Jean Toutmouillé – Tôi kêu lên và từ trên vòm cao, cái tên này như bị tan vỡ vang dội trở lại xuống đầu tôi.

Gương mặt nghiêm trang lặng lẽ của người trông coi nhà thờ đang tiến về phía tôi làm cho tôi hổ thẹn về lòng nhiệt thành của mình, và tôi chạy trốn qua hai binh khí bắt chéo chữ thập vào ngực tôi, giữa hai kẻ sùng đạo đối địch.

Thế nhưng đúng là ông Jean Toutmouillé của tôi. Không nghi ngờ gì nữa; người dịch “Tập truyện thánh kỳ diệu”, người sáng tạo ra cuộc đời của thánh Germain, Vincent, Ferréol và Droctovée, như tôi nghĩ, là một tu sĩ tốt, sùng đạo và hào phóng biết bao nhiêu! Nhưng phải chăng có thể không bao giờ tôi biết được tác phẩm của ông hay là sự phát triển mới mẻ này chỉ làm tăng thêm những nỗi luyến tiếc của tôi.

Ngày 20 tháng 8 năm 1869

- Ta, kẻ làm vừa lòng một vài người, kẻ thử thách mọi người, là niềm vui của người tốt, là nỗi khiếp sợ cho người ác, ta, kẻ làm nên và phá bỏ sai lầm, ta nhận trách nhiệm dang đôi cánh ra. Đừng xem ta như một tội phạm, nếu ta bay nhanh lướt qua trên những năm tháng.

Ai nói như thế? Đó là một ông già mà tôi biết rõ, đó là vị Thần Thời gian.

Shakespeare, sau khi viết xong hồi thứ ba “Chuyện mùa đông” thì dừng lại cho cô bé Perdita có thì giờ trưởng thành về khôn ngoan và sắc đẹp và khi ông mở lại sân khấu, ông gợi lại nghệ thuật cổ Portefaux để giải thích cho khán giả những ngày dài dằng dặc đè nặng trên đầu anh chàng ghen tuông Leontes.

Như Shakespeare trong hài kịch của ông, tôi để trong nhật ký này một khoảng cách dài trong quên lãng và theo gương nhà thơ, tôi nhớ đến Thần Thời gian để giải thích sự bỏ sót sáu năm. Quả nhiên đã sáu năm nay, tôi không viết một dòng nào trong cuốn vở này, và than ôi! Khi cầm bút trở lại, tôi không phải diễn tả một nàng Perdita lớn lên, duyên dáng. Thời hoa niên và sắc đẹp là những bạn gái trung thành của thi nhân. Những bóng ma kiều diễm này hầu như không đến thăm chúng tôi, khoảng thời gian một mùa. Chúng tôi không biết định hình họ, mà vong linh nàng Perdita nào đó dám đi qua đầu óc tôi, nàng sẽ giận dữ kinh khủng về hàng đống giấy tờ khô đét. Sung sướng thay các thi nhân! Tóc bạc của họ không làm cho những hình bóng phảng phất của Hélène, những Francesca, những Juliette, những Julie và những Dorothée hoảng sợ! Và chỉ một cái mũi của Sylvestre Bonnard sẽ tẩu tán tất cả đám đông phụ nữ đa tình.

Như người khác, tôi cũng cảm cái đẹp; thế nhưng tôi nghiệm thấy vẻ duyên dáng huyền bí mà tạo hóa khó hiểu đã gieo rắc trên những hình thể có linh hồn; một mẩu đất sét sống đem lại cho tôi sự rung động tạo thành những người yêu và những nhà thơ. Nhưng tôi không biết yêu cũng không biết hát. Trong tâm hồn tôi chất đầy một mớ lộn xộn những văn bản cũ và những công thức cũ, tôi nhận ra trên tầng thượng một gương mặt sáng sủa với đôi mắt màu hoa cà nhạt như một tiểu họa… Này anh bạn Bonnard của tôi, anh là một kẻ điên rồ già nua. Hãy đọc bản danh mục kia do người bán sách ở Florence gửi cho anh sáng hôm nay. Đó là danh mục những bản thảo và y hứa sẽ liệt kê cho anh một số tài liệu đáng chú ý được những kẻ hiếu kỳ ở Ý và ở Sicile bảo quản. Đó là điều hợp với anh và anh trúng tủ rồi đấy!

Tôi đọc, tôi kêu lên một tiếng. Con Hamilcar với tuổi tác nhiễm phải tính trịnh trọng khiến tôi rụt rè e sợ, nhìn tôi có vẻ trách móc và hỏi tôi có phải sự nghỉ ngơi là của thế giới này, mà nó không thể hưởng được bên cạnh tôi già nua như nó.

Trong niềm vui do sự phát hiện của tôi, tôi cần một kẻ tâm tình, và tôi nói chuyện với con Hamilcar lặng lẽ này, tỏ ra là một kẻ sung sướng tràn trề.

- Không, Hamilcar, không, sự nghỉ ngơi không phải của thế giới này và sự yên tĩnh mà mày khao khát xung khắc với công việc của cuộc đời. Và ai bảo mày rằng chúng ta già? Hay nghe điều ta đọc trong danh mục này và sau đó hãy nói lên có phải đã đến lúc nghỉ ngơi chưa.

Tập truyện thánh kỳ diệu của Jacques de Voragine, bản dịch tiếng Pháp thế kỷ 14 do tu sĩ Jean Toutmouillé.

“Bản thảo tuyệt vời được tô điểm bằng hai bức tiểu họa chế tác phi thường được bảo quản hoàn hảo, một bức thể hiện lễ Thánh mẫu hiến đường, còn bức kia thể hiện lễ đăng quang của Prosepine”.

“Theo sau tập Truyện thánh kỳ diệu người ta tìm thấy truyện thánh Ferreol, Ferrution, Germain và Droctovée, 28 trang, và đám tang lạ thường của ngài Saint Germain d’Auxerre 12 trang.”

“Tập bản thảo quý giá này thuộc bộ sưu tập của ngài Thomas Raleigh hiện được cất giữ trong tủ nhiều ngăn của ông Michel Angelo Polizzi ở thành phố Girgenti”.

Hamilcar, mày hiểu chứ, Tập bản thảo của Jean Toutmouillé đang ở đảo Sicile, tại nhà Michel-Angelo-Polizzi. Có thể con người này yêu thích các nhà bác học. Ta sẽ viết cho ông ấy.

Điều này tôi làm ngay. Trong thư, tôi yêu cầu ngài Polizzi chuyển giao cho tôi bản thảo của tu sĩ Toutmouillé và nói với ông rằng tôi dám nghĩ mình xứng đáng được một ân huệ như thế với bất kỳ danh nghĩa gì. Đồng thơi tôi để ông sử dụng một số nguyên văn chưa xuất bản, không phải là không lý thú, tôi có trong tay. Tôi yêu cầu ông giúp tôi trả lời ngay và dưới chữ ký của tôi, tôi ghi tất cả mọi danh hiệu danh dự của mình.

- Ông ơi, ông ơi! Ông chạy đi đâu thế? – Chị Thérèse bước xuống cầu thang đuổi theo tối bốn bậc một lúc, tay cầm cái mũ của tôi, lo sợ kêu lên.

- Tôi đi bỏ một cái thư ở bưu điện.

- Trời ơi! Đâu được chuồn đi mà đầu trần như thằng điên như thế.

- Tôi điên. Nhưng ai không điên?

- Ông ơi, còn găng tay, còn ô của ông nữa!

Tôi đã ở chân cầu thang mà còn nghe tiếng chị kêu ca than vãn.

Ngày 10 tháng 10 năm 1869

Tôi sốt ruột không chịu được, chờ thư trả lời của ông Michel Angelo Polizzi. Tôi đứng ngồi không yên, đi lại bồn chồn, tôi giở sách ra rồi gấp lại, ầm ĩ. Một hôm tôi lấy khuỷu tay lật nhào một tập của Morérti. Con Hamilcar đang liếm lông bỗng dừng lại, gác chân lên tai, nhìn tôi với con mắt giận dữ. Phải chăng có lẽ nó nghĩ tới cảnh náo động nảy xảy ra dưới mái nhà tôi? Chúng ta đã chẳng thỏa thuận ngầm sống một cuộc thanh bình đó sao? Tôi đã hủy bỏ điều ước này.

- Này người bạn tội nghiệp của ta – tôi trả lời nó – Ta đang bị một dục vọng dữ dội giày vò, dẫn dắt. Dục vọng là kẻ thù của nghỉ ngơi. Ta thừa nhận điều này, nhưng không có nó thì trên đời này, không còn công nghiệp, không có nghệ thuật. Mọi người sẽ ngủ trần truồng trên đống phân bón ruộng, và Hamilcar, mày sẽ không được ngủ suốt ngày trên gối lụa trong thư viện này.

Tôi không trình bày sâu hơn cho Hamilcar, học thuyết về dục vọng, vì chị quản gia đem đến cho tôi một phong thư. Phong thư dán tem từ thành phố Naples, thư viết:

Ngài tôn kính.

Quả là tôi có bản thảo vô song “Tập truyện thánh kỳ diệu”. Nó không thoát khỏi sự chú ý tinh tường của ngài. Những lý do chủ yếu không thể cãi, không cưỡng nổi ngăn cản tôi từ bỏ nó dù chỉ trong một ngày, một phút. Nhưng sẽ là một niềm vui, một vinh dự cho tôi được chuyển giao nó cho ngài tại căn nhà tầm thường của tôi ở Girgenti mà sự có mặt của ngài sẽ tô điểm và làm cho rạng rỡ, thưa ngài viện sĩ, trong khi nóng lòng chờ đợi ngài đến, cho phép tôi được kính cẩn chào ngài.

Michel Angelo Polizzi

Nhà buôn rượu vang và nhà khảo cổ học ở Girgenti (Sicile).

Vậy thì, tôi sẽ đi Sicile.

“Arethusa, hãy cho tôi được hoàn thành sự nghiệp cuối cùng này”.

Ngày 25 tháng 10 năm 1869

Tôi đã quyết định và mọi sự thu xếp đã xong, tôi chỉ còn báo cho chị quản gia. Thú thật rằng tôi do dự lâu mới báo cho chị sự ra đi của tôi. Tôi sợ chị can ngăn chế nhạo, quở trách, khóc lóc. “Đó là một chị phục vụ trung hậu”, tôi tự nhủ, chị gắn bó với tôi, chị sẽ giữ tôi lại và chỉ có Chúa mới hiểu rằng khi chị đã muốn gì thì lời nói, cử chỉ và tiếng kêu la ít có tác dụng can ngăn được chị. Trong trường hợp này, chị sẽ cầu cứu với bà gác cổng, với anh cọ sàn nhà, với bà trải đệm, với bảy cậu con trai của bác bán rau quả, họ sẽ quỳ xuống vòng tròn dưới chân tôi để mà khóc lóc và trở nên bất nhã đến nỗi tôi phải chịu thua để họ đừng quấy rầy nữa.

Những hình ảnh khủng khiếp, những giấc mộng bệnh hoạn mà mối e ngại tập hợp lại trong trí tưởng tượng của tôi là như vậy đó. Phải, sự e ngại, sự e ngại dồi dào như một nhà thơ đã nói, đẻ ra những quái vật này trong đầu óc tôi. Bởi vì, tôi thú nhận điều đó trong những trang riêng tư này; tôi sợ chị quản gia. Tôi hiểu rằng chị biết tôi yếu đuối, và điều đó tước bỏ mọi can đảm của tôi, trong các cuộc đấu tranh thường xuyên đó, tôi luôn luôn chịu thua.

Nhưng dù sao, cũng phải báo cáo chị Thérèse biết chuyến đi của tôi. Chị ôm củi đến thư viện để châm chút lửa, “một ngọn lửa thôi”, chị bảo. Vì các buổi sáng đều hơi lạnh. Tôi liếc mắt quan sát chị trong khi chị ngồi xổm dưới tấm che lò sưởi. Lúc bấy giờ, tôi không rõ sự can đảm của tôi từ đâu tới, nhưng tôi không do sự. Tôi đứng dậy đi dọc ngang trong phòng:

- À này – tôi lên tiếng nhẹ nhàng, với điệu bộ bạo dạn ở những kẻ nhát gan. – À này, chị Thérèse, tôi đi Sicile đây.

Nói xong, tôi chờ đợi, rất lo lắng. Chị Thérèse không đáp lại. Đầu chị và cái mũ trùm đầu to rộng của chị giấu kín trong lò sưởi, tôi nhận thấy ở người chị không thể hiện một chút xúc cảm nào. Chị ấn thanh củi nhỏ dưới mấy khúc gỗ, thế thôi.

Sau cùng, tôi nhìn lại gương mặt chị, gương mặt thản nhiên, thản nhiên đến nỗi làm cho tôi tức giận.

Chị phục vụ già này thật là không tâm lý. Tôi nghĩ bụng, chị để tôi ra đi mà không nói một lời “chao ôi”. Vậy, phải chăng chị cho là ông chủ già nua của chị vắng nhà không lâu mấy.

- Thưa ông, ông cứ đi – cuối cùng chị nói – nhưng xin ông trở về lúc sáu giờ. Hôm nay chúng ta có một món ăn nóng không chờ được.

Naples, ngày 10 tháng 11 năm 1869

“Với ba xu mày ăn uống và rửa mặt”

- Này anh bạn, tôi hiểu, với ba xu, tôi có thể ăn, uống và rửa mặt tất tần tật, với một lát dưa hấu bày trên chiếc bàn con. Nhưng những thành kiến phương Tây không cho phép tôi thưởng thức khá thật thà sự khoái trá mộc mạc này. Đêm ở Santa Lucia sáng sủa và ồn ào làm sao! Quả cây xếp cao thành đống như núi trong các cửa hàng được các đèn lồng nhiều màu chiếu sáng. Trên các lò đốt lửa lộng gió, nước sôi trong vạc và món cá rán xèo xèo trong chảo. Mùi cá rán, mùi thịt nóng sốt kích thích khứu giác làm cho tôi hắt hơi. Trong hoàn cảnh này, tôi nhận thấy chiếc khăn tay của tôi đã rời khỏi túi áo rơ-đanh-gốt. Tôi bị đám đông vui vẻ nhất, ba hoa nhất, lanh lợi nhất, khôn khéo nhất có thể hình dung được, xô đẩy, nhấc bổng lên và xoay tròn bốn phía, và đây đúng là một chị bạn trẻ đứng sau tôi ba bước, trong lúc tôi chiêm ngưỡng mái tóc đen tuyệt vời của chị, thì bằng một cái hích vai mềm dẻo và có hiệu quả, không làm thiệt hại gì đến tôi, ném tôi vào vòng tay một gã ăn mì ống vừa mỉm cười, vừa tiếp đón tôi.

Tôi đang ở thành phố cảng Naples. Làm thế nào mà tôi đến đó với một ít hành lý, còn lại, chẳng ra hình thù gì, bị cắt xén mà tôi không thể giải thích được với lý do chính tôi cũng chẳng hiểu ra làm sao. Tôi đi đây, đi đó trong tâm trạng hốt hoảng liên miên và tôi tin chắc rằng, chốc nữa, ở nơi đô thị sáng sủa này tôi sẽ có bộ mặt con cú dưới ánh nắng mặt trời. Đêm nay càng tệ hơn! Muốn quan sát phong tục của nhân dân, tôi đến đường Strada di Porto và bây giờ tôi đang ở đây. Xung quanh tôi những nhóm người ồn ào chen chúc trước các cửa hàng thực phẩm và tôi phất phơ như một vật trôi giạt theo chiều sóng bập bềnh khi chìm xuống vẫn còn lướt nhẹ lên. Bởi vì trong cái lanh lợi của dân thành phố Naples này tôi không biết có cái gì đó hiền lành và lừa dối. Tôi không bị xô đẩy, được nghe lời ngon ngọt, tôi nghĩ rằng cứ ra sức đu đưa tôi bên này bên kia những người ấy sẽ làm tôi phải đứng mà ngủ. Khi giẫm lên những tấm đá lát dung nham của con đường, tôi khâm phục phu khuân vác kia, những dân chài kia đi lại trò chuyện, ca hát, hút thuốc, múa may, cãi nhau rồi lại ôm hôn nhau một cách nhanh chóng lạ lùng. Cùng một lúc, họ sống với tất cả các giác quan, và không biết mình khôn ngoan, họ cân nhắc những điều mong ước với cuộc đời ngắn ngủi. Tôi đến gần một quán rượu rất đông khách và tôi đọc trên cửa, bài thơ tứ tuyệt sau đây bằng thổ ngữ thành phố Naples.

Hỡi các bạn, chúng ta hãy ăn uống vui mừng.

Hễ đèn còn dầu thắp sáng

Nào ai biết ở thế giới bên kia ta còn gặp nhau chăng?

Nào ai biết ở thế giới bên kia có một tửu quán?

Horace cũng có những lời khuyên tương tự cho các bạn ông. Anh bạn Postumus, anh đã tiếp nhận những lời khuyên ấy, nàng Leuconoé, người đàn bà nổi loạn xinh đẹp muốn biết bí mật của tương lai, đã nghe những lời khuyên ấy. Thời tương lai đó bây giờ thành ra quá khứ và chúng ta nhận biết điều đó. Thực tế các người rất sai lầm khi băn khoăn về chuyện nhỏ nhặt như vậy, và bạn các người tỏ ra biết điều khi khuyên các người hãy khôn ngoan và kiểm tra món rượu vang Hy Lạp của các người. Mặt mày hắn bự rượu. Chính vì vậy, một quả đất đẹp đẽ và một bầu trời sáng báo hiệu những khoái trá êm đềm. Nhưng có những tâm hồn day dứt vì một chuyện bất bình cao thượng, đó là những kẻ cao thượng nhất. Leuconoé, nàng ở trong số đó; và đến tuổi về chiều của đời tôi, tại một thành phố nơi đã từng rực sáng sắc đẹp của nàng tôi kính chào cái hình bóng sầu muộn của nàng. Những tâm hồn như nàng trong các nước theo đạo Cơ đốc là những tâm hồn các nữ thánh và những phép lạ của họ chứa đầy tập Truyện thánh kỳ diệu. Ông bạn Horace của các người đã để lại một hậu duệ ít hào hiệp hơn và tôi thấy một số cháu trai của ông với tư cách là chủ quán rượu hiện nay, rót rượu vang vào chén tách dưới tấm biển hàng khoái lạc chủ nghĩa của anh ta.

Thế nhưng cuộc sống nhận rằng anh bạn Flaccus có lý và triết lý của anh ấy là duy nhất thích ứng với chiều hướng của sự việc. Bạn hãy nhìn anh chàng tựa vào tấm lưới sắt phủ đầy cành nho này đang vừa ăn một cục nước đá vừa nhìn các vì sao. Hắn sẽ không cúi xuống nhặt tập bản thảo cũ kỹ kia, dù trải qua bao nhiêu khó nhọc, tôi mới kiếm được. Và thực tế con người sinh ra là để ăn nước đá hơn để tra cứu những văn bản cổ.

Tôi tiếp tục đi lang thang quanh đám nghiện rượu và ca sĩ. Có những cặp tình nhân vừa ôm eo nhau vừa cắn những quả táo to. Đúng là con người vốn xấu xa, bởi vì mọi vui sướng xa lạ này làm cho tôi buồn phiền sâu sắc. Đám đông này phô trương một sở thích quá hồn nhiên của cuộc đời khiến cho kẻ cạo giấy già nua biết điều liêm sỉ như tôi lấy làm hoảng sợ. Rồi tôi thất vọng khi không hiểu nổi những lời nói vang lên trong không khí. Đó là điều thách thức nhục nhã đối với một nhà ngữ văn học. Tôi hết sức cáu kỉnh khi nghe đằng sau một vài lời làm cho tôi vểnh tai lên:

- Anh Dimitri, ông già này chắc là người Pháp, cái vẻ lúng túng của ông cụ làm cho em mủi lòng. Anh muốn nói chuyện với cụ không, anh Dimitri, anh không thấy cụ có cái lưng tròn thanh nhã đó sao?

Câu nói bằng tiếng Pháp, giọng đàn bà.

Trước hết tôi hơi khó chịu nghe họ bảo tôi là ông già. Ở tuối sáu mươi hai mà đã là một ông già rồi sao? Hôm nọ trên cầu Nghệ thuật anh bạn đồng sự Perrot d’Avrignac của tôi đã khen tôi còn trẻ trung mà, hẳn là anh am hiểu về tuổi tác hơn con chim chiền chiện non nói như hát sau lưng tôi kia, nhưng con chim chiền chiện thì hát vào ban đêm. Nàng bảo lưng tôi tròn. Ái chà! Tôi hơi nghi ngờ điều này; tôi không tin chút nào hết, trừ lúc đó là ý kiến của một con chim mái. Tôi không quay đầu lại xem ai đã lên tiếng, nhưng tôi chắc đó là một thiếu phụ xinh đẹp. Vì sao?

Bởi vì tiếng nói của những người đàn bà đang độ xinh đẹp hoặc đã có một thời xinh đẹp, đang hay đã được ưa thích, có thể đơn thuần có cách chuyển giọng phong phú thuận lời và tiếng nói trong như bạc này còn là một tiếng cười. Từ mồm một người đàn bà xấu xí biết đâu chẳng sẽ tuôn ra một lời ngọt ngào hơn, du dương hơn nhưng chắc không hoạt bát, không ríu rít líu lo như vậy.

Những ý nghĩ đó hình thành trong trí tôi không đầy một giây và ngay lúc ấy, để lánh xa hai kẻ lạ, tôi lao vào đám đông nhất của nhân dân thành phố Naples và đi vào một phố nhỏ quanh co chỉ được một ngọn đèn soi sáng trước hốc tường thờ tượng Thánh Mẫu. Lúc ấy, thong thả suy nghĩ hơn, tôi nhận ra thiếu phụ xinh đẹp kia (chắc chắn là nàng xinh đẹp) đã bày tỏ với tôi một ý nghĩ nhân hậu đáng cho tôi biết ơn.

- Anh Dimitri, ông già này chắc là người Pháp, cái vẻ lúng túng của ông cụ làm cho em mủi lòng. Anh muốn nói chuyện với cụ không, anh Dimitri, anh không thấy cụ có cái lưng tròn thanh nhã đó sao?

Nghe những lời ân cần ấy, tôi không phải chạy trốn đột ngột. Tốt hơn hết là lịch sự bắt chuyện với thiếu phụ có tiếng nói trong sáng, tôi quyết định nghiêng mình nói với nàng:

- Thưa bà, mặc dù bà không muốn, tôi đã nghe điều gì bà vừa phát biểu. Bà muốn giúp đỡ một người già tội nghiệp. Thưa bà, việc đó đã xong: chỉ cái âm thanh tiếng Pháp đã làm tôi vui thích và tôi xin cảm ơn bà.

Chắc tôi phải bày tỏ với nàng những lời như thế hoặc tương tự. Tất nhiên nàng là người Pháp. Tiếng nói của phụ nữ Pháp êm ái nhất thế giới. Như chúng ta, người ngoại quốc cũng cảm thấy sự duyên dáng lôi cuốn của nó. Philippe de Bergame đã nói năm 1843 về Jeanne la Pucelle: “Ngôn ngữ của phu nhân dịu dàng như ngôn ngữ đàn bà xứ sở của phu nhân”. Thiếu phụ đang nói chuyện với người bạn tên là Dimitri. Có thể ông này là người Nga. Đó là những kẻ giàu có đang lê nỗi u sầu đi khắp nơi. Phải thương xót họ: của cải vây quanh lấy họ mà không thẩm thấu vào họ; họ đáng thương, nội tâm cùng quẫn. Sự khốn khổ của người giàu thật thê thảm.

Sau những suy nghĩ như vậy, tôi đã vào trong một ngõ hẻm hay nói theo ngôn ngữ dân Naples, trong một lối tắt dưới bao nhiêu vòm cầu và ban công nhô ra, đến nỗi không một ánh sáng mặt trời nào chiếu xuống. Tôi bị lạc, và buộc phải đi tìm đường cả đêm theo bất cứ dấu vết nào. Còn hỏi đường thì phải gặp cho được một mặt người và tôi không mong thấy được một ai. Trong cơn thất vọng tôi đi liều vào một đường phố, một đường phố hay đúng hơn một nơi vắng vẻ nguy hiểm kinh khủng. Ở đấy hoàn toàn có không khí ấy. Đó là một nơi như vậy, bởi vì mới bước vào mấy phút, tôi bỗng thấy hai gã đàn ông chơi dao – Họ công kích nhau bằng lời hơn là bằng dao và qua những câu chửi rủa, tôi hiểu ra họ là hai gã si tình. Tôi thận trọng đi vào một con hẻm gần đấy, còn những người tử tế nọ tiếp tục công việc của họ, không chút băn khoăn tới tôi. Tôi đi chậm không chủ đích một lúc và chán nản ngồi xuống một chiếc ghế đá, tôi mới trách mình qua bao nhiêu chỗ ngoặt đã vội vàng xa lánh Dimitri và cô bạn gái có tiếng nói trong trẻo của anh.

- Chào ngài. Ngài từ San Carlo trở về? Ngài có nghe nữ danh ca không? Chỉ ở Naples, người ta mới hát như nàng.

Tôi ngẩng đầu lên, nhận ra ông chủ lữ điếm, thì ra tôi đang ngồi cạnh mặt trước khách sạn của tôi, dưới cửa số của chính phòng tôi.

Monte-Allegro ngày 30 tháng 11 năm 1869

Chúng ôi, những người dẫn đường và tôi, và những con la cái của họ, nghỉ trên đường Sciacca di Girgenti, trong một quán trọ làng Monte Allego nghèo nàn, ở đây dân chúng suy yếu lập cập dưới ánh mặt trời. Những còn có những người Hy Lạp. Họ vui vẻ chịu đựng được tất cả. Một vài người trong bọn họ ở gần quán trọ còn tỏ ra tò mò, tươi vui. Nếu tôi biết kể cho họ nghe một câu chuyện hoang đường, điều đó có thể khiến họ quên những tai họa của cuộc đời. Họ có vẻ thông minh, còn phụ nữ, dù bị rám nắng và héo hon thì mặc áo choàng đen dài vẫn duyên dáng.

Tôi thấy trước mặt, những phế tích hao mòn vì gió biển, ngay tới cỏ cũng không mọc lên được ở đây. Cái buồn ủ ê nơi hoang vắng ngự trên mảnh đất khô cằn này mà lòng đất nứt nẻ hầu như không nuôi nổi một vài cây trinh nữ trụi lá, mấy cây xương rồng và cọ lùn. Cách tôi vài chục bước dọc theo khe nước, những hạt sạn trắng ra như một vệt dài những hài cốt – Người dẫn đường cho tôi biết đó nguyên là một con suối.

Tôi ở Sicile từ mười lăm ngày nay. Đi vào vịnh Catalfano khô cằn, hùng vĩ và hõm sâu xuống dọc theo vùng thâm cung vàng, đầy rẫy những cây sim, cây cam, tôi cảm thấy kinh ngạc đến nỗi phải quyết định đi thăm hòn đảo với những dãy đồi. Là khách du lịch già đời bạc tóc ở phương Tây tàn bạo, tôi dám mạo hiểm trên mảnh đất cổ xưa này. Tôi thu xếp với người hướng dẫn đi từ Palerne đến Trapani, từ Trapani đến Sélinonte, từ Sélinonte đến Girgenti, nơi tôi phải tìm ra tập bản thảo của Jean Toutmouillé. Những cái đẹp đã trông thấy, còn in trong trí óc tôi, đến nỗi tôi xem việc mô tả chúng kỹ càng như một việc làm vất vả vô ích. Vì sao lại gom góp những điều ghi chép để làm hỏng chuyến đi? Những người yêu tha thiết không viết về hạnh phúc của mình.

Tất cả cho nỗi sầu muộn của hiện tại, cho chất thơ của quá khứ, tâm hồn được trang bị những hình ảnh đẹp, đôi mắt đầy những đường nét hài hòa, trong sạch. Ở quán trọ làng Monte Allegro, tôi thưởng thức giọt rượu vang nồng đậm và thấy một thiếu phụ yêu kiều đội mũ rơm, mặc áo dài bằng lụa bước vào phòng, mái tóc sẫm, mắt đen long lanh. Theo dáng đi của nàng, tôi nhận ngay ra nàng là phụ nữ thành phố Paris. Nàng ngồi xuống. Chủ quán đặt cạnh nàng một cốc nước mát với một bó hoa hồng. Tôi đứng lên ngay khi nàng đến, kín đáo dịch ra khỏi bàn một ít, và giả vờ chiêm ngưỡng những trang thánh thành kính treo trên tường. Lúc ấy tôi nhận thấy rất rõ nàng nhìn tôi từ sau lưng và bằng một cử động nhỏ, tỏ ý ngạc nhiên. Tôi lại gần cửa sổ nhìn mấy cỗ xe tồi tàn có quét sơn, đi qua trên con đường đá hai bên trồng cây xương rồng và gai lưỡi long.

Trong khi nàng uống nước đá, tôi nhìn trời. Ở Sicile dùng nước mắt và hít thở không khí ban ngày là một cách thưởng thức khoái trá không thể tả. Tôi thì thầm trong bụng câu thơ của thi sĩ thành Athen:

“Ôi! Ánh sáng thần thánh, con mắt của ngày vàng”.

Nhưng người đàn bà Pháp tò mò đặc biệt quan sát tôi, và mặc dù tôi không dám mạnh dạn nhìn nàng tôi vẫn cảm thấy nàng dán mắt vào tôi – Hình như tôi có năng khiếu đoán ra những cái nhìn vào mình mà không cần bắt gặp ánh mắt họ. Nhiều người cũng tin mình có khả năng huyền bí đó; nhưng thực ra chẳng có gì huyền bí cả, khi ấy ta được một dấu hiệu nào đó báo trước nhưng rất thoáng qua đến nỗi ta không kịp phát hiện ra nó. Tôi không thể không thấy cặp mắt xinh đẹp của thiếu phụ phản chiếu trong kính cửa sổ.

Khi tôi quay lại nhìn nàng thì bốn mắt chúng tôi gặp nhau.

Một con gà mái đen kiếm ăn trong căn phòng quét chưa sạch.

- Con mẹ phù thùy, mày muốn ăn bánh à. Thiếu phụ nói và vứt những mẩu vụn còn lại trên bàn xuống cho nó.

Tôi nhận ra ngay tiếng nói đã nghe được trong đêm tối ở Santa Lucia.

- Xin lỗi bà – tôi nói ngay – dù chưa quen biết bà, tôi phải làm tròn một nhiệm vụ là cảm ơn về sự ân cần của bà đối với người đồng hương già nua lang thang trong đêm khuya trên đường phố Naples.

- Thưa ông, ông nhận ra tôi, tôi cũng nhận ra ông. Nàng đáp.

- Nhờ cái lưng tôi, thưa bà?

- A ha, ông đã nghe khi tôi nói với chồng tôi rằng ông có cái lưng đẹp. Điều đó không thể làm phật ý ông. Nhưng tôi rất tiếc nếu đã làm ông tức giận.

- Thưa bà, trái lại, bà đã làm tôi vui thích. Lời nhận xét của bà ít nhất về nguyên tắc xem như đúng và sâu sắc. Bản sắc con người không chỉ thể hiện trên nét mặt. Có những bàn tay biểu hiện kẻ tài hoa, có những bàn tay biểu hiện kẻ nghèo sức tưởng tượng. Có những đầu gối biểu hiện kẻ ích kỷ, những đôi vai biểu hiện kẻ ngạo nghễ và những cái lưng đáng chú ý.

- Đúng thế! – Nàng đáp. – Nhưng tôi cũng nhận biết ông qua gương mặt. Chúng ta đã gặp nhau trước kia ở Ý hoặc nơi nào khác, tôi không nhớ nữa. Ông hoàng và tôi, chúng tôi đi du lịch nhiều.

- Thưa bà, tôi không bao giờ tin rằng có diễm phúc được gặp bà – tôi đáp. – Tôi là một kẻ cô đơn già nua. Cả đời tôi chăm chú vào sách vở, ít đi đâu. Bà đã thấy tôi, vì thế mà tôi lúng túng khiến bà đem lòng thương hại. Tôi tiếc đã sống một cuộc đời xa lánh mọi người, ru rú ở nhà – Dĩ nhiên người ta có học được đôi điều qua sách vở, nhưng người ta càng học tập được nhiều hơn khi đi đây đi đó.

- Ông là dân Paris?

- Thưa bà, vâng. Từ bốn mươi năm nay, tôi vẫn ở căn nhà ấy, ít đi ra ngoài. Đúng là nhà này ở trên bờ sông Seine, trong vùng nổi tiếng đẹp nhất thế giới. Từ cửa sổ, tôi nhìn thấy cung điện Tuileries, nhà bảo tàng Louvre, cây cầu Pont Neuf, những tháp nhà thờ Đức bà, những tháp con của Pháp đình và mũi tên nhà thờ Sainte Chapelte – Tất cả những phiến đá đó biết nói: Chúng kể cho tôi lịch sử kỳ diệu của người Pháp.

Nghe đến đây, thiếu phụ có vẻ kinh ngạc thán phục.

- Căn hộ ông ở trên bến cảng à? Nàng hỏi ngay.

- Trên bến cảng Malaquais – tôi đáp – Ở gác ba nhà người bán tranh ảnh. Tôi tên là Sylvestre Bonnard. Tên tôi ít ai biết, nhưng đó là tên một hội viên Học viện nước Pháp và đối với tôi, thế cũng đủ cho các bạn tôi không quên nó.

Nàng nhìn tôi, một cách ngạc nhiên khác thường. Và cái nhìn ấy lộ ra niềm hứng thú, nỗi u buồn và cả sự mủi lòng. Còn tôi không thể hiểu một câu chuyện giản đơn như vậy có thể đem lại cho người thiếu phụ không quen biết này, những cảm xúc khác nhau mãnh liệt đến thế.

Tôi chờ nàng giải thích sự ngạc nhiên của mình, nhưng một người to lớn, im lặng, hiền lành và buồn bã bước vào phòng.

- Đây là chồng tôi, hoàng thân Trépof – Nàng giới thiệu với tôi và chỉ tôi với chồng: – Đây là ông Sylvestre Bonnard, hội viên Học viện nước Pháp.

Hoàng thân nhún vai chào. Ông có hai vai cao, rộng và ủ rũ.

- Này cô em yêu quý – ông nói – anh lấy làm tiếc đã gián đoạn câu chuyện giữa em và ông Sylvestre Bonnard. Nhưng xe đã đóng la vào rồi, và chúng ta phải đến Mello trước khi trời tối.

Nàng đứng dậy, cầm mấy bông hoa hồng của chủ quán biếu nàng và rời nhà trọ. Tôi đi theo nàng, còn hoàng thân thì trông nom việc đóng la vào xe và thử độ bền chắc của các đai da và dây curoa.

Đứng dưới giàn nho, nàng mỉm cười nói với tôi:

- Chúng tôi đi Mello, đó là một làng ghê gớm, cách Girgenti sáu dặm, ông không bao giờ đoán ra vì sao chúng tôi đến đó. Ông đừng đi thử. Chúng tôi đi tìm một hộp diêm. Dimitri sưu tập những hộp diêm. Anh ấy đã thử tiến hành tất cả các sưu tập, những vòng cổ chó, những cúc quân phục, những tem bưu điện. Nhưng chỉ có hộp diêm là anh thích thú hơn cả, những hộp bằng các-tông với những bản in li tô màu. Chúng tôi đã tập hợp được năm nghìn hai trăm mười bốn kiểu khác nhau. Có kiểu chúng tôi phải khó nhọc kinh khủng mới tìm ra. Như vậy, chúng tôi được biết ở Naples người ta làm những hộp có hình Mazzini và Garibaldi[2] đã bị cảnh sát tịch thu và bắt giam người chế tạo. Cố tìm tòi, hỏi han, chúng tôi tìm ra một trong những hộp đó tại nhà một người dân quê bán cho chúng tôi giá một trăm lia rồi lại đi tố giác chúng tôi với cảnh sát. Họ khám xét hành lý chúng tôi. Không tìm ra cái hộp đó họ cướp đi những nữ trang của tôi. Lúc ấy, tôi mới biết thích bộ sưu tập này. Hè đến, chúng tôi sẽ đi Thụy Điển để bổ sung cho đủ các loại của chúng tôi.

Tôi cảm thấy (tôi phải nói ra điều này chăng?) một sự thương hại đáng yêu nào đó đối với những người thích sưu tập kiên trì này. Dĩ nhiên tôi thích ông bà Trépof thu thập ở Sicile những tượng đá hoa cổ đại, những lọ được quét sơn hoặc những đồng tiền cổ. Tôi mong muốn họ băn khoăn lo lắng với những phế tích ở Agrigente và những truyền thuyết nên thơ của thành cổ l’Eryx. Như thế là họ lại tạo ra một bộ sưu tập, họ cùng hội với nhau và tôi có thể chế nhạo mà không tự chế giễu chính mình một chút chăng?

- Bây giờ thì ông biết tại sao chúng tôi đi du lịch đến xứ sở kinh khủng kia không? – Nàng nói tiếp.

Lần này thì tôi hết thiện cảm và có phần phẫn nộ.

- Thưa bà, đó không phải là xứ sở kinh khủng – tôi đáp – đó là một xứ vinh quang. Cái đẹp là một vật vĩ đại và uy nghi đến nỗi bao nhiêu thế kỷ hành động tàn bạo không thể xóa bỏ đến mức không còn là những di tích đáng sùng bái nữa. Vẻ uy nghiêm của thần Céres cổ đại còn trùm lên những đồi núi khô cằn kia và nữ thần nghệ thuật Hi Lạp, bằng những giọng nói tuyệt trần của mình đã làm vang lên hình bóng nguồn nước Arethuse và ngọn núi Menale, còn đang hát bên tai tôi trên cánh rừng trơ trụi và trên dòng suối đã khô cạn. Phải, thưa bà, đến ngày tận thế, khi quả địa cầu không người ở như mặt trăng ngày nay, xoay cái xác chết tái xanh của nó trong không gian, mặt đất còn những phế tích ở Sélinonte, sẽ giữ lại, trong cái chết vĩnh hằng, những dấu hiệu của cái đẹp, lúc ấy, ít ra là lúc ấy, sẽ không có cái mồm khinh bạc nữa để xúc phạm những cảnh hùng tráng u tịch của nó.

Nói tới đây, tôi cảm thấy dại dột. “Bonnard – tôi tự bảo – một người già như mày, cả đời chúi mũi vào sách vở, không biết nói chuyện với đàn bà”. May thay Trépof phu nhân không hiểu gì hơn lời nói của tôi cho đó là tiếng Hi Lạp.

Phu nhân dịu dàng bảo tôi:

- Dimitri buồn chán và tôi cũng vậy. Chúng tôi mua được nhiều hộp diêm, nhưng rồi cũng đâm chán chúng. Ngày xưa tôi có những nỗi buồn, nhưng tôi không buồn; những nỗi buồn, đó là một cách tiêu khiển cao thượng.

Động lòng vì sự khốn cùng về tinh thần của người đẹp, tôi nói:

- Thưa phu nhân, tôi ái ngại cho phu nhân không có con. Nếu phu nhân có được một cháu, thì mục đích cuộc đời phu nhân sẽ xuất hiện, và tư tưởng của phu nhân cũng đồng thời sẽ nghiêm trang hơn, an ủi hơn.

- Tôi có một cháu trai – nàng đáp – cháu đã lớn, cháu Georges, đó là một trang nam nhi; cháu tám tuổi. Tôi yêu quý cháu nhiều như khi cháu còn rất bé, nhưng bây giờ sự việc không phải như thế nữa.

Phu nhân đưa cho tôi một bông hoa hồng trong bó hoa của mình, mỉm cười và nói với tôi khi bước lên xe:

- Thưa ông Bonnard, ông không thể hiểu niềm vui của tôi khi được gặp ông. Tôi nhất định sẽ tìm gặp lại ông tại Girgenti.

Girgenti, cùng ngày

Tôi cố gắng thu xếp ngồi trong chiếc lettica, một loại xe không có bánh, hay như người ta có thể gọi, một thứ kiệu song loan, một chiếc ghế có hai con lừa cái kéo, một con đằng trước, một con đằng sau. Sử dụng xe này là xưa rồi. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp hình ảnh các thứ kiệu này trong các bản thảo thế kỷ 14. lúc ấy, tôi đâu biết rằng một ngày nào đó, một cái kiệu song loan hoàn toàn giống như thế lại chở tôi từ Monte Allergo đến Girgenti. Đúng là chẳng thể biết trước được điều gì.

Trong ba giờ, hai con lừa cái làm vang lên những chiếc lục lạc và dập móng xuống đất bị nung khô. Trong khi quanh tôi, giữa hai hàng rào trầm hương, chậm rãi trải ra những hình dáng cằn cỗi của trạng thái tự nhiên như ở châu Phi, thì tôi nghĩ tới tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé, mà tôi khao khát ước ao một cách chân thành khiến cho chính tôi cũng lấy làm cảm động. Và trong niềm khao khát chân thành ấy tôi phát hiện bao nhiêu điều ngây thơ trẻ con cảm động.

Về tối, mùi hoa hồng càng ngào ngạt làm tôi nhớ tới Trépof phu nhân. Sao hôm bắt đầu lóng lánh trên bầu trời. Tôi suy nghĩ. Trépof là một giai nhân rất giản dị, hết sức gần gũi thiên nhiên. Nàng có những tư tưởng của một phụ nữ được nuông chiều. Tôi không phát hiện ở nàng một chút khát khao hiểu biết thanh cao nào đã lay động những tâm hồn có suy nghĩ. Thế nhưng phu nhân đã diễn đạt theo cách của mình, một tư tưởng sâu sắc: “Người ta không buồn bực, khi gặp phải những điều phiền lụy”. Vậy thì phu nhân biết rằng trên đời này, nỗi lo âu và sự đau khổ là những trò giải trí hiệu quả nhất của chúng ta. Những sự thật vĩ đại không bao giờ được phát hiện mà không trải qua lao động và vất vả. Do đâu mà bà hoàng Trépof có được tư tưởng đó?

Girgenti, ngày 1 tháng 12 năm 1869

Sáng hôm sau, tôi thức dậy, tại khách sạn Gellias ở Girgenti.

Gellias ngày xưa là một công dân giàu có của thành phố cổ Agrigente. Ông nổi tiếng về lòng hào hiệp cũng như về tính xa hoa, ông đã trang bị cho thành phố một số khách sạn sang trọng không lấy tiền. Gellias đã từ trần từ mười ba thế kỷ, và ngày nay không còn lòng hiếu khách miễn phí của các dân tộc văn minh. Nhưng tên tuổi của Gellias trở thành tên một khách sạn. Và tại đây, do mệt mỏi quá tôi ngủ được trọn đêm.

Thành phố Girgenti hiện đại xây dựng trên vệ thành phố Agrigente cổ đại, những căn nhà chật hẹp, chen chúc, còn ngôi nhà thờ lớn Tây Ban Nha màu sẫm thì sừng sững vươn cao. Từ các cửa sổ, tôi nhìn ra biển, ở lưng chừng dốc, một dãy trắng đến đài nửa phần đổ nát. Chỉ những phế tích này ít nhiều còn tươi tắn. Tất cả mọi thứ còn lại đều khô cằn. Nước và sự sống đã ruồng bỏ thành phố Agrigente. Nước, vị nữ thần Nestis tuyệt diệu của Empédocle cần thiết cho sinh vật đến nỗi xa sông xa suối thì không gì sống nổi. Nhưng hải cảng Girgenti, cách thành phố ba ki-lô-mét, lại tạo ra một khu thương nghiệp to lớn. Ấy vậy mà trong thành phố buồn tẻ này, trên núi đá dốc đứng này, đang tồn tại tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé ư? Tôi tự nhủ, nhờ người chỉ nhà ông Michel Angelo Polizzi rồi đi đến đó.

Tôi bắt gặp ông Polizzi ăn mặc màu vàng từ đầu đến chân, đang rán xúc xích trong chảo. Thấy tôi, ông buông cán chảo, đưa hai tay lên không và phấn khởi kêu lên. Đó là một người nhỏ con, mặt đầy mụn, mũi khum, cằm nhô ra, cặp mắt tròn, tất cả biểu một gương mặt đặc biệt lanh lợi.

Ông gọi tôi là ngài, ông nói ông sẽ đánh dấu ngày này bằng một viên kim cương trắng và mời tôi ngồi xuống. Căn phòng chúng tôi đang ngồi vừa là nhà bếp, vừa là phòng khách, buồng ngủ, xưởng vẽ và là kho thực phẩm. Ở đây có bếp lò, một cái giường, vải vẽ, một giá vẽ và những chai lọ ớt đỏ. Tôi đưa mắt nhìn lên những bức tranh treo khắp các bức tường.

- Văn học nghệ thuật! Văn học nghệ thuật! – Ông Polizzi một lần nữa vừa kêu kên, vừa đưa tay lên trời – Văn học nghệ thuật! Phẩm cách ghê chưa! Nguồn an ủi ghê chưa! Thưa ngài, tôi là họa sĩ.

Lúc ấy, ông chỉ cho tôi một vị thánh Fracois chưa vẽ xong nhưng có thể cứ giữ nguyên như thế, mà không hại gì đến nghệ thuật và việc thờ cúng. Tiếp đó, ông cho tôi xem một số tranh cổ kiểu đẹp nhất, nhưng tôi có cảm tưởng là chúng được phục chế một cách không thận trọng.

- Tôi phục hồi những bức tranh cổ – ông nói – Ô! Những bậc thầy ngày xưa! Tâm hồn ghê thật! Thiên tài ghê thật!

- Ông đồng thời là họa sĩ, là nhà khảo cổ học và là nhà buổn rượu vang. Thực không? – Tôi hỏi.

- Để phục vụ ngài – ông đáp – lúc này, tôi có thứ rượu Zucco mà mỗi giọt là một giọt lóng lánh hương nồng. Tôi muốn ngài thưởng thức món này.

- Tôi thích rượu vang Sicile – tôi đáp – nhưng không phải vì những bình rượu mà tôi đến thăm ông, ông Polizzi ạ.

- Vậy vì những bức tranh. Ngài định mua. Tôi vui mừng vô hạn được tiếp những người ham thích tranh. Tôi sẽ mời ngài xem kiệt tác của Monrealese. Vâng, thưa ngài, kiệt tác của ông ấy. Bức tranh Sự tôn thờ các cha. Đó là bảo vật của trường phái Sicile.

- Tôi sẽ vui lòng xem tác phẩm này, nhưng trước hết ta hãy nói về lý do đưa tôi đến đây.

Đôi mắt nhanh nhẹn của ông nhìn tôi sững sờ chăm chú, và tôi không phải không kinh hoàng dữ dội nhận thấy ông cũng chẳng nghi ngờ mục đích cuộc thăm viếng của tôi.

Rất bối rối, trán lạnh toát mồ hôi, tôi ấp a ấp úng một câu đại khái như sau:

- Tôi cố ý từ Paris đến trao đổi về bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu mà ông đã cho tôi biết là ông đang giữ.

Nghe tới đó, ông đưa hai tay lên, mồm há to, mắt mở tròn xoe, cử chỉ hết sức sôi nổi hoạt bát.

- Ồ! Bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu! Một báu vật thưa ngài, một viên ngọc, một viên kim cương! Hai tiểu phẩm hoàn hảo đến nỗi khiến ta thoáng thấy chốn thiên đường. Êm ái biết mấy! Những tràng hoa màu sắc tươi vui kia trông dịu ngọt quá chừng! Julio Clovio cũng không hơn được.

- Xin ông cho tôi xem tập truyện – Tôi nói, không che giấu được lo lắng và hy vọng của mình.

- Đưa cho ngài xem! – Polizzi kêu lên – Thưa ngài, sao có thể được? Tôi không còn tập truyện đó, không còn nữa!

Lúc ấy ông ta dường như muốn dứt tóc. Nếu tôi không can ngăn, có thể ông sẽ dứt trọc đầu. Nhưng rồi ông ta dừng lại trước khi làm điều đó.

- Thế nào – Tôi tức giận hỏi – Tại sao? Ông bảo tôi từ Paris đến Girgenti để trao cho tôi tập bản thảo, và khi tôi đến thì ông lại bảo bản thảo ấy không còn nữa. Thật xấu xa ông ạ. Tôi dành để cho mọi người trung thực đánh giá hạnh kiểm của ông thôi.

Ai thấy tôi lúc ấy cũng phải nghĩ rằng tôi đúng là con cừu phát khùng.

- Thật xấu hổ! Thật xấu hổ! – Tôi vừa nhắc lại vừa duỗi hai tay run rẩy.

Michel Angelo Polizzi ngả người xuống ghế tựa trong tư thế vai một nhân vật nam chính hấp hối. Tôi thấy y khóc, hai mắt sung vù, còn tóc lúc đầu bóng nhoáng thì nay rối tung rủ xuống trán.

- Tôi là người cha, thưa ngài, tôi là người cha! – Y chắp hai tay lại, kêu lên.

Y vừa thổn thức vừa nói tiếp:

- Thằng con trai Rafaello của tôi, của người vợ tội nghiệp của tôi, mà cái chết từ mười lăm năm nay làm tôi đau xót. Cháu Rafaello, thưa ngài, cháu muốn làm nghề ở Paris, đã thuê một cửa hiệu phố Laffitte để bán đồ hiếm lạ. Tôi đã cho cháu tất cả những gì quý giá của tôi, những đồ sành Ý đẹp nhất của tôi, những đồ sành Urbino đẹp nhất của tôi, những bức tranh bậc thầy của tôi, những bức tranh ghê thật, thưa ngài! Chúng còn làm cho tôi choáng người khi tưởng thấy lại chúng trong trí, tất cả đều có chữ ký. Cuối cùng tôi lại cho cháu bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu. Tôi đã cho cháu thịt và máu của tôi. Một đứa con trai độc nhất! Đứa con trai của người vợ tội nghiệp của tôi, đã theo Chúa và tuân thủ giáo lý của Người.

- Thế là, trong khi vì tin ông, tôi đã đi tới nơi tận cùng đảo Sicile để tìm tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé, thì nó đã được trưng bày trong tủ kính ở phố Laffitte cách nhà tôi một nghìn năm trăm mét.

- Thưa ngài, tập bản thảo đã ở đó, đấy là sự thật hoàn toàn, theo tôi nghĩ nó vẫn còn đó – Ông Polizzi bỗng bình tĩnh lại trả lời tôi.

Ông biếu ngay cho tôi tấm bản đồ trên chiếc bàn con và nói:

- Đây là địa chỉ con trai tôi. Đề nghị ngài cho các bạn ngài được biết, xin ngài làm ơn giúp tôi. Cháu có đầy đủ một bộ tác phẩm nghệ thuật, toàn bộ hàng hóa, mỹ nghệ phẩm cổ đại nào là đồ sành, đồ sứ, vải vóc, tranh ảnh, xin lấy danh dự mà thề với ngài. Mời ngài đến xem, cháu sẽ đưa cho ngài bản thảo Tập truyện thánh kỳ diệu. Hai tiểu phẩm tươi mát lạ thường.

Tôi uể oải cầm bản đồ y đưa cho.

Người này lạm dụng sở thích của tôi bằng cách bảo tôi lại một lần nữa tung ra tên tuổi của Rafaello Polizzi trong các giới thượng lưu.

Tôi đã để tay lên nút cửa thì ông bạn đảo Sicile của tôi cầm lấy tay tôi, có vẻ hứng thú.

- A! Thưa ngài, thành phố chúng tôi đáng tự hào bao nhiêu! Nó đã sản sinh ra Empédocle[3]. Empédocle! Một con người vĩ đại biết mấy, một công dân vĩ đại biết mấy! Một nhà tư tưởng táo bạo biết mấy! Trên bến cảng dưới kia, có tượng đài Empédocle, mỗi khi đi ngang qua tôi đều bỏ mũ xuống. Khi Rafaello, con trai tôi, đi mở hiệu buôn đồ cổ trên đường Laffitte ở Paris, tôi dẫn cháu đến bến cảng thành phố chúng tôi, và chính dưới chân tượng đài Empédocle, tôi đã ân cần chúc phúc cho cháu và nói: “Con hãy nhớ tới Empédocle”. A! Ngài là một Empédocle mới mà ngày nay Tổ quốc khốn khổ của chúng tôi cần đến – Thưa ngài, ngài có muốn tôi đưa ngài đến tới tượng đài ông ta không? Tôi sẽ hướng dẫn ngài tham quan các phế tích. Tôi sẽ chỉ cho ngài đến Casto và Pollux, đền Jupiter Olympien, đền Junon Luciniennce, giếng cổ, ngôi mộ Theron và kim môn. Những người hướng dẫn du khách đều là bọn dốt nát. Tôi là một hướng dẫn viên giỏi, nếu ngài muốn, chúng ta lục soát và sẽ phát hiện những vật quý giá. Tôi am hiểu và có khiếu lục soát. Tôi đã phát hiện ở những nơi khai quật, những kiệt tác mà những nhà bác học không tìm thấy gì hết.

Tôi đã đi khỏi. Nhưng ông ta chạy theo, chặn tôi lại ở chân cầu thang và nói nhỏ vào tai:

- Thưa ngài, xin hãy nghe đây: Tôi sẽ đưa ngài đi dạo phố, để ngài xem phụ nữ Girgenti, phụ nữ đảo Sicile, vẻ đẹp cổ sơ. Và tôi sẽ chỉ ngài xem những phụ nữ nông thôn nhỏ bé Italia. Ngài bằng lòng chứ?

- Trời tru đất diệt ông! Tôi phẫn nộ kêu lên.

Lúc ấy tôi chạy vụt ra đường, bỏ lại ông đang dang hai cánh tay ra.

Khi đã đi khuất, tôi quỵ xuống một hòn đá, hai tay ôm đầu suy nghĩ.

- Phải chăng, tôi đến Sicile để mà am hiểu những chuyện dạm mua bán như thế?

Chắc gã Polizzi này và con trai hắn là một phường đều giả. Nhưng cha con hắn ngầm trù liệu gì đây? Tôi không thể làm sáng tỏ được. Trong khi chờ đợi, có chăng là tôi bị khá sỉ nhục và buồn phiền.

Một bước đi nhẹ nhàng với tiếng vải sột soạt khiến tôi ngẩng đầu lên và bỗng thấy bà hoàng Trépof đi về phía tôi. Bà giữ tôi lại trên ghế, cầm tay tôi và dịu dàng nói:

- Tôi đi tìm ông, ông Sylvestre Bonnard ạ! Được gặp ông đối với tôi là một niềm vui lớn. Tôi muốn để lại cho ông một kỷ niệm êm đềm về cuộc gặp gỡ của chúng ta. Tôi thực sự muốn như vậy.

Trong khi nàng nói, tôi tưởng thấy dưới chiếc khăn trùm của nàng một giọt lệ và một nụ cười.

Đến lượt ông hoàng bước lại, hình dáng to lớn của ông che lấp chúng tôi.

- Anh Dimitri, hãy đưa cho ông Bonnard món hiện vật quý giá anh đã thu thập được.

Lúc ấy, con người khổng lồ dễ bảo chìa ra cho tôi một hộp diêm, một chiếc hộp xấu xí bìa các tông được trang trí bằng một cái đầu xanh đỏ có ghi là đầu Empédocle.

- Thưa bà, tôi hiểu, tôi hiểu. Nhưng gã Polizzi đáng ghét mà tôi khuyên bà đừng đưa ông Trépof đến, đã làm tôi rối lên suốt đời với Empédocle và chân dung này không phải là thứ làm tôi thích thú hơn nhà triết học thời trước này.

- Xấu, nhưng hiếm có. Không thể tìm đâu ra được những chiếc hộp này. Phải mua tại chỗ. Bảy giờ sáng Dimitri đã có mặt tại xưởng. Ông thấy rằng chúng tôi không mất thời gian.

- Thưa bà, hẳn tôi rất hiểu điều đó. – Tôi chưa cay đáp – Nhưng tôi đã mất thì giờ đi xa mà không gặp được cái gì mình đang tìm kiếm.

Nàng tỏ ra lưu ý đến sự thất vọng của tôi.

- Ông buồn phiền chăng? – Nàng sốt sáng hỏi – Tôi có thể giúp ông điều gì không? Thưa ông, ông không muốn kể lể nỗi lo lắng của ông cho tôi nghe sao?

Tôi bèn thuật lại. Câu chuyện dài dòng nhưng làm cho nàng cảm động, vì tiếp theo đó, nàng đặt ra nhiều câu hỏi tỉ mỉ biểu lộ bao nhiêu sự quan tâm. Nàng muốn biết tên chính xác tập bản thảo, khổ sách, dáng vẻ, niên đại của nó, nàng hỏi địa chỉ của ông Rafaello Polizzi.

Tôi cung cấp địa chỉ cho nàng như lão Michel Angelo Polizzi đã căn dặn tôi.

Thỉnh thoảng không ngừng được, tôi lại bắt đầu phàn nàn và nguyền rủa. Lần này phu nhân Trépof mới bật cười.

- Vì sao bà cười? – Tôi hỏi.

- Bời vì tôi là người đàn bà độc ác. – Nàng đáp.

Và nàng đi về, bỏ tôi lại một mình sững sờ trên hòn đá.

Paris ngày 8 tháng 12 năm 1869

Những hành lý còn đầy ắp của tôi chồng chất trong phòng ăn. Tôi ngồi trước chiếc bàn bày la liệt đồ ăn ngon miệng của nước Pháp dành cho những kẻ sành ăn. Tôi dùng patê vùng Chartes là món duy nhất làm cho người ta yêu mến quê hương. Chị Thérèse đứng trước tôi, hai tay chắp lại trên tấm tạp dề trắng, nhìn tôi lo lắng và thương hại, với lòng nhân hậu. Con Hamilcar cọ xát vào chân tôi, há hốc mồm vui vẻ.

Tôi bỗng nhớ đến câu thơ của một thi sĩ ngày xưa.

“Hạnh phúc thay kẻ nào đã làm một cuộc lữ hành tốt đẹp như Ulysse”[4].

A – tôi nghĩ bụng – Ta đã dạo chơi vô ích, trở về hai bàn tay không, nhưng ta đã thực hiện một chuyến du lịch tốt đẹp như Ulysse.

Và sau khi uống ngụm cà phê cuối cùng, tôi hỏi chị Thérèse cây can và cái mũ khiến chị đưa tôi một cách ngờ vực. Chị rất sợ một chuyến đi khác. Để chị yên tâm tôi bảo chị chuẩn bị bữa cơm tối vào lúc sáu giờ.

Đối với tôi, lang thang ngơ ngác giữa các phố phường Paris, trên tất cả những con đường, tất cả những khối đá mà tôi thành tâm yêu quý, đã là một thú vui rõ rệt rồi. Nhưng với mục đích đã có, tôi đi thẳng tới phố Laffite và trông thấy ngay cửa hàng của Rafaello Polizzi, với vô số tranh cổ mặc dù mang chữ ký của nhiều tên tuổi nổi tiếng khác nhau, vẫn biểu hiện một thứ không khí gia đình tình nghĩa anh em cảm động của các thiên tài, ví dầu cửa hàng không phô bày hơn những mưu mẹo về họa pháp của ông Polizza cha. Mới giàu lên nhờ những kiệt tác đáng ngờ này, cửa hàng trông vui mắt, với những vật lạ ít ỏi, hiếm có, dao găm, bình cổ cao, cốc có nắp, đồ gốm, vật chạm hình trái trám bằng đồng và đĩa Tây Ban Nha – Ả Rập óng ánh kim loại.

Được đặt trên chiếc ghế bành kiểu Bồ Đào Nha, bằng da có vẽ quốc huy, một bản Thời gian của Simon Vostre, mở ra với tờ sách mang hình thuật chiêm tinh, và một ông lão Vitruve bày ra trên tủ chè những tranh khắc bậc thầy về những cột tượng đàn ông và đàn bà. Sự lộn xộn bên ngoài này che dấu cách bố trí khéo léo, sự lệch lạc ngẫu nhiên này. Theo đó, những đồ vật sắp đặt trình bày thuận lợi nhất đã làm tăng thêm sự ngờ vực của tôi, một sự ngờ vực mà chỉ riêng cái tên Polizzi gợi ra cho tôi, đã có thể tăng lên vô hạn độ.

Anh chàng Rafaello ở đây xem như linh hồn duy nhất của tất cả mọi hình dạng tạp nham lộn xộn, đối với tôi, có vẻ là con người trẻ tuổi điềm tĩnh, một thứ người Anh. Anh không tỏ ra bất cứ mức độ nào, khả năng siêu việt của cha anh trong nghệ thuật làm điệu bộ và trong lời văn cầu kỳ hoa mỹ.

Tôi cho anh biết lý do tôi đến đây. Anh mở tủ lấy ra một tập bản thảo đặt lên bàn cho tôi có thể xem xét thong thả.

Cả đời tôi chưa bao giờ xúc động như vậy, trừ mấy tháng thời thanh xuân mà kỷ niệm tồn tại tươi mát trong tâm hồn tôi như ngày đầu tiên cho đến chết dù phải sống tới một trăm tuổi.

Ðây đúng là tập bản thảo mà người cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh đã mô tả: đúng là tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé mà tôi thấy tận mắt, sờ tận tay. Tác phẩm của Voragine ở đây rõ ràng bị rút ngắn, nhưng điều đó không quan trọng mấy đối với tôi. Những chú thích vô giá của tu sĩ nhà thờ Saint-Germain-des-Prés đều có trong tác phẩm. Ðó là vấn đề quan trọng. Tôi muốn đọc truyện thánh Droctovée, nhưng không được; tôi đọc một mạch tất cả những dòng chữ, lúc ấy đầu óc tôi ồn ào như cối xay nước ban đêm ở vùng quê. Tuy vậy, tôi nhận thấy tập bản thảo trình bày những văn tự xác thực không thể chối cãi. Hai hình vẽ Lễ Thánh mẫu hiến đường và Lễ đăng quang của Prosepine, thiếu tế nhị, màu sắc sặc sỡ. Bị hư hỏng nặng năm 1824, như danh mục của ngài Thomas đã chứng minh, các bức tranh từ đó lại trở nên tươi tắn mới mẻ. Ðiều kỳ lạ này khiến tôi ít ngạc nhiên. Nhưng hai tiểu phẩm lại quan trọng với tôi nhiều. Những truyện thánh và bài thơ của Jean Toutmouillé đó là báu vật. Tất cả cái gì trông thấy là tôi chăm chú đến ngay.

Tôi giả vờ dửng dưng hỏi anh Rafaello giá cả tập bản thảo, và trong khi chờ trả lời thầm mong giá bán không quá số tiền để dành của tôi đã giảm nhiều trong một chuyến du lịch tốn kém. Po1izzi cho biết anh không thể tùy ý sử dụng tập bản thảo vì nó không còn là của anh ta. Và phải để bán đấu giá tại sở Phát mại với những tập bản thảo khác và một số sách in cổ.

Tôi bị một vố đau. Tôi cố bình tĩnh lại và trả lời đại khái thế này:

- Thưa ông, ông làm tôi ngạc nhiên. Tôi vừa gặp cụ thân sinh ông ở Girgenti, cụ khẳng định với tôi rằng ông là chủ sở hữu tập bản thảo này. Ông không nên làm cho tôi nghi ngờ lời nói của ông cụ.

- Quả thật trước đây, tôi là chủ sở hữu tập bản thảo, nhưng bây giờ thì không phải thế – Rafaello trả lời tôi hết sức đơn giản – Tôi đã bán tập bản thảo quý giá này cho một người cấm tôi nêu tên, vì những lý do không được tiết lộ, người ấy phải bán bộ sưu tập của họ. Tôi vinh dự được khách hàng tin cậy, ủy thác lập danh mục, quản lý việc bán sẽ tiến hành vào ngày 24 tháng chạp sắp tới. Nếu ông vui lòng cho biết địa chỉ của ông, tôi sẽ hân hạnh gửi ông bản danh mục đang in và ông sẽ tìm thấy trong đó Tập truyện thánh kỳ diệu ghi số 42.

Tôi đưa địa chỉ của mình và ra về.

Thái độ nghiêm trang tề chỉnh của người con trai làm tôi bực mình như nghệ thuật làm điệu bộ trâng tráo của cha hắn. Trong thâm tâm, tôi ghét những mưu mẹo của bọn con phe hèn hạ này. Theo tôi, rõ ràng hai tên đểu giả kia thông đồng với nhau và chúng nghĩ ra chuyện bán đấu giá được bọn cò mồi giúp sức, đẩy giá tập bản thảo tôi ao ước lên vô tội vạ mà không thể bị chê trách. Tôi đã ở trong tay bọn chúng. Những dục vọng, cả những dục vọng trong trắng nhất cũng có cái xấu bắt ta phải phụ thuộc người khác. Nghĩ vậy, tôi thấy khó chịu, nhưng vẫn khao khát tác phẩm của tu sĩ Toutmouillé. Trong khi trầm ngâm như thế, định qua đường thì tôi phải đứng lại nhường cho một chiếc xe đi ngược chiều và tôi bỗng nhận ra Trépof phu nhân sau tấm cửa kính. Gã đánh xe mặc áo da lông thú như một nhà quý tộc thúc hai con ngựa đen chạy nhanh. Phu nhân không thấy tôi.

- Mong phu nhân gặp được vật đang tìm hay đúng hơn là vật gì vừa ý – tôi tự nhủ. – Ðó là ước nguyện của tôi đáp lại nụ cưòi ác độc của phu nhân trước sự thất vọng của tôi ở Girgenti. Phu nhân có tâm hồn một con chim sơn tước.

Lúc ấy, tôi buồn rầu đi tới những cây cầu.

Luôn luôn vô tình, không vội vàng, không chậm chạp, tạo hóa dẫn tôi tới ngày 24 tháng chạp. Tôi đến khách sạn Bullion, đi vào phòng số 4, ngay chân bàn giấy chỗ ngồi của gã bán đấu giá Boulouze và viên giám định Polizzi. Căn phòng dần dần đông đủ những gương mặt quen thuộc. Tôi siết tay mấy người bán sách già ở bến cảng. Tôi thận trọng, một sự thận trọng có lợi lớn cho những ai hay tin người nhất khiến tôi không nói lý do sự có mặt khác thường của tôi tại đây. Ngược lại tôi hỏi các ông này về số lãi họ nhận được với việc bán hàng của Polizzi, lúc ấy tôi hài lòng nghe họ nói đến mọi thứ món hàng của tôi.

Gian phòng dần dần chật ních những người có liên quan và những kẻ tò mò. Sau nửa giờ đến chậm, người bán đấu giá cầm búa ngà, viên thư ký phụ trách các bản thống kê, viên giám định với danh mục và gã rao hàng trang bị một bát gỗ gắn vào cây sào, trịnh trọng một cách trưởng giả, đi vào vị trí trên bục. Những người phụ việc trong phòng xếp hàng ở chân bàn giấy.

Viên chức giúp việc tuyên bố cuộc bán đấu giá bắt đầu, căn phòng trở nên im lặng. Trước hết, người ta bán với giá trung bình một loạt khá vô vị kinh cầu nguyện chọn lọc bằng những tiểu phẩm. Không cần phải nói, những tiểu phẩm này hoàn toàn mới toanh.

Việc bán đấu giá thấp khuyến khích bọn mua đồ cũ nhỏ trà trộn vào chúng tôi và trở nên suồng sã. Ðến lượt những người bán xanh chảo, trong khi chờ mở các cửa phòng bên cạnh thì những lời vui đùa của xứ Auvergne lấn át tiếng người rao hàng.

Một cuốn dược điển tuyệt đẹp về chiến tranh của người Do Thái khêu gợi sự chú ý. Nó được giành giật lâu. Năm nghìn quan, năm nghìn, người rao hàng thông báo giữa đám bán xanh chảo im lặng sững sờ. Bảy hay tám cuốn thánh ca bị hạ giá. Một mụ bán đồ cũ to béo tóc dài thấy cuốn sách khổ lớn, giá quá rẻ, chịu bỏ thầu tới ba chục quan.

Cuối cùng viên giám định Polizzi đặt trên hai con số 42: Tập truyện thánh kỳ diệu, bản thảo tiếng Pháp, chưa xuất bản, hai tiểu phẩm tuyệt đẹp; giá buôn ba nghìn quan.

- Ba nghìn! Ba nghìn! Người rao hàng gào lên.

- Ba nghìn! – Nhân viên bán đấu giá nhắc lại cụt ngủn.

Tôi nghe ù tai, chợt thấy qua làn khói, rất nhiều gương mặt nghiêm nghị quay hết về phía tập bản thảo do một nhân viên phục vụ giở ra đưa qua đưa lại trong phòng.

- Ba nghìn năm chục – Tôi trả giá.

Tôi lo sợ tiếng nói của mình, và lấy làm ngượng thấy có gương mặt quay về phía mình.

- Ba nghìn năm chục, về bên phải! – Người ra hàng nâng giá đấu thầu của tôi.

- Ba nghìn một trăm! – Anh chàng Polizzi nói tiếp.

Bấy giờ bắt đầu cuộc đọ sức dữ dội giữa viên giám định và tôi.

- Ba nghìn năm trăm.

- Sáu trăm – Bảy trăm.

- Bốn nghìn.

- Bốn nghìn năm trăm.

Rồi với một sự nhảy vọt kinh khủng, Polizzi bỗng nâng giá lên tới sáu nghìn.

Sáu nghìn quan, đó là tất cả số tiền tôi có quyền sử dụng. Ðối với tôi là có thể được. Tôi liều thử xem.

- Sáu nghìn một trăm! Tôi kêu lên.

Than ôi! cả việc làm liều này cũng không đủ.

- Sáu nghìn năm trăm, Polizzi bình thản đáp lại.

Tôi cúi đầu, miệng há hốc không dám tỏ ý gì với người rao hét nhằm vào tôi:

- Sáu nghìn năm trăm, về tôi; không phải về ông bên phải, về tôi rồi! Chẳng nhầm lẫn! Sáu nghìn năm trăm!

- Rõ quá chưa! – Nhân viên bán đấu giá nhắc lại. – Sáu nghìn năm trăm. Dĩ nhiều là rõ lắm rồi. Giá cao nhất phải không? Không còn ai mua trên sáu nghìn năm trăm quan.

Một sự yên lặng trang trọng ngự trị căn phòng. Bỗng tôi thấy đầu óc nhức nhối. Viên chức giúp việc cầm bút đập một tiếng gọn trên bục dứt khoát cho bán đấu giá số 42 cho Polizzi. Ngay lúc ấy, viên thư ký ghi một dòng trên giấy có dán tem, đăng ký sự kiện lớn này.

Tôi nghẹt thở, tôi cần không khí và nghỉ ngơi. Tuy nhiên tôi không rời chỗ. Dần dần tôi suy nghĩ lại. Niềm hy vọng rất dai dẳng. Tôi bỗng nảy ra hy vọng. Tôi cho rằng kẻ mới mua được Tập truyện thánh kỳ diệu có thể là một tay ham sách thông minh và hào phóng sẽ thông báo với tôi về tập bản thảo và cả đến cho phép tôi đăng tải những phần chủ yếu. Vì thế, khi cuộc bán đấu giá kết thúc, tôi lại gần viên giám định đang bước xuống bục.

- Thua ông giám định – tôi nói – có phải ông mua con số 42 cho ông hay mua giúp cho ai?

- Mua giúp thôi. Tôi được lệnh không buông thả con số đó bất cứ giá nào.

- Ông có thể cho tôi biết tên người mua không?

- Tôi rất tiếc không thể làm vừa lòng ông. Điều đó hoàn toàn cấm kỵ đối với tôi.

Tôi thất vọng từ giã anh ta.

Ngày 30 tháng 12 năm 1869

- Chị Thérèse, trong mười lăm phút vừa qua, chị không nghe ai gõ cửa nhà ta sao?

Chị Thérèse không đáp. Chị đang nói chuyện phiếm trong nhà người gác cổng. Điều đó là cái chắc. Chị chúc mừng lễ Sinh nhật ông chủ già nua của chị như thế ư? Chị bỏ mặc tôi trong bữa ăn tối của Saint Sylvestre sao? Than ôi! Nếu hôm nay những lời chúc mừng trìu mến đến với tôi, thì chúng sẽ tuôn ra từ dưới đất, vì tất cả cái gì yêu thương tôi từ lâu đã bị chôn vùi. Tôi không biết mấy điều gì tôi đã làm trên đời này. Người ta bấm chuông nữa. Tôi chậm rãi rời lò sưởi, khom lưng đi mở cửa. Tôi thấy gì ở đầu thang? Ðây không phải là vở kịch “Tình yêu đẫm lệ” và tôi chẳng phải là lão Anacréon, nhưng một chàng trai xinh đẹp khoảng tám chín tuổi, cậu bé chỉ một mình, cậu ngẩng đầu nhìn tôi, hai má ửng đỏ, mũi nhỏ phồng vẻ láu lỉnh, mũ có chùm lông, trên áo bờ lu có cổ xếp bồng. Cậu bé xinh đẹp làm sao! Cậu ôm hai tay một gói to bằng người cậu và hỏi có phải tôi là ông Sylvestre Bonnard không? Tôi đáp đúng thế, cậu liền giao cái gói cho tôi, nói là của mẹ, rồi vụt chạy xuống cầu thang.

Tôi bước xuống mấy bậc thang, nghiêng mình trên lan can nhìn thấy cái mũ bé nhỏ xoay tròn trong hình trôn ốc của cầu thang như chiếc lông trước gió. Chào chàng trai bé bỏng của tôi! Tôi muốn nói chuyện vui vẻ với cậu. Nhưng tôi sẽ hỏi gì đây? Mà hỏi trẻ con thì không tế nhị. Vả lại gói kia sẽ giúp tôi hiểu sự việc tốt hơn cậu bé sứ giả.

Ðó là một gói rất to nhưng không nặng lắm. Tôi tháo bỏ những dải lụa và giấy bạc và thấy… cái gì?

Một khúc củi, một khúc củi lớn, một khúc củi thực sự cho lễ Noel, nhưng rất nhẹ tưởng như trống rỗng. Quả nhiên tôi phát hiện nó gồm hai mảnh ghép lại bằng những cái móc và mở ra với bản lề. Tôi xoay các móc. Thế là hoa tím tràn ngập quanh tôi, tung tóe trên bàn, trên đầu gối, trên thảm, len lỏi vào áo gi lê, vào hai tay áo. Cả người tôi thơm ngát mùi hoa.

- Chị Thérèse! Chị Thérèse! Mang lại đây những chậu nước đầy. Không biết từ xứ sở nào, từ bàn tay nào, những hoa tím này đến với chúng ta, nhưng chắc là từ một xứ sở ướp hương, từ một bàn tay duyên dáng. Hỡi chị quạ già, chị có nghe không?

Cả mặt bàn như đầy hoa tím tú ụ như một bụi cây ngào ngạt. Lại còn vật gì nữa trong khúc củi, một cuốn sách, một tập bản thảo. Ðó là… tôi không tin mà cũng không ngờ… Đó là Tập truyện thánh kỳ diệu, đó là tập bản thảo của tu sĩ Jean Toutmouillé. Ðây là lễ Thánh mẫu hiến đường, và sự bắt cóc Prosepine. Ðây là truyện thánh Droctovée. Tôi chiêm ngưỡng thánh tích ngào ngạt mùi hoa tím này. Tôi giở những tờ có hoa nhạt lẫn vào và tôi thấy một tấm danh thiếp mang tên: Bà hoàng Trépof, đặt ngay vào mục truyện nữ thánh Cécile.

Bà hoàng Trépof! Bà đã lần lượt cười khóc hết sức duyên dáng dưới bầu trời Agrigente xinh đẹp, bà, người mà một ông lão rầu rĩ tưởng là một con bé điên khùng, thì hôm nay tôi tin chắc đó là niềm đam mê đẹp đẽ hiếm có của bà, và con người hiền từ mà bà đã làm cho vui mừng khôn xiết, sẽ đến hôn tay bà, hoàn trả lại bà tập bản thảo quý giá này mà khoa học và người ấy sẽ nhờ bà mới có được một tài liệu xuất bản chính xác và lộng lẫy.

Lúc ấy chị Thérèse đi vào phòng tôi, hớt hơ hớt hải:

- Ông ạ, ông thử đoán xem tôi vừa trông thấy ai phút chốc trong cỗ xe có vẽ gia huy đỗ trước cửa nhà?

- Tất nhiên đó là Trépof phu nhân.

- Tôi không biết Trépof phu nhân. Người đàn bà tôi vừa trông thấy ăn mặc như một công tước phu nhân cùng đi với một cậu bé quần áo có mọi đường may thêu ren. Và đó là bà Coccoz hèn mọn ngày trước mà ông đã gửi cho một khúc củi, khi bã ở cữ, cách đây đã tám năm. Tôi nhận ra đúng là bà ấy.

- Chị bảo đó là bà Coccoz, vợ góa anh chàng bán sách lịch à? – Tôi mau miệng hỏi.

- Thưa ông, chính là bà ấy. Khi cậu bé ra khỏi nhà này thì cửa xe mở cho cậu bước lên. Bà ta không thay đổi mấy. Tại sao những phụ nữ kia sống lâu? Họ chẳng có gì phải tư lự. Bà Coccoz chỉ hơi béo hơn trước. Một người đàn bà ngày xưa được thu nhận do lòng từ thiện, nay tới phô trương lụa là châu báu trong một cỗ xe có gia hiệu, há chẳng phải là điều hổ thẹn.

- Chị Thérèse! – Tôi kinh hoàng kêu lên – Giá mà chị nói với tôi về bà này khác đi, rằng chúng ta rối rít lên với lòng kính trọng sâu sắc đối với bà ấy. Thôi, chị hãy mang lại đây những chậu sứ vùng Sèvres để cắm các hoa tím này vào, những bông hoa đem lại cho nhà sách một sự duyên dáng mà nó không bao giờ có được.

Trong khi chị Thérèse vừa thở dài vừa đi tìm chậu sứ, tôi ngắm những bông hoa tím tản mát xinh đẹp đang tỏa ra quanh tôi một mùi hương như của một tâm hồn kiều diễm và tôi tự hỏi vì sao tôi không nhận ra bà Coccoz với tư cách là bà hoàng Trépof. Ðối với tôi đó cũng là một hình ảnh người góa phụ trẻ tuổi đã đưa cho tôi nhìn đứa con trai bé bỏng trần truồng của nàng trên cầu thang. Tôi đâu có lý do để buộc tội mình đã đi qua sát cạnh một con người xinh đẹp duyên dáng mà không hề hay biết.

“Bonnard – tôi tự nhủ – mày biết đọc nổi những văn bản cổ, nhưng mày không biết đọc cuốn sách cuộc đời. Người con gái hèn mọn lơ đễnh kia, nay là Trépof phu nhân mà ngày xưa mày chỉ coi như một linh hồn chim chóc, người con gái ấy, để đền ơn, đã hao tốn bao nhiêu nhiệt tình và tâm trí mà chẳng bao giờ mày bỏ ra để giúp ai. Nàng đã trả ơn cho mày về khúc gỗ lễ giải cữ một cách tuyệt vời… Chị Thérèse ơi, trước chị là con ác là, nay chị trở thành một con rùa – Chị hãy đem nước tưới cho những hoa tím kia của thành Parme”.

❀ ❀ ❀

[1] Bọn bảo hoàng gọi những quân lính tập họp lại sau trận Waterloo, dưới quyền thống chế Davout là bọn cướp vùng Loire.

[2] Mazzini: 1805-1972 nhà yêu nước Ý. Garibaldi: 1807-1882 nhà yêu nước Ý.

[3] Empédocle: Nhà triết học, nhà vật lý, nhà y học, ở thành phố Agrigente thuộc đảo Sicile Italia – thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.

[4] Ulysse: Tráng sĩ Hy Lạp nổi tiếng đã tham gia đánh thành Troie. Sau khi chiến tranh kết thúc, cùng các chiến hữu trở về quê hương, nhưng đã phải trải qua một chặng đường dài đầy biến cố (theo thần thoại Hy Lạp La Mã).

Nguyên tác: Le Crime de Sylvestre Bonnard, Dịch giả: Nguyễn Xuân Phương, Đánh máy:Thanh Hà, Thu Thủy, Đình Đình, Thanh Loan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 13 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.