Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Lượt đọc: 346 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

III

Lusance, ngày 12 tháng 8

Như đã hứa, tôi viết cho chị quản gia rằng tôi bình yên vô sự. Nhưng tôi hết sức tránh cho chị biết tôi bị sổ mũi vì đã để mở cửa sổ, ngủ trong thư viện, là vì người đàn bà rất tốt bụng này không bao giờ qưở trách tôi hơn các nghị viện với vua chúa. Chị từng bảo tôi: “Thưa ông, ở lứa tuổi ông mà ít khôn ngoan đến thế sao!”. Chị khá thực thà để tin rằng lý trí tăng theo năm tháng. Về mặt đó, đối với chị, tôi như là một ngoại lệ.

Bằng những lý do khác, tôi ỉm câu chuyện mạo hiểm kia với chị De Gabry, tôi chỉ kể đầy đủ giấc mơ theo như nhật ký này và như trong giấc mơ. Tôi không biết nghệ thuật hư cấu. Tuy vậy khi thuật lại và viết lại câu chuyện, có thể đây đó, một số trường hợp và lời nói lúc đầu không có, hẳn là không nhằm nói sai sự thật mà do lòng thầm muốn làm sáng tỏ và kết thúc điều gì còn khó hiểu, tối nghĩa và có lẽ còn do không cưỡng được sự ham thích văn phúng dụ mà thuở bé tôi đã tiếp thụ được của những người Hy Lạp.

Chị De Gabry chú ý nghe tôi.

- Ảo mộng của ông thật là thú vị. Phải tài trí lắm mới có được những giấc mơ như vậy. – Chị nói.

- Vậy là khi tôi ngủ tôi mới có tài trí. – Tôi đáp.

- Chỉ lúc nào ông mơ mộng. Và ông bao giờ cũng mơ mộng mà!

Tôi rất hiểu rằng khi nói thế, chị De Gabry không có ý nghĩ nào khác là làm cho tôi vui thích. Chỉ một ý nghĩ đó cũng đáng cho tôi biết ơn và với lòng biết ơn, tôi ghi lại nó trong cuốn vở này mà tôi sẽ đọc lại cho đến khi chết và ngoài tôi ra, không ai được đọc.

Những ngày tiếp theo tôi hoàn thành bản kiểm kê các bản thảo của thư viện Lusance. Một vài lời kín đáo anh Paul de Gabry buột miệng nói ra, làm cho tôi ngạc nhiên khó chịu, và khiến tôi quyết định điều hành công việc khác hơn lúc bắt đầu. Do anh, tôi được biết gia tài của ông Honoré de Gabry từ lâu bị quản lý tồi, bị mất mát phần lớn vì sự phá sản của một ngân hàng mà anh giấu tên. Gia tài này chỉ được chuyển cho những người thừa kế vị công khanh thời trước của nước Pháp dưới hình thức bất động sản cầm cố và giấy nợ không thể truy hoàn.

Paul thỏa thuận với các đồng thừa kế, đã quyết định bán tủ sách và tôi phải truy tầm những cách thực hiện việc buôn bán hết sức có lợi này. Vốn xa lạ với mọi việc giao dịch thương mại nên tôi phải hỏi ý kiến một người bạn bán sách. Tôi viết cho anh đến tìm tôi tại Lusance, và trong khi chờ đợi, tôi cầm can và mũ đi tham quan các nhà thờ còn giữ kín những câu khắc về tang lễ chưa được chép đúng ngữ pháp.

Tôi từ biệt chủ nhà và lên đường hành hương. Cả ngày khảo sát tỉ mỉ các nhà thờ, các nghĩa trang, thăm các cha xứ, các viên lục sự trong làng, ăn tối ở quán với những kẻ bán rong, những lái buôn gia súc, ngủ trong những chiếc khăn trải giường tẩm nước hoa oải hương, tôi thưởng thức một tuần trọn vẹn thú vui êm đềm sâu sắc để gặp những người sống hoàn thành công việc hàng ngày vừa toàn tâm toàn ý nghĩ tới người đã khuất. Về mục đích sưu tầm của tôi, tôi chỉ có những phát hiện trung bình đem lại cho tôi một niềm vui vừa phải, chính vì thế mà lành mạnh và không chán chút nào. Tôi ghi lại một số văn bia lý thú và thêm vào kho tàng nhỏ bé này, nhiều cách pha chế thức ăn lối nông thôn của nhà bếp mà một cha xứ tốt bụng vui lòng thông báo cho tôi.

Được hiểu biết nhiều như thế, tôi trở lại Lusance, tôi đi qua sân giữa với tâm trạng thỏa mãn thầm kín của kẻ phàm tục trở về nhà – Ðây là kết quả sự tốt bụng của các vị chủ nhà, và lúc ấy, trên ngưỡng cửa, tôi mới cảm thấy lòng hiếu khách tuyệt vời của họ được chứng minh hơn tất cả mọi sự suy luận.

Tôi vào đến phòng khách, không gặp ai, cây dẻ non ở đó tỏa ra những lá to lớn gây cho tôi ấn tượng đấy là một người bạn. Nhưng vật gì tôi thấy tiếp trên chân quỳ lan can, khiến tôi kinh ngạc đến nỗi phải lấy tay chỉnh lại mục kỉnh trên mũi và tôi lưỡng lự, để khôi phục lại cho mình một khái niệm ít ra cũng hời hợt về sự tồn tại của chính mình. Trong giây phút, trong trí tôi bỗng nảy ra chừng vài chục ý nghĩ mà ý nghĩ vững chắc hơn cả là tôi đã điên. Tôi nghĩ rằng vật tôi đã thấy, không thể tồn tại, nhưng tôi cũng không thể xem vật đó như một cái gì tồn tại. Như tôi đã nói, vật gì khiến tôi ngạc nhiên, đặt trên chân quỳ lan can bị át hẳn bởi một tấm kính xám xịt, lốm đốm mốc.

Tôi nhận ra mình trong tấm kính này và có thể nói rằng một lần trong đời, tôi thấy trọn vẹn hình ảnh của sự sững sờ. Tự nhận mình có lý, tôi phải chịu là mình đã sững ra trước một vật làm cho người ta kinh ngạc.

Tôi ngây người khảo sát đối tượng, trong tư thế bất động hoàn toàn, đối tượng được phản chiếu vẫn nguyên xi trong tấm kính. Sự dai dẳng, tính cố định của hiện tượng đã loại trừ mọi ý niệm về ảo giác. Tôi hoàn toàn không bị rối loạn thị giác do các chứng bệnh thần kinh. Thường thì nguyên nhân của bệnh này do những rối loạn thuộc dạ dày, may thay dạ dày tôi lại rất tốt. Vả lại những ảo ảnh của thị giác đều kèm theo những tình tiết đặc biệt, khác thường tác động vào chính người bị ảo giác và gợi cho họ một thứ kinh hãi. Thế mà tôi không hề cảm thấy như vậy và đối tượng tôi trông thấy, dù tự nó không thể có, lại xuất hiện trước tôi trong tất cả những điều kiện thực tại bình thường. Tôi để ý thấy nó có ba chiều, có màu sắc, có hình bóng – A! Nếu tôi kiểm tra nó thì sao! Nước mắt tôi giàn giụa, tôi phải lau kính đeo.

Cuối cùng tôi phải chịu là đúng và nhận thấy trước mặt là nàng tiên, nàng tiên tôi đã mơ thấy trong thư viện đêm nọ. Ðó là nàng, chính là nàng. Nàng còn có vẻ một bà hoàng trẻ con, tư thế uyển chuyển và tự hào, tay cầm chiếc đũa bằng cây phỉ, đầu đội mũ chóp nón có hai mũi, đuôi áo gấm uốn khúc quanh đôi chân nhỏ bé. Cũng gương mặt đó, thân hình đó. Đúng chính là nàng, và để cho người ta khỏi nhầm, nàng ngồi trên gáy một cuốn sách cũ to tướng giống hệt cuốn biên niên sử thành phố Nuremberg. Sự bất động của nàng làm cho tôi yên tâm một nửa và thực ra tôi sợ nàng còn lấy những quả phỉ trong hầu bao cắn vứt vỏ vào mặt tôi.

Tôi đứng đấy, hai tay ve vẩy, miệng há hốc thì chị De Gabry lên tiếng vang vào tai tôi:

- Ông Bonnard, ông đang quan sát nàng tiên của ông, thế nào! Ông thấy nàng giống không?

Câu hỏi nhanh, nhưng khi nghe tôi đủ thì giờ để nhận ra nàng tiên của tôi là một chiếc tượng con nặn bằng sáp màu rất phong nhã và gợi cảm, do một bàn tay còn chưa có kinh nghiệm. Hiện tượng này đem lại một sự giải thích hợp lý, không để tôi sửng sốt nữa. Làm thế nào và do ai mà người đàn bà trên cuốn biên niên sử đạt tới một cuộc sống thực tế – Ðó là điều tôi nóng lòng muốn biết.

Quay sang chị De Gabry, tôi thấy không chỉ một mình chị. Một thiếu nữ mặc đồ đen đứng cạnh chị – Nàng có đôi mắt xám dịu như bầu trời vùng Ile de France, có vẻ vừa thông minh vừa ngây thơ. Ðôi bàn tay thanh nhã mà đỏ, hợp với tay con gái, lúc lắc ở đầu hai cánh tay mảnh khảnh. Trong chiếc áo len dài, toàn thân nàng như một cây non. Miệng rộng chứng tỏ tính thực thà. Trước hết tôi không thể nói cô bé này được tôi yêu mến biết bao nhiêu. Nàng không đẹp, nhưng ba cái núm đồng tiền tươi vui trên má, trên cằm và cả con người nàng lóng cóng vụng về một cách thơ ngây biểu lộ cái gì đó trung hậu, tốt bụng mà tôi chưa biết.

Tôi nhìn từ chiếc tượng con đến cô gái nhỏ, lúc ấy tôi thấy mặt cô đỏ bừng lên nhưng thực thà và độ lượng.

Quen với sự đãng trí của tôi, chị chủ nhà hai lần vui vẻ hỏi:

- Này, có đúng là người đàn bà đã trèo qua cửa sổ để mở vào ông không? Nàng quá trơ tráo nhưng ông cũng quá khinh suất. Ong nhận ra nàng chưa?

- Chính là nàng – tôi đáp. Và tôi đã gặp lại nàng trên chân quỳ lan can như tôi đã thấy nàng trên bàn thư viện.

- Như vậy về sự giống nhau đó, trước hết ông hãy buộc tội ông đã, là người biết mô tả những giấc mơ của mình với những màu sắc rực rỡ, đối với một kẻ không có đầu óc tưởng tượng như ông nói, rồi đến buộc tội tôi là người nhớ và thuật lại trung thành giấc mơ của ông và cuối cùng nhất là buộc tội tiểu thư Jean đã theo sự hướng dẫn chính xác của tôi nặn tạc khối sáp mà ông thấy đấy.

Vừa nói, chị De Gabry vừa cầm tay thiếu nữ, nhưng nàng đã thoát ra và chạy vào công viên.

Chị De Gabry gọi nàng lại.

- Jean ! Sao lại có thể thô lỗ như thế? Dù có bị la mắng cũng cứ lại đây!

Nhưng không có tiếng đáp lại, và cô bé hoảng sợ biến mất trong lá cây; chị De Gabry ngồi trong chiếc ghế bành duy nhất còn lại trong phòng khách đổ nát.

- Tôi sẽ hết sức ngạc nhiên – chị nói – nếu chồng tôi không nói về Jean với ông. Chúng tôi yêu quý cháu lắm, đó là một bé gái tuyệt vời. Xin ông nói thật, ông thấy chiếc tượng con của cháu nặn thế nào?

Tôi trả lời đó là một công trình đầy trí tuệ và thẩm mỹ, nhưng tác giả thiếu nghiên cứu và thực hành, vả lại, tôi hết sức cảm động về những ngón tay non trẻ đã tô vẽ thêm như thế trên phác thảo một hình người nặn sơ sài và để biểu thị hết sức xuất sắc những điều mơ mộng của một ông già lẩm cẩm.

- Tôi hỏi ý kiến ông như vậy, chẳng qua vì Jean là một bé gái mồ côi tội nghiệp – Ông có tin rằng cháu có thể kiếm được ít tiền để làm những tượng con như thế này không? – Chị De Gabry nói tiếp.

- Về chuyện đó, không! – Tôi đáp – Không phải quá luyến tiếc việc ấy. Tiểu thư dịu dàng, đáng mến, tôi tin chị, tôi tin vào diện mạo cháu. Cuộc đời nghệ sĩ có những cuộc luyện tập làm nảy sinh từ quy tắc và biện pháp, những con người cao thượng. Con người non trẻ này được nhào nặn từ đất sét có tình thương. Hãy gả chồng cho cháu.

- Nhưng cháu không có của hồi môn – Chị De Gabry đáp.

Rồi hạ thấp giọng một chút:

- Ông Bonnard, tôi có thể nói tất cả với ông. Thân phụ cháu gái này là một nhà tài chính nổi tiếng. Ông ta tổ chức nhiều hãng kinh doanh lớn. Ông ta có tính phiêu lưu và làm người ta xiêu lòng. Ðó không phải là con người bất lương: ông ta tự dối mình trước khi lừa dối người khác. Và có lẽ đó còn là tài năng lớn nhất. Chúng tôi thường quan hệ với ông ta. Ông ta quyến rũ tất cả chúng tôi, chồng tôi, bác tôi, các anh em họ tôi. Sự sụp đổ của ông ta đột ngột. Anh Paul đã nói với ông ấy rằng trong tai họa này, cơ nghiệp của bác tôi tiêu tan hết ba phần tư. Chúng tôi ít bị hơn nhiều, và chính vì chúng tôi không có con. Sau khi sạt nghiệp ít lâu, ông ta qua đời, hoàn toàn không để lại tí gì đó là điều khiến tôi nói là ông ta trung thực. Chắc ông biết tên ông ta qua báo chí: Noel Alexandre. Bà vợ ông ta rất nhã nhặn, tôi tin rằng ngày xưa bà xinh đẹp. Bà ít thích xuất đầu lộ diện nhiều. Nhưng bà tỏ ra can đảm và có phẩm cách trong lúc chồng bị sạt nghiệp. Bà chết sau ông ấy một năm, để lại Jean côi cút trên đời. Bà không thể bảo toàn được gì cơ nghiệp khá to lớn của riêng mình. Bà Noel Alexandre ngày trước là cô Allier, con gái của Achille Allier vùng Nevers.

- Con gái của Clémentine! – Tôi kêu lên – Clémentine chết và con gái nàng cũng chết! Nhân loại hầu như toàn là người chết. So với số người đã chết thì người còn sống chẳng là bao nhiêu. Cuộc thì này là gì, ngắn ngủi hơn trí nhớ, ngắn ngủi hơn con người.

Lúc ấy tôi nhẩm đọc lời cầu nguyện này:

“Hỡi Clémentine, ngày nay nàng ở từ nơi đâu, hãy nhìn trái tim này bây giờ giá lạnh vì tuổi tác, nhưng xưa kia dòng máu nó sôi sục vì nàng và nếu nó không còn rạo rực yêu thương cái gì còn lại của nàng trên trần gian này thì nàng nghĩ sao. Tất cả đều trôi qua, chính vì nàng và con gái nàng đã ra đi. Nhưng cuộc đời là vĩnh hằng, ta phải yêu quý nó trong những hình thái không ngừng đổi mới.”

“Tôi với sách vở như trẻ con ham chơi trò chuyền nhau những đốt xương ngón chân cừu. Trong những ngày tàn, đời tôi có một ý nghĩa, một niềm hứng thú, một lý do tồn tại. Tôi là ông. Cháu gái của Clémentine đáng thương. Tôi không muốn một kẻ nào khác ngoài tôi xây dựng gia đình cho cháu của hồi môn”.

Thấy tôi khóc, chị De Gabry chậm rãi lánh xa tôi.

Nguyên tác: Le Crime de Sylvestre Bonnard, Dịch giả: Nguyễn Xuân Phương, Đánh máy:Thanh Hà, Thu Thủy, Đình Đình, Thanh Loan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 13 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.