Hôm nay là ngày họp chợ, người đến trấn trên rất đông, nên việc làm ăn của tiệm cơm Bình An cũng tốt hơn ngày thường một chút.
Vừa vào cửa đã thấy ngay một chiếc quầy kiểu cũ, một người phụ nữ trạc ba mươi tuổi ngồi sau quầy, mặc áo hoa nhí, tết một bím tóc, khuôn mặt đầy đặn, đôi mắt có thần.
Trên bức tường phía sau bà ta dán thực đơn, giấy trắng mực đen, chữ viết tay, nét chữ rất ngay ngắn, từng nét từng nét đều quy củ. Hơn nữa các món ăn cũng rất bình dân, cơ bản nhìn vào là biết ngay là món gì.
Khương Tùng Hải liếc mắt một cái liền nhìn thấy món ốc xào gừng, niêm yết giá một đồng tám, lập tức nảy sinh ý định xoay người bỏ chạy.
“Ông ngoại, ông cứ tìm chỗ ngồi trước đi, để cháu gọi món.” Khương Tiểu vừa nhìn đã biết ông bị dọa sợ, làm sao dám để ông gọi món nữa?
“Tiểu Tiểu, hay là chúng ta đi mua mấy cái bánh bao chay đi?” Một cái bánh bao lớn một hào, rẻ hơn ở tiệm cơm nhiều lắm! Một món ăn này có thể mua được cả một túi bánh bao lớn.
“Ông ngoại, chúng ta có tiền mà.” Khương Tiểu vốn không định kiếm được tiền rồi lại phải thắt lưng buộc bụng, ép uổng cái dạ dày của người nhà, nếu không, vất vả kiếm tiền để làm gì chứ?
Họ cũng cần tìm một chỗ nghỉ chân, giữa trưa thế này ra ngoài mua đồ, mua xong lại phải đi bộ về làng Tứ Dương, cô sợ ông ngoại quá vất vả.
Hơn nữa, cô cũng muốn nghe ngóng xem khách trong tiệm cơm có tán gẫu chuyện gì không, ví dụ như chuyện đêm qua trong hẻm tối chẳng hạn.
Khương Tùng Hải không còn cách nào khác, đành khép nép ngồi xuống bên cạnh chiếc bàn trong góc.
Ông đặt chiếc gùi xuống chân, bên trong là ba cái bao tải rỗng, bên trên còn thừa lại hai nắm thảo dược. Có người đi ngang qua bên cạnh, Khương Tùng Hải lại cố đẩy chiếc gùi sát vào chân mình hơn nữa, chỉ sợ vướng mắt người khác, cản đường người khác.
Ngồi trong tiệm cơm sáng sủa này, ông cảm thấy cả người không được tự nhiên, tay chân không biết đặt vào đâu cho phải.
Khương Tiểu đứng trước quầy gọi món, gọi một đĩa tôm sông xào, một đĩa ốc xào gừng, một đĩa thịt xào cải trắng. Cả ba món đều là món mặn, Khương Tiểu muốn ông ngoại có cơ hội ăn thêm chút thịt, bổ sung thêm chút đạm. Nếu muốn ăn món chay, họ cần gì phải vào tiệm cơm làm gì?
Tôm sông xào chín hào, ốc xào gừng một đồng tám, thịt xào cải trắng tám hào, ba món này đã tiêu mất hơn ba đồng. Cơm một hào một lạng, Khương Tiểu gọi cho ông ngoại bốn lạng, bản thân cô cũng gọi ba lạng, tổng cộng hết bốn đồng hai.
Thực ra đừng nói Khương Tùng Hải xót tiền, lúc trả tiền Khương Tiểu cũng cảm thấy rất đau lòng.
Họ vất vả bận rộn kiếm được hai mươi bốn đồng, ăn một bữa đã bay mất một khoản kha khá rồi.
Tuy nhiên, Khương Tiểu vừa nãy đã nhìn sang các bàn khác, phần ăn các món này đều rất đầy đặn, ba người ăn cũng đủ cho hai bữa, cô và ông ngoại chắc chắn ăn không hết, nên dự định lát nữa đồ ăn lên sẽ trích ra một nửa mỗi món, gói mang về, tối về bà ngoại không cần phải nấu nướng gì nữa, cũng có thể cho bà nếm thử.
Tất nhiên, ngoài những món đắt đỏ này, trong tiệm cơm Bình An còn có rất nhiều món chay rẻ tiền, mỗi đĩa chỉ vài hào, cho nên, thấy Khương Tiểu vừa gọi đã là ba món mặn "xịn", người phụ nữ thu tiền kia cũng không nhịn được mà nhìn cô thêm vài lần.
Mà lúc này Khương Tiểu vừa nhìn thấy món rau dớn trộn trên thực đơn, lòng khẽ động.
“Cô ơi, món rau dớn trộn này, rau dớn là rau rừng ạ?”
Người phụ nữ không nhịn được bật cười, “Cô bé này thật khéo đùa, không phải rau rừng, chẳng lẽ còn có người mang ruộng ra trồng rau dớn à?”
Thời này ruộng nương nhà ai ngoài trồng lúa thì cũng chỉ trồng mấy loại rau củ quả chủ đạo. Rau dớn là loại rau dại trên núi, làm gì có ai trồng?
Cho nên bà ta cảm thấy Khương Tiểu đã hỏi một câu rất buồn cười.
Khương Tiểu không ngờ tiệm cơm Bình An lại còn có rau dại, lập tức nảy ra một vấn đề, vội vàng hỏi tiếp: “Cô ơi, vậy nếu chúng cháu tìm được rau dớn, tiệm có thu mua không ạ? Còn nữa, Thiên Hương Lục có lấy không? Nấm rừng có lấy không? Nếu chúng cháu tìm được những loại đặc sản núi rừng khác, tiệm có cần không ạ?”