- Người đại trượng-phu, oán không nên kết sâu quá, ân không nên cầu nhiều quá. Đào-Giá
- Người quân-tử tuyệt-giao với ai không nói một tiếng xấu. (Sử-ký)
- Quân-tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an. (người quân-tử ăn không cầu no, ở không cầu yên). Khổng-tử
- Đại trượng-phu nên dung người, không để người dung mình. Người tư-bẩm cốt cứng-cát, cứng-cát thì mới tự-lập. (Sách Cảnh-hành)
- Nghe nói thiện thì lạy, bảo có lỗi thì mừng, có khí-tượng Thánh-hiền, (Sách Cảnh-hành)
- Con ngựa ký già nằm trong chuồng vẫn có chí đi xa ngàn dặm ; người liệt-sĩ già, lòng hăng hái vẫn không thôi. Giả-Nghi
- Đá dù đánh vỡ, chất cứng vẫn còn ; thẻ son dù mài, chất đỏ đâu phải. Lã thị Xuân-Thu
- Cỏ chi, cỏ lan ở nơi rừng sâu, dù không hay có người tới mà vẫn thơm. Người quân-tử chăm về đạo-đức, không vì hoàn-cảnh cùng-khốn mà thay đổi tiết-tháo. Khoáng-Thức
- Quân-tử lúc cùng thêm thẹn mặt,
Anh-hùng khi rắp cũng khoanh tay. Nguyễn-công-Trứ
- Người quân-tử lập thân phải biết tùy thời, gặp việc lớn nhỏ đều làm được cả. Người trượng-phu lập chí, phải biết xử-thế, lúc co lúc duỗi, cũng xử được cả. (Âu-học Quỳnh-lâm)
- Ta đem cái lòng con gái trinh giữ mình để giữ mình ta, đem cái lòng cha dạy con để dạy học trò, mới là bậc quân-tử. (Cách-ngôn liên bích)
- Người quân-tử ở cảnh giàu thì thích làm những việc có đức. Kẻ tiểu-nhân ở cảnh giàu thì chỉ hết sức làm những việc cùng xa cực dục. (Sách Nhị vị)
- Người quân-tử nói chẳng nuốt lời. (Công-dương truyện)
- Tiền của phân-minh, ấy là kẻ đại trượng-phu. (Minh-tâm)
- Người trượng-phu hành-sự, rõ-ràng như ban ngày. (Đông-hán thư)
- Quân-tử cố cùng. (người quân-tử chịu cảnh nghèo mà không than thở). Trung-hoa
- Chí của người quân-tử càng cùng càng phải kiên gan, càng già càng phải hăng-hái. Mã-Viện
- Quân-tử nói thì chậm mà làm thì nhanh. (Luận-ngữ)