- Vô tiểu-nhân bất thành quân-tử. Tục-ngữ
- Tằm vương tơ, nhện cũng vương tơ,
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm. Ca-dao
- Tiểu-nhân đắc chí. Tục-ngữ
- Quạ mà đã biết quạ đen,
Có đâu quạ dám mon-men với cò. Ca-dao
- Quân-tử học tắc ái nhân. Tiểu-nhân học tắc dị xử. (người quân tử thì học yêu người, kẻ tiểu-nhân học ắt đối-xử phân-biệt). Trung-hoa
- Quân-tử phòng thân, tiểu-nhân phòng bị gậy. Tục-ngữ
- Nhác trông ngỡ tượng tô vàng,
Nhìn lâu mới biết chẫu-chàng ngày mưa. Ca-dao
- Đức hơn tài là quân-tử, tài hơn đức là tiểu-nhân. (Sách Cách-hành)
- Một đêm quân-tử nằm kề,
Còn hơn thằng nhắng vỗ-về quanh năm. Ca-dao
- Dê mang lốt cọp, cáo mượn oai hùm. Kỳ-ngô-Tử
- Quân-tử ứ hự đã đau,
Tiểu-nhân dùi đục đập đầu như không. Ca-dao
- Con ếch dưới giếng thấy trời là nhỏ. (Chiến quốc sách)
- Ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung. Tục-ngữ
- Quân-tử ngồi buồn rung chống gối,
Tiểu-nhân đắc-ý gảy đàn môi. Ca-dao
- Kẻ tiểu-nhân cũng có chỗ tốt, không nên ghét bỏ nó mà bỏ điều tốt của nó. Người quân-tử cũng có lúc lầm-lỗi, không nên vì yêu người mà che đậy sự trái thì mới công-bằng. (Sách Cách-ngôn)
- Quân-tử thời oán tam niên,
Tiểu-nhân thời oán nhãn tiền mà thôi. Ca-dao
- Người quân-tử lúc chưa được thì vui với ý muốn, lúc được rồi thì vui với kết-quả, cho nên lúc nào cũng vui. Kẻ tiểu-nhân lúc chưa được thì lo không được, lúc được rồi thì lại sợ mất nên lúc nào cũng lo sợ. Khổng-tử
- Kẻ thất-phu bị nhục đứng dậy rút gươm thẳng tay đánh liền : cái đó chưa đủ để coi làm dũng. Tô-Thức
- Chim anh-vũ mặc dù biết nói, nhưng cũng là loài chim. Lễ kinh
- Đêm hôm xin-xỏ, sáng ngày khoe-khoang. Mạnh-tử
- Người quân-tử cầu ở mình, kẻ tiểu-nhân cầu ở người. Khổng-tử
- Quân-tử hòa nhi bất đồng, tiểu-nhân đồng nhi bất hòa (người quân-tử hòa mà không a-dua, kẻ tiểu-nhân a-dua mà không hòa). Khổng-tử