Ba người đứng lắng nghe một đợt gió mới
ùa vào căn nhà trong chốc lát,
nuốt chửng tuyết, rồi lại lồng lộng thổi – nhà Coles
đã mặc quần áo, nhưng đầu tóc xù xông sau mấy tiếng ngủ,uống
Meserve trông nhỏ thó trong chiếc áo khoác da to sù sụ.
Meserve là người lên tiếng trước. Anh chỉ ngược về phía sau
qua vai bằng chiếc cán tẩu, nói rằng:
"Anh vừa thấy nó lướt qua mái nhà,
cuộn một vòng lớn bay vút lên bầu trời,
đủ dài để khắc tên tất cả chúng ta lên đó;
Tôi nghĩ mình sẽ gọi điện cho vợ và báo rằng
tôi đã đến đây – tới giờ này – và chuẩn bị đi tiếp.
Tôi sẽ gọi thật khẽ để nhỡ cô ấy khôn ngoan
đã đi ngủ, thì không phải tỉnh giấc trả lời."
Ba lần anh khẽ lay chuông, rồi lắng nghe.
"Sao thế, Lett, vẫn chưa ngủ à? Lett, anh ở nhà Cole đây. Anh về muộn.
Anh gọi để chúc ngủ ngon từ nơi này
trước khi anh chúc buổi sáng tốt lành ở nơi đó. –
Anh định thế. – Anh biết, nhưng, Lett – anh biết –
Anh có thể chứ, nhưng ý nghĩa gì đâu? Chặng đường còn lại sẽ không
đến nỗi tệ lắm đâu. – Cho anh thêm một tiếng nữa nhé. – Ho, ho!
Ba tiếng mới tới đây! Nhưng toàn là đường lên dốc cả;
Đoạn đường tới là xuống dốc thôi. – Ồ, không, không phải lội bùn đâu:
Chúng vẫn giữ bình tĩnh và thong thả bước đi
như những cục cưng ấy, cả hai con. Chúng đang ở trong chuồng rồi. –
Em yêu, anh vẫn đang trên đường tới đây. Anh không gọi
để bảo em mời anh về nhà đâu. –"
Anh ngập ngừng chờ một câu trả lời cô sẽ chẳng thốt ra,
cuối cùng tự nói, "Ngủ ngon," rồi
chẳng nhận được lời đáp, liền cúp máy.
Ba người đứng dưới ánh đèn quây quần bên chiếc bàn
với đôi mắt cụp xuống một lát cho đến khi anh cất lời,
"Tôi ra xem lũ ngựa thế nào đã."
"Vâng, đi đi,"
Cả hai vợ chồng Cole cùng nói. Mrs. Cole
nói thêm: "Anh cứ ra xem rồi hãy tính. –
Em muốn anh ở lại đây với em, Fred. Hãy để anh ấy ở lại đây,
Bác Meserve. Anh biết đường tìm lối ra
qua nhà kho mà."
"Tôi đoán là mình biết đường,
Tôi đoán là mình biết chỗ có thể tìm thấy tên mình
được khắc trong nhà kho để nhắc tôi là ai
nếu nó không nói cho tôi biết tôi đang ở đâu. Hồi trước tôi
hay chơi——"
"Anh đi chăm lũ ngựa rồi quay lại đi.
Fred Cole, anh định để mặc anh ấy đi đấy à!"
"Ừ thì, chứ sao nữa?
Anh tránh thế nào được?"
"Tôi vừa gọi anh ấy là Bác.
Sao tôi lại gọi thế nhỉ?"
"Thế cũng đúng thôi.
Đó là tất cả những gì em từng nghe người ta gọi anh ấy quanh đây.
Có vẻ như anh ấy đã đánh rơi cả tên thánh của mình rồi."
"Tôi tự gọi thế cũng đủ thánh thiện chán.
Anh ta có thèm để ý đâu, phải không? Ờ, ít ra
tôi chẳng vì yêu quý gì anh ta mà thốt ra từ ấy,
Chúa mới biết. Tôi ghê tởm cái ý nghĩ về anh ta
với mười đứa con chưa tròn mười tuổi.
Tôi ghét cái Tông phái Racker khốn nạn của hắn,
tất cả những gì tôi từng nghe về nó, mà cũng chẳng nhiều nhặn gì.
Nhưng nói thế không có nghĩa là——Này, Fred Cole, đã mười hai giờ
rồi phải không anh? Anh ấy ở đây được nửa tiếng rồi.
Anh ấy bảo rời cửa hàng tạp hóa ở làng lúc chín giờ.
Ba tiếng đi bốn dặm – một dặm một giờ
hoặc chẳng khá hơn là bao. Ồ, cứ như là
một người chẳng thể di chuyển chậm thế mà vẫn nhích đi được.
Thử nghĩ xem anh ta đã làm gì với khoảng thời gian ấy.
Và còn ba dặm nữa phải đi!"
"Đừng để anh ấy đi.
Giữ chặt anh ấy lại đi, Helen. Bắt anh ấy phải trả lời em.
Cái hạng người đó cứ huyên thuyên suốt đời
dựa vào điều cuối cùng chính mình vừa thốt ra, điếc đặc
trước bất cứ thứ gì người khác có thể nói.
Thế mà anh cứ tưởng em có thể khiến anh ấy nghe mình cơ đấy."
"Anh ta ra đường trong cái đêm thế này để làm gì nhỉ?
Sao không chịu ở nhà cơ chứ?"
"Anh ấy có buổi giảng đạo."
"Đêm hôm thế này mà ra đường."
"Anh ấy có thể nhỏ con,
anh ấy có thể tốt tính, nhưng có một điều chắc chắn, anh ấy rất dai sức."
"Và nồng nặc mùi thuốc lá cũ."
"Anh ấy sẽ vượt qua thôi."
"Anh chỉ nói thế. Chẳng còn lấy một ngôi nhà
hay chỗ trú chân nào từ đây
cho tới nhà họ nữa đâu. Em sẽ gọi cho vợ anh ấy lần nữa."
"Đợi xem anh ấy có tính sao không đã. Hãy xem anh ấy có nghĩ đến vợ không.
Mà anh nghi là hắn chỉ đang nghĩ cho bản thân mình thôi.
Hắn chẳng xem đó là chuyện to tát gì đâu."
"Hắn không được đi – ngoài kia!"
"Đêm hôm thế này cơ mà, mình."
"Một điều nữa: hắn chẳng lôi Chúa vào chuyện này."
"Hắn không coi đó là việc cần đến Chúa."
"Em nghĩ thế à? Em không hiểu loại người ấy đâu.
Hắn đang tự dựng lên một phép lạ ngay lúc này đây.
Âm thầm – trong thâm tâm, ngay lúc này, hắn đang nghĩ
rằng mình sẽ coi đó là một kỳ tích nếu thành công,
nhưng sẽ ngậm tăm nếu thất bại."
"Ngậm tăm hoàn toàn.
Hắn sẽ chết – chết và được chôn cất."
"Thật là rắc rối!
Không phải là chị có đủ mọi lý do để mặc kệ
điều gì xảy ra với hắn, miễn là nó bớt đi phần nào
cái vẻ tự đắc ra điều đạo đức
của một trong những tên lưu manh sùng đạo ấy."
"Nói nhảm thế đủ rồi! Em muốn thấy anh ấy bình an vô sự cơ mà."
"Em quý gã lùn ấy chứ."
"Em không thế một chút sao?"
"Thì,
anh không thích việc hắn đang làm, mà đó lại là điều
em thích, và vì thế em quý hắn."
"Ồ, có chứ, anh thích thế.
Anh cũng thích trò vui như bất kỳ ai thôi;
chỉ là các cô cứ phải làm bộ làm tịch thế thôi
để gây ấn tượng với đàn ông. Các cô làm chúng tôi ngượng ngùng
vì mang tiếng đàn ông đến mức chẳng thể nhìn một trận ẩu đả hay ho
giữa hai đứa trẻ mà không thấy có trách nhiệm phải ngăn nó lại.
Cứ để gã đó cóng một hai bên tai đi, anh nói thế. –
Anh ấy tới kìa. Anh giao phó hết cho em đấy. Vào trong đi
và cứu mạng anh ấy đi. – Nào, mời vào, Meserve.
Ngồi xuống đi, ngồi xuống đi. Anh thấy lũ ngựa thế nào?"
"Tuyệt, tuyệt lắm."
"Và sẵn sàng đi tiếp á? Vợ tôi đây
bảo không đời nào. Anh phải bỏ ý định đó đi."
“Anh không định làm thế để chiều em ư? Xin anh đấy! Nếu em nói xin đấy thì sao?
Thưa ông Meserve, tôi xin phó mặc cho vợ anh quyết định.
Vợ anh đã nói gì qua điện thoại vậy?"
Meserve dường như chẳng bận tâm đến thứ gì ngoài ngọn đèn
hoặc một vật gì đó gần ngọn đèn trên bàn.
Vươn thẳng người và giơ ngón trỏ lên,
anh dùng bàn tay đang đặt
như một con nhện trắng nhàu nhĩ trên đầu gối để chỉ:
"Cái chiếc lá ở trang sách đang mở kia kìa! Nó vừa
chuyển động, tôi tưởng thế. Nó cứ đứng thẳng thế đấy,
trên bàn kia, từ lúc tôi bước vào,
cố lật qua hay lật lại,
tôi cứ dán mắt vào nó để đoán xem là hướng nào;
nếu là tiến lên, thì đó là sự thiếu kiên nhẫn của một người bạn –
bạn thấy đấy tôi thừa biết – muốn giục bạn tiếp tục
những điều nó muốn xem bạn đón nhận ra sao, còn nếu lùi lại
thì đó là sự tiếc nuối cho một điều gì đó bạn đã bỏ qua
mà không nhận ra điểm tốt của nó. Thôi đừng bận tâm,
vạn vật hẳn phải chấp nhận xuất hiện trước mặt chúng ta
rất nhiều lần – tôi không dám chắc chính xác là mấy lần –
điều đó tùy thuộc vào từng sự vật – trước khi chúng ta thực sự nhìn thấy chúng.
Một trong những lời dối trá thường bày đặt rằng chẳng có gì
từng hiện diện trước mặt chúng ta tới hai lần.
Rốt cuộc chúng ta sẽ trôi dạt về đâu nếu điều đó xảy ra?
Chính cuộc sống của chúng ta phụ thuộc vào việc vạn vật
cứ lặp đi lặp lại cho đến khi chúng ta cất tiếng đáp lời từ tận đáy lòng.
Lần thứ một nghìn có thể sẽ mang lại điều kỳ diệu. – Chiếc lá kia!
Nó chẳng thể tự lật theo hướng nào. Nó cần sự giúp đỡ của gió.
Nhưng gió chẳng hề lay chuyển nó nếu nó thực sự chuyển động.
Chính nó tự dịch chuyển đấy chứ. Gió ở trong này có nghĩa lý gì đâu.
Gió không thể làm rung chuyển một vật
được cân bằng nhạy cảm đến thế. Gió không thể với tới ngọn đèn
để làm một luồng khói đen bốc lên từ ngọn lửa,
hay thổi làm xù lông chú chó collie.
Anh tạo ra một khoảng không gian vuông vức nhỏ nhoi,
yên bình, ngập tràn ánh sáng và ấm áp, bất chấp tất cả
bóng tối, cái lạnh và giông bão vô tận ngoài kia,
và bằng cách đó mang lại cho ba thứ này: ngọn đèn, chú chó,
và chiếc lá sách, những thứ ở gần anh, sự tĩnh lặng của chúng;
dù cho bất cứ ai cũng có thể nói, sự tĩnh lặng
có lẽ là thứ anh không có, nhưng anh lại ban phát nó cho đời.
Thật sai lầm biết bao khi cho rằng thứ ta không có thì ta không thể cho đi;
Thật sai lầm biết bao, khi điều ta vẫn thường nói hóa ra lại là sự thật.
Tôi sẽ phải lật chiếc lá đó thôi nếu không có ai làm thay.
Nó cứ ì ra không chịu nằm xuống. Thôi cứ để nó đứng vậy. Ai thèm chấp chứ?"
"Tôi không muốn giục anh đâu, Meserve,
nhưng nếu anh định đi – Bảo là anh sẽ ở lại đi, anh biết không?
Mà để tôi kéo tấm rèm này ra cho anh thấy cảnh tượng
và cho anh biết tuyết đang chất đống cao đến thế nào rồi.
Anh có thấy màu trắng của tuyết xuyên qua lớp băng giá không?
Hãy hỏi Helen xem nó đã bò lên khung cửa sổ cao đến đâu rồi
từ lần cuối chúng ta đo mực tuyết."
"Trông cứ như thể
có một sinh vật nhợt nhạt nào đó đã bị đè bẹp dí các nét trên mặt,
hai mắt nhắm nghiền vì quá ư háo hức
được nhìn xem mọi người tìm thấy điều gì thú vị ở nhau,
rồi cứ thế chìm vào giấc ngủ
vì cái sự u mê thiếu hiểu biết của chính mình,
hoặc tự bẻ gãy cái cổ trắng ngần làm từ chất liệu nấm mốc
của mình rồi chết gục bên ô cửa kính."
"Bác Meserve, hãy cẩn thận đấy, anh sẽ tự dọa mình
hơn là dọa chúng tôi bằng thứ ngôn ngữ ác mộng ấy đấy.
Chính anh mới là người phải bận tâm, vì chính anh
là kẻ phải đơn độc bước ra ngoài đó."
"Cứ để anh ấy nói đi, Helen, và biết đâu anh ấy sẽ ở lại."
"Trước khi em thả rèm xuống – anh lại nhớ ra điều này:
Em còn nhớ cậu thanh niên từng đến đây
để hít thở bầu không khí trong lành vào một mùa đông nọ – thuê một phòng
ở nhà nhà Avery chứ? Chà, vào một buổi sáng đầy nắng
sau trận bão tuyết dày như bông, cậu ta đi qua nhà chúng ta
và thấy anh đang đắp tuyết quanh chân tường nhà.
Và anh đang đào sâu xuống lớp tuyết để tìm hơi ấm,
chất nó chất đống vượt quá cả bệ cửa sổ.
Đống tuyết bên cửa sổ đập vào mắt cậu ta.
'Này, đó là một ý hay đấy' – đó là nguyên văn lời cậu ta.
'Nhờ thế anh có thể tưởng tượng bên ngoài sâu sáu thước,
trong khi anh ngồi ấm áp và đọc sách nghiên cứu khẩu phần ăn.
Anh không bao giờ có thể có quá nhiều mùa đông vào mùa đông cả.'
Đó là lời của cậu ta. Và cậu ta về nhà và suýt nữa
đắp tuyết che khuất cả ánh sáng qua cửa sổ nhà Avery.
Bây giờ thì anh và em sẽ chẳng làm điều quá trớn thế đâu.
Đồng thời em cũng không thể chối cãi rằng việc ngồi đây, ba chúng ta,
thả hồn tưởng tượng, khi thấy vạch tuyết dâng lên
quá cao bên ngoài ô cửa sổ, chẳng hề làm cho mọi thứ tồi tệ hơn chút nào.
Ngay ở chỗ kia,
có một cái khe giống như cái đường hầm trong lớp băng giá,
giống một cái đường hầm hơn là một cái lỗ – tít tận phía xa
cuối đường hầm ấy, em thấy một chuyển động
và rung động giống như rìa tua rua của đống tuyết
bị gió thổi bay. Anh thích điều đó – anh thích thế.
Thôi, giờ thì anh xin phép cáo từ mọi người."
"Nào, Meserve,
chúng tôi tưởng anh đã quyết định không đi nữa chứ –
qua những lời ca tụng sự thoải mái
và việc ở lại chốn này của anh cơ mà. Anh muốn ở lại còn gì."
"Tôi xin thừa nhận là trời rất lạnh cho một trận tuyết rơi thế này.
Căn nhà này lạnh buốt giá, ngoại trừ
căn phòng mọi người đang ngồi đây. Nếu anh nghĩ tiếng gió
nghe có vẻ xa hơn, thì không phải vì nó đang ngớt dần đâu;
chỉ là anh đã lún sâu hơn vào đống tuyết thôi – thế thôi mà –
và cảm thấy nó ít đi. Hãy nghe những quả bom bụi mềm mại
mà gió quật vào miệng ống khói chúng ta,
và ở hiên nhà kìa. Tôi thích ở trong nhà
hơn là đối mặt với nó ngoài kia. Nhưng lũ ngựa
đã được nghỉ ngơi rồi và đã đến lúc phải nói lời chúc ngủ ngon,
để mọi người có thể đi ngủ lại. Chúc ngủ ngon,
xin lỗi vì đã làm gián đoạn giấc ngủ của các bạn."
"May cho anh vì đã làm thế đấy. May cho anh
vì đã có chúng tôi làm trạm dừng chân
để ghé lại. Nếu anh là cái loại đàn ông
chịu nghe lời phụ nữ, anh đã nghe theo lời khuyên của tôi
và vì lợi ích của gia đình mà ở lại chỗ này rồi.
Nhưng tôi cứ lặp đi lặp lại điều đó thì có ích gì chứ?
Anh đã làm nhiều hơn mức anh có quyền nghĩ rằng
mình có thể làm – vào lúc này rồi đấy. Anh thừa biết rủi ro mình phải gánh chịu
khi cứ tiếp tục đi."
"Bão tuyết của chúng ta theo quy luật
không bị coi là thứ tước đoạt mạng người, và mặc dù
tôi thà làm con thú chìm vào giấc ngủ
bên dưới lớp tuyết kia, với cửa nhà bị bịt kín và mất hút,
còn hơn là người đàn ông phải chiến đấu với nó để ngoi lên trên,
nhưng hãy nghĩ đến những chú chim nhỏ đậu trên cành chứ không phải
trong tổ xem nào. Lẽ nào tôi lại bị tính là kém cỏi hơn chúng?
Trọng lượng của chúng bằng nước sẽ đông cứng thành hòn đá
trong chớp mắt khi ra ngoài đêm nay. Thế mà ngày mai
chúng vẫn sẽ chuyền qua những cành cây đâm chồi nảy lộc,
vẫy vẫy đôi cánh và cất tiếng hót Chíp Chíp,
cứ như thể chẳng biết từ bão nghĩa là gì vậy."
"Nhưng sao lại phải đi khi chẳng có ai muốn anh đi tiếp?
Vợ anh – cô ấy không muốn thế. Chúng tôi không muốn,
và chính anh cũng chẳng muốn. Còn ai vào đây nữa?"
"Xin Chúa cứu chúng tôi khỏi việc bị một người phụ nữ dồn vào chân tường.
À, thì có..." Cô ấy kể với Fred sau đó rằng trong
khoảng lặng ngay lúc đó, cô đã nghĩ từ đáng sợ
sắp thốt ra là, "Chúa." Nhưng không, anh ta chỉ nói
"À, thì có... cơn bão. Nó bảo tôi phải đi tiếp.
Nó muốn tôi như một cuộc chiến tranh nếu nó xảy ra.
Hãy hỏi bất kỳ người đàn ông nào xem."
Anh ta ném câu nói đó lại như một thứ
để cô ấy ngẫm nghĩ cho đến khi anh bước ra khỏi cửa.
Anh có Cole đi cùng ra chuồng ngựa để tiễn.
Khi Cole quay lại, anh thấy vợ mình vẫn đang đứng
cạnh chiếc bàn gần cuốn sách mở,
chứ không hề đọc nó.
"Nào, em gọi kẻ đó
là loại đàn ông gì vậy?" cô nói.
"Anh ta có năng khiếu
về ngôn từ, hay phải nói là lắm điều mới đúng nhỉ?"
"Đã có ai như thế chưa, chuyên đi so sánh mọi thứ?"
"Hay phớt lờ những câu hỏi xã giao thông thường –
Gì chứ? Chúng ta đã khám phá ra về anh ta trong một tiếng đồng hồ
còn nhiều hơn cả khi thấy anh ta đi ngang qua đường
cả nghìn lần. Nếu đó là cách anh ta giảng đạo!
Em đâu có nghĩ là mình sẽ giữ chân được anh ta rốt cuộc.
Ồ, anh không trách em đâu. Anh ta chẳng để cho em
nhiều quyền quyết định trong chuyện này, và anh cũng thấy mừng
vì chúng ta không phải chịu đựng anh ta suốt đêm. Sẽ chẳng có giấc ngủ nào
nếu anh ta ở lại. Chỉ một chút chuyện nhỏ cũng đủ khiến anh ta huyên thuyên.
Vắng anh ta, nơi này yên tĩnh như một nhà thờ trống."
"Nhưng tình cảnh chúng ta hiện giờ khá hơn được bao nhiêu chứ?
Chúng ta sẽ phải ngồi đây cho đến khi biết chắc anh ta bình an vô sự."
"Ừ, anh đoán em sẽ muốn thế, nhưng anh thì không.
Anh ta biết mình có thể làm gì, nếu không thì đã chẳng liều lĩnh.
Lên giường đi em, anh bảo thế, và nghỉ ngơi đi.
Anh ta sẽ không quay lại đâu, và nếu có gọi điện,
thì cũng phải một hai tiếng nữa."
"Thế thì
chúng ta cũng chẳng giúp ích gì được bằng cách ngồi đây
và sống trọn cuộc chiến đấu của anh ta cùng anh ta, em đoán thế."
* * *
Cole đang gọi điện trong bóng tối.
Giọng Mrs. Cole cất lên từ căn phòng bên trong:
"Cô ấy gọi cho anh hay anh gọi cho cô ấy?"
"Cô ấy gọi anh.
Em mau mặc đồ vào đi: em sẽ chẳng quay lại giường ngủ đâu.
Chắc chúng ta đã ngủ quên mất: đã quá ba giờ rồi."
Cô ấy đã reo chuông lâu chưa nhỉ? Em sẽ lấy áo choàng.
Em muốn nói chuyện với cô ấy."
"Tất cả những gì cô ấy nói là,
anh ấy vẫn chưa về và liệu anh ấy đã thực sự khởi hành chưa."
"Cô ấy thừa biết là anh ấy đi rồi, tội nghiệp, từ hai tiếng trước cơ."
"Anh ấy có mang theo xẻng. Hắn ta sẽ chiến đấu ra trò đấy."
"Sao em lại dại dột để anh ấy rời khỏi nhà này cơ chứ!"
"Đừng có bắt đầu bài ca đó nữa. Em đã làm hết sức có thể
để giữ anh ta lại – dù có lẽ em không giấu nổi
cái mong muốn thấy anh ta thể hiện cái gan lì
dám cãi lời em. Vợ anh ta sẽ biết ơn em lắm đấy."
"Fred, sau tất cả những gì em nói! Anh đừng có mà
bóp méo sự thật thành ra thế này thế khác.
Cô ấy có biểu lộ qua bất kỳ lời nào cô ấy nói
rằng cô ấy không cảm ơn em không?"
"Khi anh bảo cô ấy 'Đi rồi,'
'Thế thì,' cô ấy nói, và 'Thế thì' – nghe như một lời đe dọa.
Và rồi giọng cô ấy rít lên chậm rãi: 'Ồ, anh,
sao anh lại để anh ấy đi cơ chứ'?"
"Lại hỏi tại sao chúng ta để anh ấy đi á?
Anh để em ở đó đấy. Em sẽ hỏi cô ấy tại sao lại để anh ấy đi.
Cô ấy có dám hé răng nửa lời lúc anh ấy ở đây đâu.
Số máy của họ là – hai mươi mốt à? Cái máy này hỏng rồi.
Ống nghe của ai đó bị nhấc ra kìa. Tay quay cứ khựng lại.
Cái thứ cứng đầu này, cách nó giật cả tay mình!
Là nhà họ đấy. Cô ấy buông tay khỏi ống nghe rồi bỏ đi đâu mất tiêu."
"Thử nói xem. Nói 'Alo' đi!"
"Alo, Alo."
“Em nghe thấy gì nào?”
"Em nghe thấy một căn phòng trống –
anh biết đấy – nghe âm thanh là biết ngay. Và phải, em nghe thấy –
em nghĩ mình nghe thấy tiếng đồng hồ tích tắc – và tiếng cửa sổ lật đật kêu.
Nhưng không có tiếng bước chân. Nếu cô ấy ở đó thì chắc đang ngồi thừ ra."
"Thét lên đi, nhỡ cô ấy nghe thấy."
"Thét chẳng ích gì đâu."
"Thế thì cứ nói tiếp đi."
"Alo. Alo. Alo.
Anh không ngờ tới tình huống... Không lẽ cô ấy ra ngoài trời rồi sao?"
"Anh hơi sợ đó chính xác là điều cô ấy sẽ làm."
"Còn bỏ mặc mấy đứa trẻ thì sao?"
"Đợi lát rồi gọi lại xem.
Em có nghe được liệu cô ấy có để cửa mở toang
rồi gió thổi tắt đèn
và lửa đã tắt ngấm để căn phòng trở nên tối tăm và lạnh lẽo không?"
"Một trong hai khả năng, hoặc là cô ấy đã lên giường đi ngủ
hoặc là đã ra ngoài trời."
"Trong trường hợp đó cả hai đều tiêu đời rồi.
Em có biết cô ấy trông thế nào không? Em đã gặp cô ấy bao giờ chưa?
Thật lạ là cô ấy chẳng thèm nói chuyện với chúng ta."
"Fred, anh nghe thử xem có giống tiếng em đang nghe không. Lại đây."
"Chắc tiếng đồng hồ thôi."
"Em không nghe thấy âm thanh nào khác à?"
"Không có tiếng nói chuyện."
"Không."
"Ờ, có chứ, anh nghe thấy – cái gì thế nhỉ?"
"Anh bảo đó là gì?"
"Tiếng trẻ con khóc!
Nghe có vẻ hoảng loạn, dù bị bóp nghẹt và vọng lại từ xa."
"Mẹ nó không đời nào lại để nó khóc thảm thiết thế,
trừ khi cô ấy không có ở đó."
"Anh đoán thế là thế nào?"
"Chỉ có một khả năng duy nhất có thể xảy ra,
đó là, giả sử rằng – cô ấy đã ra ngoài rồi.
Dĩ nhiên là cô ấy chưa ra đâu." Cả hai ngồi phịch xuống
bất lực. "Chẳng có gì chúng ta có thể làm cho đến sáng."
"Fred, em không đời nào để anh nghĩ đến chuyện ra ngoài đâu."
"Khoan đã." Tiếng chuông kép bắt đầu réo lên.
Họ giật mình đứng phắt dậy. Fred chộp lấy ống nghe điện thoại.
"Alo, Meserve. Anh tới nơi rồi đấy à! – Còn vợ anh?
Tốt quá! Tại sao anh lại hỏi – cô ấy có vẻ không trả lời máy.
Hắn bảo cô ấy đã ra mở cửa chuồng ngựa cho hắn. –
Chúng tôi mừng quá. Ồ, đừng nhắc đến nữa, anh bạn.
Lúc nào đi qua đây nhớ ghé vào chơi nhé."
"Thế đấy.
Cô ta giữ được hắn rồi đấy, dù không hiểu cô ta giữ hắn lại làm gì
nữa."
"Có lẽ không phải vì bản thân cô ấy đâu.
Biết đâu cô ta chỉ muốn giữ hắn vì mấy đứa trẻ."
"Toàn bộ sự việc hóa ra chỉ là vô ích.
Thứ làm hỏng giấc ngủ đêm nay của chúng ta đối với hắn lại chỉ là một trò vui.
Hắn vào đây để làm gì nhỉ? – Để trò chuyện và thăm hỏi á?
Tưởng hắn chỉ ghé gọi để báo trời đang đổ tuyết chứ.
Nếu hắn tưởng có thể biến nhà chúng ta
thành quán cà phê trạm dừng giữa thị trấn và chốn khỉ ho cò gáy này——"
"Anh cứ nghĩ là em đã quá lo lắng đấy thôi."
"Em nghĩ là bản thân em không lo lắng chắc."
"Nếu ý em là hắn đã thiếu chu đáo
khi lôi chúng ta dậy để lo lắng thay cho hắn vào lúc nửa đêm
rồi lại phớt lờ lời khuyên của chúng ta như gió thoảng ngoài tai,
thì anh đồng ý với em. Nhưng hãy tha thứ cho hắn đi.
Chúng ta đã góp một phần trong đêm định mệnh của cuộc đời hắn.
Em cá là bao giờ hắn còn gọi điện lại lần nữa nào?"
Cô đứng tựa vào bồn rửa chén trong bếp, phóng tầm mắt
qua bồn rửa nhìn qua ô cửa sổ bám đầy bụi
đám cỏ dại bị dòng nước từ bồn rửa tưới cho cao vút lên.
Cô khoác chiếc áo choàng; chiếc mũ nằm gọn trong tay cô.
Bừa bộn ngập tràn căn phòng phía sau cô,
những chiếc ghế lật ngược ngẩng chân lên trời như đang ngồi
trên những chiếc ghế khác, và đủ mọi thứ đồ đạc,
cho mọi căn phòng mà một ngôi nhà có – phòng khách, phòng ngủ,
và phòng ăn – bị ném hỗn độn trong nhà bếp.
Và chốc chốc lại có một khuôn mặt lọ lem lấm lem nhọ nồi
ghé vào cánh cửa phía sau lưng cô và cất tiếng nói
vào tấm lưng cô. Cô lúc nào cũng trả lời mà chẳng thèm quay đầu lại.
"Tôi đặt chiếc tủ đựng hồ sơ bằng gỗ óc chó này ở đâu đây, thưa quý cô?"
"Cứ đặt nó lên trên một thứ gì đó đang đặt lên trên
một thứ khác đi," cô bật cười. "Ồ, tối nay cứ đặt nó ở chỗ nào
anh thấy tiện đi, rồi đi đi. Trời sắp tối rồi đấy;
anh phải chuẩn bị lên đường về thị trấn thôi."
Lại một khuôn mặt nhọ lem nữa thò vào nhìn
và mỉm cười, và khi cô không quay lại, liền dịu dàng lên tiếng,
"Cô đang ngắm gì ngoài cửa sổ thế, thưa quý cô?"
"Chưa bao giờ tôi được gọi bằng từ 'quý cô' nhiều đến thế.
Tự hỏi không biết bằng chứng của việc được gọi là quý cô
hơn ngần ấy lần có biến tôi thành một quý cô
theo luật thông luật được không cơ chứ."
"Nhưng tôi hỏi mà,hãy
cô đang nhìn ngắm gì ngoài cửa sổ thế, thưa quý cô?"
"Thứ mà tôi sẽ còn ngắm nhiều hơn nữa trong những năm
sắp tới khi tôi đứng đây và lặp đi lặp lại công việc
lau chùi vô số chiếc đĩa bằng vô số chiếc khăn."
"Và thứ đó là gì? Cô chỉ toàn đánh trống lảng."
"Đám cỏ dại chết tiệt yêu dòng nước từ chậu rửa bát
hơn một số phụ nữ yêu cái chậu rửa bát ấy, Joe;
một dải đồng cỏ xén nhỏ nhoi dành cho anh;
chẳng có mấy thứ đó cho tới khi tôi đi đến khu rừng
chấm dứt mọi thứ. Và ngần ấy thì khó lòng mà gọi là
một thắng cảnh được."
"Thế mà em vẫn nghĩ là mình thích nó chứ, em yêu?"
"Đó là điều anh băn khoăn muốn biết đấy! Anh hy vọng
là em thích nó. Rầm một tiếng, cái gì đó vỡ tan tành
tận trên lầu kìa. Tiếng bước chân của những người đàn ông
to xác thế kia đang làm rung chuyển tận khung sườn
của một ngôi nhà nhỏ bé thế này. Một khi chỉ còn lại hai chúng ta,
em và anh, cưng à, chúng ta sẽ bước đi nhẹ nhàng hơn
lên xuống cầu thang và qua các phòng, và chẳng có gì
ngoài những cơn gió bất chợt giật lấy chúng từ tay ta
mới có thể làm sập các cánh cửa."
"Anh nghĩ là em đang nhìn thấy
nhiều thứ qua ô cửa sổ đó hơn là em dám nhận đấy."
"Không; vì ngoài những thứ em kể với anh,
em chỉ nhìn thấy những năm tháng mà thôi. Chúng đến và đi
luân phiên cùng đám cỏ dại, cánh đồng,
khu rừng."
"Những năm tháng kiểu gì thế?"
“Thì, những năm tháng sau này –
khác với những năm tháng đầu đời."
"Anh cũng nhìn thấy chúng.
Em không đếm chúng à?"
"Không, càng về sau
chúng quấn lấy nhau đến mức em chẳng thèm đếm nữa.
Chắc chắn chúng chẳng thể là một con số
mà chúng ta muốn biết, vì giờ đây chúng ta đâu còn trẻ."
Và rầm một tiếng, cái gì đó lại vỡ tan ở tận đằng kia.
Nghe cứ như thể những người đàn ông ngã quỵ xuống,
và mỗi tiếng đổ vỡ đồng nghĩa với việc bớt đi một người quay về
những con phố thành phố rực rỡ ánh đèn mà chúng ta cũng từng biết,
nhưng giờ đang từ bỏ để đổi lấy sự tĩnh mịch tối tăm nơi đồng quê."
"Hãy rời khỏi cái cửa sổ nơi em nhìn thấy quá nhiều thứ đối với anh đi,
và có cái nhìn sinh động hơn về mọi thứ từ đây này.
Họ đang đi kìa. Nhìn gã to xác đang trèo
vật vả qua bánh xe lên cái ghế cao ngất ngưởng kìa,
hắn đang châm tẩu thuốc, nheo mắt nhìn xuống
ngọn lửa đang bén dần xuống khi hắn rít thuốc."
"Nhìn kìa, ánh lửa làm bừng sáng cả một bên mũi hắn, bằng chứng
cho thấy trời đang tối dần đấy. Anh có thể đoán giờ giấc
nhờ vào điều đó không? Hay nhờ ánh trăng? Trăng non kìa!
Em vừa nhìn thấy cô ấy qua vai nào nhỉ? Chẳng bên nào cả.
Cô ấy mỏng manh như một sợi dây bạc, bỡ ngỡ y như chúng ta
trước mọi thứ. Ánh sáng của cô ấy sẽ chẳng kéo dài với chúng ta bao lâu đâu.
Tuy nhiên, biết rằng chúng ta sắp được ngắm cô ấy
đêm này qua đêm khác và ánh sáng ngày càng rực rỡ hơn mỗi đêm
để đồng hành qua hai tuần đầu tiên cũng là một niềm an ủi đấy. Nhưng, Joe,
Cái bếp lò! Trước khi họ đi! Hãy gõ cửa sổ kìa;
Bảo họ giúp anh dựng nó đứng lên đi.
Chúng ta cứ đứng đây mơ mộng thế này. Nhanh lên! Gọi họ quay lại đi!"
"Họ đi thế nào được mà đi."
"Chúng ta buộc phải có cái bếp lò,
dù có phải túng thiếu thứ gì đi nữa. Và cả ánh sáng nữa.
Chúng ta có mẩu nến nào không nhỡ ngọn đèn
và dầu bị vùi lấp chẳng với tới được?"
Lại một lần nữa
căn nhà ngập tràn tiếng bước chân thình thịch, và những người đàn ông
lực lưỡng lấp đầy cửa ùa vào và chộp lấy chiếc bếp lò.
Có một lỗ hổng như miệng đại bác trên tường,
được họ ướm cho chiếc bếp vào khớp hoàn hảo bằng mắt thường; rồi sau đó
họ giơ cao mấy khúc ống khói nối khớp trong tay,
nhẹ bẫng và bay bổng đến mức so với sức vóc của họ
nó cứ như đang bay lơ lửng như khinh khí cầu,
trượt khỏi những đôi tay vụng về hướng thẳng lên trần nhà.
"Vừa khít!" một kẻ lên tiếng, và vỗ mạnh vào khớp nối ống khói.
"Chuyển về đây mà khởi đầu
với một cái ống khói suôn sẻ thì đúng là may mắn đấy. Thôi đừng bận tâm,
ở vùng quê cũng không tệ lắm đâu, khi đã ổn định cuộc sống,
lúc người ta có tuổi rồi. Rồi cô sẽ thích nó thôi."
Joe nói: "Các cậu to xác thế này đáng lẽ nên kiếm một trang trại,
rồi làm những người nông dân chân chính, và nhường việc thành phố
cho những kẻ khác. Chẳng có đủ việc
cho tất cả mọi người ở trỏng đâu."
"Chúa ơi!" một kẻ thốt lên đầy hoang dại, và khi không ai đáp lời:
"Nói câu đó với thằng Jimmy đây này. Nó cần một trang trại kìa."
Nhưng Jimmy chỉ làm cái hàm thụt lùi lại
như thằng ngốc, và đảo mắt ra điều muốn nói
rằng hắn tự thấy mình là nông dân rồi đấy. Rồi có một cậu nhóc người Pháp
nói với vẻ nghiêm túc khiến họ phải phì cười,
"Bạn tôi ơi, bạn chẳng biết mình đang đòi hỏi cái gì đâu."
Cậu ta cởi chiếc mũ phớt và cầm bằng cả hai tay
trước ngực để cúi chào:
"Bọn tôi nhường lại cơ hội làm nông dân cho mấy anh đấy."
Và rồi tất cả bọn họ nện những đôi giày đinh inh tai óc
và tống cổ nhau ra khỏi nhà.
"Tạm biệt họ nhé! Chúng ta làm họ bối rối đấy. Họ nghĩ gì –
chẳng biết họ nghĩ chúng ta thấy gì ở cái cảnh tượng
mà họ để lại cho chúng ta đây: sườn đồng cỏ trông giống như
cái lưng của một trang trại nào đó quay về phía chúng ta; và khu rừng của anh
nằm về hướng Bắc ngay ngoài cửa sổ bồn rửa chén,
chỉ chực chờ rình rập tiến đến tóm chúng ta bất cứ khi nào
chúng ta lơ đễnh cúi đầu hoặc quay đi làm việc khác,
hệt như trò chơi 'Mười bước' lũ trẻ hay chơi vậy."
"Trông họ có vẻ là những chàng trai tốt, cứ để họ yêu thành phố đi.
Tất cả những gì họ thốt ra được chỉ là 'Chúa ơi!' khi anh đề nghị
họ ra đây làm những người nông dân hữu ích."
"Bọn họ có làm em thấy gợn người chút nào không?
Sẽ phải tốn nhiều thứ hơn là bọn họ mới làm em chán nản được –
chúng ta chán món giao kèo này ấy chứ. Nhưng họ bỏ đi để mặc chúng ta
với số phận của mình, hệt như những kẻ ngốc chẳng thể bảo ban nổi.
Họ suýt làm em dao động đấy."
"Mọi thứ giống hệt như
những gì chúng ta luôn ao ước, anh thú nhận
việc thoạt đầu có vẻ tệ lại càng khiến nó có vẻ
còn tồi tệ hơn nữa, cứ thế trượt dài xuống, xuống, xuống mãi.
Chẳng có gì ghê gớm cả; chỉ là họ bỏ đi lúc chạng vạng thôi.
Anh chưa bao giờ chịu nổi cảnh mọi người rời đi.
Đêm đầu tiên sau khi khách khứa ra về, ngôi nhà
trông cứ như bị ma ám hoặc phơi bày trống hoác. Anh luôn tự mình
thực hiện việc khóa cửa
vào giờ đi ngủ; nhưng sự xa lạ ấy chẳng mấy chốc sẽ phai nhạt thôi."
Anh xách một chiếc đèn lồng tối sầm từ đằng sau
cánh cửa. "Vẫn còn thứ này mà chúng ta không đánh mất! Cả mấy thứ này nữa!"
Vài bao diêm được anh lấy ra từ túi áo. "Về chuyện ăn uống –
những bữa ăn chúng ta từng có thì không ai lấy đi của chúng ta được.
Anh ước gì mọi thứ trên đời này đều
chắc chắn như những bữa ăn chúng ta đã có. Anh ước gì
những bữa ăn chúng ta chưa có cũng được như vậy.
Em còn mang theo thứ gì mà em biết rõ chỗ cất không?"
"Ổ bánh mì chúng ta mua ghé qua ở cửa hàng.
Đâu đó cũng có cả bơ nữa."
"Hãy bẻ bánh mì ra ăn đi em.
Anh sẽ nhóm lửa để làm bạn với em nhé;
Em sẽ chẳng có người bạn nào khác đâu
cho đến khi Ed bắt đầu mò đến vào một ngày Chủ nhật
để xem xét chúng ta và hiến kế
về những việc cần cắt tỉa, lợp lại mái, hay phá dỡ.
Nó sẽ biết chính xác nó sẽ làm gì nếu nó là chúng ta,
và làm tất cả cùng lúc. Nó sẽ lên kế hoạch cho chúng ta và vạch ra
đủ điều để giúp đỡ, nhưng rồi cũng chỉ dừng lại ở việc lên kế hoạch mà thôi.
Thôi, em có thể dọn bàn với ổ bánh mì đó đi.
Để anh xem em tìm ổ bánh mì của em thế nào nhé. Anh sẽ nhóm lửa.
Anh thích nhìn những chiếc ghế đang chiếm chỗ của những chiếc ghế khác
hơn là mời một quý cô..."
"Lại thế nữa rồi, Joe!
Anh mệt lử rồi đấy."
"Anh mệt đến mức ngớ ngẩn điên cuồng rồi;
đừng để tâm đến bất kỳ lời nào anh nói. Đúng là một ngày lao động vất vả
khi dọn sạch đồ đạc của nhà này
và nhồi nhét vào nhà khác cách đó mười lăm dặm,
dù anh chẳng làm gì ngoài việc vứt đống đồ xuống."
"Chúng ta đang bị vứt xuống chốn thiên đường và rất hạnh phúc."
"Mọi thứ giống hệt như những gì anh luôn ao ước,
đến mức anh không thể tin đó cũng là thứ em ao ước."
"Anh không muốn biết chắc hay sao?"
"Anh rất muốn biết
liệu đó có phải là điều em ao ước không, và nếu có thì em đã mong mỏi điều đó
vì anh nhiều đến mức nào."
"Lương tâm cắn rứt đây mà!
Anh không muốn em nói ra nếu bản thân em không rõ đâu."
"Anh không muốn tìm hiểu những điều không thể biết.
Nhưng ai là người đầu tiên thốt lên ý định chuyển đến đây nhỉ?"
"Em yêu,
phải hỏi ai là người đầu tiên nảy ra ý nghĩ đó chứ. Anh đang đi tìm,
Joe ạ, những thứ không hề tồn tại; ý em là những điểm khởi đầu.
Điểm kết thúc và điểm khởi đầu – chẳng có những thứ đó đâu.
Chỉ có những khoảng giữa mà thôi."
"Đây là cái gì thế?"
"Cuộc đời này á?
Việc chúng ta ngồi đây dưới ánh đèn lồng cùng nhau
giữa những đống đổ nát của một ngôi nhà cũ kỹ?
Anh sẽ không chối cãi chiếc đèn lồng này không mới đâu nhỉ.
Cái bếp lò cũng thế, và anh thì không lạ gì đối với em,
cũng như em đối với anh vậy."
"Có lẽ em chưa bao giờ quen thuộc với anh chăng?"
"Em sẽ mất cả đời để kể lại
tất cả những gì không mới tại nơi chúng ta đặt chân đến.
Mới là từ ngữ dành cho những kẻ ngốc ở thành phố, những kẻ nghĩ rằng
hết kiểu mốt này đến kiểu mốt khác trong trang phục và tư duy rốt cuộc
cũng sẽ đạt được thành tựu gì đó. Chính anh cũng từng nói thế mà.
Không, đây chẳng phải là sự khởi đầu."
"Vậy là một kết thúc sao?"
"Kết thúc là một từ ảm đạm lắm."
"Đã quá muộn chưa
nếu anh lôi em ra ngoài chỉ để gọi một tiếng chúc ngủ ngon
gửi đến những cây đào già trên gò đất, để khua khoắng
trong đám cỏ dưới ánh sao tìm quả đào cuối cùng
mà hàng xóm có lẽ chưa kịp hái như quyền lợi của họ
khi ngôi nhà không có người ở? Anh đã tìm kiếm nãy giờ:
Anh nghi ngờ họ chẳng chừa lại cho chúng ta mấy chùm nho đâu.
Trước khi chúng ta bắt tay vào dọn dẹp nhà cửa,
việc đầu tiên vào sáng mai, chúng ta sẽ ra ngoài
để đi một vòng thăm táo, anh đào, đào,
thông, tổng quân, đồng cỏ, giếng nước và con suối.
Đó mới là toàn bộ một trang trại chứ."
"Em biết rõ điều này:
Em sẽ tống anh lên giường, dù trước tiên
em có phải bắt anh tự đóng cái giường đó đi chăng nữa. Nào, mang đèn lên đây."
Khi căn bếp không còn ánh đèn lồng nữa,
ngọn lửa đã luồn lách qua những khe hở trên chiếc bếp lò
và nhảy múa thành những đường uốn éo màu vàng trên trần nhà,
tự nhiên cứ như thể chúng vẫn luôn nhảy múa ở đó từ trước tới nay.