Cô bé đến nhà Dresner, ở bờ Đông của ghetto, vào chiều muộn. Gia đình Ba Lan ở nông thôn nhận săn sóc em đã mang em về lại Cracow. Họ thuyết phục được Cảnh sát Xanh[1] ở cổng cho họ vào ghetto có việc, và em theo vào cùng bố mẹ.
Họ là người tử tế, và hổ thẹn vì phải đưa em từ nông thôn lên Cracow và ghetto. Em rất dễ thương, họ cũng quyến luyến em. Nhưng thời buổi này người ta không thể giữ một đứa bé Do Thái trong nhà nữa. Chính quyền địa phương - chưa kể tới SS - treo thưởng 500 zł trở lên cho mỗi người Do Thái bị cáo giác. Toàn hàng xóm tố nhau. Giờ chẳng ai dám tin hàng xóm nữa. Đến lúc đó thì không chỉ đứa trẻ gặp vạ, mà cả nhà chúng tôi cũng vậy. Lạy Chúa, có cả những vùng nông dân xách liềm vác hái đi lùng Do Thái.
Cô bé xem ra không bận lòng mấy vì bất kỳ sự bẩn thỉu nào mà ghetto giờ đây bắt em phải chịu. Em ngồi bên chiếc bàn nhỏ giữa lớp lớp quần áo ướt và tỉ mẩn ăn đầu mẩu bánh mì bà Dresner vừa cho. Em chấp nhận mọi âu yếm được những phụ nữ chung nhau gian bếp thuận miệng nói ra. Bà Dresner nhận thấy mỗi câu trả lời của em đều cảnh giác một cách kỳ lạ. Song em cũng có nét phù phiếm riêng, và như mọi cô bé ba tuổi khác, cũng say mê màu sắc. Đỏ. Em ngồi đó, đội mũ đỏ, mặc áo đỏ, đi giày đỏ. Đôi vợ chồng nông dân quả đã nuông em.
Bà Dresner gợi chuyện bằng cách nói về cha mẹ thật của em. Họ cũng đang sống - thật ra là ẩn náu - ở nông thôn. Nhưng, bà nói, họ sẽ sớm đoàn tụ với mọi người ở Cracow. Cô bé gật đầu, nhưng xem ra em im lặng không phải vì nhút nhát.
Cha mẹ em, hồi tháng Một, đã bị bắt theo danh sách do Spira cung cấp cho SS, và khi bị giải ra ga Prokocim đã đi ngang một đám đông Ba Lan giễu cợt - “Chào nhé, Do Thái.” Họ bèn lẩn khỏi hàng như hai công dân Ba Lan đàng hoàng đang băng sang đường để chứng kiến cảnh trục xuất kẻ thù của xã hội, nhập vào đám đông, cũng chế nhạo tí chút, rồi cuốc bộ về vùng nông thôn lân cận.
Giờ đây, khi thấy ở nông thôn cũng chẳng an toàn hơn, họ định lẻn về lại Cracow vào mùa hè. Mẹ của “Mũ đỏ”, biệt danh mà các cậu trai nhà Dresner đặt cho cô bé khi vừa cùng đoàn công nhân từ thành phố trở về, là chị em họ với bà Dresner.
Một lát sau, con gái bà Dresner, Danka, lao công quét dọn ở căn cứ không quân Luftwaffe, cũng về đến. Danka sắp mười bốn, đủ cao lớn để nhận Kennkarte (thẻ lao động), cho phép cô làm việc ngoài ghetto. Cô hào hứng bắt chuyện với đứa trẻ hờ hững. “Genia, chị biết Eva mẹ em đấy. Cô hay đưa chị đi mua váy, rồi mua bánh cho chị ở hiệu bánh trên phố Bracka nữa.”
Cô bé ngồi yên trên ghế, không cười, ngước lên. “Thưa cô, cô nhầm rồi ạ. Tên mẹ cháu không phải là Eva. Là Jasha.” Em tiếp tục kể tên những người họ hàng Ba Lan hư cấu được cha mẹ và vợ chồng bác nông dân dạy cho, phòng khi em bị Cảnh sát Xanh hay SS tra hỏi. Nhà Dresner nhíu mày nhìn nhau, sững sờ trước sự giảo hoạt bất thường của đứa trẻ, thấy thế thật suy đồi, nhưng lại không muốn làm hỏng nó vì rất có thể chưa đầy một tuần nữa đó sẽ là một kỹ năng sinh tồn thiết yếu.
Tới giờ cơm chiều, Idek Schindel, chú cô bé, một bác sĩ trẻ ở bệnh viện của ghetto trên phố Wegierska, xuất hiện. Đó là mẫu ông chú bồng bột, thích đùa và mê cháu mà lũ trẻ cần. Vừa thấy anh, Genia trở lại thành con nít, tuột xuống ghế và chạy bổ về phía anh. Nếu anh ở đây, gọi mấy người này là họ hàng, thì họ đúng là họ hàng. Giờ em có thể thừa nhận mẹ em tên là Eva và ông bà em không phải tên là Ludwik và Sophia.
Tiếp đó, ông Juda Dresner, nhân viên mua sắm của nhà máy Bosch, về tới nhà, và cuộc đoàn viên thế là trọn vẹn. Hai tám tháng Tư là sinh nhật Schindler, và năm 1942 ông ăn mừng như một đứa trẻ mùa xuân, náo nhiệt, hoành tráng. Đó là ngày hội ở DEF. Chẳng màng tốn kém, ông cho nhà máy ăn xúp trưa với của hiếm là bánh mì trắng. Không khí hội hè lan ra văn phòng bên ngoài và các xưởng phía sau. Oskar Schindler, nhà công nghiệp, đang ăn mừng trái ngọt cuộc đời.
Cuộc vui, sinh nhật thứ ba mươi tư của ông, bắt đầu ở Emalia từ sớm. Schindler phát tín hiệu bằng cách đi khắp văn phòng bên ngoài, nách cắp ba chai cognac để mời các kỹ sư, kế toán và chuyên viên pháp lý. Nhân viên bộ phận kế toán và nhân sự nhận từng vốc thuốc lá giúi tận tay, và đến giữa sáng, màn tặng quà đã lan xuống tầng nhà máy. Mọi người mua bánh sinh nhật mang đến, và Oskar cắt bánh ngay tại bàn Klonowska. Từng đoàn công nhân Do Thái và Ba Lan bắt đầu tiến vào văn phòng chúc mừng giám đốc, và ông thân mật hôn một cô gái tên là Kucharska, có bố từng là Nghị sĩ Quốc hội Ba Lan trước chiến tranh. Và đến lượt các cô gái Do Thái, rồi cánh đàn ông bắt tay, đến cả Stern, lúc này đang làm việc cho Progress Works, không hiểu sao cũng có mặt, trịnh trọng bắt tay Oskar và nhận về một cái ôm chặt tưởng gãy xương sườn.
Đến chiều, có kẻ, chắc vẫn là đối tượng bất mãn lần trước, liên hệ với Pomorska, cáo giác Schindler có hành vi không đúng mực về chủng tộc. Sổ sách của ông có thể đứng vững trước mọi soi mói, nhưng không ai phủ nhận được ông là kẻ “hôn Do Thái”.
Hình thức bắt giữ lần này có vẻ chuyên nghiệp hơn lần trước. Sáng ngày 29, một chiếc Mercedes đỗ chắn trước cổng nhà máy. Hai nhân viên Gestapo, xem ra có cơ sở vững chắc hơn hai đồng nghiệp, chặn Oskar giữa sân nhà máy. Ông bị cáo buộc vi phạm một số điều khoản thuộc Đạo luật Chủng tộc và Tái định cư. Chúng muốn đưa ông đi ngay. Và không, không cần rẽ qua văn phòng làm gì.
“Các anh có lệnh bắt không?” ông hỏi.
“Không cần thiết,” họ đáp.
Ông mỉm cười. Hai vị nên biết rằng bắt người mà không có lệnh thì về sau sẽ phải hối hận đấy.
Ông nói hời hợt, nhưng từ thái độ của chúng ông cũng đoán ra mức độ đe dọa lần này đã vững chắc và tập trung hơn sau vụ tạm giữ hơi khôi hài năm ngoái. Lần đó, cuộc đối thoại ở Pomorska là về các quy định kinh tế và liệu Schindler có vi phạm gì không. Lần này, ông đối mặt với thứ luật dị hợm, luật của lòng dạ đê hèn, sắc lệnh từ phần đen tối trong đầu óc con người. Không hề đơn giản.
“Bọn này đành mạo hiểm một phen vậy,” một tên trả lời.
Ông đánh giá sự tự tin của chúng, sự lãnh đạm đầy đe dọa chúng thể hiện với ông, một đại gia, vừa sang tuổi ba mươi tư. “Sáng đầu xuân,” ông nói, “chạy xe vài tiếng cũng chẳng hề gì.”
Ông tự an ủi mình rằng lần này sẽ lại là một xà lim văn minh ở Pomorska. Nhưng khi xe rẽ thẳng sang Kolejowa, ông biết lần này sẽ là nhà tù Montelupich
“Tôi muốn nói chuyện với luật sư,” ông bảo chúng.
“Sẽ đến lúc,” tên lái xe đáp.
Theo lời lẽ đáng tin cậy từ một trong những bạn nhậu của mình, Oskar được biết Viện Giải phẫu Jagiellonia nhận xác từ Montelupich.
Tường nhà tù chạy dài hết một con phố, và Oskar có thể thấy sự giống nhau đáng sợ của các ô cửa sổ trên tầng ba và bốn từ băng sau của chiếc Mercedes. Qua cổng chính và lối đi dưới mái vòm, họ đến một văn phòng nơi viên thư ký SS chỉ nói thì thầm, như thể sợ lớn tiếng sẽ gây ra tiếng vang nhức óc dọc những hành lang hẹp. Chúng tịch thu tiền của ông, nhưng cho biết sẽ phát cho ông 50 zł mỗi ngày trong thời gian giam giữ. Không, hai viên sĩ quan bắt giữ nói, chưa đến lúc gọi luật sư.
Chúng bỏ đi, để lại ông với lính gác giữa hành lang, nghiêng tai tìm nghe dấu vết những tiếng kêu gào có thể, giữa cái tĩnh lặng như tu viện này, lọt ra qua khe nứt của những ô cửa Judas[2] trên tường.
Cai ngục dẫn ông xuống cầu thang, vào một đường hầm hẹp đến ngạt thở, rồi qua một dãy xà lim có khóa, mặt trước là song sắt. Nửa tá tù nhân không áo khoác ngồi bên trong, mỗi người một khoang, đều quay vào tường nên không nhìn rõ mặt. Oskar nhận thấy một cái tai rách. Và ai đó đang sụt sịt, nhưng biết thân không chùi mũi. Klonowska, Klonowska, em đã gọi điện chưa, tình yêu của tôi?
Họ mở cửa xà lim và ông bước vào. Trước đó ông hơi lo rằng phòng giam có thể sẽ đông người. Nhưng trong xà lim chỉ có một tù nhân nữa, một người lính trùm áo choàng kín tai cho ấm, ngồi trên một trong hai chiếc giường gỗ thấp, trải nệm rơm. Dĩ nhiên không có bồn rửa mặt. Có một sô nước và một cái bô. Và người tù kia, hóa ra là một Standartenführer (tương đương Đại tá) Waffen SS, râu ria lởm chởm, sơ mi không cài cúc dưới lần áo khoác, đi đôi ủng lấm bùn.
“Hoan nghênh ông bạn,” viên sĩ quan cười méo mó và chìa tay cho Oskar. Y khá đẹp trai, hơn Oskar vài tuổi. Khả năng lớn là do SS gài vào. Chỉ có điều không rõ vì sao chúng lại khoác cho y quân phục và quân hàm cao thế.
Oskar nhìn đồng hồ, ngồi xuống, đứng lên, nhìn qua cửa sổ trên cao. Có chút ánh sáng lọt vào từ sân tập, nhưng đây không phải là loại cửa sổ anh có thể dựa vào và trải lòng giữa hai chiếc giường đơn kê sát, khi ngồi bó gối đối diện nhau.
Sau cùng họ bắt đầu trò chuyện. Oskar cảnh giác, song viên Standartenführer thì nói rất hăng. Tên y là gì? Philip. Y nghĩ rằng nam nhi không nên khai họ trong tù. Vả lại đã đến lúc người ta nên gọi nhau bằng tên. Nếu gọi nhau bằng tên sớm hơn, chúng ta chắc đã là một chủng tộc hạnh phúc hơn nhiều.
Oskar kết luận nếu người này không phải do SS gài vào, thì chắc là một dạng suy nhược thần kinh, có thể là chấn thương tâm lý do chiến tranh. Y vừa tham chiến ở miền Nam nước Nga, tiểu đoàn của y đã góp phần bảo vệ Novgorod suốt cả mùa đông. Sau đó y được nghỉ để đi thăm bạn gái Ba Lan ở Cracow, và họ đã, theo lời y, “lao vào nhau như thiêu thân”, và y bị bắt ở căn hộ của người tình, ba ngày sau khi hết phép.
“Có lẽ tôi đã quyết định,” Philip nói, “chả việc chó gì phải trở về đúng hạn, sau khi chứng kiến bọn khác” - y huơ tay lên trần nhà, ám chỉ cả cơ chế quanh mình, đám sĩ quan SS, đám kế toán và quan chức - “sau khi chứng kiến cuộc sống của chúng. Nói vậy không có nghĩa là tôi cố tình vắng mặt không phép. Nhưng tôi cảm thấy, mẹ kiếp, chế độ này nợ mình một chút xông xênh.”
Oskar hỏi y có thích ở phố Pomorska hơn không. Không, Philip nói, tôi thà ở đây còn hơn. Pomorska nhìn giống khách sạn hơn thật. Nhưng ở đó bọn chúng có xà lim chết, toàn song cửa mạ kền bóng loáng. Thôi, vụ đó bỏ qua, Herr Schindler, ông đã làm gì?
“Tôi hôn một cô gái Do Thái,” Oskar nói. “Công nhân của tôi. Là họ cáo buộc thế.”
Philip bắt đầu huýt sáo. “Ô hô! Thế chim ông có rụng ra không?”
Suốt buổi chiều Standartenführer Philip tiếp tục lên án SS. Một lũ trộm cắp và trác táng. Thật khó mà tin được. Có những thằng kiếm được cả đống tiền. Mà hồi xưa chúng cũng thiết diện vô tư lắm. Chúng sẵn sàng giết một gã Ba Lan tội nghiệp vì buôn lậu một cân thịt hun khói, trong khi bản thân sống chẳng khác chó gì các bá tước xứ Hanse[3].
Oskar vờ như mới nghe những chuyện ấy lần đầu, như thể sự suy đồi trong hàng ngũ Standartenführer là một đòn đánh đau đớn vào đầu óc ngây thơ tỉnh lẻ của một gã Đức Sudeten, sự ngây thơ đã khiến ông quên cả bản thân mà âu yếm một đứa con gái Do Thái. Cuối cùng Philip, hết hơi vì phẫn nộ, lăn ra ngủ.
Oskar chợt thèm rượu. Có chút rượu sẽ làm thời gian trôi nhanh hơn, biến viên Standartenführer thành một bạn tù dễ chịu hơn, nếu y không phải là nội gián, còn nếu phải thì cũng dễ bại lộ hơn. Oskar lấy một tờ 10 zł, viết tên và số điện thoại lên đó, nhiều tên hơn lần trước: một tá. Ông lấy bốn tờ nữa, vo chúng lại, rồi gõ vào ô cửa Judas. Một hạ sĩ quan SS xuất hiện - một khuôn mặt trung niên u ám chằm chằm nhìn ông. Trông y không có vẻ gì của một kẻ hành hạ tù nhân đến chết hoặc đá vỡ thận người ta, nhưng tất nhiên, đó là một trong những điểm mạnh của tra tấn: ai ngờ được nó đến từ một kẻ có gương mặt giống ông bác ta ở quê.
Tôi muốn mua năm chai vodka có được không? Oskar hỏi. Năm chai ư, thưa ngài? viên hạ sĩ quan hỏi. Có thể y sẽ khuyên can một gã tửu đồ non trẻ chưa biết nhiều ít là gì. Tuy nhiên, y cũng trầm ngâm, như thể cân nhắc báo cáo thượng cấp. Ngài đại tá và tôi, Oskar nói, rất cảm kích nếu được mỗi người một chai để câu chuyện thêm phần rôm rả. Xin ông và đồng nghiệp nhận ba chai còn lại, coi như quà của tôi. Ngoài ra, tôi thiết tưởng với chức trách của mình chắc ông có đủ thẩm quyền để thay mặt tù nhân gọi điện thoại. Tôi đã ghi sẵn, phải rồi, trên tờ bạc. Ông không cần gọi hết. Chỉ cần đưa số cho thư ký của tôi. Phải, số cô ấy ở trên cùng.
Toàn những người có thế lực, viên hạ sĩ quan lẩm bẩm.
Ông dại quá, Philip bảo Oskar. Chúng sẽ bắn ông vì tội hối lộ lính gác.
Oskar ngồi phịch xuống, vẻ thờ ơ.
Làm thế cũng dại chả kém gì hôn gái Do Thái, Philip nói.
Để xem, Oskar đáp. Nhưng ông bắt đầu thấy sợ.
Sau cùng viên hạ sĩ quan trở lại, mang theo, cùng hai chai rượu, một bọc sơ mi và đồ lót sạch, vài cuốn sách, một chai vang, được Ingrid gói ghém ở căn hộ trên phố Straszewskiego rồi đưa tới cổng nhà tù Montelukich. Philip và Oskar có một đêm khoái hoạt, dù có một lần lính gác đập cửa đòi họ ngừng hát. Và kể cả sau đấy, khi rượu làm buồng giam rộng hơn và sự phẫn nộ của viên Standartenführer trở nên thuyết phục một cách bất ngờ, Shindler vẫn tìm nghe những tiếng la thét xa xăm từ tầng trên hay tiếng gõ theo mã Morse của một người tù tuyệt vọng nào đó ở xà lim kề bên. Chỉ có một lần bản chất thật của nơi này tiêu giảm hiệu lực của Volka. Ở cạnh giường, bị tấm nệm rơm che khuất một phần, Philip phát hiện ra một văn bản ngắn bằng bút chì đỏ. Y phải mày mò một lúc để giải mã - không khá cho lắm, tiếng Ba Lan của y không bằng Oskar.
“ ‘Lạy Chúa’ ” y dịch, “ ‘chúng đánh con chết mất!’ Chà, đời mới đẹp làm sao, anh bạn Oskar nhỉ. Đúng không?”
Sáng hôm sau, Schindler thức giấc hoàn toàn tỉnh táo. Ông chưa bao giờ bị váng vất sau cơn say, và không hiểu vì sao ai cũng kêu ca rầm rĩ về chuyện này. Nhưng Philip thì nhợt nhạt và trầm uất. Trong buổi sáng, y bị dẫn đi và sau đó quay về thu thập tư trang. Lẽ ra buổi chiều y phải ra tòa án binh, nhưng vừa được giao nhiệm vụ tại trường đào tạo ở Stutthof, nên y nghĩ họ chắc sẽ không xử bắn mình vì tội đào ngũ. Y nhặt cái áo choàng vứt trên giường và đi giải trình về vụ cô nhân tình Ba Lan. Còn lại một mình, Oskar đọc cuốn sách của Karl May được Ingrid gửi cho và, đến chiều, gặp luật sư, cũng là dân Đức Sudeten đến Cracow hành nghề hai năm về trước. Cuộc trò chuyện khiến Oskar yên lòng. Nguyên nhân của vụ bắt giữ đúng như đã nói; SS không định lấy vụ âu yếm liên sắc tộc làm cái cớ để tạm giam Oskar trong khi điều tra chuyện làm ăn của ông. “Nhưng có khả năng ông sẽ phải ra tòa và bị chất vấn tại sao không nhập ngũ.”
“Lý do quá hiển nhiên,” Oskar nói. “Tôi là nhà sản xuất quan trọng phục vụ chiến tranh. Cái đó anh có thể nhờ tướng Schindler xác nhận.”
Oskar đọc chậm và nhấm nháp cuốn sách của Kark May - gã thợ săn và nhà hiền triết da đỏ giữa Mỹ châu hoang dã - một mối quan hệ chuẩn mực. Ông chẳng việc gì phải đọc vội. Có thể một tuần nữa ông mới được ra tòa. Luật sư dự kiến chủ tọa phiên tòa sẽ thuyết một bài về cách hành xử không phù hợp với thành viên Chủng tộc Đức, rồi ông sẽ bị phạt một khoản đáng kể. Cứ vậy đi. Ra khỏi tòa ông sẽ thành người thận trọng hơn.
Sáng ngày thứ năm, ông vừa uống hết nửa lít cà phê thứ phẩm được phát cho bữa sáng thì một hạ sĩ quan và hai lính gác xuất hiện. Họ dẫn ông qua dãy cửa câm nín lên tầng trên, vào một văn phòng ở mặt tiền. Tại đây ông thấy một người mình đã gặp ở các buổi cocktail, Obershurmbannführer Rolf Czurda, trùm SD của Cracow. Trông y như một doanh nhân trong bộ vét đắt tiền.
“Oskar, Oskar,” giọng Czurda như bạn già quở trách. “Chúng tôi cấp cho anh bọn gái Do Thái với giá năm mark một ngày. Anh nên hôn chúng tôi mới phải.”
Oskar giải thích hôm đó là sinh nhật ông. Ông hơi bốc đồng. Ông hơi say.
Czurda lắc đầu. “Tôi không ngờ anh là thứ dữ vậy đấy, Oskar,” y nói. “Điện thoại từ tận Breslau, của mấy ông bạn bên Abwehr. Dĩ nhiên, làm gián đoạn công việc của anh chỉ vì anh trót sờ soạng gái Do Thái thì kỳ cục quá.”
“Ông là người rất độ lượng, Herr Obersturmbannführer,” Oskar nói, và cảm nhận được lời đề xuất về một dạng tiền trà nước đang tích tụ trong Czurda. “Nếu có bao giờ tôi có cơ hội báo đáp cử chỉ hào hiệp này…”
“Quả tình là,” Czurda nói, “căn hộ của bà bác tôi vừa bị bom dọn sạch.”
Lại một bà bác nữa. Schindler tặc lưỡi đầy thông cảm, và nói đại diện của ngài cảnh sát trưởng luôn được hoan nghênh trên phố Lipowa để tùy ý lựa chọn từ các dòng sản phẩm ra lò ở đây.
Nhưng Oskar biết không nên để loại người như Czurda nghĩ rằng việc thả ông là một ân huệ tuyệt đối và chỗ đồ bếp là sự báo đáp tối thiểu của người tù may mắn được phóng thích. Khi Czurda bảo ông có thể về, Oskar phản đối. “Tôi không thể cứ thế gọi xe đến đón được, Herr Obersturmbannführer. Nói cho cùng, quỹ xăng của tôi cũng có hạn.”
Czurda hỏi có phải Herr Schindler muốn được SD đưa về.
Oskar nhún vai. Nhà ông ở tận đầu kia thành phố. Khá xa nếu đi bộ.
Czurda bật cười. “Oskar, thôi để tôi cho tài xế đưa anh về.”
Nhưng khi chiếc limousine đã nổ máy sẵn sàng, tại bậc thang cuối cùng, vào lúc Schindler đang liếc nhìn những cửa sổ trống trơn trên đầu, tìm kiếm một tín hiệu từ nền cộng hòa kia, từ vương quốc của tra tấn, của giam cầm vô điều kiện - chốn địa ngục sau song sắt của những người không có xoong nồi mà đánh đổi - thì Rolf Czurda nắm khuỷu tay ông giữ lại.
“Đùa giỡn là một chuyện, Oskar thân mến. Còn thì anh chớ dại đâm đầu vào mấy cái váy Do Thái ấy. Chúng không có tương lai đâu, Oskar. Đó không phải là truyền thống căm ghét Do Thái đang phát ngôn đâu, tôi đảm bảo. Đó là chính sách.”
❀ ❀ ❀
[1] Lực lượng Cảnh sát Ba Lan, được tái thiết lập và đặt dưới quyền chỉ huy của chính quyền Đức sau khi Đức chiếm đóng Ba Lan. Họ mặc sắc phục màu xanh lam, nên được gọi là Cảnh sát Xanh.
[2] Những lỗ nhỏ để quản giáo bí mật theo dõi tù nhân.
[3] Một liên minh các thành phố cảng ở Bắc Đức thời Trung đại, rất giàu có và mạnh về thương mại.