39 Bậc Thang

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Ba Mươi Chín Bậc Thang

❊ ❊ ❊

– Thật hoang đường! – Viên chức từ Bộ Hải quân lên tiếng.

Sir Walter đứng dậy rời khỏi phòng trong lúc chúng tôi ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào chiếc bàn. Mười phút sau, ông quay lại với khuôn mặt nặng trĩu. – Tôi vừa nói chuyện với Alloa, – ông nói. – Đánh thức ng ông ấy dậy giữa đêm – lão ta càu nhàu ra mặt. Lão đã đi thẳng về nhà ngay sau bữa tối của Mulross.

– Nhưng thế thì điên rồ quá, – Tướng Winstanley xen vào. – Ý anh muốn nói là gã đàn ông đó đã đến đây, ngồi cạnh tôi suốt gần nửa tiếng đồng hồ mà tôi hoàn toàn không nhận ra đó là kẻ mạo danh sao? Chắc Alloa lú lẫn mất rồi sự.

– Các anh không thấy sự tinh vi trong chuyện này sao? – Tôi lên tiếng. – Các anh khi ấy quá bận tâm đến những chuyện khác nên chẳng để mắt tới điều gì. Các anh cứ đinh ninh đó chính là Lord Alloa. Nếu là kẻ khác, có lẽ các anh đã phải nhìn kỹ hơn, nhưng sự xuất hiện của lão ta ở đây là điều hiển nhiên, và chính điều đó đã khiến tất cả các anh mất cảnh giác.

Bấy giờ vị tướng người Pháp mới cất lời, giọng rất chậm rãi và bằng thứ tiếng Anh lưu loát.

– Cậu thanh niên ấy nói phải. Tâm lý học của cậu ta rất chuẩn xác. Kẻ thù của chúng ta không hề ngu ngốc!

Ông cau đôi mày thông thái nhìn khắp căn phòng.

– Tôi sẽ kể cho các vị nghe một câu chuyện, – ông nói. – Nó xảy ra từ nhiều năm trước ở Senegal. Hồi ấy tôi đóng quân tại một đồn bốt hẻo lánh, và để giết thời gian, tôi thường ra sông câu cá lóc lớn. Có một con ngựa cái Ả Rập nhỏ chuyên chở giỏ ăn trưa cho tôi – giống ngựa xám lông muối tiêu nổi tiếng ở Timbuctoo ngày trước. Chà, sáng hôm ấy tôi câu rất được, nhưng con ngựa cái lại bỗng dưng bồn chồn khó hiểu. Tôi cứ nghe tiếng nó hý, khịt mũi và dậm chân liên hồi, miệng thì cất tiếng dỗ dành trong khi tâm trí vẫn đinh ninh bám chặt lấy mấy con cá. Tôi tưởng rằng mình vẫn luôn quan sát nó từ khóe mắt, khi nó bị buộc vào một cách cây cách đó chừng hai mươi thước. Khoảng hai tiếng sau, tôi bắt đầu thấy đói. Tôi thu gom cá vào một chiếc túi bạt, vừa kéo câu vừa đi dọc theo dòng nước về phía con ngựa. Khi đến nơi, tôi vất luôn chiếc túi bạt lên lưng nó –

Ông dừng lại, đưa mắt nhìn quanh.

– Chính mùi hôi đó đã cảnh báo cho tôi. Tôi quay đầu lại và giật mình thấy một con sư tử đang đứng cách mình đúng ba bước chân... Một con thú ăn thịt người già cớn, nỗi kinh hoàng của cả ngôi làng... Phần còn lại của con ngựa, một đống đẫm máu, xương và da, nằm ngay sau lưng nó.

– Rồi chuyện gì đã xảy ra? – Tôi hỏi. Bản thân là một tay săn bắn lâu năm, tôi thừa sức nhận biết một câu chuyện thật khi nghe thấy nó.

– Tôi nhét thẳng chiếc cần câu vào ngoàm nó, may là tôi có mang theo một khẩu súng lục. Chẳng mấy chốc lũ gia nhân cũng chạy tới với những khẩu súng trường trên tay. Nhưng nó cũng để lại trên người tôi một dấu tích. – Ông giơ bàn tay thiếu mất ba ngón.

– Các vị hãy suy ngẫm mà xem, – ông nói. – Con ngựa đã chết hơn một tiếng đồng hồ, và con mãnh thú đã kiên nhẫn rình rập tôi suốt khoảng thời gian đó. Tôi hoàn toàn không hề hay biết về vụ tấn công, bởi tôi đã quen với việc con ngựa hay cáu bẳn, và tôi cũng chẳng mảy may nhận ra sự vắng bóng của nó, vì trong tâm trí tôi, hình ảnh con ngựa chỉ đồng nhất với một sinh vật có bộ lông màu hung vàng, và con sư tử đã chiếm trọn khoảng trống đó. Nếu tôi có thể lầm lẫn như vậy, thưa các ngài, ngay tại một vùng đất mà các giác quan của con người vốn vô cùng nhạy bén, thì cớ gì những kẻ thị dân chúng ta, những người luôn bận rộn với trăm công nghìn việc, lại không thể sa vào sai lầm tương tự?

Sir Walter gật đầu. Không ai lên tiếng phản bác.

– Nhưng tôi vẫn chưa hiểu, – Winstanley nói tiếp. – Mục đích của chúng là thu thập những kế hoạch bố trí này mà để ta không hay biết. Trong khi đó, chỉ cần một người trong chúng ta nhắc đến cuộc gặp tối nay với Alloa là toàn bộ màn kịchp mạo danh sẽ bị phơi bày.

Sir Walter cười nhạt. – Việc chúng chọn Alloa đã cho thấy sự nhạy bén của chúng. Ai trong chúng ta đời nào lại đi bàn chuyện tối nay với lão? Hay chính lão lại là kẻ khơi mào chủ đề đó chứ?

Tôi sực nhớ đến tiếng tăm lừng lẫy về sự kiệm lời và tính khí cộc cằn của vị Đệ nhất Hải quân.

– Điều duy nhất khiến tôi thắc mắc, – vị tướng nói, – là chuyến viếng thăm này đem lại lợi ích gì cho tên gián điệp đó? Hắn ta làm sao có thể ghi nhớ nổi hàng trang số liệu cùng những cái tên xa lạ trong đầu.

– Chuyện đó không có gì khó khăn cả, – viên sĩ quan người Pháp đáp. – Một điệp viên giỏi được huấn luyện để sở hữu trí nhớ quang học. Giống như Macaulay của nước Anh các anh vậy. Các vị đều thấy hắn chẳng nói nửa lời, nhưng hết lần này đến lần khác chăm chú xem qua đống tài liệu đó. Tôi nghĩ chúng ta có thể chắc chắn rằng mọi chi tiết đã được khắc ghi sâu vào tâm trí hắn. Hồi trẻ, tôi cũng từng làm được trò đó.

– Chà, xem ra chúng ta chẳng còn cách nào khác ngoài việc thay đổi kế hoạch, – Sir Walter thở dài ngao ngán.

Whittaker trông có vẻ vô cùng rầu rĩ. – Anh đã nói cho Lord Alloa biết chuyện vừa xảy ra chưa? – ông hỏi. – Chưa ư? Chà, tôi không dám chắc chắn tuyệt đối, nhưng tôi gần như có thể khẳng định rằng chúng ta chẳng thể thay đổi điều gì nghiêm túc trừ phi ta vẽ lại cả bản đồ địa lý nước Anh.

– Còn một điều nữa phải tính đến, – Royer lên tiếng. – Tôi đã nói chuyện cởi mở khi tên đó có mặt ở đây. Tôi đã vô tình tiết lộ một phần kế hoạch quân sự của chính phủ tôi. Đương nhiên tôi được phép hé lộ đến chừng mực đó. Nhưng những thông tin ấy sẽ có giá trị bằng cả triệu vàng đối với kẻ thù. Không, các bạn của tôi ơi, tôi không thấy còn con đường nào khác. Kẻ đã đến đây và đồng bọn của hắn phải bị bắt, và phải bắt ngay lập tức.

– Lạy Chúa, – tôi kêu lên, – trong tay chúng ta chẳng có lấy một manh mối nào.

– Hơn nữa, – Whittaker tiếp lời, – còn có cả hệ thống bưu điện. Chắc lúc này tin tức đã trên đường truyền đi rồi.

– Không, – người Pháp đáp. – Các anh không hiểu thói quen của bọn gián điệp đâu. Hắn trực tiếp nhận phần thưởng, và hắn cũng sẽ trực tiếp trao tận tay tình báo. Ở Pháp, chúng tôi quá rõ cái giống loài này. Vẫn còn một cơ hội, mes amis. Bọn chúng thế nào cũng phải vượt biển, và ngoài kia vẫn có những con tàu cần lục soát, những hải cảng cần canh chừng. Hãy tin tôi đi, tình thế đang nguy cấp hơn bao giờ hết đối với cả nước Pháp lẫn Anh quốc.

Sự điềm tĩnh và phán đoán sắc sảo của Royer dường như đã vực dậy tinh thần chúng tôi. Giữa một đám người luống cuống, ông chính là mẫu người hành động thực thụ. Thế nhưng, tôi chẳng nhìn thấy chút hy vọng nào trên gương mặt ai, và trong lòng tôi cũng vậy. Giữa năm mươi triệu con người trên quần đảo này, và chỉ vỏn vẹn trong chưa đầy mười hai tiếng đồng hồ, chúng tôi biết tìm đâu ra ba tên quỷ quyệt nhất châu Âu?

Rồi bỗng nhiên, một tia sáng lóe lên trong đầu tôi.

– Cuốn sổ của Scudder đâu rồi? – Tôi hét lên với Sir Walter. – Nhanh lên, anh bạn, tôi chợt nhớ ra điều gì đó trong ấy.

Ông mở khóa tủ tài liệu và đưa nó cho tôi.

Tôi lật tìm đúng trang. – Ba mươi chín bậc thang, – tôi đọc to, và rồi, – Ba mươi chín bậc thang – tôi đã đếm chúng – Thủy triều lên, 10 giờ 17 tối.

Gã người của Bộ Hải quân nhìn tôi trân trân như thể nghĩ rằng tôi đã phát điên.

– Các anh không nhận ra đây chính là một manh mối sao? – Tôi lớn tiếng. – Scudder biết rõ sào huyệt của bọn chúng – hắn biết tụi chúng sẽ rời khỏi đất nước bằng con đường nào, dù hắn giữ kín cái tên địa danh đó cho riêng mình. Ngày mai chính là thời hạn, và đó là một nơi nào đó có thủy triều lên lúc 10 giờ 17 phút tối.

– Biết đâu tụi chúng đã chuồn từ tối nay thì sao, – ai đó lên tiếng.

– Không đời nào. Chúng có lối thoát riêng vô cùng kín đáo và sẽ chẳng việc gì phải vội vàng cuống cuồng cả. Tôi hiểu rõ người Đức, họ phát cuồng vì việc tuân thủ tuyệt đối theo kế hoạch. Đâu là chỗ tôi có thể kiếm được một cuốn Lịch thủy triều đây?

Whittaker sáng bừng nét mặt. – Đây đúng là một cơ hội rồi, – ông nói. – Chúng ta hãy sang Bộ Hải quân xem sao.

Chúng tôi chui vào hai chiếc ô tô đang đợi sẵn – ngoại trừ Sir Walter, ông tách đoàn để đến Scotland Yard nhằm “động viên MacGillivray”, như ông nói.

Chúng tôi bước qua những hành lang trống huơ trống hoác và những căn phòng lớn lạnh lẽo nơi các bà lao công đang đầu tắt mặt tối dọn dẹp, cho đến khi tới được một căn phòng nhỏ bao quanh bởi sách vở và bản đồ. Một viên thư ký trực ban được gọi ra, và chẳng mấy chốc anh ta mang từ thư viện về cuốn Lịch thủy triều của Bộ Hải quân. Tôi ngồi xuống bàn làm việc trong khi những người khác đứng quây xung quanh, bởi không hiểu sao tôi bỗng nhiên trở thành người chỉ huy cuộc hành binh này.

Chẳng ăn thua gì. Có hàng trăm mục ghi chép, và theo những gì tôi thấy, mốc 10 giờ 17 phút có thể ứng với tới năm mươi địa điểm khác nhau. Chúng tôi buộc phải tìm cách thu hẹp phạm vi phỏng đoán.

Tôi ôm lấy đầu và trầm ngâm suy nghĩ. Phải có cách nào đó để giải mã câu đố này chứ. Scudder muốn nói gì khi nhắc đến những bậc thang? Tôi nghĩ đến những bậc thang ở bến tàu, nhưng nếu ý hắn là vậy, chắc hắn đã chẳng cất công nêu rõ con số cụ thể. Đó hẳn phải là một nơi có nhiều hệ thống cầu thang, và có một chiếc nổi bật hơn hẳn nhờ sở hữu đúng ba mươi chín bậc.

Rồi tôi chợt nảy ra một ý, liền lật tìm tất cả các lịch trình tàu chạy. Không có bất kỳ con thuyền nào khởi hành đi lục địa vào lúc 10 giờ 17 phút tối cả.

Tại sao thủy triều dâng lại quan trọng đến thế? Nếu đó là một hải cảng, thì chắc phải là một chốn nhỏ bé nào đó mà mực nước thủy triều đóng vai trò quyết định, hoặc không thì đó phải là một con tàu mớn nước sâu. Nhưng chẳng có chuyến tàu định kỳ nào khởi hành vào giờ đó cả, và linh tính mách bảo tôi rằng bọn chúng sẽ chẳng dại gì di chuyển bằng một con tàu lớn xuất phát từ một hải cảng chính ngạch. Do đó, điểm đến phải là một cảng nhỏ phụ thuộc vào thủy triều, hoặc thậm chí chẳng phải là hải cảng nào sất.

Nhưng nếu đó là một cảng nhỏ, tôi lại không tài nào hiểu nổi ý nghĩa của những bậc thang. Chẳng có bến cảng nào tôi từng đặt chân tới lại có những hệ thống cầu thang như vậy. Đó phải là một địa điểm được định danh bởi một chiếc cầu thang cụ thể nào đó, và tại nơi đó, thủy triều dâng cao nhất lúc 10 giờ 17 phút. Nhìn chung, tôi thiên về phỏng đoán rằng đó phải là một đoạn bờ biển hoang sơ nào đó. Thế nhưng, mấy bậc thang vẫn cứ làm tôi đau đầu suy nghĩ.

Tôi bèn quay lại với những suy luận mang tính vĩ mô hơn. Một gã đàn ông đang vội vàng, khao khát một chuyến vượt biên nhanh chóng và bí mật để trốn sang Đức, thì sẽ chọn xuất phát từ đâu? Chắc chắn không phải từ những hải cảng lớn. Cũng không phải từ vùng Eo biển, Bờ Tây hay Scotland, vì nên nhớ rằng, hắn ta khởi hành từ London. Tôi đo đạc khoảng cách trên bản đồ và thử đặt mình vào vị trí của kẻ địch. Nếu là tôi, tôi sẽ tìm đường đến Ostend, Antwerp hay Rotterdam, và sẽ giương buồm từ một nơi nào đó trên Bờ Biển Đông nằm giữa Cromer và Dover.

Tất cả những điều này chỉ là phỏng đoán mơ hồ, và tôi không hề dám nhận đó là sự suy luận tài tình hay khoa học gì cả. Tôi chẳng phải là một kiểu Sherlock Holmes nào sất. Nhưng từ trước tới nay, tôi vẫn luôn tin rằng mình có một thứ trực giác nhạy bén đối với những vấn đề thế này. Tôi chẳng biết phải giải thích ra sao, nhưng tôi thường vắt óc suy nghĩ chừng nào còn có thể, và một khi đâm đầu vào ngõ cụt, tôi sẽ đoán mò – và thường thì những phỏng đoán ấy của tôi lại trúng phóc.

Thế là tôi ghi lại toàn bộ kết luận của mình lên một mảnh giấy của Bộ Hải quân. Chúng cụ thể như sau:

TƯƠNG ĐỐI CHẮC CHẮN.

(1) Nơi có nhiều hệ thống cầu thang; trong đó chiếc quan trọng nhất có đặc điểm nhận dạng là có ba mươi chín bậc.

(2) Thủy triều đầy lúc 10 giờ 17 tối. Việc rời khỏi bờ chỉ khả thi khi thủy triều dâng cao nhất.

(3) Bậc thang không phải bậc thang ở bến tàu, do đó địa điểm này có lẽ không phải là hải cảng.

(4) Không có tàu hơi nước chạy đêm định kỳ nào vào lúc 10 giờ 17. Phương tiện di chuyển buộc phải là tàu hàng trôi nổi (điều này khó xảy ra), du thuyền hoặc thuyền đánh cá.

Lập luận của tôi tạm dừng ở đó. Tôi lập thêm một danh sách nữa, đặt tiêu đề là “Đoán mò”, nhưng tôi cảm thấy mức độ chắc chắn của danh sách này chẳng kém gì danh sách trước.

ĐOÁN MÒ.

(1) Địa điểm không phải hải cảng mà là vùng bờ biển hoang vu.

(2) Thuyền nhỏ – thuyền đánh cá đáy bằng, du thuyền hoặc xuồng máy.

(3) Nơi nào đó trên Bờ Biển Đông nằm giữa Cromer và Dover.

Tôi chợt thấy thật kỳ lạ khi bản thân lại đang ngồi ở chiếc bàn này, xung quanh là một Bộ trưởng Nội các, một Thống chế, hai quan chức cấp cao của chính phủ cùng một vị tướng người الفرنس (Pháp) đang đăm đăm theo dõi, trong khi từ mớ chữ viết nguệch ngoạc của một kẻ đã chết, tôi đang cố gắng nặn ra một bí mật mang ý nghĩa sống còn đối với tất cả chúng tôi.

Sir Walter đã quay lại hội quân, và chẳng mấy chốc MacGillivray cũng có mặt. Ông ấy đã phái các ngả đi canh gác tại các hải cảng và nhà ga để tóm gọn ba gã mà tôi đã miêu tả cho Sir Walter nghe. Đương nhiên là chẳng ai trong số họ tin rằng cách đó sẽ đem lại hiệu quả lớn lao gì.

– Đây là những gì tôi có thể rút ra từ tất cả manh mối, – tôi nói. – Chúng ta phải tìm cho ra một nơi có nhiều lối cầu thang dẫn xuống bãi biển, trong đó có một cầu thang có đúng ba mươi chín bậc. Tôi cho rằng đó là một đoạn bờ biển hoang sơ có vách đá cao vừa phải, nằm đâu đó giữa vùng The Wash và Eo biển Manche. Thêm vào đó, đó cũng phải là nơi thủy triều dâng đầy vào lúc 10 giờ 17 phút tối mai.

Rồi một ý chợt lóe lên trong đầu tôi. – Chẳng lẽ không có Thanh tra Tuần tra Bờ biển hay một kẻ nào đó rành rọt về Bờ Biển Đông sao?

Whittaker bảo rằng có chứ, và ông ta sống ở Clapham. Thế là ông liền phóng xe đi đón vị ấy, còn chúng tôi ngồi lại căn phòng nhỏ, bàn tán đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tôi châm một điếu tẩu và nghiền ngẫm lại toàn bộ sự việc cho đến khi đầu óc mụ mẫm cả đi.

Khoảng một giờ sáng thì chuyên viên tuần tra bờ biển tới nơi. Ông ấy là một cụ ông đĩnh đạc, mang phong thái của một sĩ quan hải quân, và tỏ ra vô cùng cung kính trước sự hiện diện của những nhân vật lớn trong phòng. Tôi nhường quyền tra hỏi cho ngài Bộ trưởng Chiến tranh, bởi tôi cảm thấy nếu mình lên tiếng thì thật quá ư xấc xược.

– Chúng tôi muốn anh cho biết những địa danh nào anh rành mạch trên Bờ Biển Đông có vách đá, và có nhiều lối cầu thang dẫn xuống bãi biển.

Ông ta trầm ngâm suy nghĩ một lát. – Ý các ngài hỏi là loại bậc thang nào cơ ạ? Có khối nơi người ta xẻ đường đi xuyên qua vách đá, và hầu như con đường nào cũng có dăm ba bậc thềm. Hay ý các ngài là cầu thang chính cống – toàn là bậc thang ấy ạ?

Sir Arthur liếc nhìn về phía tôi. – Ý chúng tôi là cầu thang chính cống, – tôi nói.

Ông ta ngẫm nghĩ chừng một hai phút. – Tôi không chắc mình có thể nhớ ra nơi nào như vậy. Chờ chút đã. Ở Norfolk có một chỗ – Brattlesham – ngay sát một sân golf, ở đó có đôi bậc thang để mấy vị quý ông xuống tìm bóng bị lạc.

– Không phải chỗ đó đâu, – tôi đáp.

– Thế thì ngoài ra có vô số đường dạo ven biển Marine Parade, nếu ý các ngài là thế. Khu nghỉ mát ven biển nào mà chẳng có.

Tôi lắc đầu. – Nơi này phải hẻo lánh và kín đáo hơn thế cơ, – tôi nói.

– Chà, thưa các ngài, tôi chẳng tài nào nghĩ ra nơi nào khác nữa. À mà dĩ nhiên, có mỏm The Ruff chứ –

– Nó là chỗ nào thế? – Tôi hỏi.

– Đó là một mỏm đá vôi lớn ở Kent, nằm sát cạnh Bradgate. Trên đỉnh có rất nhiều biệt thự, và vài căn nhà có sẵn cầu thang riêng dẫn thẳng xuống bãi biển. Đó là một khu vực vô cùng sang trọng, và cư dân ở đó rất thích sự riêng tư.

Tôi xé toạc cuốn Lịch thủy triều và tìm đến mục Bradgate. Thủy triều ở đó lên vào lúc 10 giờ 27 phút tối ngày 15 tháng Sáu.

– Cuối cùng chúng ta cũng đánh hơi được manh mối rồi, – tôi hào hứng kêu lên. – Làm thế nào để tôi biết chính xác giờ thủy triều tại mỏm The Ruff đây?

– Chuyện đó tôi có thể trả lời ngài, – nhân viên tuần tra bờ biển nói. – Có lần tôi từng được cho mượn một căn nhà ở đó vào đúng tháng này, và tôi hay ra khơi câu cá biển sâu vào ban đêm. Thủy triều ở đó diễn ra trước Bradgate mười phút.

Tôi gập cuốn sách lại và đưa mắt nhìn quanh những người có mặt.

– Nếu một trong những chiếc cầu thang đó có đúng ba mươi chín bậc thì chúng ta đã phá án xong rồi, thưa các ngài, – tôi tuyên bố. – Tôi muốn mượn chiếc xe hơi của Sir Walter, kèm theo một tấm bản đồ đường sá. Nếu ngài MacGillivray có thể bớt cho tôi mười phút, tôi nghĩ chúng ta có thể chuẩn bị một vài thứ cho ngày mai.

Thật là lố bịch khi tôi lại đứng ra chỉ huy cả một chiến dịch thế này, nhưng có vẻ họ chẳng bận tâm điều đó, vả lại suy cho cùng tôi đã dấn thân vào vụ này ngay từ những phút ban đầu. Hơn thế nữa, tôi vốn quen với những phi vụ hiểm hóc, và những nhân vật tầm cỡ này thừa sức nhận ra điều đó. Chính Tướng Royer là người đã trao trọng trách cho tôi. – Riêng tôi, – ông nói, – tôi hoàn toàn yên tâm phó mặc mọi chuyện vào tay cậu Hannay.

Đến ba giờ rưỡi, tôi đã phóng như bay qua những hàng rào cây xanh ngập ánh trăng ở Kent, bên cạnh là tay súng cừ khôi nhất của MacGillivray ngồi trên ghế phụ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.