Maisie Haddon, người thích được gọi là Y tá Haddon, không hề che giấu chút tình cảm bà dành cho Quirke. Bà thường xuyên bày tỏ điều đó với ông, đặc biệt là sau vài ly thức uống ưa thích gồm rượu rum pha nước ép thảo dược tươi. Hôm nay, cũng như mọi khi, họ hẹn nhau đến quán rượu quen, một nơi chật chội, âm u trong con hẻm nhỏ sau rạp Gaiety. Họ đến cùng lúc dù Quirke đi bộ, còn bà “cưỡi” chiếc xe thể thao nhỏ mui trần màu chuồn chuồn ớt. Cứ hễ nhìn nó, Quirke lại nghĩ đến con bọ rùa trầy trụa, tướp cánh. Bà bạn ông đeo kính đen gọng trắng và hút thuốc bằng tẩu gỗ mun. Dù thời tiết ấm áp, bà vẫn diện áo lông chồn, đeo khăn quàng cổ dài và mỏng màu vàng. Một đầu khăn vắt trên vai phải của bà trông rất điệu. Xe phóng nhanh đến sát lề đường rồi thắng gấp, bánh xe rít lên trên mặt đường nhựa. “Con bọ rùa sắt” chồm lên vỉa hè, dừng phắt lại trước khi bà rồ máy kêu đinh tai nhức óc rồi mới xoay chìa tắt động cơ. Bà nhoài người qua cửa xe thấp tè, chìa bàn tay đeo găng có viền đăng-ten đen.
- Chào anh chàng điển trai!
Quirke cúi đầu đáp lễ. Mùi nước hoa nồng nặc xộc lên khiến ông bất giác đưa mu bàn tay lên quệt môi.
- Maisie này, cẩn thận không thì giống Isadora Duncan thì khổ.
Bạn ông cầm túi xách ở ghế bên cạnh và trèo ra khỏi xe.
- Bà ta là ai?
- Một vũ công nổi tiếng. Bị gãy cổ vì một đầu khăn quàng quấn vào trục xe hơi thể thao.
- Lạy Chúa, chết thế thì thảm quá.
Họ vào quán. Chiều thứ bảy nào quán cũng đông và ồn ã. Khi Maisie vừa bước vào và nhìn bao quát căn phòng qua cặp kính gọng trắng, hơn chục cái đầu ngẩng lên nhìn. Trong quán này, người không biết bà chỉ đếm trên đầu ngón tay. Bà chủ động dẫn Quirke đến quầy bar, lênh khênh ngồi trên ghế cao và e lệ kéo gấu váy bó sát qua đầu gối. Thấy thế, Quirke cười tủm tỉm. Về phần mình, ông thấy con người kệch cỡm này cũng hay hay. Ông không biết chính xác tuổi của Maisie bởi nếu nhìn bề ngoài, không ai đoán được tuổi bà. Maisie có khuôn mặt vuông to kệch của phụ nữ nông thôn, nhưng rất ít nếp nhăn. Nếu bà nhuộm tóc thì dù quen nhau khá lâu, Quirke luôn thấy mọi sợi đều vàng hoe đến tận chân tóc. Ông chưa bao giờ dám nhìn kỹ Maisie vì bà rất dễ nổi cáu. Người ta đồn rằng bà từng hạ đo ván một thanh tra cảnh sát khi ông ta định còng tay bà. Đã hơn một lần Quirke bấm bụng cười thầm với khả năng thanh danh ông có được sau bao năm hành nghề sẽ tan thành mây khói, nếu người ta thấy ông ngang nhiên cặp kè với Maisie giữa chốn đông người như hôm nay. Sở dĩ như vậy vì Maisie Haddon là chuyên gia phá thai bất hợp pháp thành công nhất, đông khách nhất và nhiều tai tiếng nhất thành phố này.
Quirke gọi rượu rum pha cho bà bạn. Riêng ông uống nước cà chua ép. Maisie ngờ vực hỏi:
- Ông bỏ rượu à?
- Sáu tháng rồi bà ơi.
- Lạy Chúa lòng lành! (Maisie vẫn giữ giọng của người miền tây quê hương bà). Ông định cải tà quy chính đấy ư? (Thức uống vừa được mang tới, bà cụng nhẹ ly rum vào miệng ly của ông). Hy vọng thiên đường dành cho ông một chỗ cao ráo!
Quirke chìa hộp thuốc trước mặt Maisie và bật lửa sẵn. Bà rít mạnh một hơi rồi phà khói ra khóe miệng, đoạn giơ đầu ngón tay út điệu bộ chấm nhẹ hết khóe môi bên trái lại đến bên phải.
- Này, ông đang định làm gì thế?
Quirke vờ không hiểu:
- Bà hỏi gì kỳ vậy?
- Tôi biết ông quá mà. Lúc nào chẳng có dự định này nọ.
- Tôi chỉ muốn gặp bà nói chuyện vui thôi mà.
Maisie nghi ngờ nhướng lông mày:
- Phải, chắc thế rồi.
Maisie có hai tiền án. Lần đầu cách nay hai mươi năm, bà đã phải ngồi tù khá lâu vì tội mở nhà bảo sanh, bí mật đỡ đẻ cho những ai mang bầu ngoài ý muốn. Nhiều người nhờ bà tống khứ đứa trẻ, và bà thường ủ hài nhi trong đống tã lót đem bỏ ở ven lộ lúc nửa đêm. Vừa ra tù, bà lập tức thuê một phòng trên đường Hatch và bắt đầu dịch vụ phá thai. Ít lâu sau khi “phòng khám” đi vào hoạt động, cảnh sát ập đến và bà lại ngồi thêm hai năm nữa trong nhà tù Mountjoy. Không nản chí, vừa được tha, bà đã khôi phục ngay nghề cũ. Bà nắm giữ nhiều bí mật động trời. Bà biết Malachy Griffin và bảo hồi còn là y tá chân chính, bà từng làm việc với ông ở bệnh viện Holy Family. Chắc chắn Malachy không muốn nghe ai nói quá lớn hoặc quá thường xuyên về điều ấy. Đến lượt Quirke hỏi:
- Công việc của bà thế nào rồi?
Uống xong ngụm rượu, Maisie nhanh tay gắn điếu thuốc vào tẩu gỗ mun.
- Thuận lợi chưa từng thấy. Ông biết không, chắc chắn đàn bà ở thành phố này chưa từng nghe trên đời lại có thứ gọi là bao cao su.
- Phải, khó kiếm lắm!
Maisie cười khúc khích, xỉa ngón trỏ vào ngực Quirke.
- Đùa hay đấy!
Ly của bà đã cạn tới đáy. Quirke vẫy nhân viên quầy bar, ra hiệu rót thêm.
- Tất nhiên thứ ấy ê hề. Tôi bảo một tay mang đến chỗ tôi một vali đầy bao cao su cho khách hàng. Tôi nói, “Này, cầm hai chục gói về bởi lâu lâu tôi mới định gặp các cô. Nhưng giá không gặp nhau nữa thì hay hơn”. Ông thử đoán xem họ có cầm không (bà ta giả giọng eo éo). “Cha xứ phát không, tôi còn không lấy. Chị à, người yêu tôi không thích đâu”. Sao mà ngu thế không biết!
Quirke xoay xoay chiếc ly trong tay.
- Bà có biết một nguôi tên là Hunt, Deirdre Hunt không?
- A ha, biết ngay là có chuyện mà.
- Cô ta tự xưng là Laura Swan.
Maisie nguýt dài:
- Ông biết không, tôi ớn ông quá đi.
Làm bộ nể Quirke lắm, Maisie mới lục túi lấy cuốn sổ địa chỉ bìa da đã quăn mép. Những lúc ngà ngà say, bà thường nhắc đến cuốn sổ đen ghê gớm này và bảo khi nào chiều tàn bóng xế, bà ta sẽ bán nó cho tờ People hoặc News of the Worldi và ngồi mát ăn bát vàng đến cuối đời. Vừa lật từng trang, bà vừa lẩm nhẩm đọc những cái tên trong đó. Quirke biết tỏng màn kịch này. Suốt ba mươi năm hành nghề, Maisie nhớ từng khuôn mặt, cái tên, địa chỉ, số điện thoại của “bệnh nhân”. Chỉ cần nghe nhắc đến, bà sẽ nói vanh vách.
- Không có. Không có ai tên Hunt cả. Còn tên kia là gì… Swan à? Không, Swan cũng không luôn. Mà cô ta là ai thế?
Quirke nhún một bên vai:
- Cô ấy chết rồi.
- Ra thế, tôi hiểu vấn đề rồi. (Maisie đóng mạnh cuôn sổ rồi bực dọc dúi vào đáy túi). Nếu thế, chắc chắn tôi không biết bất kỳ ai hoặc bất kỳ cái tên nào đâu nhé.
Tuần rượu thứ hai của Maisie đã cạn. Quirke giơ một ngón tay gọi phục vụ quầy. Ông cân nhắc từng câu chữ khi nói tiếp:
- Thực ra, Deirdre Hunt không phải mối quan tâm đặc biệt của tôi. Cô ta chưa bao giờ là khách hàng của bà. (Maisie nhìn ông không hiểu). Tôi đã khám nghiệm tử thi và cô ấy chưa sinh nở hay phá thai lần nào.
Lúc chân nam đá chân xiêu cố ra nhà vệ sinh nam, một người đàn ông nhỏ thó đeo cà vạt nâu đậm đi ngang qua, vô tình huých vào khuỷu tay Maisie. Một giọt rượu sóng sánh rớt xuống khăn quàng cổ của bà. Bà sửng cồ, gườm gườm nhìn ông khách và lẩm bẩm:
- Đồ điên.
Bà quay sang Quirke:
- Thế cô ta bị làm sao?
Hơi thở sặc sụa mùi rượu của Maisie khiến Quirke chóng mặt. Miệng ông khô đắng. Cơn đau khớp lại mò đến hai bàn tay mỗi khi cơn thèm rượu giày vò ông khốc liệt nhất. Chẳng lẽ ông cứ khát rượu mãi ư? Có lẽ vấn đề mấu chốt là ông nghiện rượu chứ không phải uống nhiều hơn mức trung bình như ông thường nghĩ. Thốt nhiên, ông muốn chạy trốn khỏi quán rượu hôi hám và đám người lảo đảo, líu lưỡi cùng người đàn bà có bàn tay dính máu vô số thai nhi, và nếu lời đồn đại đúng thì không chỉ có một thai phụ từng thiệt mạng bởi tay bà.
- Bà có biết…
Quirke buộc phải ngừng lời. Cơn khát rượu lại dâng lên. Chưa bao giờ miệng ông đắng đến thế. Cùng lúc, mồ hôi trán toát ra, lạnh buốt. Ông vuốt mặt, đoạn hỏi:
- Bà có biết một gã tên là Kreutz không?
Để tự chủ, Quirke phải nắm chặt tay, ghì mạnh lên mép quầy bar. Móng tay ông đâm vào lòng bàn tay đau nhói. Maisie nhíu mày nhìn ông chăm chú.
- Kreutz viết thế nào? (Quirke đánh vần từng chữ). À, gã này tôi có biết. (Maisie cười khẽ). Người ta còn gọi gã là bác sĩ Kreutz. Da gã ngăm đen. Nhà ở… đường gì nhỉ? Đường Adelaide, phải rồi (bà lại chép miệng). Vài cô vợ và nhân tình của các ông tai to mặt lớn có kể với tôi.
- Y làm nghề gì, bà biết không?
- Tôi không rõ lắm, hình như buôn thần bán thánh gì đó. Chữa bệnh tâm linh bằng nhang đèn và chế độ ăn nhiều trái cây này nọ. Các bà các cô hay đến chỗ gã.
- Rồi y nhờ bà “giải quyết” vài ca phải không?
Maisie chột dạ, thận trọng nhìn cắm xuống bàn và nhún vai:
- Một hai lần thôi. Sao ông hỏi thế?
- Lý do y nhờ bà có gì khác thường không?
Maisie mỉa mai độc địa:
- Không, chỉ là có lắm người được hướng dẫn về thờ cúng và giữ da đẹp thôi chưa đủ.
Maisie ghé sát vào mặt Quirke. Tuy chưa say hẳn, nhưng bà đã không còn tỉnh táo.
- Điều gì khiến ông cho rằng gã đưa đàn bà đến chỗ tôi? (Bà ngửa đầu, dốc tuột ly rượu vào cổ. Rồi như chợt nghĩ ra, bà hỏi dồn). Có phải gã liên quan đến nhân vật lúc nãy. Cô ta tên gì nhỉ? Hunt phải không?
- Nào tôi có biết!
Vừa trả lời, ông vừa thận trọng rời chiếc ghế cao lêu nghêu. Cảnh chia tay giữa họ lần nào cũng giống nhau: Maisie buồn bã, ngầy ngật hơi men, còn Quirke len lén chuồn ra cửa. Lúc này, ông đứng sau lưng bà bạn, đưa ngón tay lên môi ra dấu im lặng, trả tiền thêm một ly rum pha thảo dược rồi vội vàng rời đi. Maisie ngoái đầu nhìn theo bằng cặp mắt lèm nhèm, ngạc nhiên khi thấy ông bạn to béo là thế mà đi đứng nhanh ra phết!
Ra đến đường, Quirke lóa mắt vì nắng. Một viên cảnh sát giao thông to như hộ pháp ngó nghiêng chiếc xe của Maisie đỗ ẩu: hai bánh trên hè, hai bánh dưới lòng đường. Quirke bèn vòng ra sau và đi như ma đuổi.
Cứ hễ ông để mắt tới điều gì liên quan đến Deirdre Hunt thì nó lại lập tức tan thành mây khói. Mọi lối đi bỏ ngỏ mời ông phá vụ này đều “mọc” thêm cánh cửa sập ngay trước mũi ông.
Vừa đi hết đường Merrion và vòng qua góc phố để vào đường Mount, Quirke đã thấy một người ngồi phơi nắng trên bậc tam cấp trước nhà số ba mươi chín. Ông biết ngay đó là ai. Dù nhìn từ xa, không ai có thể lẫn với cái đầu to tướng hói trên đỉnh và tóc đỏ mọc xung quanh của Billy. Quirke dợm quay lưng trước khi bị gã phát hiện, nhưng nghĩ lại, ông miễn cưỡng đi tiếp. Cơn khát rượu dịu xuống nhưng giờ ông lại choáng váng, như vừa tỉnh lại sau chầu say túy lúy dù chẳng nuốt giọt cồn nào. Đầu ông nhức như búa bổ, hai mắt khô rát, nhức nhối.
Billy Hunt ngồi chống cằm, thu lu trên bậc tam cấp trông như bức tượng Triết Gia của Robin. Quirke tự hỏi ma quỷ nào xui ông dính líu với hạng người như Deirdre… (tên hồi con gái của cô ta là gì nhỉ?) Deirdre Ward. Nghĩ rộng hơn, ông không hiểu nổi điều gì xui khiến đàn ông gắn bó với đàn bà, hoặc ngược lại, đàn bà gắn bó với đàn ông? Riêng hôn nhân của Quirke, câu trả lời quá đơn giản. Sarah quá cố, chị gái người vợ vắn số của ông, đã nói toạc móng heo: Delia sẵn sàng ngủ với ông mà không cần nhẫn cưới, còn Sarah thì không và Quirke chọn cô em chỉ vì lẽ đó. Nhưng sao Delia kiều diễm, kén chọn, sắc sảo lại chấp nhận ông dù biết chắc (bà rất thông minh, am tường) ông yêu chị ruột mình? Quirke chợt nghĩ đến điều ông chưa từng ngờ tới: phải chăng Delia muốn chọc cho bà chị phải ghen lồng lên? Chỉ Chúa mới biết sự thật, nhưng không loại trừ khả năng Delia làm thế, bởi Delia của ông không từ một việc gì.
Dừng chân trước số nhà ba mươi chín, Quirke chống một chân lên bậc thềm thấp nhất. Mũ ông hơi ngửa ra sau, ngón tay cái móc vào nhãn mác áo khoác vắt trên vai.
- Nóng quá nhỉ.
Billy giơ bàn tay che mắt, hấp háy nhìn Quirke.
- Anh về rồi à. Tôi hứa sẽ đãi anh một chầu mà.
Quirke lắc đầu:
- Kìa Billy, đã bảo tôi không uống rượu mà.
- Anh nói thế thật à? Hồi này tôi hay quên lắm, chẳng biết bao giờ mới thoát bến mê. Nhưng mà này, chẳng lẽ trà, cà phê, nước khoáng… anh cũng kiêng luôn sao?
Quirke cười mỉm. Billy chưa bỏ được cái giọng nhừa nhựa của dân Waterford.
Họ vòng qua mặt trước nhà thờ Peppercanister, sang đường và nhắm tới bờ kênh. Cả hai đều nín thinh. Trong cái nóng như nung, tán cây hai bên bờ như muốn gục xuống làn nước phẳng lặng. Xe tải cao và hẹp lạ thường mang logo của xưởng giặt ủi Swastika Laundry xuất hiện trên cầu Huband, tiếng động cơ chạy điện kêu ầm ì. Billy Hunt khá cao, chỉ kém Quirke chừng năm centimet. Dáng đi của gã khuỳnh khuỳnh giống dân thể thao chuyên nghiệp. Đường Percy Place hiện ra trước mắt họ với chỉ một bên lề đường hướng tây hứng nắng. Đến cửa nhà số 47, mùi hôi “tổng hợp” thường thấy ở các quán rượu xộc vào mũi Quirke. Lúc trước thích mùi cồn trộn mùi mồ hôi đàn ông pha mùi khói thuốc lưu cữu bao nhiêu, thì giờ nó làm ông buồn nôn bấy nhiêu. Bước vào quán, Billy Hunt hỏi ông dùng gì, ông nói chỉ uống sôđa (chắc từ giờ ông cạch hẳn nước cà chua ép). Billy không bình phẩm gì, chỉ răm rắp làm theo ý ông và gọi một vại nửa lít bia đen cho mình. Quirke tròn mắt nhìn gã tu hai hơi hết bay vại bia. Hình như gã không có cơ chế nuốt, chỉ cần ngửa cổ, há miệng to chưa từng thấy và dốc tuột thứ nước có cồn đen ngòm vào cuống họng là xong.
Quirke thận trọng hỏi:
- Sao, hồi này ông thế nào?
Billy hạ cằm thật thấp và ợ rõ to:
- Cảm ơn ông đã giúp tôi việc đó nhé.
Gã lại ợ, lần này bớt om sòm hơn lần trước:
- Tay thanh tra cảnh sát có gọi tôi lên đồn.
Ngắm mình trong gương phía trên chiếc kệ lớn bày đầy rượu đủ loại, Billy gãi cằm sồn sột:
- Ông nhớ tên anh ta không? À, Hackett.
- Phải, chính hắn. (Đầu Quirke quay cuồng trong vô số nhãn hiệu rượu: Johnnie Walker, Dimple Haig, Jameson mười hai năm tuổi). Có gì không?
- Tôi nghĩ chắc ông cũng muốn biết.
Gã đặt chiếc ly trống không xuống bàn, khẽ liếc phục vụ quầy. Anh ta đang dọn ly bẩn, lấy ly sạch đặt xuống dưới vòi của thùng gỗ lớn mang dòng chữ Guinness, đoạn kéo mạnh tay cầm bằng gỗ. Sáu con mắt cùng nhìn thứ chất lỏng dưới đáy ly đang từ màu xám chuyển sang màu đen. Billy nói tiếp:
- Anh ta bình luận về thời tiết. Hỏi Deirdre có biết bơi không. Hỏi tôi ở đâu hôm cô ấy chết. (Cặp mắt to, buồn bã của gã bất ngờ chiếu thẳng vào Quirke). Hắn không tin đâu.
- Không tin cái gì?
Thốt nhiên, lần đầu tiên Quirke thấy được sự giận dữ trong mắt Billy. Giờ đây, thịnh nộ đã thành trạng thái tinh thần vĩnh cửu của gã: nó sẽ không bao giờ thay đổi. Billy cho rằng không chỉ vợ gã mà cả thiên hạ đã bất công với gã. Gã lẩm bẩm:
- Hắn biết đó không phải tai nạn.
- Biết ư? Hackett khẳng định hay chỉ đoán mò?
Lượt bia mới của Billy được mang tới. Gã trầm ngâm xoay ly đồ uống trong tay.
- Nhân viên điều tra chính cũng không tin, đúng không? Nhìn mắt ông ta tôi biết. Chẳng qua ông ấy lờ đi mà thôi. (Dù Quirke im lặng nhưng Billy vẫn gật đầu như thể ông vừa thừa nhận những gì gã nói là đúng). Ông nói gì với viên thanh tra thế?
- Ông cũng nghe tôi khẳng định ở tòa rồi mà.
- Chỉ bấy nhiêu thôi ư?
- Phải.
- Ông không dặn trước ông ấy ư? (Một lần nữa, Quirke chọn cách làm thinh. Billy lại gật đầu). Vậy là không có gì được ghi bằng giấy trắng mực đen.
- Không.
- Ông cũng thu xếp cả việc ấy nữa?
- Billy này, tôi làm gì có thế lực kiểu đó!
Billy chặc lưỡi:
- Ông có đấy. Tôi cá ông còn dàn xếp được với đám nhà báo nữa kìa. Tất cả cùng đồng thuận, mười người như một. Người này dễ chịu với người kia, nhỉ!
Lần này Billy không tu ừng ực mà uống từng ngụm nhỏ. Gã chúm môi như mỏ chim, chậm rãi nhúng sâu vào lớp bọt bia giống con chim mổ vỡ mặt váng vũng nước đầy sỏi đá. Nghịch chán, gã chùi miệng bằng mu bàn tay rồi nhíu mày với bóng mình trong tấm gương đối diện. Không hiểu sao mặt gương ấy như có chút ánh sáng hồng rọi vào. Gã tâm sự:
- Có điều này tôi không hiểu: hồi còn sống, Deirdre không bao giờ muốn “bày ra” cho cả thiên hạ cùng nhìn như vậy. Nhưng khi chết, cái xác trần truồng của cô ấy lại phơi trên vách đá. Lúc Deirdre còn sống, tôi chưa bao giờ thấy vợ khỏa thân. Cô ấy không cho tôi nhìn.
Quirke ho khẽ:
- Billy này…
- Đừng lo, tôi không sao mà.
Billy phẩy nhẹ bàn tay to và thô kệch. Gã tiếp tục chúm môi nhúng vào miệng ly và đưa mu bàn tay lên chùi miệng.
- Thôi thì, tính cô ấy như thế đành chịu vậy. Duy chỉ có điều tôi không hiểu tại sao cô ấy làm thế. Ông có hiểu được không?
Quirke đang lui cui châm thuốc.
- Tôi có quen vợ ông đâu. Tôi chắc là cô ấy…
Billy vẫn không rời mắt khỏi ông.
- Gì cơ?
Quirke hít một hoi thật sâu. Ông có cảm giác rất lạ là Billy đang thầm cười nhạo ông. Chắc ông lầm. Ông nhấp một ngụm sôđa.
- Nghe tôi đi. Chớ có nghĩ ngợi mãi. Chuyện gì đã qua, mình đừng nghĩ đến nữa. Người chết mang theo bí mật của họ xuống mồ, ông có muốn cũng không biết được đâu.
Billy không trả lời ngay. Lát sau, từ gã phát ra âm thanh nghèn nghẹn, khùng khục mà Quirke đoán mãi mới biết là tiếng cười. Billy bảo:
- Hay lắm. Người chết ôm theo bí mật nên không ai biết! Ông đang tập trước với tôi cho quen miệng hay mới nghĩ ra thế?
Quirke đỏ mặt:
- Ý tôi là…
Billy lại giơ bàn tay chuối mắn lên như muốn bảo ông đừng nói nữa rồi thân mật đặt nó lên vai ông. Quirke nhăn mặt. Ông vốn không thích ai đụng vào người mình.
- Tôi hiểu ý ông, Quirke ạ.
Gã lại lấy đáy ly làm trụ và xoay tròn ly bia. Bên dưới chiếc ly thủy tinh là miếng lót ly bằng gỗ xốp có in hình chim bồ nông mỏ vàng ngộ nghĩnh. Kèm theo đó là dòng chữ Bia Guinness Tốt Cho Sức Khỏe Của Bạn. Chỉ cần một chút điều chỉnh, thế giới này sẽ dễ chịu biết bao. Billy thủng thẳng:
- Ở địa vị tôi bây giờ phải để ý cách người ta nói chuyện với mình. Hay nói cách khác là phải hiểu những gì người ta không nói ra. Một phút trước họ còn cân nhắc từng từ vì sợ lỡ miệng đụng chạm đến “nỗi mất mát” hoặc sợ tôi “chạnh lòng”, nhưng ngay phút sau họ đã buột miệng mấy câu tục ngữ đại loại như “Giờ cô ấy đang ở chốn thiên đàng” hoặc “Thời gian là liều thuốc chữa lành mọi vết thương” và tôi có nghĩa vụ phải biết ơn họ. (Billy lại gật gù nhạo báng và khinh miệt). Khó chịu nhất là ta cứ phải nghe cho hết, vờ biết ơn sâu sắc và nhất là không được nói câu gì làm họ mếch lòng. Tất nhiên, lý do là khi nhà có người chết, ta lập tức phải biến thành người dễ thương nhất, sâu sắc nhất, giàu lòng vị tha nhất và vô hại nhất trên đời. (Gã ghì chặt chiếc ly thủy tinh trên quầy bar. Quirke thấy mấy đốt ngón tay gã trắng bệch). Nhưng Quirke này, tôi không vô hại. (Giọng gã gần như hả hê một cách độc ác). Không hề đâu.
Họ ngồi thêm một lát rồi ai về nhà nấy. Tâm trạng của Billy Hunt lại thay đổi. Vẻ lanh lợi biến mất, gã trở nên mơ màng. Nhìn gã, Quirke đoán gã đang tự mãn như thể đã biết một chuyện mà Quirke và phần còn lại của thế giới đều mù tịt. Sau khi chia tay nhau ngay ngoài cửa quán rượu, Billy lê gót về phía đường Baggot. Quirke băng qua cây cầu nhỏ. Hàng cây như kiệt sức dưới sức nóng của mùa hè nên nghiêng thấp hơn xuống mặt nước. Riêng Quirke thấy ánh thái dương lu mờ, như có đám bụi lan dần trong không trung, càng lúc càng dày thêm, làm ô uế bầu khí thở.