Vào lúc ba giờ sáng, trước một trong những ngôi nhà nhỏ nằm dọc đại lộ Berthier vẫn còn độ nửa tá xe ngựa đang đậu. Cánh cửa ngôi nhà bật mở, và một nhóm khách khứa cả nam lẫn nữ bước ra. Đa phần họ lên xe rồi nhanh chóng rời đi, chỉ để lại hai người nam nhân đi bộ xuống phố Courcelles; đến nơi họ liền rẽ mỗi người một ngả vì một trong hai người sống ở con phố ấy. Người còn lại quyết định đi bộ trở về tận Porte-Maillot. Đó là một đêm mùa đông tuyệt đẹp, trời trong và lạnh giá; cái thứ thời tiết khiến cho việc sải bước nhanh chân trở nên vô cùng sảng khoái và dễ chịu.
Nhưng chỉ sau vài phút, anh chợt có linh cảm khó chịu rằng mình đang bị bám theo. Quay đầu lại, anh nhìn thấy một bóng người đang rón rén ẩn mình giữa hàng cây. Anh vốn không phải kẻ nhát gan; dẫu vậy, anh vẫn thấy tốt hơn hết là nên rảo bước nhanh hơn. Thấy thế, kẻ bám đuôi liền bắt đầu chạy; và anh cho rằng mình cần phải cẩn trọng rút súng lục ra để đối mặt với kẻ đó. Thế nhưng anh chẳng còn kịp trở tay. Kẻ lạ mặt lao bổ vào anh và tấn công một cách hung tợn. Ngay lập tức, cả hai cuốn vào một cuộc vật lộn sống còn, trong đó anh cảm nhận rõ đối phương đang chiếm thế thượng phong. Anh hô hoán cầu cứu, chống trả, nhưng rồi bị quật ngã xuống một đống sỏi, bị bóp cổ và bị nhét giẻ vào miệng bởi chính kẻ tấn công. Mắt anh hoa lên, và gã đang đè nặng lên người anh bỗng đứng phắt dậy để chống đỡ một cuộc tập kích bất ngờ từ đâu ập tới. Một cú đánh bằng gậy và một cú đá bồi từ giày bốt; gã đàn ông thét lên hai tiếng đau đớn rồi lỉnh mất, vừa đi vừa thọt chân và rủa xả. Chẳng thèm đuổi theo kẻ chạy trốn, người mới tới liền cúi xuống nhìn kẻ đang nằm bẹp dưới đất và cất tiếng hỏi:
– Anh có bị thương không, thưa ngài?
Anh không hề hấn gì, chỉ là bị choáng váng đến mức không thể đứng vững nổi. Ân nhân liền gọi một chiếc xe ngựa, dìu anh lên xe và tống tiễn anh về tận căn nhà trên đại lộ de la Grande-Armée. Khi về đến nơi, hoàn toàn định thần lại, anh bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với vị cứu tinh của mình.
– Tôi mang ơn cứu mạng của ngài, và tôi sẽ không bao giờ quên điều đó. Lúc này trời đã khuya, tôi không muốn làm vợ tôi hoảng sợ, nhưng ngày mai, bà ấy chắc chắn sẽ rất vui mừng được trực tiếp cảm ơn ngài. Xin hãy đến dùng bữa sáng cùng vợ chồng tôi. Tôi tên là Ludovic Imbert. Xin phép được hỏi quý danh của ngài?
– Vâng, thưa ngài.
Rồi anh trao cho ông Imbert một tấm danh thiếp mang cái tên: “Arsène Lupin.”
Vào thời điểm đó, Arsène Lupin chưa hề nổi danh như sau này, khi mà vụ án Cahorn, cuộc vượt ngục khỏi nhà tù La Santé cùng những chiến tích lẫy lừng khác mang lại cho anh. Thậm chí anh còn chưa từng sử dụng cái tên Arsène Lupin. Cái tên ấy được bịa ra đặc biệt để chỉ vị cứu tinh của ông Imbert; nói cách khác, chính trong vụ việc ấy, Arsène Lupin đã được khai sinh. Dù đã trang bị vũ khí tận răng và sẵn sàng chiến đấu, nhưng thực ra lúc bấy giờ, khi chưa có trong tay những nguồn lực và vỏ bọc bảo đảm cho thành công, Arsène Lupin mới chỉ là một kẻ học việc trong một nghề mà chẳng mấy chốc sau đó anh đã trở thành bậc thầy.
Biết bao cảm xúc hân hoan trào dâng khi anh nhớ lại lời mời hôm đó! Cuối cùng thì anh cũng đã chạm tay tới mục tiêu! Cuối cùng thì anh cũng đã dấn thân vào một nhiệm vụ xứng tầm với sức lực và sự khéo léo của mình! Hàng triệu francs của nhà Imbert! Quả là một bữa tiệc thịnh soạn cho một kẻ có chiếc dạ dày tham lam như anh!
Anh chuẩn bị một bộ cánh thật đặc thù cho dịp này: một chiếc áo khoác đuôi tôm sờn cũ, chiếc quần thùng thình, cái mũ lụa nhàu nhĩ, cổ áo cùng cổ tay áo đã sờn rách — tất cả đều đúng chuẩn mực về kiểu dáng nhưng lại mang dấu ấn không thể chối cãi của sự nghèo túng. Chiếc cà vạt của anh chỉ là một dải ruy băng đen được kẹp bằng một viên kim cương giả. Ăn diện như thế, anh bước xuống cầu thang căn nhà trọ ở Montmartre. Đến tầng ba, chẳng cần dừng lại, anh dùng đầu gậy gõ nhẹ lên một cánh cửa đang đóng kín. Anh rảo bước ra các đại lộ vòng ngoài. Một chiếc xe điện đang chạy tới. Anh leo lên xe, và có kẻ đã bám theo từ trước liền bước lên ngồi cạnh anh. Đó chính là người khách thuê căn phòng ở tầng ba.
Chỉ một lát sau, người đó cất lời với Lupin:
– Thế nào rồi, sếp?
– Ừ, mọi chuyện đã hòm hòm cả.
– Sao cơ?
– Tôi sắp đến đó ăn sáng đây.
– Anh đến đó... ăn sáng sao!
– Chứ sao nữa. Tại sao lại không nhỉ? Ta đã cứu ông Ludovic Imbert khỏi cõi chết dưới bàn tay ngươi cơ mà. Ông Imbert không phải là kẻ vô ơn. Ông ấy đã mời tôi ăn sáng.
Cả hai chìm vào sự im lặng ngắn ngủi. Rồi kẻ kia lại cất tiếng:
– Nhưng chắc là anh không định từ bỏ kế hoạch đấy chứ?
– Cậu bạn thân mến của tôi ạ, — Lupin nói, — Khi tôi dàn dựng cái vở kịch ẩu đả nhỏ nhặt ấy, khi tôi cất công vào lúc ba giờ sáng gõ gõ cây gậy và bồi vài cú giày bốt vào người cậu dẫu có nguy cơ làm tổn hại đến người bạn duy nhất của mình, thì mục đích của tôi không phải là để vứt bỏ những lợi ích thu được từ một màn cứu giá được sắp đặt và thực thi hoàn hảo đến thế. Ồ không, tuyệt đối không có chuyện đó đâu.
– Nhưng còn những lời đồn thổi kỳ quái mà chúng ta nghe được về khối tài sản của họ thì sao?
– Cậu cứ mặc kệ chuyện đó đi. Suốt sáu tháng nay, tôi đã dày công nghiên cứu vụ này, điều tra, tìm hiểu, tra hỏi đám gia nhân, bọn cho vay nặng lãi lẫn những kẻ đứng tên hộ; suốt sáu tháng nay, tôi bám sát từng đường đi nước bước của hai vợ chồng họ. Nhờ thế mà tôi thừa hiểu mình đang nói về cái gì. Khối tài sản ấy dù là từ lão Brawford để lại như lời họ bịp bợm, hay từ bất cứ nguồn nào khác đi nữa, tôi cũng chẳng thèm bận tâm. Tôi chỉ biết chắc một điều rằng nó là có thật, nó hoàn toàn tồn tại. Và thế nào cũng có ngày nó thuộc về về tay tôi.
– Chà! Một trăm triệu cơ mà!
– Cứ cho là mười triệu đi, hoặc thậm chí năm triệu thôi — thế cũng quá đủ rồi! Bọn họ đang sở hữu một chiếc két sắt đầy ắp trái phiếu, và có quỷ mới ngăn được tôi thò tay vơ vét chúng.
Chiếc xe điện dừng lại ở quảng trường Place de l’Etoile. Gã đàn ông thì thầm với Lupin:
– Bây giờ tôi phải làm gì đây?
– Tạm thời chưa cần làm gì cả. Cậu sẽ nhận được tin của tôi. Không việc gì phải vội.
Năm phút sau, Arsène Lupin đang bước lên bậc thềm hoành tráng của dinh thự nhà Imbert, và được ông Imbert giới thiệu với vợ. Bà Gervaise Imbert là một phụ nữ thấp người, tròn trịa và cực kỳ lắm lời. Bà dành cho Lupin một sự đón tiếp vô cùng nồng hậu.
– Tôi rất muốn vợ chồng chúng tôi được tiếp đón ân nhân một mình, — bà nói.
Ngay từ phút đầu tiên, họ đã đối xử với “ân nhân” như một người bạn tri kỷ lâu năm. Đến lúc dọn tráng miệng, tình bạn ấy đã vô cùng thắm thiết, và những tâm sự riêng tư bắt đầu được sẻ chia. Arsène kể cho họ nghe về cuộc đời mình, về người cha làm thẩm phán, những nỗi buồn tuổi thơ cùng những gian khó hiện tại của bản thân. Ngược lại, Gervaise hào hứng kể về thời trẻ trẻ, chuyện hôn nhân, lòng tốt của lão Brawford quá cố, khối tài sản một trăm triệu mà bà được thừa kế, những trở ngại ngăn cản bà thụ hưởng di sản ấy, những khoản tiền bà buộc phải vay với lãi suất cắt cổ, những cuộc tranh chấp không hồi kết với đám cháu chắt nhà Brawford, rồi cả những vụ kiện tụng! Những lệnh phong tỏa! Tóm lại là đủ thứ chuyện trên đời!
– Anh cứ nghĩ mà xem, thưa ngài Lupin, đống trái phiếu đang nằm ngay ở đó, trong phòng làm việc của chồng tôi đấy, và nếu chúng tôi bứt ra dù chỉ một tờ cu-pon thôi là mất trắng tất cả! Chúng nằm lù lù trong két sắt của nhà tôi, thế mà chúng tôi chẳng dám đụng vào một ngón tay.
Nghe đến sự hiện diện của một khối lượng cải vật chất khổng lồ ở khoảng cách gần như vậy, ông Lupin không khỏi rùng mình. Dẫu vậy, ngẫu nhiên là ông Lupin lại hoàn toàn chắc chắn rằng mình sẽ chẳng bao giờ gặp phải cái rắc rối oái oăm giống như bà chủ xinh đẹp, người cứ khăng khăng tuyên bố là không dám động đến số tiền đó.
– À, chúng ở đó cơ à! — anh tự lẩm bẩm với chính mình, — Chúng ở đó cơ à!
Một tình bạn được châm ngòi trong hoàn cảnh ấy chẳng mấy chốc đã tiến triển thành mối quan hệ khắng khít hơn. Khi được dò hỏi một cách khéo léo, Arsène Lupin liền bày tỏ sự nghèo túng và khốn khó của mình. Lập tức, chàng thanh trai bất hạnh được bổ nhiệm làm thư ký riêng cho hai vợ chồng nhà Imbert, với mức lương một trăm francs mỗi tháng. Anh sẽ đến nhà mỗi ngày để nhận chỉ thị công việc, và một căn phòng trên tầng hai được cắt cử làm văn phòng riêng cho anh. Căn phòng này nằm ngay phía trên phòng làm việc của ông Imbert.
Arsène nhanh chóng nhận ra cái vị trí thư ký ấy thực chất chẳng khác nào một thứ việc nhẹ lương cao. Trong suốt hai tháng đầu tiên, anh chỉ phải chép lại đúng bốn bức thư quan trọng, và chỉ được gọi xuống phòng làm việc của ông Imbert có một lần; vì thế, anh chỉ có đúng một cơ hội duy nhất để quang minh chính đại chiêm ngưỡng chiếc két sắt nhà Imbert. Hơn thế nữa, anh cũng nhận ra gã thư ký chẳng bao giờ được mời tham gia các buổi tiệc tùng xã giao của chủ nhà. Nhưng anh chẳng buồn phàn nàn, bởi anh thích được khiêm tốn ẩn mình trong bóng tối để giữ lấy sự bình yên và tự do hơn.
Dẫu vậy, anh chẳng hề hoài phí một chút thời gian nào. Ngay từ đầu, anh đã thực hiện những chuyến viếng thăm lén lút đến phòng làm việc của ông Imbert, và đến ngả đầu chào chiếc két sắt đang khóa kín mít. Đó là một khối sắt thép khổng lồ, mang vẻ ngoài lạnh lùng và nghiêm nghị, thứ không thể bị cạy phá bằng những dụng cụ thông thường của phường trộm cắp. Nhưng Arsène Lupin nào có nản lòng.
– Nơi nào vũ lực chịu thua, nơi đó mưu mẹo sẽ chiến thắng, — anh tự nhủ. — Điều cốt yếu là phải có mặt đúng lúc khi cơ hội gõ cửa. Trong lúc chờ đợi, ta phải kiên nhẫn quan sát và canh chừng.
Anh lập tức tiến hành một vài công tác chuẩn bị sơ bộ. Sau khi dò dẫm kỹ càng trên sàn phòng mình, anh luồn một đoạn ống chì xuyên qua trần phòng làm việc của ông Imbert tại một vị trí nằm giữa hai đường gờ của lớp phào chỉ. Nhờ ống dẫn này, anh hy vọng có thể nhìn và nghe được những gì diễn ra ở căn phòng bên dưới.
Từ đó trở đi, anh dành trọn vẹn các ngày của mình nằm dài rạp xuống sàn nhà. Anh thường xuyên bắt gặp cảnh vợ chồng nhà Imbert hội họp trước chiếc két sắt, săm soi sổ sách và giấy tờ. Khi họ xoay ổ khóa mật mã, anh cố gắng ghi nhớ những con số cùng số vòng họ quay sang phải và sang trái. Anh quan sát từng cử chỉ của họ; anh chắt lọc từng câu chữ họ thốt lên. Để mở được hoàn toàn chiếc két, người ta còn cần đến một chiếc chìa khóa nữa. Họ đã làm gì với nó nhỉ? Họ cất giấu nó ở đâu?
Có một hôm, anh nhìn thấy họ rời khỏi phòng mà quên khóa két sắt. Anh vội vã lao xuống cầu thang và táo tợn bước thẳng vào phòng. Nhưng họ đã quay trở lại.
– Ồ! Xin lỗi ngài, — anh nói, — tôi nhầm cửa.
– Cứ vào đi ngài Lupin, vào đi chứ, — bà Imbert kêu lên, — chẳng lẽ ngài coi đây không phải là nhà mình sao? Bọn tôi đang muốn xin ý kiến ngài đây. Chúng ta nên bán loại trái phiếu nào nhỉ? Chứng khoán nước ngoài hay niên kim nhà nước?
– Nhưng còn lệnh phong tỏa thì sao? — Lupin ngạc nhiên hỏi.
– Ồ! Nó có bao hàm toàn bộ số trái phiếu đâu.
Bà mở cánh cửa két sắt và rút ra một tập trái phiếu. Nhưng chồng bà liền lên tiếng phản đối.
– Không, không, Gervaise, bán trái phiếu nước ngoài lúc này thì dại dột quá. Giá của chúng đang lên cơ mà, trong khi niên kim đã đạt đỉnh rồi. Ý anh thế nào, người bạn thân mến?
Người bạn thân mến chẳng có ý kiến gì sất; dẫu vậy ông vẫn khuyên nên hy sinh phần niên kim. Thế là bà rút ra một tập khác, và rút ngẫu nhiên từ đó một tờ giấy. Hóa ra đó là một tờ niên kim ba phần trăm có giá trị hai nghìn francs. Ludovic đút tập trái phiếu vào túi áo. Chiều hôm đó, dưới sự tháp tùng của viên thư ký, ông đem số niên kim bán cho một tay môi giới chứng khoán và thu về bốn mươi sáu nghìn francs.
Dù bà Imbert có nói thế nào đi nữa, Arsène Lupin vẫn không tài nào cảm thấy thoải mái trong ngôi nhà ấy. Trái lại, vị thế của anh ở đó vô cùng kỳ cục. Anh phát hiện ra rằng đám gia nhân thậm chí còn chẳng biết tên anh. Họ chỉ gọi anh là “ngài”. Ludovic cũng luôn nhắc đến anh bằng cách đó: “Anh sẽ nói với ngài ấy nhé. Ngài ấy đã tới chưa?” Tại sao lại phải dùng cái danh xưng đầy vẻ bí hiểm ấy cơ chứ?
Hơn nữa, sau cơn cuồng nhiệt ban đầu, vợ chồng nhà Imbert rất hiếm khi trò chuyện với anh, và mặc dù vẫn đối xử với anh bằng sự tôn kính dành cho một vị ân nhân, họ chẳng mấy khi đoái hoài hay chú ý đến anh nữa. Họ có vẻ coi anh như một gã kỳ dị chẳng thích bị quấy rầy, và họ tôn trọng sự cô lập của anh như thể đó là một quy tắc ngặt nghèo do chính anh đặt ra. Có lần, khi đi ngang qua tiền sảnh, anh nghe thấy bà Imbert nói với hai vị khách nam rằng:
– Lão ta đúng là một kẻ dã man!
– Thôi được, — anh thầm nghĩ, — ta cứ làm kẻ dã man vậy.
Và chẳng màng đi tìm lời giải đáp cho cung cách kỳ quặc của họ, anh tiếp tục tiến hành các kế hoạch của riêng mình. Anh tự nhủ không thể cứ trông chờ vào sự may rủi, hay vào sự bất cẩn của bà Imbert — người luôn mang theo chìa khóa két và sau khi khóa lại thì thể nào cũng đảo tung các chữ cái tạo nên mật mã của ổ khóa. Do đó, anh buộc phải tự thân vận động.
Cuối cùng, một sự kiện đã đẩy nhanh tiến độ mọi việc; đó là chiến dịch đả kích dữ dội nhắm vào nhà Imbert được phát động bởi một số tờ báo chuyên tố cáo họ là lũ bịp bợmp. Arsène Lupin có mặt trong một vài buổi họp gia đình khi biến cố mới này được đem ra mổ xẻ. Anh quyết định rằng nếu cứ chần chừ thêm nữa, anh sẽ mất tất cả. Trong suốt năm ngày tiếp theo, thay vì rời khỏi nhà vào khoảng sáu giờ chiều như thói quen thường lệ, anh tự nhốt mình trong phòng. Ai nấy đều đinh ninh rằng anh đã ra ngoài. Nhưng thực chất anh đang nằm bò trên sàn nhà để quan sát phòng làm việc của ông Imbert. Trong suốt năm buổi tối ấy, cơ hội thuận lợi mà anh hằng mong đợi đã không xuất hiện. Anh chỉ rời khỏi nhà vào khoảng nửa đêm bằng một chiếc chìa khóa phụ mở qua cửa hông.
Nhưng đến ngày thứ sáu, anh hay tin vì không chịu nổi những lời bóng gió cay độc của kẻ thù, vợ chồng nhà Imbert dự định sẽ tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản bên trong két sắt.
– Tối nay bọn chúng sẽ làm việc đó, — Lupin thầm nghĩ.
Và quả thực, sau bữa tối, ông Imbert cùng vợ lui vào phòng làm việc và bắt đầu kiểm tra sổ sách kế toán cùng các loại giấy tờ có giá được cất trong két. Cứ thế, từng giờ trôi qua. Anh nghe tiếng đám gia nhân lục đục đi lên lầu về phòng riêng. Giờ đây chẳng còn ai ở lại tầng một nữa. Nửa đêm! Vợ chồng nhà Imbert vẫn đang cặm cụi làm việc.
– Đã đến lúc phải hành động, — Lupin thì thầm.
Anh mở tung cửa sổ. Cửa hướng ra một khoảng sân. Bên ngoài, mọi thứ tối đen và tĩnh mịch. Anh với lấy cuộn dây thừng thắt nút từ bàn làm việc, buộc chặt nó vào lan can phía trước cửa sổ rồi lặng lẽ trượt xuống cửa sổ ở tầng dưới, chính là phòng làm việc của ông Imbert. Anh đứng trên ban công một thoáng, hoàn toàn bất động, tai lắng nghe ngóng và mắt đảo sát sao, nhưng những lớp rèm cửa dày cộp đã che khuất hoàn toàn khung cảnh bên trong. Anh thận trọng đẩy cánh cửa sổ kép. Nếu chưa ai kiểm tra nó, hẳn nó sẽ bật mở chỉ với một lực đẩy nhẹ, bởi vì hồi chiều anh đã cố ý chỉnh lại chốt cửa sao cho nó không sập vào ngàm.
Cánh cửa chịu khuất phục dưới đầu ngón tay anh. Sau đó, với sự cẩn trọng tột độ, anh đẩy hé đủ rộng để luồn đầu vào. Anh rẽ nhẹ tấm rèm ra một khoảng vài phân, nhìn vào trong và thấy vợ chồng ông Imbert đang ngồi trước chiếc két sắt, chìm đắm trong công việc và thỉnh thoảng thì thầm với nhau vài câu ngắn ngủi.
Anh áng chừng khoảng cách giữa mình và họ, tính toán chuẩn xác những động tác cần thực hiện để hạ gục từng người một trước khi họ kịp hô hoán cầu cứu, và anh đangan toan chồm tới thì bà Imbert bỗng cất tiếng:
– Ồ! Phòng lạnh quá đi mất. Tôi đi ngủ đây. Còn mình thì sao, mình ơi?
– Anh sẽ ở lại làm cho xong nốt.
– Làm cho xong! Ơ hay, thế thì anh phải thức cả đêm đấy à.
– Đâu có. Cùng lắm là một tiếng nữa thôi.
Bà bước ra ngoài. Hai mươi phút, rồi ba mươi phút trôi qua. Arsène đẩy cửa sổ mở rộng thêm chút nữa. Tấm rèm lay động. Anh đẩy thêm lần nữa. Ông Imbert quay đầu lại, và khi nhìn thấy tấm rèm bị gió thổi bay phấp phới, ông liền đứng dậy tiến ra để đóng cửa sổ.
Không một tiếng thét, chẳng có lấy một dấu vết của sự giằng co. Chỉ bằng vài động tác vô cùng chuẩn xác mà không gây cho ông ta dù chỉ một tổn thương nhỏ, Arsène đã đánh ngất ông ta, quấn tấm rèm quanh đầu, trói giật tay chân lại, và làm mọi thứ một cách khéo léo đến mức ông Ludovic Imbert hoàn toàn không có cơ hội nhận diện ra kẻ tấn công mình.
Nhanh như cắt, anh lao tới chiếc két sắt, vớ lấy hai tập giấy tờ kẹp vào nách, rời khỏi phòng làm việc và mở toang cánh cửa dành cho người hầu. Một chiếc xe ngựa đang đợi sẵn ở ngoài đường.
– Cầm lấy cái này trước đi — rồi theo tôi, — anh bảo người đánh xe. Anh quay trở lại phòng làm việc, và chỉ trong hai chuyến, họ đã vét sạch chiếc két. Sau đó, Arsène quay về phòng mình, thu hồi đoạn dây thừng cùng mọi dấu vết của công cuộc đột nhập lén lút.
Vài giờ sau, Arsène Lupin cùng cộng sự tiến hành kiểm tra chiến lợi phẩm. Lupin không hề cảm thấy thất vọng, bởi anh đã dự đoán trước rằng khối tài sản của nhà Imbert đã bị phóng đại lên rất nhiều. Nó chẳng hề có giá trị hàng trăm triệu, hay thậm chí chục triệu francs. Dẫu vậy, đó vẫn là một món tiền cực kỳ đáng kể, và Lupin tỏ ra vô cùng mãn nguyện.
– Tất nhiên, — anh nói, — chúng ta sẽ phải chịu một khoản thất thoát không nhỏ khi đem bán số trái phiếu này, vì sẽ phải tẩu tán lén lút chúng với giá rẻ mạt. Trong lúc chờ đợi, cứ để chúng nằm yên trong ngăn kéo của tôi cho đến khi thời cơ chín muồi.
Arsène chẳng thấy có lý do gì để không đến nhà nhà Imbert vào ngày hôm sau. Thế nhưng khi đọc qua các tờ báo buổi sáng, anh phát hiện ra một sự thật động trời: Ludovic và Gervaise Imbert đã biến mất.
Khi các nhà chức trách tiến hành niêm phong và mở chiếc két sắt ra, họ chỉ tìm thấy đúng những gì mà Arsène Lupin đã để lại — hoàn toàn trống rỗng.
Sự việc là thế đấy; và tôi đã được nghe phần đoạn kết của câu chuyện vào một ngày nọ, khi Arsène Lupin đang trong tâm trạng muốn trải lòng. Anh đang bước qua bước lại trong phòng tôi, với những bước chân bồn chồn cùng ánh mắt bừng bừng vẻ sốt sắng chẳng mấy khi thấy ở anh.
– Suy cho cùng, — tôi bảo anh, — đó vẫn là thương vụ thành công nhất đời anh còn gì.
Chẳng thèm đáp thẳng vào câu hỏi, anh lẩm bẩm:
– Vẫn có những bí ẩn không thể tài nào lý giải nổi đằng sau vụ án đó; vài điểm mờ ám nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi. Chẳng hạn như: Nguyên nhân nào khiến họ phải tháo chạy? Tại sao họ lại không tận dụng sự giúp đỡ mà tôi đã vô tình trao cho họ chứ? Thật quá ư đơn giản nếu thốt lên rằng: “Hàng trăm triệu đều nằm trong két sắt. Chúng không còn ở đó nữa, bởi vì chúng đã bị trộm mất.”
– Chắc họ bị hoảng loạn tinh thần thôi.
– Ừ, đúng thế đấy — họ đã hoảng loạn... Mặt khác, cũng đúng là—-
– Đúng cái gì cơ?
– Ồ, không có gì.
Sự úp mở của Lupin có ngụ ý gì đây? Rõ ràng là anh vẫn chưa kể hết mọi chuyện với tôi; còn điều gì đó anh đang ngượng ngùng không muốn thốt ra. Cử chỉ của anh khiến tôi vô cùng tò mò. Hẳn phải là một chuyện vô cùng nghiêm trọng mới có thể khiến một con người như Arsène Lupin phải chần chừ dẫu chỉ là trong chốc lát. Tôi bèn tung ra vài câu hỏi bâng quơ.
– Anh có gặp lại họ từ dạo ấy không?
– Không.
– Thế anh chưa từng cảm thấy mảy may thương hại cho những con người bất hạnh đó sao?
– Tôi á! — anh kêu lên, giật nảy mình.
Sự kích động bất thình lình của anh khiến tôi ngạc nhiên. Chẳng lẽ tôi vừa chạm đúng vào chỗ ngứa của anh sao? Tôi tiếp tục:vân vê:
– Chứ sao nữa. Giá như anh không bỏ mặc họ xoay sở một mình, biết đâu họ đã có đủ bản lĩnh đối mặt với hiểm nguy, hoặc chí ít cũng tẩu thoát với đầy túi tiền.
– Ý cậu là sao? — anh bực bội đáp. — Chắc cậu lại nghĩ trong tâm can tôi phải ngập tràn tội lỗi lắm phỏng?
– Gọi là sự cắn rứt hay tiếc nuối — tùy anh muốn gọi thế nào cũng được—-
– Bọn họ không xứng đáng đâu.
– Anh chẳng có lấy một chút tiếc nuối hay cắn rứt nào vì đã nẫng tay trên khối tài sản của họ hay sao?
– Tài sản nào cơ?
– Mấy tập trái phiếu anh vơ vét từ két sắt của họ chứ gì nữa.
– Ồ! Thế ra tôi đã trộm trái phiếu của họ đấy phỏng? Tôi đã tước đoạt một phần của cải của họ ư? Tội danh của tôi là thế đấy phỏng? Ồ này cậu bạn quý hóa của tôi ơi, cậu chẳng biết tẹo sự thật nào sảt. Cậu chưa bao giờ mảy may ngờ rằng số trái phiếu đó còn chẳng đáng giá bằng mấy tờ giấy lộn dùng để viết lên chúng. Toàn bộ đống trái phiếu đó đều là giả — là đồ hàng mã — từng tờ một — cậu hiểu chưa? TẤT CẢ ĐỀU LÀ HÀNG GIẢ!
Tôi sững sờ nhìn anh.
– Hàng giả ư? Cả bốn, năm triệu ấy á?
– Đúng vậy, đồ giả! — anh gầm lên trong cơn thịnh nộ. — Chỉ là một đống giấy lộn chẳng hơn không kém! Tôi chẳng thể kiếm nổi một xu từ toàn bộ mớ đó! Và thế mà cậu lại dám hỏi tôi có cảm thấy cắn rứt hay không. Lẽ ra bọn chúng mới là kẻ phải cắn rứt và hổ thẹn chứ. Bọn chúng đã biến tôi thành một thằng hề; và tôi đã ngoan ngoãn sập bẫy. Tôi chính là nạn nhân mới nhất, là con gà mờ ngu ngốc nhất của bọn chúng!
Anh thực sự nổi giận — thứ cơn giận xuất phát từ sự cay cú và lòng tự ái bị tổn thương. Anh nói tiếp:
– Từ đầu đến cuối, tôi mới là kẻ chịu thiệt đơn thiệt kép. Cậu có biết vai trò của tôi trong cái vở kịch ấy là gì không, hay đúng hơn là vai trò mà chúng bắt tôi phải diễn ấy? Chính là André Brawford! Vâng, cậu bạn trẻ ạ, sự thật là thế đấy, và tôi hoàn toàn không mảy may hoài nghi. Phải mãi về sau, khi đọc báo, ánh sáng chân lý mới bừng tỉnh trong cái bộ óc đần độn của tôi. Trong lúc tôi đang đóng vai “ân nhân”, vai người đàn ông liều mạng cứu ông Ludovic Imbert khỏi nanh vuốt kẻ sát nhân, thì chúng lại đang lén lút biến tôi thành Brawford. Quá tuyệt vời phải không nào? Cái gã kỳ dị sở hữu căn phòng ở tầng hai, cái tên dã man chỉ được đem ra trưng bày từ đằng xa ấy, chính là Brawford, và Brawford đích thị là tôi! Nhờ có tôi, nhờ vào thứ niềm tin mà tôi đã khơi gợi dưới cái tên Brawford, chúng mới có thể vay mượn tiền từ các ngân hàng cùng đám cho vay nặng lãi. Chà! Quả là một bài học nhớ đời cho một kẻ mới vào nghề! Và tôi thề với cậu là tôi sẽ tận dụng triệt để bài học này!
Anh khựng lại, tóm chặt lấy tay tôi và nói với giọng điệu đầy căm phẫn:
– Cậu bạn thân mến ạ, ngay lúc này đây, Gervaise Imbert vẫn còn nợ tôi đúng một nghìn rưỡi francs.
Tôi không tài nào nhịn được cười, cơn thịnh nộ của anh trông mới nực cười làm sao. Anh đang vạch lá tìm sâu từ một chuyện bé bằng con kiến. Chỉ một lát sau, chính anh cũng phải phì cười và nói:
– Ừ đấy cậu bạn ạ, một nghìn rưỡi francs. Cậu phải biết là tôi chưa từng nhận được lấy một xu tiền lương hứa hẹn nào, và tệ hơn thế nữa, mụ ta còn vay luôn của tôi số tiền một nghìn rưỡi francs ấy chứ. Toàn bộ tiền dành dụm thời tuổi trẻ của tôi đấy! Và cậu có biết lý do là gì không? Để đem số tiền ấy đi làm từ thiện! Tôi thề là tôi nói thật đấy. Mụ ta cần tiền để giúp đỡ mấy mảnh đời nghèo khó — mà gạt chồng sang một bên không cho biết. Và thế là số tiền mồ hôi nước mắt của tôi đã bị moi sạch bởi cái màn kịch lố bịch ấy! Chẳng phải buồn cười lắm sao, hử? Arsène Lupin bị lột sạch một nghìn rưỡi francs bởi chính mụ đàn ông tốt bụng mà anh ta từng vơ vét bốn triệu tiền trái phiếu giả! Và biết bao nhiêu thời gian, sự kiên nhẫn cùng mưu mẹo đã được tôi đổ vào để thu về cái kết quả ấy đấy! Đó là lần đầu tiên trong đời tôi bị dắt mũi như một thằng ngốc, và tôi xin thẳng thắn thú nhận rằng lần đó tôi đã bị lừa cho đến bét nhè luôn rồi!