Không một du khách nào xứng đáng với cái tên ấy lại không biết đến những bờ sông Seine, và không từng nhận thấy, khi đi ngang qua, lâu đài phong kiến nhỏ bé Malaquis, được xây trên một mỏm đá giữa lòng sông. Một cây cầu vòm nối liền nó với bờ. Xung quanh đó, làn nước phẳng lặng của dòng sông lớn đùa giỡn yên bình giữa những đám sậy, và những con chim chìa vôi chập chờn bay trên những mỏm đá ẩm ướt.
Lịch sử của lâu đài Malaquis cũng giông bão như tên gọi của nó, khắc nghiệt như những đường nét kiến trúc của nó. Nơi đây đã trải qua một chuỗi dài các cuộc chiến đấu, vây hãm, tấn công, cướp bóc và thảm sát. Bản kể lại những tội ác từng được thực hiện ở đó hẳn sẽ khiến những trái tim kiên cường nhất phải run rẩy. Có rất nhiều truyền thuyết kỳ bí gắn liền với lâu đài, và người ta kể cho chúng ta nghe về một đường hầm ngầm nổi tiếng trước kia từng dẫn đến tu viện Jumieges và trang viên của Agnes Sorel, ái phi của vua Charles VII.
Tại chốn cư ngụ cổ xưa của những anh hùng và kẻ cướp ấy, Nam tước Nathan Cahorn giờ đây đang sinh sống; hay Nam tước Satan như ông ta từng được gọi trên sàn giao dịch chứng khoán, nơi ông ta đã tạo dựng được một gia tài với tốc độ đáng kinh ngạc. Các lãnh chúa của Malaquis, vì phá sản hoàn toàn, đã buộc phải bán lâu đài cổ kính với một mức giá rẻ mạt. Nơi đây chứa đựng một bộ sưu tập tuyệt vời gồm đồ đạc, tranh vẽ, đồ chạm gỗ và đồ gốm sứ tráng men. Nam tước sống ở đó một mình, được phục vụ bởi ba người hầu già. Không một ai từng đặt chân vào nơi này. Chưa từng có ai chiêm ngưỡng ba bức tranh của Rubens mà ông ta sở hữu, hai bức Watteau của ông, bục giảng Jean Goujon, và rất nhiều báu vật khác mà ông đã thu thập được bằng cách bỏ ra một số tiền khổng lồ trong các phiên đấu giá công khai.
Nam tước Satan sống trong sự sợ hãi tột cùng, không phải cho bản thân mình, mà cho những báu vật mà ông đã tích cóp bằng tất cả sự tận tụy thiết tha và sự nhạy bén đến mức ngay cả thương gia xảo quyệt nhất cũng không thể nói rằng Nam tước đã từng sai lầm trong gu thẩm mỹ hay phán đoán của mình. Ông yêu chúng—những món đồ nhỏ trang trí của mình. Ông yêu chúng một cách mãn liệt, như một kẻ hà tiện; một cách ghen tuông, như một người tình. Mỗi ngày, cứ khi mặt trời lặn, những cánh cổng sắt ở hai đầu cầu và lối vào sân danh dự đều được đóng lại và cài then. Chỉ cần một chạm nhẹ vào những cánh cổng này, chuông điện sẽ reo khắp lâu đài.
Vào một ngày Thứ Năm tháng Chín, một người đưa thư xuất hiện tại cổng ở đầu cầu, và như thường lệ, chính Nam tước là kẻ hé mở cánh cổng nặng nề. Ông dò xét người đàn ông kỹ lưỡng như thể hắn là một kẻ xa lạ, mặc dù khuôn mặt phác hậu và đôi mắt lấp lánh của người đưa thư đã quen thuộc với Nam tước từ nhiều năm nay. Người đàn ông bật cười, vừa nói:
“Chỉ là tôi thôi, ngài Nam tước. Không phải một kẻ nào khác đội chiếc mũ và mặc chiếc áo blouse của tôi đâu.”
“Không thể biết trước được điều gì,” Nam tước lầm bầm.
Người đàn ông đưa cho ông một tập báo, rồi nói:
“Và bây giờ, thưa ngài Nam tước, đây là một tin mới.”
“Tin mới ư?”
“Vâng, một bức thư. Thư bảo đảm.”
Sống như một kẻ ẩn dật, không bạn bè hay quan hệ làm ăn, nam tước chưa bao giờ nhận được bất kỳ bức thư nào, và lá thư vừa được đưa ra trước mắt lập tức khơi dậy trong lòng ông một cảm giác nghi ngờ và bất an. Nó giống như một điềm gở. Kẻ đưa tin bí ẩn nào lại dám làm phiền sự yên tĩnh nơi chốn ẩn dật của ông?
“Ngài phải ký nhận, thưa ngài Nam tước.”
Ông ký tên; rồi cầm lấy bức thư, đợi cho đến khi người đưa thư khuất dạng sau khúc cua trên đường, và sau khi đi đi lại lại đầy căng thẳng trong vài phút, ông tựa người vào thành cầu và bóc phong bì. Bên trong là một tờ giấy có dòng đầu đề: Trại giam La Santé, Paris. Ông nhìn chữ ký: Arsène Lupin. Rồi ông đọc:
“Thưa ngài Nam tước:
“Có, trong phòng tranh tại lâu đài của ông, một bức tranh của Philippe deChampaigne, với nét vẽ tinh xảo tuyệt mỹ, làm tôi vô cùng hài lòng. Những bức Rubens của ông cũng vừa hợp gu tôi, cùng với những bức Watteau nhỏ nhất. Trong phòng khách bên phải, tôi đã chú ý đến chiếc bàn nhịp điệu thời Louis XIII, những tấm thảm thêu Beauvais, chiếc bàn nhỏ ba chân thời Đế chế ký tên ‘Jacob’, và chiếc rương thời Phục hưng. Trong phòng khách bên trái, toàn bộ chiếc tủ đầy đồ trang sức và tranh tiểu họa.
“Hiện tại, tôi sẽ tự hài lòng với những món đồ có thể dễ dàng tháo dỡ mang đi. Do đó, tôi đề nghị ông hãy đóng gói chúng cẩn thận và gửi cho tôi, đã trả trước cước phí, đến ga Batignolles, trong vòng tám ngày; nếu không, tôi sẽ buộc phải tự mình mang chúng đi trong đêm ngày 27 tháng Chín; nhưng trong trường hợp đó, tôi sẽ không bằng lòng với những món đồ đã kể trên.
“Xin nhận lời cáo lỗi của tôi vì bất kỳ sự bất tiện nào tôi gây ra cho ông, và xin hãy tin tôi là người đầy tớ hèn mọn của ông,
“Arsène Lupin.”
“P. S.—Xin đừng gửi bức Watteau lớn nhất. Mặc dù ông đã trả ba mươi nghìn franc cho nó, đó chỉ là một bản sao, bản gốc đã bị thiêu hủy dưới thời Thấp chấp chính bởi Barras, trong một đêm trác táng. Hãy tham khảo hồi ký của Garat.
“Tôi không quan tâm đến chiếc móc khóa thắt lưng thời Louis XV, vì tôi nghi ngờ tính xác thực của nó.”
Bức thư đó hoàn toàn làm xáo trộn tâm trí nam tước. Nếu nó mang bất kỳ chữ ký nào khác, ông đã vô cùng hoảng hốt—nhưng lại được ký bởi Arsène Lupin!
Là một độc giả thường xuyên của báo chí, ông rất thông thuộc lịch sử các vụ án gần đây, và do đó hiểu rõ những chiến tích của tên trộm bí ẩn. Dĩ nhiên, ông biết rằng Lupin đã bị bắt ở Mỹ bởi kẻ thù của hắn là Ganimard và hiện đang bị giam giữ trong Trại giam La Santé. Nhưng ông cũng biết rằng bất kỳ điều kỳ diệu nào cũng có thể xảy ra với Arsène Lupin. Hơn nữa, sự hiểu biết chính xác về lâu đài, vị trí của các bức tranh và đồ đạc, đã phủ lên vụ việc một vẻ đáng sợ. Làm thế nào mà hắn có được những thông tin về những thứ chưa từng có ai nhìn thấy?
Nam tước ngước mắt lên ngắm nhìn những đường nét nghiêm nghị của lâu đài, bệ đá dốc đứng của nó, độ sâu của vùng nước bao quanh, rồi nhún vai. Chắc chắn, không có nguy hiểm nào cả. Không một ai trên thế giới có thể cưỡng ép đột nhập vào chốn linh thiêng chứa đựng những báu vật vô giá của ông.
Không một ai, có lẽ, ngoại trừ Arsène Lupin! Đối với hắn, cổng ngõ, tường thành và cầu kéo đều không tồn tại. Những chướng ngại vật đáng sợ nhất hay những biện pháp phòng ngừa cẩn trọng nhất có ích gì, nếu Arsène Lupin đã quyết định thực hiện một cuộc đột nhập?
Tối hôm đó, ông viết thư cho Biện lý nước Cộng hòa tại Rouen. Ông gửi kèm bức thư đe dọa và cầu xin sự giúp đỡ cùng bảo vệ.
Câu trả lời đến ngay lập tức với nội dung rằng Arsène Lupin đang bị giam giữ trong Trại giam La Santé, dưới sự giám sát chặt chẽ, không có cơ hội viết một bức thư như vậy, và chắc chắn đó là tác phẩm của một kẻ mạo danh. Nhưng như một biện pháp đề phòng, vị biện lý đã chuyển bức thư cho một chuyên gia chữ viết tay, người đã tuyên bố rằng, bất chấp một số điểm tương đồng, chữ viết đó không phải của kẻ bị giam giữ.
Nhưng những từ “bất chấp một số điểm tương đồng” đã lọt vào sự chú ý của nam tước; trong đó, ông đọc thấy khả năng về một sự hoài nghi mà đối với ông là hoàn toàn đủ để biện minh cho sự can thiệp của pháp luật. Nỗi sợ hãi của ông tăng lên. Ông đọc đi đọc lại bức thư của Lupin. “Tôi sẽ buộc phải tự mình mang chúng đi.” Và sau đó là ngày tháng được ấn định: đêm ngày 27 tháng Chín.
Việc thổ lộ với gia nhân là một việc đi ngược lại bản chất của ông; nhưng giờ đây, lần đầu tiên sau nhiều năm, ông cảm thấy sự cần thiết phải tìm kiếm lời khuyên từ ai đó. Bị bỏ rơi bởi quan chức tư pháp tại địa phương của mình, và cảm thấy không đủ sức tự vệ bằng nguồn lực của bản thân, ông đã suýt nữa lên đường đến Paris để thuê dịch vụ của một thám tử.
Hai ngày trôi qua; sang ngày thứ ba, ông tràn ngập hy vọng và niềm vui khi đọc được mẩu tin sau trên tờ ‘Réveil de Caudebec’, một tờ báo được xuất bản ở thị trấn lân cận:
“Chúng tôi rất hân hạnh được tiếp đón tại thành phố của mình vào thời điểm hiện tại, vị thám tử lão luyện Mon. Ganimard, người đã giành được danh tiếng toàn cầu nhờ chiến công tóm gọn Arsène Lupin một cách tài tình. Ông đến đây để nghỉ ngơi và giải trí, và là một người đam mê câu cá nhiệt thành, ông đang đe dọa sẽ bắt sạch cá dưới sông của chúng ta.”
Ganimard! A, đây rồi sự trợ giúp mà Nam tước Cahorn khao khát! Ai có thể làm chệch hướng các âm mưu của Arsène Lupin tốt hơn Ganimard, viên thám tử kiên nhẫn và mưu trí? Ông ta chính là người hoàn hảo cho hoàn cảnh này.
Nam tước không ngần ngại. Thị trấn Caudebec chỉ cách lâu đài sáu cây số, một khoảng cách ngắn đối với một người có bước chân được thúc đẩy bởi hy vọng sống còn.
Sau vài lần cố gắng vô ích nhằm tìm ra địa chỉ của viên thám tử, nam tước ghé thăm tòa soạn tờ ‘Réveil,’ nằm trên bến sông. Ở đó, ông gặp tác giả bài báo, người vừa tiến đến cửa sổ vừa thốt lên:
“Ganimard ư? Chà, anh chắc chắn sẽ gặp ông ấy đâu đó trên bến sông với chiếc cần câu cá của ông ấy. Tôi đã gặp ông ấy ở đó và tình cờ đọc được tên ông được khắc trên cần câu. À, ông ấy kìa, dưới những tán cây.”
“Người đàn ông nhỏ con đội chiếc mũ rơm đó ư?”
“Chính xác. Ông ta là một kẻ cộc cằn, ít nói.”
Năm phút sau, nam tước tiến đến chỗ viên thám tử lừng danh Ganimard, tự giới thiệu và tìm cách bắt chuyện, nhưng điều đó bất thành. Sau đó, ông đề cập đến mục đích thực sự của cuộc gặp, và tóm tắt vắn tắt trường hợp của mình. Người kia lắng nghe, bất động, với sự chú ý dán chặt vào chiếc cần câu. Khi nam tước kể xong câu chuyện, người đánh cá quay lại, với vẻ mặt thương hại sâu sắc, và nói:
“Thưa ngài, bọn trộm không có thói quen báo trước cho người ta biết họ sắp cất nhắc món đồ gì. Nhất là Arsène Lupin, hắn sẽ không bao giờ phạm phải một sự ngu ngốc như vậy.”
“Nhưng—-”
“Thưa ngài, nếu tôi có dù chỉ một chút nghi ngờ, xin ngài hãy tin rằng, niềm vui được bắt lại Arsène Lupin một lần nữa sẽ đặt tôi vào quyền định đoạt của ngài. Nhưng thật không may, thanh niên đó đã bị khóa tay sau song sắt rồi.”
“Hắn có thể đã trốn thoát.”
“Chưa từng có ai trốn thoát khỏi La Santé cả.”
“Nhưng, hắn—-”
“Hắn cũng chẳng hơn bất kỳ kẻ nào khác.”
“Tuy nhiên—-”
“Thôi được, nếu hắn trốn thoát, thì càng tốt quá chứ sao. Tôi sẽ bắt lại hắn. Trong lúc này, ngài hãy về nhà và ngủ cho ngon giấc. Thế là đủ cho hiện tại rồi đấy. Ngài đang làm lũ cá sợ chạy mất kìa.”
Cuộc trò chuyện đã chấm dứt. Nam tước trở về lâu đài, phần nào được trấn an bởi sự thờ ơ của Ganimard. Ông kiểm tra các chốt cửa, canh chừng lũ gia nhân, và trong suốt bốn mươi tám giờ tiếp theo, ông gần như bị thuyết phục rằng những nỗi sợ hãi của mình là vô căn cứ. Chắc chắn rồi, như Ganimard đã nói, kẻ gian không đời nào đi báo trước cho người ta biết chúng sắp sửa đi ăn trộm.
Ngày định mệnh đã cận kề. Lúc này là ngày hai mươi sáu tháng Chín và chưa có chuyện gì xảy ra cả. Nhưng đúng ba giờ, tiếng chuông reo vang. Một cậu bé mang đến bức điện tín này:
“Không có hàng ở ga Batignolles. Chuẩn bị mọi thứ cho tối mai. Arsène.”
Bức điện tín này đẩy nam tước vào một trạng thái kích động đến mức ông thậm chí đã cân nhắc đến tính khả thi của việc nhượng bộ trước các yêu cầu của Lupin.
Tuy nhiên, ông vội vã đi Caudebec. Ganimard vẫn đang câu cá ở chỗ cũ, ngồi trên một chiếc ghế xếp. Không nói một lời, ông đưa bức điện tín cho thám tử.
“Chà, thì sao nào?” viên thám tử cất lời.
“Thì sao ư? Nhưng ngày mai là đến hạn rồi.”
“Cái gì đến hạn?”
“Vụ cướp! Cuộc cướp phá các bộ sưu tập của tôi!”
Ganimard đặt cần câu xuống, quay sang nam tước, và thốt lên với giọng đầy số ruột:
“Ái chà! Ngài nghĩ là tôi sẽ bận tâm đến một câu chuyện ngớ ngẩn như thế sao!”
“Anh đòi bao nhiêu để trải qua đêm mai tại lâu đài?”
“Một xu cũng không. Giờ thì, để tôi yên.”
“Cứ ra giá đi. Tôi giàu và tôi có thể trả được.”
Đề nghị này làm Ganimard bối rối, ông điềm tĩnh đáp:
“Tôi đang đi nghỉ mát. Tôi không có quyền nhận làm công việc đó.”
“Sẽ không ai biết đâu. Tôi hứa sẽ giữ bí mật.”
“Ồ! Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra đâu.”
“Nào! Ba nghìn franc. Thế đã đủ chưa?”
Viên thám tử, sau một phút suy nghĩ, nói:
“Được rồi. Nhưng tôi phải cảnh báo ngài rằng ngài đang ném tiền qua cửa sổ đấy.”
“Tôi không quan tâm.”
“Trong trường hợp đó... nhưng suy cho cùng, chúng ta biết gì về con quỷ Lupin này cơ chứ! Hắn có thể mang theo một băng nhóm trộm cướp khá đông đảo. Ngài có chắc chắn về lũ gia nhân của mình không?”
“Thề có Chúa—-”
“Tốt hơn là đừng dựa vào chúng. Tôi sẽ đánh điện gọi hai gã đệ tử của tôi đến giúp. Và giờ thì, đi đi! Tốt hơn là chúng ta không nên bị nhìn thấy ở cùng nhau. Tối mai khoảng chín giờ nhé.”
Hôm sau—ngày do chính Arsène Lupin ấn định—Nam tước Cahorn sắp xếp toàn bộ trang bị chiến đấu của mình, đánh bóng vũ khí, và như một người lính gác, đi đi lại lại điên cuồng trước lâu đài. Ông không thấy gì, không nghe thấy gì. Vào lúc tám giờ rưỡi tối, ông cho gia nhân nghỉ. Họ ở trong những căn phòng thuộc một cánh nhà của tòa nhà, ở một góc khuất xa, cách biệt hẳn với phần chính của lâu đài. Ngay sau đó, nam tước nghe thấy tiếng bước chân đang đến gần. Đó là Ganimard và hai trợ lý của ông ta—những gã cao lớn, lực lưỡng với bàn tay khổng lồ, và chiếc cổ to bè như cổ bò. Sau khi đặt một vài câu hỏi liên quan đến vị trí của các lối ra vào và các phòng khác nhau, Ganimard cẩn thận đóng và rào kín tất cả các cửa ra vào cũng như cửa sổ có thể dẫn đến những căn phòng đang bị đe dọa. Ông kiểm tra tường, giật tung những tấm thảm thêu, và cuối cùng bố trí hai trợ lý của mình vào phòng trưng bày trung tâm nằm giữa hai phòng khách.
“Đừng có làm trò vớ vẩn đấy! Chúng ta không đến đây để ngủ đâu. Chỉ cần có tiếng động nhỏ nhất, hãy mở cửa sổ hướng ra sân và gọi ta. Cũng phải chú ý kỹ phía mép nước nữa. Mười mét vách đá dựng đứng chẳng phải là chướng ngại vật gì đối với bọn quỷ sứ đó đâu.”
Ganimard khóa nhốt hai trợ lý của mình trong phòng trưng bày, mang theo chìa khóa và nói với nam tước:
“Và bây giờ, đến vị trí của chúng ta nào.”
Ông đã chọn cho mình một căn phòng nhỏ nằm trong bức tường ngoài dày cộp, giữa hai cánh cửa chính, và trong những năm trước đây, đó từng là trạm gác của lính canh. Một ô cửa tò mò nhìn ra cây cầu; một ô khác nhìn ra sân. Ở một góc, có một lối mở dẫn xuống đường hầm.
“Tôi tin là ngài từng nói với tôi, thưa ngài Nam tước, rằng đường hầm này là lối vào ngầm duy nhất dẫn vào lâu đài và nó đã bị bịt kín từ đời xửa đời xưa rồi phải không?”
“Đúng vậy.”
“Vậy thì, trừ khi có một lối vào nào khác, chỉ mỗi Arsène Lupin mới biết, chúng ta hoàn toàn an toàn.”
Ông xếp ba chiếc ghế lại với nhau, nằm dài lên đó, châm chiếc tẩu thuốc và thở dài:
“Thật tình, thưa ngài Nam tước, tôi thấy xấu hổ khi nhận tiền của ngài cho một công việc nhàn hạ thế này. Tôi sẽ kể câu chuyện này cho người bạn Lupin nghe. Hắn sẽ rất thích thú cho mà xem.”
Nam tước không cười. Ông đang lắng nghe đầy lo lắng, nhưng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng nhịp đập của chính trái tim mình. Thỉnh thoảng, ông lại cúi người xuống miệng đường hầm và liếc một cái đầy sợ hãi vào sâu bên trong. Ông nghe thấy tiếng chuông đồng hồ điểm mười một giờ, mười hai giờ, một giờ.
Đột nhiên, ông chộp lấy cánh tay Ganimard. Người kia chồm dậy, bừng tỉnh giấc ngủ.
“Ngài có nghe thấy gì không?” nam tước thì thầm hỏi.
“Có.”
“Cái gì thế?”
“Chắc là tôi đang ngáy thôi.”
“Không, không, hãy nghe cho kỹ vào.”
“À! Phải, đó là tiếng còi ô tô.”
“Thế nào?”
“Thế nào ư! Rất khó có chuyện Lupin lại dùng một chiếc ô tô làm cọc công thành để phá hủy lâu đài của ngài đâu. Nào, thưa ngài Nam tước, hãy quay lại vị trí của ngài đi. Tôi chuẩn bị ngủ tiếp đây. Chúc ngủ ngon.”
Đó là báo động duy nhất. Ganimard tiếp tục giấc ngủ bị gián đoạn của mình, và nam tước chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng ngáy đều đặn của người đồng hành. Lúc rạng đông, họ rời khỏi căn phòng. Lâu đài chìm trong một sự tĩnh lặng sâu thẳm; đó là một buổi bình minh thanh bình trên ngực một dòng sông yên ả. Họ bước lên lầu, Cahorn rạng rỡ niềm vui, Ganimard điềm tĩnh như thường lệ. Họ không nghe thấy âm thanh nào; họ không thấy bất kỳ dấu hiệu nào đáng nghi ngờ.
“Tôi đã nói gì với ngài nào, thưa ngài Nam tước? Thật tình, lẽ ra tôi không nên nhận đề nghị của ngài. Tôi thấy xấu hổ quá.”
Ông mở khóa cửa và bước vào phòng trưng bày. Trên hai chiếc ghế, với những cái đầu rũ xuống và hai tay buông thõng, hai trợ lý của viên thám tử đang ngủ say sưa.
“Tonnerre de nom d’un chien!” Ganimard thốt lên. Cùng lúc đó, nam tước kêu lên:
“Những bức tranh! Chiếc bàn bày đồ!”
Ông lắp bắp, nghẹn ngào, với đôi tay giáng rộng về phía những khoảng trống không, về phía những bức tường trơ trụi chẳng còn lại gì ngoài những chiếc đinh và sợi dây vô dụng. Bức Watteau đã biến mất! Bức Rubens đã bị cuốn đi! Những tấm thảm đã bị tháo xuống! Những chiếc tủ đã bị tước đoạt sạch đồ trang sức!
“Cả chân đèn thời Louis XVI của tôi nữa! Cả chiếc đèn chùm thời Nhiếp chính!... Và bức tượng Đức Mẹ thế kỷ mười hai của tôi!”
Ông chạy từ chỗ này sang chỗ khác trong sự tuyệt vọng cuồng loạn. Ông nhớ lại giá mua của từng món đồ, cộng dồn các con số, đếm những tổn thất của mình, lộn xộn, bằng những từ ngữ hỗn độn và những câu nói dang dở. Ông dậm chân vì thị nộ; ông rên rỉ vì đau đớn. Ông hành động như một kẻ phá sản mà hy vọng duy nhất là tự sát.
Nếu có điều gì có thể an ủi ông, thì đó chính là vẻ sững sờ hiện rõ trên khuôn mặt Ganimard. Viên thám tử nổi tiếng không hề nhúc nhích. Ông ta có vẻ hóa đá; ông ta quan sát căn phòng với một vẻ phờ phạc. Cửa sổ ư?.... đóng kín. Ổ khóa trên cửa ư?.... nguyên vẹn. Không một vết nứt trên trần nhà; không một cái lỗ dưới sàn. Mọi thứ đều ở trong trật tự hoàn hảo. Vụ trộm đã được thực hiện một cách có phương pháp, theo một kế hoạch logic và không thể lay chuyển.
“Arsène Lupin....Arsène Lupin,” ông lầm bầm.
Đột nhiên, như thể bị thúc giục bởi cơn giận dữ, ông lao vào hai trợ lý của mình và lắc mạnh họ. Họ không thức dậy.
“Quỷ tha ma bắt!” ông hét lên. “Có thể như thế được sao?”
Ông cúi người xuống và lần lượt kiểm tra họ kỹ lưỡng. Họ đang ngủ; nhưng phản ứng của họ không hề tự nhiên chút nào.
“Họ đã bị chuốc thuốc mê,” ông nói với nam tước.
“Bởi ai?”
“Bởi hắn, dĩ nhiên rồi, hoặc những kẻ dưới quyền hắn theo sự chỉ đạo của hắn. Tác phẩm đó mang đậm dấu ấn của hắn.”
“Trong trường hợp đó, tôi tiêu đời rồi—chẳng còn làm gì được nữa.”
“Hết cách,” Ganimard đồng tình.
“Thật kinh khủng; thật là quái đản.”
“Hãy nộp đơn kiện đi.”
“Làm thế thì có ích gì chứ?”
“Ồ; thử thì vẫn hơn chứ. Pháp luật vẫn có một số biện pháp mà.”
“Pháp luật! Xì! Vô tích sự thôi. Các người đại diện cho pháp luật, và vào lúc này, khi các người nên đi tìm manh mối và cố gắng khám phá điều gì đó, các người thậm chí còn chẳng mảy may nhúc nhích.”
“Khám phá điều gì đó với Arsène Lupin á! Ôi, ngài thân mến ơi, Arsène Lupin chưa bao giờ để lại bất kỳ manh mối nào đằng sau hắn cả. Hắn không bao giờ phó mặc điều gì cho may rủi. Đôi khi tôi nghĩ chính hắn đã tự rẽ đường bước vào tầm ngắm của tôi và đơn giản là cho phép tôi bắt hắn ở Mỹ.”
“Vậy thì, tôi đành phải từ bỏ những bức tranh của mình sao! Hắn đã lấy đi những viên ngọc quý trong bộ sưu tập của tôi rồi. Tôi sẵn sàng đổi cả gia tài để chuộc lại chúng. Nếu không còn cách nào khác, cứ để hắn tự ra giá đi.”
Ganimard chăm chú nhìn nam tước, rồi nói:
“Thế mới là phải lẽ chứ. Ngài sẽ giữ vững quyết định này chứ?”
“Có, có chứ. Nhưng tại sao lại hỏi vậy?”
“Tôi có một ý thế này.”
“Là gì thế?”
“Chúng ta sẽ bàn sau—nếu cuộc điều tra chính thức không mang lại kết quả. Nhưng, đừng hé răng nửa lời về tôi, nếu ngài còn muốn có sự trợ giúp của tôi.”
Ông nói thêm, qua kẽ răng:
“Đúng là tôi chẳng có gì vẻ vang để mà khoe khoang trong vụ này cả.”
Hai người trợ lý đang dần lấy lại ý thức với vẻ mặt ngơ ngác của những kẻ vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ thôi miên. Họ mở mắt và nhìn xung quanh trong sự kinh ngạc. Ganimard thẩm vấn họ; họ chẳng nhớ gì sất.
“Nhưng các anh hẳn phải nhìn thấy ai đó chứ?”
“Không.”
“Các anh không nhớ nổi một chút gì sao?”
“Không, không nhớ gì cả.”
“Các anh có uống gì không?”
Họ suy nghĩ một lát, rồi một người trong số họ đáp:
“Có, tôi uống một chút nước.”
“Lấy từ cái bình thủy đó à?”
“Vâng.”
“Tôi cũng vậy,” người kia khẳng định.
Ganimard ngửi và nếm thử nó. Nó không có vị gì đặc biệt và cũng chẳng có mùi gì.
“Thôi nào,” ông nói, “chúng ta đang lãng phí thời gian ở đây đấy. Người ta không thể giải quyết một bài toán mang tên Arsène Lupin chỉ trong năm phút được đâu. Nhưng, lạy Chúa! Ta thề là ta sẽ tóm lại được hắn cho mà xem.”
Cùng ngày hôm đó, một cáo buộc về tội đột nhập trộm cắp đã được Nam tước Cahorn chính thức đệ trình chống lại Arsène Lupin, kẻ đang là tù nhân trong Trại giam La Santé.
Nam tước sau đó đã hối hận vì đã đệ đơn kiện chống lại Lupin khi ông chứng kiến lâu đài của mình bị giao phó cho đám hiến binh, viên biện lý, thẩm phán điều tra, các phóng viên báo chí và nhiếp ảnh gia, cùng một đám đông những kẻ tò mò nhàn rỗi kéo đến xem.
Vụ việc nhanh chóng trở thành đề tài bàn tán chung của công chúng, và cái tên Arsène Lupin đã kích thích trí tưởng tượng của công chúng đến mức các trang báo ngập tràn những câu chuyện kỳ quái nhất về các chiến tích của hắn, và chúng lại được độc giả hào hứng tin sái cổ.
Nhưng bức thư của Arsène Lupin được đăng trên tờ Echo de France (chẳng ai biết làm thế nào mà tờ báo lại có được nó), bức thư mà trong đó Nam tước Cahorn bị cảnh báo một cách xấc láo về vụ trộm sắp xảy ra, đã gây ra sự xôn hoang đáng kể. Những giả thuyết ho đường nhất được đưa ra. Một số người gợi nhắc sự tồn tại của các đường hầm ngầm nổi tiếng, và đó là hướng điều tra được các quan chức thực thi pháp luật theo đuổi, khi họ lục soát ngôi nhà từ trên xuống dưới, tra vấn từng viên đá, nghiên cứu từng tấm ốp tường và ống khói, khung cửa sổ và những thanh xà trên trần nhà. Dưới ánh đuốc, họ khám xét những hầm rượu khổng lồ nơi các lãnh chúa Malaquis từng tích trữ đạn dược và lương thực. Họ dò la phần móng đá đến tận trung tâm của nó. Nhưng tất cả đều vô ích. Họ chẳng tìm thấy chút dấu vết nào của một đường hầm ngầm cả. Không hề có một lối đi bí mật nào tồn tại.
Nhưng công chúng háo hức tuyên bố rằng tranh vẽ và đồ đạc không thể bốc hơi như những hồn ma được. Chúng là những vật thể hữu hình, có thật và đòi hỏi phải có cửa ra vào cũng như cửa sổ để xuất hiện và biến mất, và những kẻ mang chúng đi cũng vậy. Những kẻ đó là ai? Làm thế nào chúng đột nhập được vào lâu đài? Và làm thế nào chúng rời khỏi đó?
Cảnh sát Rouen, tự nhận thấy sự bất lực của chính mình, đã khẩn thiết xin sự trợ giúp từ lực lượng thám tử Paris. Mon. Dudouis, Cục trưởng Cục Cảnh sát Hình sự, đã phái những thám tử giỏi nhất của đội đặc nhiệm đến. Bản thân ông đã dành bốn mươi tám giờ tại lâu đài, nhưng chẳng thu được chút thành công nào. Sau đó, ông cho gọi Ganimard, người có những chiến công trong quá khứ đã tỏ ra vô cùng hữu ích mỗi khi mọi ngả đường đều lâm vào bế tắc.
Ganimard lắng nghe trong im lặng các chỉ thị từ cấp trên của mình; rồi lắc đầu, ông nói:
“Theo quan điểm của tôi, lục soát tung cả lâu đài lên là vô ích. Lời giải cho bài toán này nằm ở chỗ khác cơ.”
“Ở đâu cơ chứ?”
“Ở chỗ Arsène Lupin ấy.”
“Ở chỗ Arsène Lupin ư! Để chứng minh cho lý thuyết đó, chúng ta phải thừa nhận sự can thiệp của hắn.”
“Tôi thực sự thừa nhận điều đó. Trên thực tế, tôi coi đó là điều hoàn toàn chắc chắn.”
“Thôi nào Ganimard, điều đó thật ngớ ngẩn. Arsène Lupin đang ngồi tù cơ mà.”
“Tôi đồng ý với ngài là Arsène Lupin đang ở trong tù, được canh gác cẩn mật; nhưng hắn phải bị xiềng xích ở chân, còng tay ở cổ tay và nhét giẻ vào miệng thì tôi mới thay đổi quan điểm của mình được.”
“Sao anh lại bảo thủ thế hả Ganimard?”
“Bởi vì Arsène Lupin là kẻ duy nhất ở Pháp có đủ tầm vóc để phát minh và thực hiện một âm mưu có quy mô lớn đến nhường ấy.”
“Chỉ là những lời suông thôi, Ganimard ạ.”
“Nhưng đó là những sự thật. Nhìn xem! Họ đang làm gì thế? Đi tìm những lối đi ngầm, những phiến đá xoay trên trục, và đủ thứ nhảm nhí kiểu đó. Nhưng Lupin đâu có dùng những phương pháp lỗi thời như vậy. Hắn là một tên trộm két sắt hiện đại, bắt kịp thời đại từng phút từng giây đấy.”
“Và nếu là anh, anh sẽ tiến hành thế nào?”
“Tôi sẽ xin phép ngài cho tôi được ở lại với hắn một tiếng đồng hồ.”
“Trong phòng giam của hắn á?”
“Vâng. Trong chuyến hành trình trở về từ nước Mỹ, chúng tôi đã trở nên rất thân thiết, và tôi mạo muội nói rằng nếu hắn có thể cung cấp cho tôi bất kỳ thông tin nào mà không làm hại đến bản thân, hắn sẽ không ngần ngại cứu tôi khỏi việc phải rước lấy những rắc rối vô ích đâu.”
Trời vừa qua ngọ thì Ganimard bước vào phòng giam của Arsène Lupin. Tên trộm, kẻ đang nằm dài trên giường, ngẩng đầu lên và thốt lên một tiếng kêu đầy vẻ vui mừng.
“Ồ! Quả là một bất ngờ lớn. Ganimard thân mến của tôi, ngài đây ư!”
“Chính là Ganimard đây.”
“Trong chốn ẩn dật do tôi tự chọn này, tôi đã cảm thấy khao khát rất nhiều thứ, nhưng mong ước lớn nhất của tôi chính là được đón tiếp ngài ở đây đấy.”
“Anh chu đáo quá nhỉ, tôi xin ghi nhận.”
“Đâu có. Ngài biết là tôi luôn dành cho ngài sự kính trọng cao nhất mà.”
“Tôi lấy làm hãnh diện vì điều đó.”
“Tôi vẫn luôn nói rằng: Ganimard là thám tử giỏi nhất của chúng ta. Ông ấy hầu như,—ngài thấy tôi thật thà chưa kìa!—ông ấy hầu như tài giỏi chẳng kém gì Sherlock Holmes cả. Nhưng tôi rất tiếc vì không thể đãi ngài thứ gì tốt hơn chiếc ghế đẩu cứng nhắc này. Lại chẳng có chút đồ giải khát nào nữa chứ! Thậm chí chẳng có lấy một cốc bia! Dĩ nhiên là ngài sẽ châm chước cho tôi nhé, vì tôi ở đây chỉ là tạm thời thôi mà.”
Ganimard mỉm cười, và nhận lấy chiếc ghế được mời. Sau đó tên tù nhân tiếp tục:
“Lạy Chúa, tôi vui biết bao khi được nhìn thấy khuôn mặt của một người trung thực. Tôi đã quá chán ngấy lũ quỷ thám tử cứ xông vào đây mười lần một ngày để lục lọi túi quần áo và phòng giam của tôi nhằm thỏa mãn nghi ngờ rằng tôi không đang chuẩn bị trốn trại. Chính phủ cực kỳ quan tâm lo lắng cho tôi đấy.”
“Họ làm thế là hoàn toàn đúng.”
“Sao lại đúng chứ? Tôi sẽ vô cùng mãn nguyện nếu họ chịu để tôi sống cuộc đời yên bình theo cách của mình.”
“Bằng tiền của người khác chứ gì.”
“Chính xác. Thế thì đơn giản biết bao. Nhưng thôi, tôi đang nói đùa, còn ngài thì chắc chắn đang vội. Vậy chúng ta hãy vào việc chính đi, Ganimard. Tôi đón nhận vinh hạnh của chuyến viếng thăm này là vì điều gì nào?”
“Vụ Cahorn,” Ganimard thẳng thừng tuyên bố.
“À! Khoan đã, đợi một chút. Ngài thấy đấy tôi có quá nhiều vụ làm ăn! Trước tiên để tôi định hình lại trong đầu các tình tiết của vụ án cụ thể này đã....À! Vâng, giờ thì tôi nhớ ra rồi. Vụ Cahorn, lâu đài Malaquis, Seine-Inférieure....Hai bức Rubens, một bức Watteau, và một vài món đồ vặt vãnh.”
“Vặt vãnh ư!”
“Ồ! Chúa ơi, tất cả những thứ đó chẳng có tầm quan trọng gì mấy đâu. Nhưng chỉ cần biết rằng vụ việc đó khiến ngài quan tâm là đủ. Tôi có thể phục vụ gì cho ngài đây, Ganimard?”
“Tôi có phải giải thích cho anh những bước đi mà giới chức trách đã thực hiện trong vụ này không?”
“Không cần đâu. Tôi đã đọc báo và tôi xin thành thật tuyên bố rằng các ngài chẳng tiến bộ được là bao.”
“Và đó chính là lý do tôi đến gặp anh.”
“Tôi hoàn toàn ở đây để phục vụ ngài.”
“Thứ nhất, vụ Cahorn do chính một tay anh nhúng tay vào đạo diễn phải không?”
“Từ A đến Z luôn.”
“Bức thư cảnh cáo? Cả bức điện tín nữa?”
“Tất cả đều là của tôi. Chắc tôi còn giữ mấy cái biên lai đâu đó trong này.”
Arsène mở ngăn kéo của một chiếc bàn nhỏ bằng gỗ trắng trơn vốn cùng với chiếc giường và ghế đẩu cấu thành toàn bộ đồ đạc trong phòng giam của hắn, và lấy ra từ đó hai mẩu giấy nhỏ đưa cho Ganimard.
“Ồ!” viên thám tử kinh ngạc thốt lên, “tôi cứ nghĩ là anh bị canh gác và lục soát vô cùng gắt gao, thế mà hóa ra anh lại vừa đọc báo vừa sưu tầm cả biên lai bưu điện cơ đấy.”
“Xì! Mấy kẻ này mới ngu ngốc làm sao! Họ rạch lớp lót áo vest của tôi, họ kiểm tra đế giày của tôi, họ gõ tường phòng giam của tôi, nhưng họ chẳng bao giờ mảy may tưởng tượng nổi là Arsène Lupin lại ngốc nghếch đến mức chọn một chỗ giấu đồ đơn giản đến thế.”
Ganimard bật cười, nói:
“Anh quả là một gã kỳ quặc! Thật tình, anh làm tôi phải chóng mặt đấy. Nhưng thôi, giờ thì hãy kể cho tôi nghe về vụ Cahorn đi.”
“Ôi! Ơ kìa! Đừng có nhanh thế chứ! Ngài muốn cướp hết bí mật của tôi à; muốn phơi bày tất cả những thủ đoạn nhỏ của tôi sao. Đó là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng đấy.”
“Tôi đã nhầm khi trông cậy vào sự dễ dãi của anh à?”
“Không đâu Ganimard, và vì ngài đã nài nỉ thế—-”
Arsène Lupin đi đi lại lại trong phòng giam hai ba bận, rồi dừng lại trước mặt Ganimard, hắn hỏi:
“Ngài nghĩ gì về bức thư của tôi gửi cho nam tước?”
“Tôi nghĩ là anh đang tự giải trí bằng cách làm trò mua vui cho thiên hạ đấy thôi.”
“Chà! Làm trò mua vui cho thiên hạ á! Nào Ganimard, tôi cứ tưởng ngài hiểu rõ tôi hơn thế chứ. Tôi, Arsène Lupin đây, có bao giờ lãng phí thời gian vào những chuyện vặt vãnh trẻ con như thế không? Liệu tôi có viết bức thư đó nếu tôi có thể cướp sạch của nam tước mà không cần viết thư cho ông ta hay không? Tôi muốn ngài hiểu cho rằng bức thư đó là thứ không thể thiếu; nó chính là cỗ máy kích hoạt toàn bộ cơ chế hoạt động đấy. Giờ thì, chúng ta hãy cùng thảo luận về một kế hoạch để cướp lâu đài Malaquis nhé. Ngài có sẵn lòng không?”
“Được, cứ nói tiếp đi.”
“Và nào, chúng ta hãy hình dung một lâu đài được đóng kín và rào chắn cẩn thận giống như chỗ của Nam tước Cahorn đi. Chẳng lẽ tôi phải từ bỏ kế hoạch của mình và từ khước những báu vật mà tôi thèm muốn, chỉ vì cái lý do là cái lâu đài chứa đựng chúng là bất khả xâm phạm hay sao?”
“Hiển nhiên là không rồi.”
“Chẳng lẽ tôi lại đi đánh chiếm cái lâu đài đó ở đầu một băng nhóm phiêu lưu giống như người ta từng làm thời cổ đại chắc?”
“Làm thế thì thật ngớ ngẩn.”
“Vậy tôi có thể đột nhập vào bằng sự lén lút hay mưu mẹo không?”
“Không đời nào.”
“Vậy thì chỉ còn duy nhất một con đường mở ra cho tôi mà thôi. Tôi phải làm sao để chính chủ nhân của lâu đài mời tôi đến đó.”
“Đó quả là một phương pháp độc đáo đấy.”
“Và mới dễ dàng làm sao! Chúng ta hãy giả sử rằng một ngày nọ, chủ nhân nhận được một bức thư cảnh báo ông ta rằng một tên trộm khét tiếng được biết đến với cái tên Arsène Lupin đang âm mưu cướp bóc ông ta. Ông ta sẽ làm gì nào?”
“Gửi thư cho ngài Biện lý.”
“Kẻ mà sẽ cười vào mũi ông ta, bởi vì cái gọi là Arsène Lupin đó thực chất đang ngồi trong tù. Sau đó, trong sự lo lắng và sợ hãi của mình, con người ngây thơ đó sẽ đi cầu cứu sự giúp đỡ từ bất kỳ kẻ đầu đường xó chợ nào, phải không nào?”
“Rất có thể.”
“Và nếu anh ta tình cờ đọc được trên một tờ báo địa phương rằng một thám tử lừng danh đang tận hưởng kỳ nghỉ ở một thị trấn lân cận—-”
“Anh ta sẽ tìm đến vị thám tử đó.”
“Đương nhiên rồi. Nhưng, mặt khác, chúng ta hãy phỏng đoán rằng, đã lường trước được tình trạng đó, vị Arsène Lupin kia đã yêu cầu một trong những người bạn của mình ghé thăm Caudebec, làm quen với chủ biên tờ ‘Réveil,’ một tờ báo mà nam tước là độc giả đặt mua, và để vị chủ biên đó hiểu rằng người đó chính là viên thám tử lừng danh—thế thì, chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?”
“Chủ biên tờ báo sẽ thông báo trên tờ ‘Réveil’ về sự hiện diện tại Caudebec của vị thám tử đó.”
“Chính xác; và một trong hai điều sau sẽ xảy ra: hoặc con cá—ý tôi là Cahorn—sẽ không cắn câu, và chẳng có chuyện gì xảy ra cả; hoặc, khả năng cao hơn là, hắn sẽ lao đến và háu hức nuốt trọn lưỡi câu. Cứ thế, ngắm đi, Nam tước Cahorn của tôi đang khẩn khoản cầu xin sự giúp đỡ từ một người bạn của tôi để chống lại chính tôi đấy.”
“Đúng là độc đáo thật đấy!”
“Tất nhiên rồi, tên giả làm thám tử thoạt đầu sẽ từ chối cung cấp bất kỳ sự giúp đỡ nào. Bồi thêm vào đó là bức điện tín từ Arsène Lupin. Tên nam tước hoảng sợ lại chạy vội đến chỗ bạn tôi và đề nghị một khoản tiền nhất định cho các dịch vụ của anh ta. Bạn tôi đồng ý và triệu tập hai thành viên trong băng nhóm của chúng ta, những kẻ, trong màn đêm, khi Cahorn đang nằm dưới ánh mắt cảnh giác của người bảo vệ hắn, đã dời đi một số món đồ thông qua đường cửa sổ và hạ chúng xuống bằng dây thừng lên một chiếc xuồng máy xinh xắn đã được thuê sẵn cho dịp đó. Đơn giản phải không nào?”
“Tuyệt diệu! Thật tuyệt diệu!” Ganimard thốt lên. “Sự táo bạo của kế hoạch và sự khéo léo trong từng chi tiết đều vượt ngoài tầm chê trách. Nhưng ai là viên thám tử mà cái tên và danh tiếng của hắn đã đóng vai trò như một cục nam châm thu hút nam tước và kéo ông ta vào tấm lưới của anh vậy?”
“Chỉ có duy nhất một cái tên có thể làm được điều đó—chỉ một mà thôi.”
“Và đó là?”
“Kẻ thù truyền kiếp của Arsène Lupin—lừng danh Ganimard.”
“Tôi á?”
“Chính ngài đấy, Ganimard. Và thật tình, chuyện này buồn cười lắm chứ bộ. Nếu ngài đến đó, và nam tước quyết định mở miệng, ngài sẽ nhận ra rằng đó sẽ là nhiệm vụ của ngài—tự còng tay bắt chính mình, giống như cách ngài đã bắt tôi ở Mỹ vậy. Ha ha! Màn trả thù này mới thực sự thú vị làm sao: chính tay tôi bắt Ganimard phải đi tóm Ganimard.”
Arsène Lupin cười lớn khoái chí. Viên thám tử, vô cùng bực bội, cắn nhẹ môi; đối với ông, trò đùa này hoàn toàn chẳng có lấy một chút hài hước nào. Sự xuất hiện của một người gác tù đã trao cho Ganimard cơ hội để lấy lại bình tĩnh. Người này mang bữa trưa của Arsène Lupin tới, được cung cấp bởi một nhà hàng gần đó. Sau khi đặt khay đồ ăn lên bàn, người gác rút lui. Lupin bẻ bánh mì, ăn vài miếng nhỏ, rồi tiếp tục nói:
“Nhưng, ngài cứ yên tâm đi, Ganimard thân mến của tôi, ngài sẽ không phải đến Malaquis đâu. Tôi có thể nói cho ngài nghe một chuyện sẽ làm ngài phải kinh ngạc đấy: vụ Cahorn đang đứng trước bờ vực được giải quyết ổn thỏa rồi.”
“Xin lỗi nhé; tôi vừa mới gặp Cục trưởng Cục Cảnh sát Hình sự xong.”
“Thì sao nào? Mon. Dudouis nắm rõ công việc của tôi hơn chính bản thân tôi chắc? Ngài sẽ sớm biết rằng Ganimard—xin lỗi nhé—rằng gã giả mạo Ganimard vẫn đang giữ quan hệ rất tốt đẹp với nam tước. Hắn đã được nam tước ủy quyền để thương lượng một vụ giao dịch cực kỳ tế nhị với tôi, và vào thời điểm hiện tại, để đổi lấy một khoản tiền nhất định, rất có thể nam tước đã lấy lại được quyền sở hữu các bức tranh cùng các báu vật khác của ông ta rồi. Và khi chúng được mang trả về, ông ấy sẽ rút lại đơn khiếu nại. Như thế, sẽ chẳng còn vụ trộm cắp nào nữa, và pháp luật buộc phải khép lại vụ án thôi.”
Ganimard nhìn chằm chằm vào tên tù nhân với vẻ mặt ngơ ngác.
“Và làm thế quái nào mà anh biết được tất cả những điều đó?”
“Tôi vừa mới nhận được bức điện tín mà tôi vẫn đang hằng mong đợi.”
“Anh vừa mới nhận được một bức điện tín ư?”
“Đúng ngay khoảnh khắc này đây, người bạn thân mến ạ. Vì phép lịch sự, tôi đã không muốn đọc nó trước mặt ngài. Nhưng nếu ngài cho phép tôi—-”
“Anh đang nói đùa đấy à, Lupin.”
“Bạn thân mến của tôi ơi, nếu ngài chịu khó đập vỡ quả trứng kia ra, ngài sẽ tự mình biết được rằng tôi không hề nói đùa đâu.”
Một cách máy móc, Ganimard vâng lời, dùng lưỡi dao gõ vỡ lớp vỏ trứng. Ông ta thốt lên một tiếng ngạc nhiên. Vỏ trứng chẳng chứa gì ngoài một mảnh giấy màu xanh nhỏ xíu. Theo yêu cầu của Arsène, ông mở nó ra. Đó là một bức điện tín, hay đúng hơn là một phần của bức điện tín đã bị bóc mất các dấu bưu điện. Nó ghi như sau:
“Hợp đồng đã chốt. Đã giao một trăm nghìn quả bóng. Mọi thứ đều ổn.”
“Một trăm nghìn quả bóng ư?” Ganimard nói.
“Vâng, một trăm nghìn franc. Ít ỏi thật đấy, nhưng ngài biết đấy, thời buổi khó khăn mà....Và tôi còn một đống hóa đơn khổng lồ phải thanh toán nữa chứ. Giá mà ngài biết được ngân sách của tôi....sống ở cái thành phố này tốn kém lắm chứ bộ.”
Ganimard đứng bật dậy. Sự bực dọc của ông đã biến mất. Ông trầm ngâm suy nghĩ một thoáng, lướt qua toàn bộ vụ việc nhằm tìm kiếm một điểm yếu; rồi với một giọng điệu và thái độ làm lộ rõ sự ngưỡng mộ của ông dành cho tên tù nhân, ông nói:
“May mắn thay cho chúng tôi là không có tới một tá những kẻ như anh để mà đối phó đấy; nếu có, chắc chúng tôi chỉ có nước dẹp tiệm sớm.”
Arsène Lupin ra vẻ khiêm tốn, đáp:
“Xì! Con người ta thế nào cũng phải tìm chút tiêu khiển để khỏa lấp những giờ phút rảnh rỗi chứ, nhất là khi người ta đang ở trong tù.”
“Cái gì!” Ganimard kêu lên, “phiên tòa của anh, màn biện hộ của anh, buổi điều tra—chừng đó hãy còn chưa đủ để chiếm lấy tâm trí anh chắc?”
“Không, bởi vì tôi đã quyết định sẽ không có mặt trong phiên tòa xử mình.”
“Ồ! Ôi chao!”
Arsène Lupin khẳng định lại một cách chắc nịch:
“Tôi sẽ không có mặt trong phiên tòa xét xử mình đâu.”
“Thật thế chứ!”
“Ái chà, ngài thân mến ơi, ngài tưởng là tôi sẽ mục xương trên đống rơm ẩm ướt này chắc? Ngài xúc phạm tôi rồi đấy. Arsène Lupin sẽ ở trong tù chừng nào mà hắn còn muốn, và không quá một phút đâu đấy.”
“Có lẽ sẽ khôn ngoan hơn nếu anh tránh việc đặt chân được vào đây từ đầu đấy,” viên thám tử mỉa mai nói.
“Chà! Ngài đang đùa cợt đấy à? Ngài phải nhớ rằng chính ngài đã vinh dự tạc tượng bắt tôi chứ bộ. Thế nên hãy biết cho, người bạn quý hóa của tôi ạ, rằng không một ai, kể cả ngài đi chăng nữa, có thể đặt dù chỉ một ngón tay lên người tôi nếu không có một sự kiện quan trọng hơn nhiều chiếm trọn tâm trí tôi vào khoảnh khắc ngặt nghèo đó.”
“Anh làm tôi ngạc nhiên đấy.”
“Một người phụ nữ đang nhìn tôi, Ganimard ạ, và tôi đã yêu cô ấy. Ngài có hiểu trọn vẹn ý nghĩa của điều đó không: được đứng dưới ánh mắt của một người phụ nữ mà mình yêu thương? Tôi chẳng màng màng gì đến bất cứ thứ gì trên đời ngoài điều đó cả. Và đó là lý do vì sao tôi đang có mặt ở đây đấy.”
“Cho phép tôi nói điều này nhé: anh ở đây cũng lâu lắm rồi đấy.”
“Thứ nhất, tôi muốn được quên đi. Đừng có cười; đó là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời và nó vẫn là một ký ức thật dịu ngọt. Hơn nữa, tôi đang bị chứng suy nhược thần kinh. Cuộc sống dạo này quá ư cuồng nhiệt khiến người ta thỉnh thoảng phải thực hiện một ‘liệu trình nghỉ dưỡng’, và tôi thấy chốn này là một liều thuốc cứu cánh tuyệt vời cho những dây thần kinh mệt mỏi của mình.”
“Arsène Lupin, xét cho cùng thì anh cũng không phải là một kẻ tồi tệ.”
“Cảm ơn ngài,” Lupin nói. “Ganimard, hôm nay là thứ Sáu. Vào thứ Tư tới, lúc bốn giờ chiều, tôi sẽ ngồi hút xì gà tại nhà ngài ở phố Pergolese đấy.”
“Arsène Lupin, tôi sẽ đợi anh.”
Họ bắt tay nhau như hai người bạn cũ đánh giá đúng giá trị thực của nhau; rồi viên thám tử bước về phía cửa.
“Ganimard!”
“Gì thế?” Ganimard quay lại hỏi.
“Ngài bỏ quên đồng hồ kìa.”
“Đồng hồ của tôi á?”
“Vâng, nó đi lạc vào túi quần tôi mất rồi.”
Hắn trả lại chiếc đồng hồ, cất lời xin lỗi.
“Thành thật xin lỗi ngài.... một thói quen xấu. Việc họ tịch thu đồng hồ của tôi không phải là lý do để tôi lấy đồng hồ của ngài. Hơn nữa, tôi có một chiếc đồng hồ bấm giây ở đây làm tôi thấy khá mãn nguyện rồi.”
Hắn lấy ra từ ngăn kéo một chiếc đồng hồ vàng lớn kèm theo sợi dây đeo nặng trịch.
“Nó lúm từ trong túi của ai ra thế này?” Ganimard hỏi.
Arsène Lupin liếc nhanh qua những chữ cái viết tắt được khắc trên chiếc đồng hồ.
“J.B.....Quỷ thần thiên địa ơi ai mà thế này nhỉ?....À! Phải, tôi nhớ ra rồi. Jules Bouvier, vị thẩm phán đã tiến hành thẩm vấn tôi đây mà. Một kẻ thật đáng yêu!....”