Quán Trái Tim Vui Vẻ là một chốn dừng chân lý tưởng cho bất kỳ người mệt mỏi nào, dù sinh ra ở thành thị hay nông thôn. Nơi đây có sức hút mạnh mẽ hơn đối với những người thành phố, bởi khó có sự đối lập nào lớn hơn giữa Trái Tim Vui Vẻ và những quán rượu rực rỡ, phô trương chuyên vỗ về cư dân xứ bê tông. Những quán rượu ấy thu hút người ta bằng lời hứa hẹn đầy cám dỗ về ánh sáng, sự ấm áp và phút giây quên lãng tạm bợ; trong khi Trái Tim Vui Vẻ lại khơi gợi những sợi dây tình cảm sâu kín của cả kẻ mỏi mệt thể xác lẫn người rã rời tinh thần. Ngoài lời hứa về những thức uống ngon lành — mà bất cứ ai đến Shereling đều có thể yên tâm tận hưởng — nơi đây còn mang vẻ đẹp lay động lòng người. Đích thị là một quán trọ đồng quê kiểu cổ dễ thương bậc nhất, đủ sức khiến ngay cả một người kiêng cồn tuyệt đối cũng phải hoài nghi không biết liệu mình có hoàn toàn đúng đắn hay chăng. Quán tự hào có một hiên nhà được dây leo Virginia phủ bóng những chiếc lá nồng đượm; những khóm hồng tỏa hương chào đón và thắp lên hy vọng bình yên chắc chắn cho người cày bách hay tay golf sau một ngày mỏi mệt vẫy vùng. Một chú bò mang dáng vẻ trầm ngâm, trông như một phần trang trí mang tính nghệ thuật, đang thung thang nhai lại cỏ ở cánh đồng sát bên từ ngày này qua ngày khác. Làn khói lững lờ uốn lượn từ chiếc ống khói đồ sộ và cổ kính, tựa hồ như muốn cất lời: "Hãy vui lên nào! Ta đến từ nhà bếp đây!" Và ở đó còn có một trong những tấm biển hiệu mà đôi khi ta vẫn bắt gặp ở miền Nam,—một chiếc cột dựng tách biệt hẳn với tòa nhà quán trọ cùng tấm biển đu đưa phía trên. Nhân tiện xin kể thêm, dòng chữ trên biển là do ý thích của phu nhân vị địa chủ.
Khi vị địa chủ thừa kế gia sản và lập gia đình, ông từng ấp ủ nhiều mộng tưởng. Ông muốn giống như nhân vật Dogberry, muốn mọi thứ quanh mình đều phải thật bảnh bao và lịch thiệp. Vợ ông, một người phụ nữ xinh đẹp với trí tưởng tượng phong phú, đã truyền cho ông những ý tưởng nhằm cải thiện đời sống cho những người phụ tá, và ông đã cố gắng thực hiện mong muốn của nàng. Vốn là người thực tế, ông chính là người đóng góp ít nhất một nửa công sức vào việc cải thiện nhà ở và hệ thống vệ sinh tại Shereling. Về phần phu nhân, dẫu cũng vô cùng thực tế, bà cho rằng tính mỹ thuật cũng cần phải phát triển tương xứng; và du khách khiêm nhường bày tỏ lòng kính trọng với linh hồn bà mỗi khi trầm trồ trước những rặng cây được trồng xum xuê, thư viện làng với những bức tranh đẹp, ngọn tháp được xây thêm cho nhà thờ cùng một cây đại phong cầm tuyệt mỹ. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, chính bà đã thuyết phục chồng mình đổi tên quán trọ từ Quán Bò và Chó thành Trái Tim Vui Vẻ.
Tại chốn dừng chân tuyệt vời này, Tony và Robert Hedderwick đang ngồi nhâm nhi xì-gà vào lúc hai giờ chiều sau một bữa trưa thị soạn. Robert đã ngủ suốt cả buổi sáng và giờ đây cảm thấy sảng khoái như một con người mới. Tony mệt mỏi nhưng chẳng màng đến chuyện lên giường — từ nãy đến giờ có quá nhiều thứ thú vị thu hút anh, và anh linh cảm vẫn còn nhiều điều hấp dẫn khác đang chờ phía trước. Cảm giác mới mẻ này khiến anh chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc giữ cho đôi mắt mở thao láo cho đến tận chiều tối, và anh hào hứng lắng nghe Robert rôm rả kể về những cuộc phiêu lưu khó tin của lão. Tất nhiên, hai người đã đồng ý hợp tác làm ăn cùng nhau chừng nào nỗi chán chường còn chưa gõ cửa: họ bị thu hút lẫn nhau và giờ đây đã vượt qua mức bạn bè thông thường. Những tâm sự đã được sẻ chia: Tony kể cho viên thanh tra giáo xứ nghe vài mẩu chuyện bình lặng hơn trong cuộc đời vương giả tản mạn của mình; còn Robert thì cố gắng át vía bằng chuyện trộm cắp và nàng Alicia của lão.
"Nhưng anh nên cho vợ mình biết đôi chút tin tức chứ," Tony gợi ý. "Cô ấy có thể đang lo lắng đấy."
Viên thanh tra giáo xứ tỏ vẻ hơi bứt rứt. "Nếu tôi viết thư, dấu bưu điện có thể làm lộ tung tích của tôi," lão phản đối. "Tôi đoán mình có thể gửi một bức thư báo rằng tôi vẫn ổn cho một người bạn, rồi nhờ người đó gửi lại. Nhưng ngay cả thế thì vẫn nguy hiểm..."
"Đường nào chẳng nguy hiểm," Tony vừa điềm tĩnh hút thuốc vừa nói. "Theo những gì anh kể cho tôi nghe, tôi nghĩ bà Hedderwick sẽ không ngần ngại thuê thám tử nếu thấy cần thiết. Chắc chẳng mấy chốc họ sẽ đánh hơi được dấu vết của anh đâu, trừ khi anh liên lạc với cô ấy. Thực sự đấy, anh biết không——" Anh chợt dừng lời và bật cười. "Không! Đừng viết thư; tôi có kế hoạch hay hơn. Bây giờ tôi chưa nói đâu, cứ giữ lấy đã—chờ đến lúc nào chán ngắt mà chúng ta chẳng có việc gì làm thì mang ra."
Vốn bản tính tò mò, Robert nài nỉ Tony bật mí, nhưng anh vẫn một mực từ chối. Đổi sang chiến thuật khác, anh tuyên bố rằng việc này không có gì phải vội trong một vài ngày tới—hoặc ít ra là vài tiếng nữa. Bà Hedderwick có lẽ phải mất vài hôm mới quyết định nhờ đến cảnh sát, và trong lúc đó họ có lẽ nên tận hưởng những cảm giác hồi hộp của hiện tại thì hơn. Tất nhiên là Tony đạt được ý nguyện: anh vốn quen lãnh đạo và đòi hỏi sự phục tùng. Cá tính và ý thức giai cấp, kết hợp với khiếu hài hước hợp rơ với các "nạn nhân", khiến công việc ấy trở nên vô cùng dễ dàng.
"Tôi vẫn chưa kể cho anh nghe," anh nói sau khi đã dập tắt những lời phản đối của Robert, "sáng nay tôi đã làm gì đâu. Chà, tôi đã đi quanh một vòng và nắm bắt sơ lược tình hình trong làng. Hơn thế nữa, tôi còn bám theo người bạn bí ẩn của chúng ta—cứ gọi ổng là Billy đi,—và từ đằng xa nhìn thấy lão bước vào Ngôi Nhà Lặng Lẽ. (Nhân tiện thì đó là một nơi kỳ quái. Bọc quanh bởi bức tường gạch cao mười bộ—chẳng thể dòm ngó được gì bên trong ngoại trừ qua chiếc cổng). Chủ quán bảo rằng lão không hề đặt phòng ở đây, thế nên hoặc là lão định rời Shereling, hoặc là sẽ trọ lại Ngôi Nhà Lặng Lẽ."
"Thế thì quá tốt," Robert bình luận. "Lão mà nhìn thấy tôi thì hỏng việc. Chắc chắn tôi sẽ bị nhận ra ngay lập tức, và điều đó sẽ khiến lão sinh nghi."
"Chính xác," Tony đồng tình. "Nếu lão cứ quanh quẩn ở đây thì anh sẽ phải nằm ì trên giường suốt cả ngày—quả là một viễn cảnh ảm đạm khi bao nhiêu cuộc vui đang chờ đón. Nhưng nếu tôi là anh, tôi sẽ khai một cái tên giả với chủ quán. Nếu Billy nghe nhắc đến cái tên ông Hedderwick, lão sẽ bắt đầu liên kết mọi chuyện lại đấy."
Robert mang bản năng khước từ kế hoạch đó. Theo một cách mơ hồ nào đó, nó phảng phất mùi vị tội phạm, và những xiềng xích của lề thói xã hội vẫn chưa hoàn toàn bị đập vỡ. Nhưng cuối cùng Tony lại chiến thắng, và vị Hedderwick vô tội bỗng được mang cái tên Bangs. Lão không mặn mà gì với sự lựa chọn ấy cho lắm; nhưng vì Tony bảo rằng trông lão chính xác là một gã Bangs bằng xương bằng thịt và chẳng thể tìm được cái tên nào khác hợp hơn, Robert đành chịu thua.
"À, tôi còn gặp một người nữa," Tony tiếp lời khi vấn đề đã được giải quyết. "Một cô nàng xinh đẹp đặc biệt. Cô ấy cũng bước vào Ngôi Nhà Lặng Lẽ—chỉ một lúc sau Billy. Tôi đã đợi sẵn bên vệ đường sau khi thấy lão vào an toàn thì cô ấy đi tới. Cô ấy đã mắng xơi xơi tôi—một cách hoàn toàn phải phép—nhưng lại vô tình đánh rơi một tấm danh thiếp. Trên đó đề tên cô Arkwright, người mà theo tôi hiểu là chủ nhân của Ngôi Nhà Lặng Lẽ. Nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ thấy lấn cấn, không chắc tấm danh thiếp đó thực sự là của cô ta."
"Tại sao?"
"Chịu," Tony đáp với vẻ mặt bất mãn. "Tôi chẳng có bằng chứng hợp lý nào cả. Chắc là một kiểu trực giác thôi, hơn là bất cứ thứ gì khác. Trông cô ấy không ra dáng một tiểu thư nhà Arkwright cho lắm—cô ấy không có khí chất của dòng họ đó. Còn anh thì sao, trông anh toát ra chất Bangs từ trong trứng nước ấy chứ—anh cứ yên tâm đi."
"Cô ta trông thế nào?"
"Bangs vốn là một người đàn ông gia đình đáng kính, nên nhan sắc tầm thường chẳng thể hấp dẫn nổi hắn ta." ("Ồ, nhưng mà có đấy chứ!" Robert ngắt lời với vẻ háo hức ngây ngô.) "Chà, thế thì không nên như vậy mới phải. Thực tế là cô nàng ấy đẹp đến rợn ngợp, và—lạy chúa!"
Anh ngắt lời, chồm dậy với tư thế lắng tai nghe ngóng. Robert cũng làm theo, bởi từ ngoài hiên nhà, họ nghe thấy giọng nói của Lionel—hay "Billy" theo cách gọi của họ dành cho người bạn ẩn danh—đang trò chuyện với chủ quán. Hai người đang bàn về thời tiết, còn Tony cùng đối tác thì nhìn nhau hốt hoảng tìm kế sách. Chỉ một phút nữa thôi là Lionel có thể bước vào phòng khách, và hoàn toàn không có đường trốn thoát. Cánh cửa chỉ cách hiên nhà có một thước; còn khung cửa sổ thì mở ra phía đường cái. Rời khỏi phòng bằng bất kỳ lối nào cũng có nguy cơ bị phát hiện, và việc Robert bị Lionel nhận diện sẽ phá hỏng tất cả. Nghĩa là, nó có thể đặt dấu chấm hết cho sự phát triển của cuộc phiêu lưu, bởi nếu mối hoài nghi của "Billy" trỗi dậy, lão có thể bắt chuyến tàu đầu tiên quay về thành phố. Ít ra thì lão cũng sẽ cao cảnh giác, và điều đó sẽ khiến mọi chuyện trở nên khó khăn hơn gấp bội. Việc che giấu tung tích của Robert là mệnh lệnh tối cao. Nhưng giấu ở đâu cơ chứ? Lão không thể nấp dưới gầm bàn, vì chẳng có chiếc khăn trải bàn nào rủ xuống che đậy tươm tất các mép bàn cả. Chẳng có chiếc tủ nào đủ lớn để chứa trọn vóc dáng kềnh càng của Bangs. Chẳng có bức bình phong thân thiện nào, chốn dung thân muôn thuở của các nhà soạn kịch, đứng ở góc phòng nào cả. Cũng chẳng có chiếc giỏ khổng lồ nào kiểu Falstaff để trông đợi ơn cứu độ. Căn phòng trống trải tựa sa mạc trước sự xuất hiện bất đắc dĩ của "Billy", và những giọt mồ hôi lấm tấm túa ra trên trán Robert khi lão đứng đó không một kế hoạch, bất lực hệt như một chú thỏ sa bẫy.
Bạn bè của Tony đôi khi vẫn hay phàn nàn rằng anh hay đẩy họ vào những tình huống oái oăm không lối thoát. Lời buộc tội ấy không phải là không có lý; nhưng như Tony vẫn thường phân trần mỗi khi bị trách móc, anh cũng sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn nếu hoàn cảnh đòi hỏi. Quả là bất hạnh khi Định Mệnh dường như thích chọn một người bạn để đem ra hiến tế hơn, nhưng đó đâu phải lỗi của anh—phải trách là trách Định Mệnh chứ. Đây là lúc cần đến sự nhị định, tháo vát và kỷ luật thép. Nếu cuộc phiêu lưu của đời anh muốn được thực hiện trót lọt, những cân nhắc nhỏ nhặt—như tình bằng hữu hay lọ lem nhọ nồi—đều không được phép mang lên bàn cân. Với một cử chỉ dứt khoát, anh chỉ tay về phía chiếc lò sưởi kiểu cổ và cái ống khói rộng thênh thang. "Leo lên đó mau!" anh thì thầm. "Nhanh chân lên!"
Robert rụt người lại. "Không! Không!" lão thảng thốt thì thầm. "Không đời nào! Chắc chắn là..."
Lão chẳng được phép đôi co. Chỉ một thoáng sau, Robert thấy mình bị dẫn dắt đến trước lò sưởi tựa trong cơn mộng mị. Kế đến, một chân lão đã đặt lên những thanh sắt dày đặc. May thay, trong lò chưa xếp sẵn củi lửa, không có than hồng để làm xáo trộn hay tố cáo nỗ lực tìm kiếm chỗ ẩn náu của lão. Lão ngước nhìn bóng tối thăm thẳm như hang động và thầm rên rỉ trong lòng; đó là khoảnh khắc đầu tiên lão thấy hối hận vì chuyến trốn chạy điên rồ của mình. Rồi bám vào những viên gạch lồi lõm, dùng các ngón chân dò dẫm những khe nứt hiểm trở, lão bắt đầu leo lên độ cao vài thước cần thiết để đảm bảo an toàn.
Đến khi đôi mắt cá chân là dấu hiệu duy nhất còn sót lại thì mặt lò sưởi đã phủ đầy muội than, và Tony lo lắng đảo mắt tìm thứ gì đó để lau sạch. Thật tình cờ, có một cây chổi đứng ở góc phòng khách, do người hầu bất cẩn bỏ lại sau buổi dọn dẹp ban sáng. Ánh lên vẻ đắc thắng, Tony chộp lấy nó và tiến về phía lò sưởi. Nhưng khi đến nơi, ý định của anh bỗng thay đổi; sự cám dỗ quá lớn. Đẩy cây chổi ngược lên ống khói, anh dùng nó như một chiếc que thông nòng, tiếp thêm sức mạnh cho Robert đang rên hừ hừ trên con đường trèo lên cao. "Tiến lên nào, bạn già!" Tony thì thầm, vì vẫn còn thấy lấp ló một cái mắt cá chân. "Tiến lên!" và anh hì hục thọc mạnh. Đáp lại duy nhất chỉ là một thứ âm thanh nghẹt đặc vọng xuống, tiếng nghẹn ngào chửi thề bị kìm nén. Nó lọt thỏm vào phòng khách nghe như tiếng "Orpgh", nhưng Tony vẫn không chịu dừng tay cho đến khi cái mắt cá chân hoàn toàn biến mất. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, Lionel bước vào phòng, theo sau là chủ quán. Lão chủ quán khẽ kêu lên ngạc nhiên khi nhìn thấy Tony, tay và mặt lem luốc như một diễn viên hát rong da đen, và ngay cả sự lịch lãm của Lionel cũng khiến lão suýt phì cười.
Tony điềm đạm lên tiếng: "Có một trận lở muội than đấy, ông Glew. Tôi tìm thấy cây chổi này và đang định..."
"Trời ạ, ngài đừng bận tâm," Glew nói, tỏ vẻ bàng hoàng vì một vị khách lại tự hạ mình làm việc đó. "Để người hầu làm chuyện đó lát nữa. Tôi vừa bảo với nhà tôi tuần trước vào ngày thứ Năm rằng chúng ta sắp phải dọn dẹp ống khói rồi. Thế nào cũng phải tiến hành nghiêm túc thôi, không trật đi đâu được."
Lionel vừa ngồi xuống vừa gợi ý: "Chắc anh phải gọi thợ quét ống khói từ Dallingham sang chứ nhỉ?" Chủ quán cười khúc khích.
"Vâng, thưa ngài, nếu ông chủ ở nhà. Ngài bắt chúng tôi phải làm thế. Nhưng khi ngài ấy đi vắng, ừ thì, chúng ta làm theo cách truyền thống—đốt một thanh rơm và thui sạch đường ống thôi."
Một tiếng động sột soạt khẽ phát ra từ ống khói dường như ngầm mách bảo rằng ông Bangs đã nghe thấy. Liệu có phải lão đang sợ rằng họ chuẩn bị thui sạch đường ống theo cách truyền thống ngay lúc này, hay lão chỉ đơn giản là đang bị chuột rút? Dù là lý do gì đi nữa, lão đã cựa quậy: tiếng động ấy không lẫn đi đâu được, và việc muội than tiếp tục rơi xuống khiến chủ quán lắc đầu.
Lão vừa gãi cằm vừa nói: "Tôi nghi có con chim nào đó rớt xuống ống khói rồi. Mấy con quạ khoang hoặc quạ non đôi khi hay thế lắm. Đưa tôi cây chổi nào, thưa ngài, tôi sẽ lùa nó xuống ngay thôi."
Bàn tay Tony siết chặt lấy cán chổi.
Anh ngọt nhạt bảo: "Để tôi. Chẳng việc gì bắt hai người phải dính bẩn cả." Không chờ câu trả lời, anh tiến lại gần lò sưởi và mạnh mẽ thọc cây vũ khí lên cao. Đây không phải lúc để làm nửa vời, và Tony cảm thấy buộc phải diễn sao cho thật đạt vì lợi ích của bạn mình. Tuy nhiên, sự chân thực đôi khi lại bị đẩy đi quá đà (như ông Bangs đã chỉ trích với vẻ hằn học không giấu giếm sau đó), và tiếng vẫy cánh của con chim tưởng tượng hẳn sẽ làm rơi lệ những tấm lòng nhân đạo.
Chủ quán đăm chiêu nhìn đống muội than rồi ngao ngán nói: "Chẳng ăn thua đâu ngài ạ; nó ở quá tầm với rồi. Chắc tôi phải đi lấy mớ rơm đó làm cho dứt điểm thôi."
Lionel từ chỗ ngồi lên tiếng: "Như thế thì tàn nhẫn quá đấy, chủ quán. Tôi không thích ý định nướng sống con vật tội nghiệp ấy chút nào."
Glew vốn là một kẻ ôn hòa liền phân trần: "Nghĩ theo hướng này đi ngài; bóp nghẹt nó chết hay để nó ở đây chết đói thì cái nào hơn? Cách của tôi mất năm phút—còn cách của ngài mất nguyên mấy ngày. Thế nào hả ngài?"
Lionel với bản tính mềm lòng đành chịu thua: "Tôi đoán anh nói đúng, nhưng tôi chẳng thích thú gì..."
Tony chen ngang, lúc này bắt đầu cảm thấy sốt ruột: "Tôi bảo cái này nhé! Ống khói này to mà người tôi lại khá mảnh khảnh. Nếu ông cho phép tôi leo lên đây tối nay sau khi quán đóng cửa, thưa ông Glew, tôi sẽ cởi đồ và trèo lên đó. Tất nhiên chúng ta không thể để nó ở lại đó được, và tôi cũng chẳng thích thú gì cách làm ngạt thở kia."
Lionel cất lời khen ngợi: "Anh quả là một gã tử tế." Tony khiêm tốn lẩm bẩm "Có gì đâu nào" và thầm hy vọng chủ quán đã cảm thấy thỏa mãn. Nhưng lão ta nào đã chịu thôi.
Cái ý gì không biết nữa! Lại để một vị khách tự leo lên ống khói ư! Không đời nào! Lão sẽ sai thằng bé leo lên. Này! Này cậu!
Mọi chuyện giờ đây đang trở nên vô cùng tồi tệ theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và vị tín đồ của lãng mạn đang ẩn nấp trong ống khói bắt đầu nảy sinh ý định nghiêm túc về việc trèo xuống. Nhưng ngay khi chủ quán há miệng định gọi thằng bé, vị khách ở tầng trên—"ông Beckett"—đi ngang qua cửa với bộ gậy đánh golf vắt trên vai. Lão ghé nhìn vào và cất giọng tao nhã vương chút âm điệu ngoại kiều: "Tôi ra sân gôn đây, ông Glew. Làm ơn chuẩn bị bữa tối lúc bảy giờ rưỡi nhé." Rồi lão bước tiếp.
Lionel quyết định bám theo. Buổi sáng hôm đó lão đã đến Ngôi Nhà Lặng Lẽ và biết tin cô Arkwright vắng nhà. Tuy nhiên, cô sẽ trở lại vào khoảng bốn giờ. Người ra mở cửa là tên đầy tớ câm được vị mục sư nhắc đến, hắn đã chìa ra một trong những tấm bảng xoay đặt trên bàn sảnh—"Ra ngoài—Về lúc...". Thế nên Lionel đã quay về, định bụng giết thời gian hai tiếng đồng hồ ở quán trọ. Nhưng khi nhìn thấy gã "Beckett", lão chợt nảy ý định có lẽ mình nên phí phạm khoảng thời gian đó ngoài sân gôn. Biết đâu lão có thể bắt chuyện với gã đàn ông này, kẻ mà lão đoan chắc chính là đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ. Mọi manh mối đều hướng về điều đó—đoạn tin trên báo—giọng điệu—cái tên giả (vì lão đã thú nhận điều đó với mục sư)—độ tuổi. Giả sử đúng là vậy, thì gã này rất đáng để theo dõi. Nếu Beatrice đúng với những hoài nghi và phỏng đoán của cô, hoàn toàn có khả năng Mizzi sẽ bám theo gã đến Shereling để tìm cách gặp mặt. Trên thực tế, rất có thể Mizzi đã hẹn hò từ trước—thậm chí ả đang đợi sẵn trên sân gôn ấy chứ! Giả sử lão bắt gặp họ... chà, ít ra thì lão cũng đã kiểm chứng được nghi vấn, và có thể định hình đường đi nước bước dựa trên kiến thức chắc chắn trong tay. Đúng vậy, lão sẽ bám theo thử vận may xem sao.
Lão không mất nhiều thời gian để quyết định như cách chúng ta vừa miêu tả. Bạn đọc, nếu là người có lòng trắc ẩn, hẳn nên vui mừng vì điều đó; bởi trong lúc này, vị Bangs tội nghiệp đang có nguy cơ nuốt trọn số lượng muội than vượt mức cho phép trong cả cuộc đời. Thế là Lionel bước ra ngoài, để lại Tony đối phó với chủ quán. Anh thở phào nhẹ nhõm, vì ít ra nhân vật quan trọng nhất đã biến mất.
Anh ngọt ngào cất lời: "Ông Glew, tôi có một bất ngờ nhỏ cho ông đây. Tôi đóng cửa lại một lát được chứ?"
Lão kia trân trân nhìn theo và đáp: "Được chớ, thưa ngài." Ánh mắt ngơ ngác của lão dõi theo Tony khi anh bước đến lò sưởi, cúi người xuống và cất giọng dịu dàng: "Ra đây nào, chim non, ra nào!"—một khúc ca thuở nhỏ bỗng chốc sượt qua đại não anh. Để làm rõ ý mình hơn, anh bồi thêm: "Ổn cả rồi đấy, Bangs. Anh có thể xuống khỏi cái bàn được rồi!" Rồi anh thận trọng lùi lại vài bước và chờ đợi. Chẳng phải chờ lâu.
Lão chủ quán thốt lên đầy kinh ngạc: "Trời mẹ ơi!" và quả thực lão có lý do để thốt lên câu đó. Nguyên nhân là màn xuất hiện kỳ quái của ông Bangs. Lão chật vật trèo giật lùi xuống được vài thước, nhưng ngay khi chạm tới đáy thì hụt chân và ngã kềnh một cú thật kêu ngay giữa lòng lò sưởi, mặt đối mặt với họ. Hình dáng của gã yêu tinh này, im lặng hoàn toàn ngoại trừ tiếng khò khè kỳ quái phát ra từ cổ họng bị muội than bóp nghẹt, là thứ ngôn từ nào cũng phải chào thua. Tony nhìn nhân vật ấy với vẻ thương cảm thấu tận tâm can, còn chủ quán thì loạng choạng như kẻ say rượu ngả người vào cánh cửa.
Tony dịu dàng giải thích: "Anh thấy đấy, ông Glew, mọi chuyện thế này. Bạn tôi—kẻ chắc chắn sẽ làm chứng cho tôi ngay khi được nốc một ly nước—bạn tôi và tôi đã tranh cãi về chuyện ống khói. Lão quả quyết rằng chúng thường giấu một 'căn phòng linh mục'—một trong những chốn ẩn nấp của các linh mục theo đạo Giáo hoàng mà chúng ta vẫn hay đọc trong sách. Tôi không đồng ý, và cuộc tranh cãi gay gắt đến mức chúng tôi đã cá cược tiền bạc—ông Bangs đặt cược vào sự tồn tại khả dĩ của một căn phòng như thế ở đây, còn tôi chọn vế ngược lại. Lão là một kẻ cuồng tín, và không gì có thể làm lão thỏa mãn ngoài việc giải quyết dứt điểm vấn đề ngay lập tức. Thế là mặc cho tôi can ngăn, lão cứ thế trèo lên. Đúng lúc lão chuẩn bị leo xuống thì ông và vị khách kia bước vào. Thử đặt mình vào vị trí đó xem! Đương nhiên là lão chẳng muốn bị phát hiện trong một tình huống oái oăm thế này, nên đành nấp đợi với hy vọng phòng khách sớm trống người. Ý kiến đốt thanh rơm của ông đã làm đảo lộn mọi tính toán. Giờ thì tôi chắc chắn ông sẽ rộng lượng bỏ qua cho cảm xúc của lão và giữ kín chuyện này. Tất cả những gì lão cần lúc này là một bồn nước nóng. Ông hiểu ý tôi chứ?"
Chủ quán phát ra một tiếng cười khúc khích đồng tình. Nhưng khi bước đi dọc hành lang, tiếng gầm gừ trầm đục, bị nén lại nhưng vô cùng rõ ràng, lại tố cáo rằng lão chẳng thể nào xem nhẹ tình huống này nổi. Khi cửa đã đóng lại, Tony quay sang nhìn đồng đội với vẻ mặt đầy hối lỗi.
"Thành thật xin lỗi anh bạn già nhé," anh nói, "nhưng đó là một trong những chuyện bắt buộc phải xảy ra. Chắc anh thừa hiểu điều đó chứ?"
"Krwx!" gã yêu tinh vừa mếu máo vừa đáp. "Krwx! airp—krwx!"