(TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ)

ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II

❊ ❊ ❊

Mới ngoài canh ba, nữ tướng Bùi Thị Xuân đã giật mình tỉnh giấc. Bùi Thị Xuân nhớ ra mình đang ở huyện lỵ Điện Bàn, vùng đất trù phú, đông dân cư của đất Quảng Nam, nơi Nữ tướng được vua Cảnh Thịnh cử vào trấn thủ mấy tháng trước.

Không ngủ được, Bùi Thị Xuân trở dậy. Mới cuối hè mà ở đây khí hậu đã lành lạnh. Nữ tướng mặc thêm chiếc áo cánh đỏ tươi màu cờ, men theo tường, đi qua nơi viên tướng tùy tùng đang ngủ rồi ra ngoài.

Bên dinh huyện quan Điện Bàn, ai đó cũng đã trở dậy. Ánh nến từ trong căn phòng tránh gió bên ấy hắt ra qua cửa sổ, chiếu sáng cả một khoảng sân lát đá khá rộng. Gió từ trong nội thổi tới. Hàng cây trồng bên sân rung lên theo tiếng nhạc của gió. Trời đêm yên tĩnh. Bầu trời như một tấm thảm nhung đen dát đầy sao óng ánh, khi thì căng ra khi thì chùng lại. Những chấm sao lay động chồng lên nhau, va vào nhau chập chờn. Bùi Thị Xuân phấn chấn bước ra sân nhìn về hướng đông đón bình minh dậy. Những khóm lá đẫm sương đêm lay động. Bùi Thị Xuân hít thở một hồi rồi theo thói quen, xuống tấn đi một bài quyền thành thục đến điêu luyện. Bùi Thị Xuân cười thầm nghĩ tới câu ca dao:

“Trai ba mươi tuổi đang xoan 

Gái ba mươi tuổi đã toan về già”.

Có thật như thế chăng? Bùi Thị Xuân đã tứ tuần; vì việc nước, vợ chồng chẳng được gần nhau luôn, nhưng đã có hai mặt con. Vậy mà Bùi Thị Xuân chưa bao giờ thấy mình già, càng chưa thấy sức lực suy giảm bao nhiêu.

Đi xong bài quyền, Bùi Thị Xuân thấy toàn thân nóng ran. Nữ tướng mỉm cười, gương mặt thanh tú mà can trường hiện rõ trong ánh sáng mờ mờ. Bùi Thị Xuân cởi áo ngoài, để lộ vóc người cân đối, tròn lẳn mà rất đỗi mềm mại, trẻ trung. Nhanh nhẹn Bùi Thị Xuân trở vào nhà lấy ra đôi kiếm ánh thép sáng trắng, sắc như nước rồi ôn lại từng đường kiếm của mình. Bài kiếm có 36 miếng đánh. Đặc biệt lợi hại ở hai miếng cuối cùng, cũng là hai miếng phải thật công phu luyện tập mới dùng được. Bùi Thị Xuân học được đường kiếm này của giáo Hiến, một võ tướng xuất chúng nhưng bất đắc chí dưới thời Định Vương . Múa lại bài kiếm, Bùi Thị Xuân bỗng nhớ đến lần giao đấu với tên tướng Xiêm ở cù lao Thới Sơn, Mỹ Tho gần 20 năm trước. Ngày ấy, sau khi cùng đại binh Tây Sơn do đích thân Nguyễn Huệ đốc suất, đánh tan 400 chiếc thuyền của giặc Xiêm - Nguyễn Ánh ở Rạch Gầm - Xoài Mút, Bùi Thị Xuân dẫn một cánh quân nhỏ đi truy quét giặc ở cù lao Thới Sơn. Vừa qua một khúc ngoặt, Bùi Thị Xuân bất ngờ gặp tên tướng Xiêm đang dẫn đám tàn quân chạy trốn. Tên tướng Xiêm ấy, về sau Bùi Thị Xuân mới biết tên là Chiêu Thanh. Người hắn vạm vỡ, da sần sùi, hung hung đỏ như vừa uống rượu. Thấy Bùi Thị Xuân ít quân, tên tướng bèn chặn lại, nói một tràng tiếng Xiêm. Toán giặc Xiêm bèn bâu lại, dồn sức đánh Bùi Thị Xuân. Đánh một hồi, không hạ được Bùi Thị Xuân, tên tướng Xiêm nổi trùng, trợn mắt sạt những đường kiếm vun vút như xé gió. Thấy giặc cậy thế đông và tên tướng tỏ ra không phải là tay kiếm thường, Bùi Thị Xuân quyết định sử dụng miếng đánh cuối cùng: giả vờ lạc đường kiếm, địch thủ tưởng lầm xông vào, lập tức sẽ bị hạ thủ. Quả nhiên, khi thấy viên nữ tướng trẻ người Việt lảo đảo, đường kiếm loạc choạc, tên tướng Xiêm gầm lên, vung kiếm dùng toàn sức phạt ngang. Nhưng tiếng gầm của hắn chưa dứt, Bùi Thị Xuân đã vụt nhảy về phía sau tránh đà lia của kiếm, rồi bằng một đường kiếm bén ngọt, Bùi Thị Xuân lao đến thích vào bụng hắn. Tên tướng Xiêm, kẻ được mệnh danh là tay thần kiếm của đạo quân xâm lược 3 vạn người ấy rống lên như bò rồi đổ xuống như một cây thịt. Cho đến lúc quân Tây Sơn kéo đến, toán giặc Xiêm đã bị giết không còn một mống...

Trời đã sáng rõ, Bùi Thị Xuân thu kiếm trở vào nhà. Nghe tiếng động, viên tướng tùy tùng giật mình choàng dậy:

- Chủ tướng đã dậy sao?

-Hôm qua đi mệt. Em cứ ngủ nữa đi.

Lúc thường Bùi Thị Xuân vẫn gọi các nữ binh bằng em một cách thân mật. Nhưng viên tướng tùy tùng của Bùi Thị Xuân vẫn dậy tắt ngọn đèn khêu nhỏ đặt trên án thư.

- Em thấy khí trời ở đây có dễ chịu không? - Bùi Thị Xuân trìu mến hỏi viên tùy tướng.

- Thưa Chủ tướng! Khí hậu ở đây thật dễ chịu. Sáng qua, tiểu tướng theo con gái viên huyện quan dạo chơi, được thấy những nương dâu xanh ngắt, bạt ngàn, lại được xem các thiếu nữ dịu dàng, hai tay thoăn thoắt hái dâu, miệng tươi như hoa nở.

- Em ta có thể trở thành thi nhân được đấy. Nhưng này, em có nghe thấy tiếng gì không?

Giọng cô gái trở nên vui vẻ:

- Ồ, tiếng xa quay, tiếng thoi đưa. Con gái ở đây thức khuya dậy sớm, siêng năng quá, thưa Chủ tướng.

- Dân chúng vùng này có nghề dệt lụa cổ truyền mà.

- Thảo nào, ngay dinh huyện này, tiểu tướng cũng thấy nuôi tằm. Tiểu tướng đã được xem những nong kén vàng óng ả, mượt mà trông thật là đẹp.

- Em thấy dân chúng vùng này thế nào?

- Thưa Chủ tướng! Chả cứ vùng này mà toàn trấn Quảng Nam đều nhớ đến công đức của Tiên đế, một lòng gắn bó với triều Tây Sơn.

Cặp mắt đen láy của Bùi Thị Xuân chợt sáng lên. Nhận xét của viên tùy tướng rất hợp với ý nghĩ của Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân bỗng nhớ lại ba tháng trước, khi vào Quảng Nam lĩnh chức Trấn thủ. Hồi ấy, ở nhiều nơi gặp năm mất mùa dân đói nên trộm cướp nổi lên. Viên Trấn thủ Quảng Nam cũ trước lúc bị cách thức đã nói nhỏ với Bùi Thị Xuân về mối lo dân chúng không còn tin tưởng vào tân triều nữa. Chính viên trấn thủ già nua ấy đã thẳng thắn khuyên Bùi Thị Xuân hãy tránh xa triều đình Cảnh Thịnh để giữ lấy mình. Bùi Thị Xuân hiểu tâm trạng viên quan già nhưng chẳng đồng tình, ôm nỗi lo về nguy cơ suy vi của triều Cảnh Thịnh, nhưng không giống viên Trấn thủ Quảng Nam bê trễ, lảng tránh việc triều chính, Bùi Thị Xuân sẵn sàng đảm đương trọng trách, mong giữ kỷ cương phép nước, chỉnh đốn bộ máy quan lại, chăm lo sức dân, thu phục nhân tâm. Nội tình triều Cảnh Thịnh khiến người chính trực đau lòng, nhân tâm ly tán. Nhưng Bùi Thị Xuân đinh ninh dân chúng Quảng Nam không dễ quên công đức trời biển của Hoàng đế Quang Trung xưa. Nếu vậy, chẳng lẽ dân chúng lại không tha thiết gắn bó với triều Tây Sơn, không lo lắng cho vận nước, trong lúc quân Nguyễn Ánh ở Đàng Trong được bọn Tây Dương giúp sức, đang sửa soạn đem quân ra đánh nhà Tây Sơn. Phải trấn yên xã tắc, thu phục lòng dân mới mong giữ được nước, bảo vệ cơ đồ mà Hoàng đế Quang Trung đã gây dựng. Nghĩ thế nên sau khi nhậm chức trấn thủ Quảng Nam, đốc suất đội nữ binh phòng giữ thành thủ, Bùi Thị Xuân quyết định làm một việc mà chưa một viên trấn thủ nào dám làm là tự mình đi thị sát khắp hạt để tìm hiểu dân tình, cứu đói, chấn chỉnh việc coi quân trị dân của các viên quan phủ quan huyện. Quế Sơn là huyện đầu tiên viên nữ tướng Tây Sơn để ý đến. Hôm về huyện, Bùi Thị Xuân không đem theo quân lính. Khi ngựa chiến của Bùi Thị Xuân và viên tùy tướng đến địa phận Quế Sơn, viên quan huyện thân đem binh đi đón. Bùi Thị Xuân liền cho quân lính trở về. Đến huyện lỵ, Bùi Thị Xuân ra lệnh bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp và tuyên cáo: Hễ ai vác cày bừa, nông cụ được coi là dân lành, quan lại không được hỏi. Ai mang binh khí bị coi là giặc cướp sẽ bị nghiêm trị. Đồng thời, Bùi Thị Xuân cho mở kho phát chẩn cho dân đói. Ai già cả tật bệnh cho gấp đôi. Thấy viên huyện quan có hành động mờ ám, chiếm công vi tư, ăn của hối lộ, Bùi Thị Xuân thẳng tay cách chức, chọn người hiền tài lên thay.

Bằng sự quyết đoán táo bạo: Cách chức bọn tham quan, bãi bỏ các cuộc truy lùng bọn cướp, tỏ cho trộm cướp thấy mình không bị coi là trộm cướp, mở đường cho dân lầm đường trở về đời sống lương thiện, thẳng tay trừng trị những ai cố tình gây rối, nạn trộm cướp ở Quê Sơn đã chấm dứt, dân chúng yên ổn vui vẻ làm ăn. Bùi Thị Xuân còn đặc biệt nêu cao gương kiệm ước, khuyến khích dân tăng gia, trồng mầu, bắt mỗi nhà phải nuôi lợn, nuôi gà. Vì vậy, cả vùng Quê Sơn vui theo nghề nông, mùa màng bội thu, nhà nào cũng có thóc chứa. Tiếng tăm viên quan tân Trấn thủ biết thương dân, có đức rộng chẳng mấy chốc lan rộng khắp vùng Quảng Nam. Uy danh, đức độ của Bùi Thị Xuân trở thành niềm tin yêu và tự hào của dân chúng Quảng Nam.

Chính bằng chuyến đi thị sát dài ngày suốt từ Ải Vân cửa ngõ phương Bắc đến cận giới phía Nam, từ vùng Quế Sơn bạt ngàn quế đến Trà Đản toàn cát trắng và nay là Điện Bàn, vùng đất trù phú đông dân, Bùi Thị Xuân thấy sự thực không đến nỗi như thổ lộ của viên cựu Trấn thủ. Sự thực là ở đâu dân chúng cũng một lòng hướng về nhà Tây Sơn; sự trục trặc nếu có lại thường xảy ra từ phía kẻ coi quân trị dân mà không hết lòng thương dân. Ở đâu, trăm họ cũng mong muốn triều đình Cảnh Thịnh biết dùng người chính trực, làm cho dân thịnh nước giàu, anh em thuận hòa, góp sức lo trả mối quốc thù Gia Định mà bấy lâu còn canh cánh bên lòng. Bùi Thị Xuân thực sự cảm động khi thấy dân chúng Trà Đoá đã dẫn Bùi Thị Xuân đi thăm những luống khoai lang đều tăm tấp, xanh tốt trên cánh đồng cát phẳng, hoan hỉ kể lại với nữ tướng Tây Sơn những kỷ niệm về Hoàng đế Quang Trung mà năm tháng đã khắc sâu vào lòng dạ họ. Dân chúng đã biếu Bùi Thị Xuân những củ khoai mập mạp, béo tròn, nhẵn bóng như những con lợn con; những củ khoai hấp chín có màu vàng phơn phớt, nuốt xong còn để lại dư vị ngọt ngào. Dân chúng Trà Đoá không nói nhiều về công việc đồng áng của họ. Nhưng trong những ngày ngắn ngủi ở đó, Bùi Thị Xuân thấu hiểu nỗi gian truân mỗi khi gió tây nam thổi về, cát bụi bốc lên, hơi nóng toả ra ngột ngạt tưởng chừng khó sống được. Ấy vậy mà dân chúng ở đấy bền lòng vật lộn với khí trời khắc nghiệt, nương tựa vào nhau, vui với cảnh nghèo không một lời ta thán. Dân như thế sao gọi là ly loạn. Cơ nghiệp Tây Sơn đâu phải hết phương cứu chữa. Bùi Thị Xuân hài lòng về những việc đã làm. Chỉ còn một điều áy náy chưa yên là nữ tướng Tây Sơn chưa diệt được đảng cướp Lý Tiểu Muội, em Lý Tài , cầm đầu, vẫn hoành hành ở vùng núi Trà Sơn cực kỳ hiểm trở. Còn bọn cướp người Hán được Nguyễn Ánh và bọn Phú-lãng-sa giúp sức này, trấn Quảng Nam chưa thể yên. Bùi Thị Xuân không thể không diệt sạch đảng cướp táo tợn này.

Một làn gió mạnh lùa vào căn phòng đem theo cái rét đầu mùa đã cắt đứt mạch suy nghĩ của Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân bước ra hiên. Những khóm lá đẫm sương đêm đang bốc hơi. Gió pha lẫn nắng và hơi sương lùa vào gian phòng. Bùi Thị Xuân toan khép cửa lại, nhưng vừa lúc ấy, viên tùy tướng tiến đến, giọng cung kính:

- Thưa Chủ tướng, vừa nãy huyện quan Điện Bàn bưng trà sang mời Chủ tướng nhưng thấy Chủ tướng đang mải suy nghĩ, tiểu tướng vội ngăn lại.

Bùi Thị Xuân sốt sắng:

- Vậy ta phải sang ngay bên ấy. Có một vụ kiện rắc rối, huyện quan Điện Bàn muốn nhờ ta xét xử.

                                                                                                       ** *

Dinh huyện quan Điện Bàn gồm hai dãy nhà xây khá rộng. Dãy dưới dành cho khách, binh lính và vợ con họ. Dãy trên đặt làm công đường. Cách bày biện trong công đường đơn giản, tỏ rõ huyện quan không phải là người chuộng hình thức. Chính giữa công đường đặt chiếc án thư rộng mặt, hai bên án thư kê hai chiếc đôn sứ, là nơi làm việc của quan. Bên trái bày chiếc án thư cỡ nhỏ để viên thư lại ngồi biên chép. Gần cửa ra vào đặt hai chiếc ghế dài, dành cho những người đến kêu cầu, kiện tụng. Cuối cùng, chiếc đôn để sát cửa ra vào là chỗ ngồi của lính canh 

và cũng chỉ thật cần thiết lính canh mới được sử dụng. Viên huyện quan Điện Bàn đã đứng tuổi và là viên quan duy nhất không bị Bùi Thị Xuân cách thức. Ngày trước quan từng theo đòi nghiên bút, từng theo vua Quang Trung dự nhiều trận. Về sau, vì bị thương sức yếu, được cử làm huyện quan Điện Bàn. Quan là người dễ tính, niềm nở, ít khi cáu gắt, nổi xung với cấp dưới, càng không lấy việc nạt nộ dân chúng để ra oai. Triều vua Quang Trung đã đào luyện được những viên huyện quan na ná như thế. Huyện quan Điện Bàn vốn hay ngủ dậy muộn. Nhưng từ hôm Bùi Thị Xuân tới, không muốn bị hiểu lầm là bê trễ việc công, quan đã bảo người hầu gọi dậy sớm. Hôm nay cũng vậy, chẳng những quan đã dậy sớm mà còn bắt viên thư lại ngủ ngay trong dinh để tiện bề sai bảo việc sổ sách. Quan có phần ngại Bùi Thị Xuân, cái ngại của người dưới tự biết mình có những nhược điểm trước người trên có cặp mắt tinh tường mà lại nghiêm minh chính trực, đang kiểm soát việc coi quân trị dân cả vùng.

Nhớ lại ngày hôm qua, trong khi trình bẩm công việc trong huyện, quan phải túi bụi tra cứu sổ sách để trả lời những câu hỏi trọng yếu, cấp thiết của viên nữ Trấn thủ. Chà, những câu hỏi trọng yếu cấp thiết làm sao. Trong huyện có chừng bao nhiêu trâu, vùng nào dân thiếu ruộng cấy cày. Có bao nhiêu trai tráng từ 16 đến 30 tuổi? Dân tình thế nào? Huyện quan Điện Bàn đã phải toát mồ hôi mới trả lời đầy đủ được những câu hỏi ấy. Đã thế, viên nữ Trấn thủ lại chẳng dung thứ cách trả lời mập mờ không rõ ràng. Nhưng Bùi Thị Xuân tuy hỏi kỹ vậy mà không phải là hạch sách, tuồng như hoàn toàn vì ích nước lợi dân mà cần hỏi, cần biết cho tường tận. Cung cách, phong độ làm việc ấy thật khác xa với viên Trấn thủ khi trước. Vì vậy từ chỗ ngại ngần, huyện quan Điện Bàn lại rất thích thú cách làm việc dứt khoát của Bùi Thị Xuân. Từ đáy lòng, viên quan đứng tuổi càng khâm phục và yêu mến người nữ tướng danh tiếng của triều Tây Sơn. Cho nên, sáng nay, sau lúc được đánh thức dậy, dù trời còn tối, huyện quan Điện Bàn đã tự mình xách ấm, rong thuyền xuống hồ, chắt từng ly nước tinh khiết đọng trên mỗi chiếc lá sen để về đun nước pha chè. Làm xong thủ tục ấy, huyện quan đích thân sang mời Bùi Thị Xuân nhưng bị viên tướng tùy tùng của Bùi Thị Xuân ngăn lại. Tuy thế, huyện quan không phật lòng; chỉ tiếc loại chè Đức Phú ướp quế Trà Mi pha bằng nước lá sen ban mai nguội mất.

Chợt thấy viên thư lại đi ngang qua, quan huyện gọi giật vào:

- Chú hãy vào đây uống chè.

Đỡ tách chè và sau khi dè dặt nhấp một ngụm, viên thư lại xuýt xoa:

- Chao ơi! Con chưa được uống thứ chè nào thơm ngon thế này bao giờ.

- Còn phải nói - Huyện quan đắc ý - Chẳng giấu gì chú, đây là chè đãi quan tân Trấn thủ, người mà ta thực bụng kính trọng.

- Nữ đại quan còn trẻ quá, lại đẹp nữa.

- Chuyện, người anh hùng không cần đợi tuổi, Hoàng đế Quang Trung xưa mới 19 tuổi đã làm đại tướng thống lĩnh đại binh đánh tan 2 vạn quân của danh tướng Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên. Năm 25 tuổi, cầm trọng binh tiến vào Gia Định bắt sống một lúc 2 chúa, lật đổ cơ nghiệp triều Nguyễn. Quan nữ Trấn thủ cũng vậy. Mới ngoài 20 tuổi đã thống lĩnh đạo quân chặn hậu rồi cùng đại binh Tây Sơn cả phá 3 vạn quân thuỷ bộ với cả 400 chiến thuyền của giặc Ánh có nhiều tầu đồng của người Phú-lãng-sa giúp sức ở Ngã Bảy. Trong trận thuỷ chiến kinh động trời đất ấy, giặc Ánh bị đánh tơi tả. Cai cơ Mạn Hoè (Manuel) cùng tàu đồng bị vùi xác xuống dòng sông sâu. Trận ấy, quan nữ Trấn thủ bắt sống được Phó tổng nhung của Ánh là Tống Phúc Thiện, được Nguyễn Nhạc đặc biệt ân thưởng.

Viên thư lại trẻ tuổi, sửng sốt:

- Con người oai danh như sấm động, chức tước vào hàng đại thần mà giản dị như thế sao? Thảo nào, dân chúng bấy lâu xôn xao bàn tán có một vị đại quan thanh liêm, đi chu du khắp hạt, đem phúc lành cho trăm họ. Người ấy là nữ đại quan.

Có tiếng chân người bước ngoài hành lang. Huyện quan Điện Bàn cùng viên thư lại vội ngừng câu chuyện. Bùi Thị Xuân rực rỡ trong chiếc áo đỏ tươi, vui vẻ:

- Nghe nói ông huyện muốn gặp ta. Có chuyện gì vậy? Vụ án rắc rối mà ông nhờ ta xét xử, ta cần biết tường tận hơn. Ta muốn hỏi thêm các nhân chứng đã được mời đầy đủ chưa?

Huyện quan Điện Bàn lúng túng như gà mắc tóc:

- Hạ quan thật có lỗi để Đại quan phải hạ cố tới. Cũng không có việc gì hệ trọng. Các nhân chứng hạ quan đã đòi đến đủ. Hạ quan có ấm chè ngon hầu Đại quan.

- Được việc thì thôi, ông huyện! - Bùi Thị Xuân nói. Và, sau lúc nhấp một ngụm chè, viên nữ tướng Tây Sơn kêu lên:

- Trà Đức Phú, quế Trà My! Ông đãi ta vào hàng khách quý.

- Thưa vâng, Đại quan cũng thích thưởng thức và am hiểu về chè.

- Ta có biết qua. Nhưng quế Trà My ở đây cũng có bán sao?

- Thưa không, hạ quan được quan huyện Quế Sơn gửi biếu.

Bùi Thị Xuân chợt đổi giọng gay gắt:

- Ta đi kinh lý toàn hạt, nơi nào quan lại cũng sinh tật xấu, huyện quan Quế Sơn là một ví dụ. Nghe dân chúng kêu ca huyện quan hà hiếp lương dân, chặn thu nhiều quế đem bán, ta bán tín bán nghi, bèn sai viên tùy tướng của ta cải trang làm lái buôn đến tư dinh huyện quan xét rõ thực hư. Hoá ra hắn có cả một kho quế quý, lúa gạo chất đầy toà ngang dãy dọc.

- Đại quan có một lần tha tội cho ông ta không?

- Phàm người coi quân trị dân phải quang minh chính trực. Ta đã chiểu phép nước để trị tội và bắt phải trả lại cho lương dân.

Chợt thấy viên thư lại vẫn khoanh tay đứng hầu, Bùi Thị Xuân cầm tách trà đưa cho và hỏi:

- Nhà ngươi là học trò xuất thân phải không?

Viên thư lại cung kính đỡ tách trà:

- Con xin Đại quan. Vâng, đúng con là học trò xuất thân.

- Đừng xưng hô với ta như thế. Ngươi là học trò, vậy ngươi có biết người xưa nói về dân chúng ta sao không?

- Thưa Đại quan! Tôi học vấn ít ỏi, được Đại quan hỏi đến, dám xin thưa rằng, người xưa tùy thời mà nói về dân có khác nhau và cũng tùy vào phẩm chất người làm quan. Ví như quân sư Nguyễn Trãi, bậc khai quốc công thần của vua Lê Thái Tổ thì cho rằng: “Chở thuyền và làm lật thuyền” cũng là dân. Vì vậy, người làm quan phải thích nghe thích xét, không được che ác với nhà vua, kết bè đảng, vụ lợi cho riêng mình. Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn đã tâu khoan nới sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, coi đó là thượng sách để giữ nước. Nhưng về sau, Quốc công Tiết chế lại cho rằng “tướng là chim ưng, quân dân là vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ”.

- Ngươi nhầm rồi! - Bùi Thị Xuân cắt ngang - Người cho quân dân là vịt là Trần Khánh Dư. Hưng Đạo Đại Vương trước sau vẫn coi trăm họ là gốc rễ của xã tắc và răn dạy tướng soái phải coi binh lính như cha con một nhà.

- Thưa, nếu không có Đại quan uốn nắn cho, sự lầm lẫn của tôi thật đắc tội với tiền nhân.

- Nhưng nhắc lại chuyện xưa là để nói người nay. Xưa vua tôi đồng tâm, anh em thuận hòa, cả nước góp sức, ấy là lúc người mình thắng giặc dữ. Tiên đế là người áo vải từ ấp Tây Sơn đánh Nguyễn, diệt Trịnh, đuổi Xiêm, đại phá giặc Thanh mọi việc đều như ý, ấy là nhờ vào sức dân. Xem vậy, vận nước thịnh hay suy là ở chỗ từ vua đến quan có thương yêu dân hay không.

Huyện quan Điện Bàn cung kính:

- Đại quan nhìn xa thấy rộng, am hiểu tường tận phép trị nước, ấy là phúc cho dân.

Bùi Thị Xuân nhún nhường:

- Ông huyện chớ khen ta. Kẻ làm quan hơn nhau là ở tấm lồng. Bởi vì việc binh, việc hình, việc lễ, việc nhạc thánh nhân đều có luật. Công việc tu, tề, trị, bình cũng có phép tắc, nhưng mỗi thời, thậm chí mỗi người ứng dụng một khác. Tức là các vĩ nhân biết nắm lấy thực tiễn là cốt tử chứ không khép mình bắt chước thánh hiền.

Viên thư lại trở nên tự nhiên:

- Thưa Đại quan! Quả là xưa nay triều nào cũng có sự đối chọi dai dẳng giữa cái tốt và cái xấu. Nhưng người quân tử phải quả quyết đứng về phía cái tốt dù thời cuộc có thay đổi đến đâu.

Bùi Thị Xuân vui vẻ:

- Ngươi còn trẻ nhưng là người có chí, thật đáng khen. Tuy thế, người quân tử còn phải có bản lĩnh, có lòng gan dạ sắt tìm đâu hợp với nghĩa thì theo. Ví như triều Tây Sơn ngày nay không được như thời Hoàng đế Quang Trung trị vì, nhưng người quân tử không được thối chí mà phải đem tài năng ứng dụng cho đời. Thói thường, phê phán và nổi giận bao giờ cũng dễ. Đưa ra một phương lược hành động sáng suốt mới thật là khó.

Huyện quan Điện Bàn vừa được lính báo những người theo kiện đã đến đủ nên rụt rè, lúng túng:

-Thưa Đại quan! Tôi xin ghi tạc những lời giáo huấn của Đại quan. Bây giờ xin Đại quan sang công đường xử án.

                                                                                                                       *

Một vụ án lạ ở một xã ven trấn lỵ Điện Bàn đã được huyện quan mấy lần xét hỏi nhưng chưa biết xử ra sao. Bởi vậy là người chú ý đến hình luật, để tâm xem xét nỗi oan ức của dân, Bùi Thị Xuân quyết định thân xử vụ kiện này.

Nguyên nhà họ Lê ở xã nọ chẳng may chết sớm để lại vợ goá còn trẻ đẹp và đứa con trai 14 tuổi. Đứa bé này bị tố cáo là đã ngỗ ngược với mẹ. Người đầu đơn kiện lên quan là viên xã trưởng của xã ấy tên Ba Nỗ. Vụ án càng thêm rắc rối vì mẹ của chú bé cũng đồng tình với viên xã trưởng, trong lúc họ hàng ruột thịt của chú bé giữ thái độ im lặng.

Mở đầu buổi xử án, trước đông đảo nhân dân đứng lặng như hóa đá, tập trung theo dõi từng cử chỉ nhỏ của mình, Bùi Thị Xuân hỏi viên xã quan:

- Họ Lê còn có bà con thân thích gì không? Sao không thấy đứng tên vào đơn kiện?

Viên xã quan khúm núm:

- Bẩm Đại quan! Tên nghịch tử họ Lê còn có một ông chú và một ông cậu. Nhưng cả hai đều già yếu, ngại hầu quan nên không chịu đứng tên kiện cháu. Con vốn là chỗ thân tình của cố chủ, vốn hay đi lại thăm hỏi gia chủ nên chẳng ngại khổ, ngại bị thù oán, muốn giúp cậu chủ sửa đổi hạnh kiểm. Ấy là giữa đường thấy việc bất bình chẳng tha vậy!

- Người đừng nhiều lời - Bùi Thị Xuân nghiêm mặt nói rồi quay sang viên huyện quan - ông đã cho người xuống tận nơi tra cứu vụ án này chưa? Kết luận của ông ra sao?

- Thưa Đại quan! - Huyên quan Điện Bàn đáp - Chính hạ quan đã về tận nơi điều tra và được biết rằng, viên xã trưởng Ba Nỗ hay đi lại thăm nom gia đình cố chủ họ Lê. Chính y đã cùng vợ cố chủ tư tình, muốn hại con cố chủ, chiếm đoạt tài sản. Sự thực là như thế nhưng hạ quan không có bằng chứng rõ ràng để khép tội họ.

Bùi Thị Xuân gọi chú bé họ Lê đến trước công án, quát hỏi:

- Sao ngươi lại có hành động hỗn hào với mẹ đẻ. Ngươi trả công sinh thành dưỡng dục của mẹ ngươi như thế sao?

Chú bé sụt sùi thưa:

- Bẩm quan! Xin quan xá tội. Chỉ vì mẹ con nghe ông Ba Nỗ xúi bẩy đánh đập hành hạ con, con mới sinh hư như thế.

- Xã trưởng Ba Nỗ có bao giờ đánh đập ngươi không?

- Bẩm quan, ông ta chỉ xúi mẹ con đuổi con đi thôi.

Bùi Thị Xuân vỗ án quát hỏi xã trưởng:

- Ba Nỗ! Tại sao gia tộc họ Lê không đứng tên kiện cháu mà lại để cho nhà ngươi là người ngoài đứng ra cáng đáng việc này? Có thực nhà ngươi lấy tình bằng hữu với cố chủ mà ân cần săn sóc gia quyến người ta hay toan dùng quyền uy để khống chế, lợi dụng sự nhẹ dạ của đàn bà để thoả lòng tham?

Nhiều tiếng xì xào tỏ ý đồng tình với câu hỏi của Bùi Thị Xuân nổi lên trong đám đông dân chúng. Viên xã trưởng sau lúc bối rối đã lấy lại bình tĩnh:

- Bẩm Đại quan! Sinh thời cố chủ từng giúp con lúc con còn nhàn vi. Cảm cái đức ấy nên thấy nghịch tử ngỗ ngược mà đau lòng. Họ hàng cố chủ vì sợ nghịch tử thù oán nên không dám đầu đơn. Con chỉ muốn giúp cậu chủ sửa đổi tính nết, hoàn toàn không có tà tâm nào khác. Xin Đại quan đèn giời soi xét.

Bùi Thị Xuân cười nhạt:

- Ngươi thật là người có nghĩa, đáng khen thay!

Ba Nỗ phấn chấn:

- Bẩm, cả xã con đều khen con như thế.

Bùi Thị Xuân ra hiệu cho chú bé đến gần Ba Nỗ rồi nói:

- Ba Nỗ hãy nghe đây! Đáng lẽ thằng nhỏ vì tội bất hiếu với mẹ phải chịu 40 trượng. Nhưng nó còn nhỏ, đánh 40 trượng sợ chết mất, còn đâu mà giáo dục nó như ngươi mong muốn. Người từng chịu ơn của cố chủ họ Lê, lại thực lòng thương thằng nhỏ và gia quyến nó. Vậy người hãy thay nó nhận 40 trượng phạt.

Cả công đường dậy lên tiếng xuýt xoa tán thưởng trong khi Ba Nỗ mặt tái đi, kinh hoàng.

Lệnh của Bùi Thị Xuân được thi hành ngay. Ba Nỗ khóc xin tha nhưng không được. Hắn phải chịu 40 trượng phạt, thịt đau da rách.

Bùi Thị Xuân lại cho đòi chú ruột của chú bé đến trước công án, nói:

- Nhà ngươi là chú ruột của thằng nhỏ. Chú cũng như cha. Cha đã chết sao ngươi không thay anh dạy dỗ cháu để nó hư đốn, để Ba Nỗ phải can dự vào chuyện kiện tụng. Vậy ngươi phải chịu 40 trượng phạt.

Người chú khóc, xin tha tội. Bùi Thị Xuân đổi giọng hóm hỉnh:

- Tội ngươi rành rành còn khóc nỗi gì. Nhưng ngươi yên lòng. Ba Nỗ là người có nghĩa khí, hắn đã thay ngươi đầu đơn kiện cháu ngươi, tất hắn sẽ thay ngươi chịu đòn.

Mệnh lệnh của Bùi Thị Xuân được thi hành ngay.

Cuối cùng, Bùi Thị Xuân sai đem gông đến và tuyên bố:

- Đây là chiếc gông cho xã trưởng Ba Nỗ thay thằng nhỏ chịu tội. Chỉ khi nào thằng nhỏ hối cải, Ba Nỗ mới được thả ra.

Phiên xử kết thúc trong sự hoan hỉ của mọi người.

Huyện quan Điện Bàn chưa hết thảng thốt:

- Thưa Đại quan! Xã trưởng Ba Nỗ có tội lộng quyền, quan hệ bất chính với vợ cố chủ, mưu hãm hại đứa bé để chiếm đoạt gia sản, nhưng vì không có bằng chứng nên hạ quan chưa dễ bắt tội. Xử như Đại quan thật tài tình, vừa đúng sự thực vừa không sai luật.

Bùi Thị Xuân tươi cười:

- Kẻ phạm luật quỷ quyệt lắm! Hắn rêu rao tình thương nghĩa cả thì ta mượn chiêu bài ấy để xử tội hắn. Cũng ví như bọn đạo trưởng Tây Dương nại chúa nhưng chính là mượn tay chúa để làm điều ác vậy.

Vụ xử án khôn ngoan sáng suốt của Bùi Thị Xuân lần nữa được nhân dân truyền tụng như vầng hào quang của trí tuệ bao quanh bà.

Trước lúc rời công đường, Bùi Thị Xuân nhắc quan huyện:

- Nội nhật hôm nay ông huyện nhớ thảo gấp công văn cấm việc giết trâu và buôn bán trâu, cần bố cáo cho dân chúng biết trâu cày bừa còn thiếu. Nhân thể, cấm hẳn tệ nấu rượu. Thóc lúa lúc này quý như vàng. Ban bố lệnh lại còn phải xem lệnh có nghiêm không?

- Đại quan yên lòng, hạ quan không dám trái lệnh.

Bùi Thị Xuân bước ra hiên. Mặt trời đã nhô lên đỉnh rặng núi xa. Những hàng cây trước dinh óng màu vàng thanh. Lá cây lay động làm cho những chấm nắng như nhảy nhót, nô rỡn trên cỏ mượt.

Chú thích:

( 3 ) Định Vương làm chúa từ năm 1765 đến 1778.

(4)  Lý Tài người Hoa, từng làm Đại tướng Tây Sơn. Sau phản bội theo Nguyễn Ánh.

 (5) Những đặc sản nổi tiếng của Quảng Nam.

Đánh máy: hoi_Ls - Nhà xuất bản: Thanh Niên Năm xuất bản: 2006
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Quỳnh Cư

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.