Vào đến Quảng Nam đã hai ngày rồi nhưng Thái hậu Ngọc Hân vẫn chưa dứt được nỗi kinh hoàng trước những sự kiện dồn dập xảy đến. Chỉ bốn ngày sau buổi chia tay với Bùi Thị Xuân ở kinh thành thì Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành thống lĩnh 1000 chiến thuyền vượt biển đánh vào cửa Thuận An. Cả kinh thành nhốn nháo trước tin dữ: Quân của phò mã Nguyễn Văn Trị bị vỡ. Vua Cảnh Thịnh liền tự mình đốc xuất tất cả quân thuỷ bộ ra cự chiến. Nhưng thế giặc hung hàn, vua bị hãm vào vòng vây. Nhưng nhờ Bùi Thị Xuân kịp đem quân về cứu, vua Cảnh Thịnh thoát dược, đem quân chạy ra Thăng Long. Nhưng cứu được vua, Bùi Thị Xuân lại bị vây hãm rồi chết trận.
Chao ơi! Vận nước thế là hỏng rồi sao? Ngọc Hân bỗng nhớ lại cảnh kinh thành nháo nhác chạy giặc. Nếu không nghe lời Bùi Thị Xuân thúc giục hoàng tộc và dân chúng đề phòng, thu xếp từ trước, phỏng lúc ấy sẽ rối loạn đến mức nào? Nhưng cả kinh thành đã kịp chạy lúc thế trận quân Tây Sơn bị vỡ, kẻ thù ập đến.
Riêng Ngọc Hân, vì không muốn chạy quá xa nơi mà người chồng thân yêu đã nằm xuống, lại lầm tưởng Bùi Thị Xuân còn ở Quảng Nam; còn vì lẽ Ngọc Hân thấy Triều cảnh Thịnh đã suy đốn. Cảnh Thịnh không phải là người có chí lớn, biết nhìn xa thấy rộng, nên người vợ yêu của vua Quang Trung đã tách khỏi hoàng tộc, cùng hai con và người cung nữ trẻ, lần đường vào Quảng Nam. Cũng chỉ khi vào đến Quảng Nam, Ngọc Hân mới biết tin Bùi Thị Xuân đã đem quân về cứu kinh thành và bị tử trận. Đau đớn vì người bạn gái đã mất, buồn bã vì Cảnh Thịnh bạc nhược không biết dùng người, lại nghĩ đến phận mình bỗng dưng phải giấu tên tuổi, gửi thân vào một ngôi chùa, Ngọc Hân cảm thấy như kiệt sức. Đang lúc thế nước lâm nguy - Ngọc Hân tê tái tự nhủ - mất đi con người trụ cột của triều đình, mất đi viên nữ tướng kiên quyết, sung trận như gió táp, đâu phải là tổn thất cho riêng mình mà còn là tổn thất của cả triều đình Cảnh Thịnh. Vì vậy, trong nỗi đau đớn lo cho vận nước, Ngọc Hân không nguôi được lòng thương nhớ đối với người bạn gái, người nữ tướng, niềm tự hào của chính mình. Nhìn hai con của mình đang ngủ mê mệt sau cuộc hành trình quá ư vất vả, lòng Ngọc Hân thổn thức. Để ngăn dòng nước mắt sắp trào ra, Ngọc Hân đứng dậy đi lại trong gian chùa, lòng trĩu nặng ưu tư. Có tiếng động, Ngọc Hân xoay người nhìn ra khoang cửa. Ngọc Hân suýt reo lên khi người cung nữ trạc 20 tuổi, vóc người nhanh nhẹn, trán bết mồ hồi bước vào:
- Tâu Thái hậu! Vâng mệnh Thái hậu, thần thiếp đã tìm gặp được nữ binh bị thương, trong trận giao tranh ở cửa Thuận An và dò hỏi được tin tức về Bùi nữ tướng.
Ngọc Hân sốt ruột giục:
- Ngươi kể lại cho ta nghe vì sao Bùi Nữ tướng lại có thể kịp đem quân từ Quảng Nam ra cứu Cảnh Thịnh. Chuyện sau đấy thế nào?
- Tâu Thái hậu - Người cung nữ đáp giọng trầm, nhỏ - người nữ binh ấy kể rằng khi Bùi Thị Xuân đem quân vượt qua đèo Hải Vân thì được quân giặc Ánh đang đánh vào cửa Thuận An. Lập tức, nữ tướng phái đội thám mã đi trước rồi thúc quân tiến gấp.
- Rồi sao nữa? Ngọc Hân giục và âu yếm phủi vết lấm trên vai người cung nữ.
- Đến lúc thám mã về báo tin quân của phò mã Trị bị vỡ. Bùi nữ tướng dừng voi khích lệ các nữ binh phải quyết cứu được kinh thành và cho các nam nữ tân binh trở về. Nhưng ai nấy đều một mực xin theo. Gần đến cửa Thuận An, hay tin Hoàng thượng đang đích thân cầm quân cự chiến, Bùi nữ tướng vội cho voi tiến lên hàng đầu rồi ngả hẳn cờ lệnh về đằng trước. Chỉ một lúc sau, đội nữ kị binh đã trông thấy quân Ánh đông nghìn nghịt đang hung hãn sung trận. Lập tức, Bùi nữ tướng bắn pháo hiệu rồi dẫn đầu các nữ binh xông thẳng vào.
- Lúc ấy nữ tướng đã biết nhà vua bị vây hãm chưa?
- Thần thiếp quên không hỏi rõ nhưng người nữ binh kể rành rọt rằng, giặc Ánh bị đánh tập hậu, trở tay không kịp, bị giết hại nhiều lắm. Giặc hoảng loạn lầm tưởng đại binh Tây Sơn ở Quy Nhơn, nên mạnh tên nào tên ấy chạy, về sau thấy quân Bùi nữ tướng ít, Nguyễn Ánh thân cầm quân quay lại bủa vây đội nữ binh.
- Có lẽ nhà vua thoát vòng vây vào lúc ấy. Nhưng nhà vua thì lại bỏ mặc nữ tướng chạy thoát thân. Rồi sao nữa?
- Người nữ binh ấy kể, chưa lúc nào Bùi nữ tướng sát khí đằng đằng như lúc ấy. Nữ tướng tả xung hữu đột đánh rạp từng đám giặc lớp lớp xông tới. Nhưng một tên Phú-lãng-sa đã giương súng nhằm nữ tướng để bắn. Súng nổ, Bùi Thị Xuân lảo đảo trên bành voi, cánh tay trái ướt đẫm máu. Giặc Ánh tức thì hò hét bủa vây.
- Trời ơi - Ngọc Hân kêu lên. Cặp mắt to đen sâu thẳm như bất động. Một lúc sau, như tỉnh cơn mê, Ngọc Hân tựa vai người cung nữ đi đến chỗ hai con đang ngủ giọng khản đặc:
- Ngươi thấy sao? Bùi nữ tướng có đúng là đã làm rạng rỡ triều Tây Sơn mà không một viên tướng nào hiện ở bản triều sánh được. Ta kiêu hãnh vì Bùi nữ tướng. Nếu Cảnh Thịnh biết trọng dụng, giao cho Nữ tướng trọng trách, con người ấy được thi thố tài năng, cơ đồ nhà Tây Sơn phải chi đã nghiêng ngả thế này.
Chiều dần buông. Chuông chiều điểm từng tiếng đều đều. Các sư sãi, tăng ni đang lặng lẽ thu xếp mọi việc dở dang để lên chùa nghe thuyết giáo. Ngọc Hân cảm thấy trong người có triệu chứng ốm nặng. Chao ơi! Nghe tiếng chuông chùa ngân nga, giọng tụng kinh xen lẫn tiếng mõ đều đều ấy, Ngọc Hân nao nao nhớ đến mẹ, nhớ đến Thăng Long và những kỷ niệm đã in sâu trong tâm khảm của thời xuân sắc ở nơi ấy. Mẹ ta bây giờ ra sao. Ngọc Hân chìm trong suy tưởng - Chắc mẹ đang lo cho con và hai cháu lắm. Con không về với mẹ được vì con không muốn xa nơi yên nghỉ cuối cùng của người chồng mà con rất mực yêu kính. Vả, con muốn đến với người bạn gái, một Nữ tướng tài đức song toàn của vị Hoàng đế xưa, họa chăng giúp được người Nữ tướng có chí lớn ấy cứu được cơ nghiệp nhà Tây Sơn! Nhưng nay thì Nữ tướng đã mất rồi, lòng con ngổn ngang trăm mối tơ vò. Con ở lại đây còn vì không muốn chạy theo Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh không nối được chí cha, lại đớn hèn bạc nhược, lúc biết lo cho vận nước thì đã muộn rồi. Nghĩ đến phận mình, đau đớn vì vận nước, thương con phải lưu lạc trong cảnh chạy giặc, nhớ mẹ già mòn mỏi ngóng trông, bỗng dưng Ngọc Hân đầm đìa nước mắt. Và, trong nỗi đau buồn tuyệt vọng đó hình ảnh và kỷ niệm về người anh hùng áo vải dồn dập hiện về. Ngọc Hân không thể nào quên được vào một buổi sáng mùa thu ở Thăng Long, sau lúc bị tướng Tây Sơn chỉ một trận sấm ran chớp giật, đánh tan cả nghìn vạn quân Trịnh đủ các phiên hiệu từ các nơi kéo về, dàn trận dưới cờ Trịnh Khải, lật đổ cơ nghiệp nhà Trịnh, thì một việc hệ trọng không ngờ đã xảy đến với Ngọc Hân.
Vua cha thật khéo lồng chuyện tình trong việc nghĩa đem gả ta cho vị tướng Tây Sơn có công tôn phò, bày tỏ ý tặng biếu đền ơn. Hơn thế, biến ta thành cái cầu giao hảo chính trị cần yếu lúc ấy. Nghĩ đến việc sẽ trở thành người vợ của viên tướng bách chiến bách thắng, vóc cọp, lưng gấu, tiếng nói như chuông, vừa năm trước mang binh thuyền vào Nam đánh phá tan tành 5 vạn quân Xiêm, thu lại phần đất Gia Định vẹn toàn, lòng ta bối rối, sung sướng. Thăng Long vừa yên cơ binh lửa bỗng náo động chuyện ta sánh duyên cùng Đại tướng Tây Sơn. Ngày cưới, vua cha truyền lệnh bắt các hoàng thân, hoàng phi, công chúa và các quan văn võ ai nấy phải sửa soạn ngựa xe đưa ta về phủ tướng Tây Sơn. Để đón ta, Đại tướng Tây Sơn cho dàn quân từ cấm thành đến cổng phủ của mình rồi đưa kiệu rồng vàng ra tận cổng phủ đón xe hoa. Ngày ấy, lòng ta vui, cả kinh thành đều vui. Trai gái kinh thành nô nức tụ lại bên ngoài hàng rào lính tráng, xem cưới như xem hội. Ngay đêm ấy, đại tiệc dọn ra khắp điện trên, sảnh dưới, thiết đãi họ nhà gái. Ta ngỡ ngàng sung sướng trước nghi thức tỏ rõ sự hiểu biết hiếu văn lễ nghĩa của người chồng mới cưới. Có lẽ làm như thế, là vì quý trọng ta và để tỏ ra tướng Tây Sơn không phải quê mùa, không phải chỉ am hiểu phương lược dụng binh. Rồi đây ta về Phú Xuân. Nhớ Thăng Long, nhớ họ hàng, nhớ từng bến sông, đoạn đường, nhớ từng hành cung nơi ấy, nhưng ta được đền bù bằng tình yêu của chồng, bị cuốn hút vào những việc quân cơ quốc sự và tầm hiểu biết cứ kỳ sâu rộng, những hoài bão lân của vị vua trẻ nên ta đâu còn rảnh rỗi. Từ đó về sau, thay đổi là nhiều nhưng mối tình đằm thắm, thiết tha với vua Tây Sơn vẫn chỉ ngày một nồng đượm. Còn nhớ tết năm ấy (1789), sau lúc nhà Vua thống lĩnh đại binh đánh tan 29 vạn quân Thanh, tiến vào Thăng Long, nhìn màu hồng tinh khôi rực rỡ cửa những cành đào đất Bắc, Vua lại nhớ đến ta. Vì nghĩa lớn Bắc - Nam xum họp, vì mối tình đằm thắm với ta, Vua hiểu ta sống nhưng vẫn chẳng thể nào quên sắc đào lộng lẫy của Long Thành. Vua đã ý nhị tìm chọn một cành đào đẹp nhất đưa về làm quà cho ta. Ôi! Ta đã sung sướng ngây ngất ngắm không biết chán cành đào của Long Thành khoe sắc thắm giữa những bông mai vàng óng ả. Và, trong đêm hoa đăng kỳ thú năm ấy, nhà vua âu yếm quên cả giữ gìn nắm lấy tay ta... Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Ai ngờ con người nắm trong tay vận mệnh cả giang sơn, đang dự định làm những việc trời long đất lở bỗng dưng qua đời. Cảnh Thịnh nối ngôi cha, chẳng những không thực hiện được hoài bão của cha lại không vỗ yên được xã tắc, để triều đình chia bè kéo phái, dẫn tới cảnh này.
Từ đêm ấy, Ngọc Hân ốm nặng. Và, chỉ mấy ngày sau, nàng công chúa kiều diễm, viên ngọc quý của vua Lê Hiển Tông, người con gái nổi tiếng tài sắc của kinh thành Thăng Long, nhân vật huyền kỳ của bao câu chuyện truyền tụng trong dân gian xưa, một nhà thơ nổi danh trên văn đàn cả nước đã chết trong nỗi buồn tuyệt vọng trước hiện tình triều Tây Sơn. Nhà chùa sau phút sửng sốt biết người xấu số là Thái hậu Ngọc Hân, người con gái tài hoa, sớm gắn bó với sự nghiệp triều Tây Sơn, là người vợ đồng thời là người phụ tá của Hoàng đế Quang Trung xưa, đã xuất cạn tiền bạc làm lễ mai táng theo nghi thức trang nghiêm bậc nhất của Phật giáo .(15)
***
Thăng Long đã chuyển sang thu nhưng cái nóng nung người của những ngày hè vẫn chưa dứt. Trời nóng đến nỗi hoa cỏ phải héo rũ, nhiều người rải chiếu ngủ ngay bên đường. Một số bô lão quan tâm đến thời cuộc đã tìm trong cái thời tiết trái ngược này những lý do để bộc lộ tâm sự mình. Họ cho rằng, trời giáng tai hoạ như thế là điềm đại loạn, rằng nếu vua Cảnh Thịnh vẫn trọng dụng bọn cận thần biếng nhác việc nước nhưng lại quen mùi phú quý, thì ngay cả Thăng Long này, rồi cũng đến mất về tay giặc Ánh. Các bô lão còn nhận xét rằng quân Tây Sơn bây giờ đã khác xa thời Hoàng đế Quang Trung. Quân Tây Sơn bây giờ tướng lệnh không nghiêm, mạo diện ủ ê, thiếu nhuệ khí, duy có điều các văn quan võ tướng ai cũng mũ cao, áo rộng, thật chẳng bù cho quân Tây Sơn, thời diệt Trịnh, phá giặc Thanh ngày trước. Lẫn lộn trong tình cảm nuối tiếc cái thời huy hoàng, dân chúng Thăng Long bắt đầu lo lắng, và nỗi lo lắng ấy càng tăng khi họ thấy triều đình Cảnh Thịnh, đang lúc thế nước lâm nguy như thế, mà cổng thành vẫn đóng im ỉm như cổng chùa, không thấy một cuộc điều bát quân sĩ nào. Đâu đâu dân chúng cũng túm năm tụm ba bàn luận về nội tình triều Tây Sơn, căm tức giặc Ánh cõng rắn cắn gà nhà. Trong số họ, có người hoang mang, có người chán chường, người lo phiền, người chờ đợi. Nhưng nhiều nhất vẫn là tâm trạng bất mãn vì thấy triều đình bê trễ, bất lực. Cũng từ đấy, ở các phố, các chợ và các đường ngang ngõ tắt, bỗng lan truyền một bài thơ không biết ai làm:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Trong cơn sóng gió phũ phàng
Ai người chèo lái vững vàng hỡi ai?
Rồi trẻ con cũng thuộc. Các em thi nhau hát; các em hát ngoài đường, hát ở trong nhà, hát ngày, hát đêm, tuồng như các em cũng là những người hết lòng nghĩ đến vận nước.
Trong khi ấy, vua Cảnh Thịnh dáng ưu phiền, tư lự, ngày ngày cùng các cận thần bàn bạc kế sách, nhưng đã mấy ngày trôi qua, ông vua trẻ tuổi cùng đám cận thần ấy chưa biết xoay xở thế nào. Cực chẳng đã, vua Cảnh Thịnh đã bắt đầu chán ngấy các vị đại học sĩ, và trái với ý muốn của họ, Cảnh Thịnh quyết định triệu tất cả các văn võ tướng sĩ để cùng bàn kế giữ nước.
Cung vua được trang hoàng lộng lẫy. Trước ngày thiết đại triều, vua Cảnh Thịnh đã lệnh cho các quần thân phải cắt cử người lau chùi sạch sẽ, bệ rồng, án thư, các câu đối, những chậu cảnh v.v... Đường vào cung, cỏ được cắt xén, được quét tước cẩn thận đến một chiếc lá rơi cũng phải có người túc trực nhặt đi.
Cũng như vua Cảnh Thịnh, các đại thần văn võ dậy từ sớm. Họ cập rập vận mũ áo cân đai đến dự hội triều. Họ vội đi nhưng không quên dặn vợ con đừng chờ cơm trưa. Bởi vì sau những buổi thiết đại triều Vua đều mở tiệc khoản đãi các quần thần rất linh đình.
Mới giờ Dần các văn võ bá quan đã xách đèn lồng tề tựu đến cung vua. Những người đến chậm có lẽ còn bận về trang phục. Họ khá đông nhưng không thấy các đại học sĩ nổi tiếng mưu lược như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm. Không phải vì nhiệt tâm của các văn thần có tài có công ấy suy giảm. Mà chỉ vì vua Cảnh Thịnh không vời họ.
Chừng một giờ sau, theo lệnh của vua Cảnh Thịnh, viên nội giám mở cửa lớn. Các quan văn võ theo thứ bậc trịnh trọng vào hành lễ triều kiến.
Giữa lúc ấy dân chúng Thăng Long đổ xô ra đường xem một đội nữ kị sĩ mặc võ phục đỏ từ phía Nam thành đang phóng tới. Người Chủ tướng của đội nữ binh đã ngồi trên bành con voi độc ngà, tay trái bị thương đã được băng bó. Gần đến Thăng Long, người quản tượng cao gầy, lầm lì càng giơ búa thúc voi đi gấp. Đến khu vực Hoàng thành, viên nữ tướng cho quân dừng lại nghỉ ngơi rồi một mình xốc kiếm đi vào Hoàng cung. Vừa tới cửa cấm, vien nữ tương bị quân canh ngăn lại. Làn da trắng mịn trên khuôn mặt đôn hậu và thông minh cua viên nữ tương bỗng đỏ bừng:
- Ta vào bệ kiến Hoàng thượng bàn kế đánh giặc. Nữ tướng điềm tĩnh nói:
Toán lính cấm vệ cười ngặt nghẽo:
- Bản triều chỉ có một nữ tướng kiệt tài tên là Bùi Thị Xuân thì người ấy đã liều mình cứu vua. Làm sao lại có người đàn bà nào dám xông vào bệ kiến Hoàng thượng bàn chính sự. Nhà ngươi định doạ chúng ta phải không?
Nói khó thế nào toán lính cấm vệ cũng không cho đi. Cuối cùng, viên nữ tướng xô hai người lính chặn đường rồi đi vào. Viên tướng chỉ huy quân cấm vệ thấy vậy, tuốt kiếm ra chặn lại. Lập tức viên nữ tướng cũng tuốt kiếm, sẵng giọng:
- Ta từ Phú Xuân ra để tâu trình vua việc quân quốc. Không tránh ra ta chém.
Viên tướng vẫn cầm kiếm thế thủ, mắt nẩy lửa:
- Thánh chỉ đã cấm không ai được nhập cung giờ này. Trong ấy đang thiết đại triều, nếu ngươi coi thường phép nước, ta phải theo thượng lệnh.
- Thượng lệnh của ngươi là ai? Có phải chỉ toàn bọn ngươi xênh xang áo mũ, cả ngày tiệc tùng không hiến được kế gì, lại chỉ rình đón từng cử chỉ cốt làm đẹp lòng Hoàng thượng thôi phải không?
Thấy người đàn bà tướng mạo đĩnh đạc, ăn nói quả quyết, lại dám coi thường cả các đại thần, viên tướng chỉ huy quân cấm vệ đâm hoảng. Sau một lúc suy nghĩ, viên tướng thu kiếm lại và nghiêm trang hỏi:
- Vậy nếu quả có việc khẩn cấp, xin cho biết quý danh.
- Ta là Bùi Thị Xuân mà ngươi không biết sao?
Viên chỉ huy quân cấm vệ sửng sốt kêu lên:
- Trời ơi! Bùi nữ tướng đó ư? Tôi từng nghe danh mà chưa biết mặt. Xin nữ tướng thứ lỗi cho. Nhưng ở đây ai cũng nói rằng, nữ đô đốc vì phá vòng vây cứu Hoàng thượng nên đã...
- Đã làm sao? Bùi Thị Xuân hỏi dồn khi thấy viên tướng chần chừ.
- Thưa, đã bị giặc giết trong trận cự chiến ở cửa Thuận An.
- Lại có chuyện ấy ư? Đến lượt Bùi Thị Xuân sửng sốt.
Bất chợt, nữ tướng quay về phía sau. Ở đây, toán lính cấm vệ đang trố mắt nhìn Bùi Thị Xuân ngượng ngập vội cúi xuống.
- Thôi ta phải vào chầu - Bùi Thị Xuân nói, rồi sải những bước dài qua mặt viên tướng cấm vệ.
Vừa đến thềm điện, Bùi Thị Xuân đã trông thấy hai hàng đại thần xiêm áo lộng lẫy, vẻ mặt nghiêm trang thành kính, đang hướng về phía vua Cảnh Thịnh. Ngự trên chiếc ngai bằng gỗ tứ thiết bóng lộn như sừng, vẩy rồng lấp lánh ánh bạc dát vàng, vua Cảnh Thịnh tư lự, đăm chiêu nhưng vẫn không giấu được nét trẻ trung hơn cả tuổi 20 của mình. Sau một giây cân nhắc, Bùi Thị Xuân lấy dáng tự nhiên tiến về phía vua, mắt không nhìn hai hàng đại thần. Tiếng xì xầm bỗng nổi lên. Vua Cảnh Thịnh quay lại. Bước thêm một bước, Bùi Thị Xuân vòng tay, quỳ xuống:
- Muôn tâu Hoàng thượng! Thần thiếp từ Phú Xuân tới xin ra mắt Hoàng thượng.
Sau phút sửng sốt đến kinh ngạc, vua Cảnh Thịnh vỗ ngai đứng dậy, thân đỡ Bùi Thị Xuân, giọng lạc đi:
- Bùi nữ tướng vẫn còn sống đó ư! Thần đêm ngày thương tiếc nữ tướng. Nếu không có nữ tướng kíp đem quân cứu giá hôm ấy, trẫm đã nguy khốn rồi.
Chiếc rèm gấm sau ngai vua động đậy dữ dội như có người xô mạnh. Từ phía các quan đại thần văn võ, tiếng xì xào, xuýt xoa cũng to hơn. Vua Cảnh Thịnh trở về ngai vàng, vẻ mặt mừng rỡ tiếp tục hỏi:
- Đầu đuôi câu chuyện thế nào mà người ta tâu với trẫm, Bùi nữ tướng bị vây hãm rồi bị giết.
- Tâu Hoàng thượng! Sau lúc quyết đánh không để giặc xúc phạm đến Hoàng thượng, ngăn không cho giặc chiếm thành Phú Xuân, thần thiếp chờ viện binh tới. Về sau, được tin Hoàng thượng đã ra Bắc Hà, thần thiếp liệu sức mình không cự nổi, nên cũng thu quân. Giặc Ánh kể cả bọn lính người Tây Dương diễu võ dương oai vậy thôi chứ võ nghệ xem ra cũng rất thường.
Tiếng xì xào lại nổi lên, tuồng như các đại thần không cho nhận xét của Bùi Thị Xuân về sức giặc là phải.
Vua Cảnh Thịnh tinh ý thấy được điều đó nên rất hài lòng về lời tâu của Bùi Thị Xuân. Hơn thế Cảnh Thịnh thầm cảm ơn nữ tướng Bùi Thị Xuân đã không đả động đến việc mình chạy dài, coi đấy là nguyên nhân để mất thành Phú Xuân, nên vua trầm giọng, an ủi:
- Thôi, còn tướng còn quân sĩ là còn có cơ thu phục kinh thành. Bùi nữ tướng hãy về chỗ. Chỗ đứng của nữ tướng là hàng đại tướng có công.
Bùi Thị Xuân quay lại và bối rối về chỗ đứng theo thứ bậc. Nhưng viên quan nội giám đã dẫn Bùi Thị Xuân đứng ở hàng đầu dãy quan võ.
Vài tiếng xì xào nổi lên, Bùi Thị Xuân bắt gặp cái nhìn khó chịu của viên quan văn đứng đối diện với mình.
- Trong lúc quốc nạn này - Vua Cảnh Thịnh tiếp tục nói - các khanh phải bỏ qua mối hiềm khích, hòa hợp với nhau để vì trẫm nghĩ kế giữ nước. Trẫm lâu nay ngày quên ăn đêm quê ngủ cũng vì việc lớn canh cánh bên lòng vậy.
- Muôn tâu Hoàng thượng! - Viên quan đứng đầu hàng văn thần bước ra vòng tay nói - Cứ theo ý của ngu thần thì một khi đã dời đô ra Thăng Long này thì đất Thuận Hoá khó mà giữ được. Lúc lâm chung, Tiên vương dặn các tướng phải sớm giúp Hoàng thượng rời đô ra Phượng Hoàng trung đô . Xem vậy thì đất Thuận Hoá vốn xưa không phải là đất của triều đình vua Lê. Tiên triều phí bao nhiêu của cải trong nước mới lấy lại được xứ ấy rồi lại vẫn không giữ được. Cho nên mất cũng là may. Bây giờ chỉ còn bàn tính việc đem quân trấn giữ Nghệ An và phái người đi gặp Nguyễn Ánh, phân rõ cương vực từ đất ấy. Nếu ta lấy sự mất đất Thuận Hoá làm may, ắt Ánh phải lấy sự lấy đất của ta làm điều đáng ngại. Đó là kế vẹn toàn nhất nhất.
Viên đại thần lui xuống dáng tự đắc. Nhưng y đã bắt gặp cái nhìn nẩy lửa, tỏ rõ sự khinh bỉ của nữ tướng Tây Sơn. Cùng lúc ấy một đại thần khác, khệ nệ vái Vua, giọng chắc nịch:
- Lời tâu của vị đại quan vừa rồi khác nào việc cúi đầu hàng giặc. Giặc Ánh đã đánh Phú Xuân tất ngày một ngày hai sẽ đánh Nghệ An rồi đánh cả Thăng Long này nữa. Cho nên, muốn giữ được nước phải nghĩ kế phá giặc, phải dụ chúng đến chỗ mình muốn đánh, phải có binh hùng tướng mạnh. Diệu kế để đánh được Ánh là dụ chúng ra Bắc Hà vì mấy lẽ:
Thứ nhất, ta dùng quân nhàn đánh quân nhọc mệt.
Thứ hai, dân chúng Bắc Hà vốn là thần dân của Tiên vương, chịu ơn sâu của Tiên vương. Giặc Ánh mang tiếng ô nhục cõng rắn cắn gà nhà, tránh sao khỏi sự dân căm ghét. Giặc Ánh đem đại binh ra, ta có đại nghĩa để kích động dân chúng chung sức đánh giặc.
Lẽ thứ ba, hiện ta chưa có binh hùng tướng mạnh nhưng ta sẽ có cả chục vạn quân dàn đầy xung quanh thành Thăng Long. Ta cử tướng đốc lãnh các quân thuỷ đạo chặn giặc từ sông Luộc. Thế giặc kéo ra Bắc Hà chỉ như thế muỗi đội núi, tránh sao khỏi bị diệt.
Nhiều tiếng xì xào nổi lên. Vua Cảnh Thịnh tỏ rõ sự lúng túng trước những lời tâu ấy. Còn Bùi Thị Xuân cảm thấy máu rần rật chảy khắp người. Và, trong nỗi giận không kìm được, Bùi Thị Xuân bước ra quên cả vái Vua, giọng lanh lảnh:
- Thần thiếp chưa biết các vị quan văn này làm gì, bổng lộc bao nhiêu và được Hoàng thượng sủng ái bậc nào, nhưng thần thiếp xin mạo muội tâu rằng: Vị trước thì hiến kế dâng đất cho giặc, vị sau thì nói đến phá giặc nhưng thực ra không dám cự giặc. Trong lúc vận mạng đất nước ngàn cân treo sợi tóc, giặc Ánh thì quỷ quyệt, hung hăng, kế sách ấy khác nào giở giáo đón giặc? Cho nên, thần thiếp cúi đầu xin Hoàng thượng bỏ ngoài tai những lời không đúng với phẩm giá của người trượng phu trong đạo thờ vua giúp nước ấy.
Cả cung điện im lặng đến căng thẳng.
-Muôn tâu Hoàng thượng! - Bùi Thị Xuân tiếp giọng nghẹn ngào - Ban nãy vị đại thần nhắc lại lời trăng trối của Tiên đế lúc lâm chung. Vì vậy thần thiếp xin bắt đầu từ ý ấy, nhân thể chỉnh lại sự hiểu thiên lệch ác ý của người nói. Thần thiếp nhớ như in lời Tiên đê dặn rằng: “Bên ngoài có quân Gia Định (17) là quốc thù. Khi ta chết rồi, nội một tháng phải táng cho xong, việc tang làm qua loa thôi. Các ngươi nên giúp Thái tử sớm dời đô ra Phượng Hoàng trung đô cùng chung lo việc nước. Phải cẩn thận từng ly từng tý. Nếu không thì quân Gia Định tới các người sẽ không còn một chỗ mà chôn đâu” . Xem thế, Tiên đế không coi thường giặc. Việc dời đô là nhằm trấn yên bốn phương, tăng sức đề kháng, giúp thần dân yên chức nghiệp, vui theo lệ tục chứ đâu phải để bỏ đất Thuận Hoá! Vậy mà bao lâu nay ta chưa trừ được mối hoạ ấy. Chẳng những thế, nay giặc đánh ra, vua tôi không nghĩ đến phải ngày một ngày hai trừ giặc, mà lại thu giáo trừ giặc, nhường đất cho giặc, như thế sao gọi là tôi trung!
-Viên đại thần đứng hàng triều văn quan bước ra, giọng kinh khỉnh:
- Tâu Hoàng thượng! Thần chưa rõ viên nữ đại tướng này có công trạng gì, nhưng cách ăn nói xem ra hàm hồ và không thực bụng thờ vua.
Bùi Thị Xuân quay lại, nhìn thẳng vào mặt viên quan:
- Tôi chưa có nhiều công trạng, nhưng tôi có cánh tay bị thương này để tỏ rõ tôi không sợ giáp chiến với giặc và không sợ chết vì nghiệp lớn của dân nước, vả lại, công trạng đáng lưu tâm nhất lúc này là đánh giặc giữ nước. Cho nên - Bùi Thị Xuân hướng về phía Vua - thần thiếp xin Hoàng thượng hãy truyền hịch động binh, vời binh các trấn về hợp sức tiến vào Phú Xuân quyết chiến với giặc. Để chắc thắng, xin Hoàng thượng mật sai người truyền lệnh cho quan Thiếu phó và quan Đại tư đồ cùng đem binh từ Quy Nhơn đánh ra. Bị kẹp giữa hai đội quân lớn, Nguyễn Ánh và bọn người Tây Dương ấy có phép thần thông cũng không thoát chết. Việc khẩn cấp, xin Hoàng thượng quyết đoán một lần nữa.
Lý lẽ và nhiệt tình của Bùi Thị Xuân đã cảm hóa được đa số các văn quan võ tướng. Vua Cảnh Thịnh cũng lộ rõ sự thiện cảm đối với nữ tướng bỗng dưng có tài hùng biện. Vì vậy, sau một hồi tranh cãi, Vua truyền:
- Ngày hôm nay trẫm sẽ truyền hịch phủ dụ dân chúng và điều binh các trấn về hợp sức chờ ngày xuất quân đánh giặc. Trẫm cũng sẽ kịp phái lính cảm tử đem mật chiêu báo cho quan Thiếu phó biết mà phối hợp đánh về. Các khanh hãy vì Trẫm, vì cơ đồ của Tiên đế dốc lòng dốc sức giúp cho việc lớn mau thành. Được như vậy cũng là phúc lành cho dân vậy.
Nói rồi vua Cảnh Thịnh truyền bãi triều.
***
Sau ngày thiết đại triều, không khí Thăng Long bắt đầu đổi mới. Hàng ngày quân bản bộ hai lượt hăng hái ra giáo trường luyện tập. Ngoài sông, các thuyền chiến dàn trận tập dượt thuỷ quân. Các đội kỵ binh nam cũng như nữ, võ phục với khăn đầu đỏ thắm, lúc tập bắn ở nơi này, khi luyện phóng hoả ở chỗ khác. Bùi Thị Xuân lúc cưỡi voi đến giáo trường lúc phóng ngựa lẫn trong đội kỵ binh chẳng khác con thoi trong guồng sợi, chạy đều. Hịch cổ vũ quân dân, điều bát binh mã của Vua cũng được các trạm tới tấp truyền về bốn trấn. Không đầy mười ngày sau đấy, binh từ trấn Sơn Nam kéo lên, thuyền chiến nườm nượp bến sông; binh từ trấn Kinh Bắc kéo về, quân bản bộ tiền hô hậu ủng ầm ầm như sấm động; binh từ trấn Sơn Tây kéo xuống, mấy trăm ngựa chiến béo căng lườn, phóng như tên bắn và cả binh từ trấn Hải Dương có voi chiến dẫn đầu, đạp tung bụi đường tiến về kinh thành. Trai gái Thăng Long cũng náo nức thi nhau gia nhập quân ngũ. Các bễ lò rèn nổi lửa suốt ngày đêm. Từ các cửa ô, các phố, từ các bãi tập đến chợ búa các nơi, đâu đâu cũng sôi lên hào khí ra quân. Trong những ngày sôi sục, khẩn trương luyện tập ấy, dân chúng Thăng Long vẫn tụ tập vẫn đàm đạo, nhưng nét mặt ai nấy đều rạng rỡ, ríu rít. Trẻ em không còn thì giờ để hát nữa. Những cuộc học tập trận, tập bắn, những cuộc đua ngựa, những con voi khổng lồ khôn ngoan biết quỳ xuống đón chủ tướng đã hút bầy trẻ đến quên ăn quên ngủ.
Cũng từ sau buổi thiết đại triều ấy, lần đầu tiên, Bùi Thị Xuân được vua Cảnh Thịnh trọng dụng, giao cho nắm giữ binh quyền như một đại tướng. Vua mời Bùi Thị Xuân ở ngay trong hoàng cung để tiện bàn bạc. Và đầu mùa đông năm ấy, một đội thám mã sành sỏi nhất được tiếp phái đi về hướng nam. Rồi một kế đánh quy mô thu hút hơn ba vạn quân thuỷ bộ đã được vua Cảnh Thịnh và viên nữ đại tướng phác hoạ. Đạo quân khổng lồ ấy do Bùi Thị Xuân làm tướng tiên phong, vua Cảnh Thịnh thân đốc suất trung quân. Đạo quân này sẽ đánh thẳng vào quân bản bộ của Nguyễn Ánh thống lĩnh ở lũy Trấn Ninh (21) . Đạo quân thuỷ do đại Đô đốc Nguyễn Thuận thống lĩnh sẽ đem chiến thuyền đánh thuỷ quân giặc ở sông Gianh.
Hai đạo quân ấy rời khỏi Thăng Long đầu tháng một năm 1801.
Chú thích:
(14) Vua Lê Hiển Tông.
(15) Về sau Nguyễn Ánh quật mả Ngọc Hân, bắt giết các sư sãi trong chùa để trả thù. Hai con Ngọc Hân bị Ánh giết hại.
(16) Khoảng 5 giờ sáng.
(17) Nghệ An ngày nay.
(18) Ý nói các vua đời Lê.
(19) Quân Nguyễn Ánh.
(20) Nguyên văn di huấn của Nguyễn Huệ trước khi mất
(21) Nam Quảng Bình ngày nay.