Earthsea Cycle 1: A Wizard Of Earthsea

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Học Viện Phù Thủy

❊ ❊ ❊

Đêm đó, Cách Đắc ngủ trên con thuyền "Hắc Ảnh", sáng hôm sau liền từ giã những người đồng chí đi biển đầu tiên trong đời. Khi cậu trèo lên cầu tàu, tất cả mọi người ở phía sau đều vui mừng lớn tiếng chúc phúc cho cậu.

Trấn TuyI Nhĩ không lớn, những ngôi nhà mái cao chen chúc trên vài con đường hẹp và dốc, nhưng trong mắt Cách Đắc, nó giống như một thành phố lớn khiến cậu thực sự không biết nên đi về hướng nào cho phải. Cậu hỏi thăm người dân đầu tiên mình gặp xem có thể tìm thấy người hộ trì của học viện Nhu Khắc ở đâu, người nọ liếc nhìn cậu một lúc rồi mới nói: "Người trí tuệ không cần hỏi, kẻ ngu ngốc hỏi cũng uổng công." Nói xong liền tự mình đi dọc theo con đường.

Cách Đắc đành phải tiếp tục leo dốc, đi mãi cho đến một quảng trường. Ba mặt của quảng trường là những ngôi nhà có mái đá phiến nhọn, mặt thứ tư là bức tường cao của một tòa kiến trúc hùng vĩ. Những ô cửa sổ nhỏ thưa thớt trên bức tường cao ấy còn cao hơn cả đỉnh ống khói của những ngôi nhà, khiến cho tòa kiến trúc trông giống như một pháo đài hoặc lâu đài, được xây dựng bằng đá xám kiên cố. Khu vực quảng trường dưới chân tòa kiến trúc ấy dựng vài giàn lều chợ, dưới giàn lều có dòng người qua lại. Cách Đắc bước tới hỏi một bà lão đang xách một giỏ vẹm, bà lão đáp: "Người hộ trì của học viện không ở nơi ông ấy ở, nhưng thỉnh thoảng có thể tìm thấy ở nơi ông ấy không ở." Nói xong liền xách giỏ vẹm tiếp tục đi bán.

Ở một góc của tòa kiến trúc hùng vĩ đó, có một cánh cửa gỗ nhỏ không nổi bật, Cách Đắc bước tới dùng tay gõ. Có một ông lão ra mở cửa, Cách Đắc nói với ông: "Ta mang theo một bức thư, do pháp sư Âu Cát An của đảo Cung Thất bảo ta giao cho người hộ trì của học viện trên đảo này. Ta muốn tìm vị hộ trì đó, nhưng không muốn nghe thêm bất kỳ câu đố hay lời chế nhạo nào nữa!"

"Nơi này chính là học viện." Ông lão ôn hòa nói: "Ta là người giữ cửa. Nếu ngươi vào được, cứ vào đi."

Cách Đắc bước tới phía trước. Cậu cảm thấy mình đã vượt qua ngưỡng cửa, nhưng thực tế thì vẫn đang đứng ở lối đi ngoài cửa lúc nãy.

Cậu lại tiến lên lần nữa, kết quả vẫn đứng nguyên tại chỗ ở ngoài ngưỡng cửa. Người giữ cửa bên trong ngưỡng cửa bình thản nhìn cậu.

Cách Đắc cảm thấy phẫn nộ nhiều hơn là bối rối, bởi vì tình hình lúc này chẳng khác nào đang chơi khăm cậu gấp bội. Thế nên cậu giơ tay cất tiếng, thi triển "Thuật khai mở" mà dì đã dạy từ rất lâu trước đó. Đó là bùa chú quý giá nhất trong tất cả các bùa chú của người dì, và Cách Đắc có thể thuần thục thao tác. Nhưng suy cho cùng thì đó cũng chỉ là một thứ ma chú của phù thủy thôn quê, cho nên sức mạnh giữ gìn ngưỡng cửa kia hoàn toàn không hề suy suyển.

Pháp thuật khai mở thất bại, Cách Đắc đứng ngây ra trên lối đi một hồi lâu. Cuối cùng, cậu nhìn chằm chằm ông lão đang đợi trong ngạch cửa, không mấy tự nguyện nói: "Ta không vào được, trừ khi ông giúp ta."

Người giữ cửa đáp: "Nói tên của ngươi ra."

Cách Đắc lại ngây người bất động. Bởi vì trừ khi gặp nguy hiểm lớn hơn tính mạng, nếu không thì bình thường sẽ chẳng ai lớn tiếng nói ra tên thật của mình...

"Ta tên là Cách Đắc." Cậu lớn tiếng nói. Tiếp theo, cậu bước tiến về phía trước, đã bước qua ngưỡng cửa. Thế nhưng cậu phảng phất cảm thấy, ánh sáng tuy ở phía sau lưng, nhưng lại có một cái bóng đen bám sát theo cậu vào cửa.

Cậu vốn tưởng rằng ngưỡng cửa làm bằng gỗ, sau khi vào cửa quay đầu lại nhìn mới phát hiện, đó thực ra là một khối ngà voi liền mạch không một vết nối. Sau này cậu mới biết, ngưỡng cửa đó được cắt ra từ một chiếc răng lớn của loài rồng. Còn cánh cửa mà ông lão khép lại sau khi cậu bước vào, thì được làm bằng sừng rồng sáng bóng như vừa được rửa sạch. Ánh ban ngày bên ngoài xuyên qua cửa sừng rồng, chiếu sáng mờ ảo bên trong ngôi nhà. Mặt trong của cửa sừng rồng chạm khắc hình "Cây ngàn lá".

"Chào mừng đến đây, đứa nhỏ." Người giữ cửa nói xong, không nói thêm lời nào, liền dẫn Cách Đắc đi qua rất nhiều hành lang và sảnh đường, đến một khoảng sân trong rộng rãi nằm cách xa bức tường bên ngoài. Sân trong không có mái che, một phần mặt đất lát đá, trên một mảnh bãi cỏ chưa lát đá có một đài phun nước, đang phun nước dưới những tán cây nhỏ được ánh mặt trời chiếu rọi. Cách Đắc cô độc đợi ở đó. Cậu tuy đứng yên lặng, nhưng tim lại đập loạn nhịp, bởi vì cậu dường như cảm nhận được xung quanh có linh khí và sức mạnh đang vận chuyển, cậu cũng hiểu rằng nơi này không chỉ được tạo nên bằng đá, mà còn được kiến tạo bằng ma thuật kiên cố hơn đá cả vạn lần. Cậu cứ đứng ở không gian sâu thẳm nhất của "Nhà trí giả" này, mà nơi đây lại rộng mở thông tận trời cao. Đột nhiên, cậu chú ý tới có một người mặc áo trắng đang nhìn mình qua dòng nước phun chảy rào rào.

Khi ánh mắt hai người chạm nhau, có một chú chim nhỏ hót vang trên cành cây. Khoảnh khắc ấy, tiếng chim ríu rít, tiếng suối trò chuyện, hình dáng mây trời, sức gió lay động cành lá, Cách Đắc đều thấu hiểu tất cả. Bản thân cậu, phảng phất cũng như một chữ cái do ánh mặt trời thốt ra.

Và rồi, khoảnh khắc ấy trôi qua, cậu và vạn vật đất trời đều trở lại trạng thái ban đầu — hoặc có thể nói là gần như trở lại trạng thái ban đầu. Cậu bước lên quỳ xuống trước mặt Đại pháp sư, dâng bức thư thủ bút của Âu Cát An lên.

Người hộ trì học viện Nhu Khắc - Đại pháp sư Nê Ma Nhĩ là một ông cụ, nghe nói ông là người già nhất trên đời. Ông ân cần cất tiếng chào mừng Cách Đắc, giọng nói run rẩy như tiếng chim hót. Tóc, râu và áo choàng của ông đều trắng xóa, nhìn vào có lẽ thấy tất cả bóng tối và gánh nặng đều đã được gột rửa theo sự trôi qua chậm chạp của năm tháng, khiến vị pháp sư này giống như một khúc gỗ trôi giạt trăm năm, chỉ còn lại màu trắng và sự hao mòn.

"Mắt ta hỏng rồi, không thể đọc thư sư phụ ngươi viết được nữa." Giọng ông vang lên: "Đứa nhỏ, ngươi đọc cho ta nghe đi."

Bức thư được viết bằng văn tự Hách ngữ, Cách Đắc cố gắng nhận dạng rồi lớn tiếng đọc to. Nội dung rất ngắn gọn: "Cát hạ Nê Ma Nhĩ! Nếu tình hình không có gì lừa dối, người mà hôm nay ta gửi đến đây, ngày sau sẽ trở thành pháp sư trác tuyệt đỉnh cao của đảo Cung Thất." Thư không ký tên thật của Âu Cát An, mà là phù văn của Âu Cát An: "Ngậm miệng". Kỳ thực, đến tận bây giờ Cách Đắc vẫn chưa biết tên thật của sư phụ mình.

"Đã là người từng khống chế động đất phái ngươi đến, chúng ta lại càng hoan nghênh gấp bội. Âu Cát An thuở thiếu thời từ đảo Cung Thất đến đây học tập, rất thân thiết với ta. Nào, đứa nhỏ, trước tiên hãy kể về quá trình hải trình và những chuyện đặc biệt mà ngươi đã gặp phải đi."

"Thưa đại sư, hành trình rất thuận lợi, chỉ là ngày hôm qua có một trận bão."

"Con tàu nào đã chở ngươi tới?"

"Thuyền Hắc Ảnh, là tàu buôn của đảo An Trác."

"Là ý của ai mà muốn ngươi đến đây?"

"Là ý của chính con."

Đại pháp sư trước tiên nhìn Cách Đắc, sau đó nhìn đi chỗ khác, bắt đầu nói những điều Cách Đắc không hiểu, giống như sự lẩm bẩm tự nói một mình của một ông lão lú lẫn, tâm tư luân chuyển giữa những năm tháng qua và các hòn đảo khác nhau. Thế nhưng, đan xen giữa sự lẩm bẩm ấy lại là tiếng chim ríu rít và tiếng suối chảy từ lúc nãy. Đại pháp sư không hề thi chú, nhưng trong giọng nói lại có một sức mạnh chạm đến tâm tư của Cách Đắc, khiến cậu cảm thấy hoang mang lo sợ, trong khoảnh khắc, cậu dường như thấy mình đang ở trên một vùng đất hoang kỳ lạ, cô độc đứng giữa vô số cái bóng đen. Nhưng từ đầu đến cuối cậu vẫn đứng ở sân trong ngập tràn ánh nắng, lắng nghe tiếng suối đổ ào ào.

Một con quạ đen lớn của đảo Âu Tư Khả đang tản bộ trên nền đá và bãi cỏ trong sân. Nó dừng lại bên tà áo trắng của Đại pháp sư, toàn thân đen tuyền, dùng chiếc mỏ giống như dao găm và đôi mắt giống như viên sỏi, trừng mắt nhìn Cách Đắc từ một bên. Nó mổ ba cái vào cây gậy gỗ màu trắng mà Đại pháp sư Nê Ma Nhĩ đang tựa vào, vị phù thủy già bấy giờ mới ngừng lẩm bẩm niệm chú, mỉm cười.

"Đứa nhỏ, ngươi đi chơi đi." Lúc này Đại pháp sư mới mở miệng, giống như đang nói chuyện với một đứa trẻ.

Cách Đắc lại quỳ một gối trước Đại pháp sư. Khi đứng dậy, Đại pháp sư đã biến mất, chỉ còn con chim đen đứng đó nhìn cậu, vươn cái mỏ ra như muốn mổ vào cây gậy vốn đã biến mất cành lá.

Chim nhỏ cất tiếng nói, Cách Đắc đoán đó là tiếng của đảo Âu Tư Khả. "Thiết nhược năng, âu ti tư ba!" Nó kêu y y nha nha: "Thiết nhược năng, âu tuyến ba, âu thụy khả!" rồi nghênh ngang rời đi giống như lúc nó đến.

Cách Đắc quay người rời khỏi sân trong, không biết nên đi về đâu.

Dưới hành lang có mái vòm, một thanh niên vạm vỡ đi tới, cậu ta lịch sự cúi đầu chào Cách Đắc: "Tôi tên là Giả Tự Phác. Con trai của lãnh chúa Ưu Ca trên đảo Hắc Vu Phất Nặc (Hắc Phất Nặc). Hôm nay tôi phục vụ ngài, chịu trách nhiệm dẫn ngài đi tham quan Hoằng Hiên quán này, và cố gắng trả lời mọi thắc mắc của ngài. Tôi nên xưng hô với ngài thế nào đây, thưa tiên sinh?"

Cách Đắc - thiếu niên sơn thôn này, suốt đời chưa từng giao du với thương nhân giàu có hay công tử nhà quyền quý nào, cậu vừa nghe thấy tên trước mặt này mở miệng là "phục vụ", "tiên sinh", lại còn cúi đầu vái chào, chỉ cảm thấy đối phương đang giễu cợt mình, liền bất lịch sự đáp một câu đơn giản: "Người ta gọi tôi là Tước Ưng."

Đối phương đứng yên một lát, dường như đang đợi một màn đáp lễ ra trò hơn. Đợi mãi không thấy phần sau, cậu ta liền thẳng lưng lên, xoay người sang hướng khác một chút rồi bắt đầu dẫn đường. Giả Tự Phác lớn hơn Cách Đắc hai ba tuổi, dáng người rất cao, cử chỉ giơ tay nhấc chân lộ ra vẻ tao nhã cứng nhắc, làm bộ làm tịch như một vũ công (Cách Đắc thầm nghĩ). Giả Tự Phác mặc áo choàng xám, mũ trùm đầu hất ra đằng sau.

Trạm dừng chân đầu tiên, cậu ta dẫn Cách Đắc đến phòng thay quần áo. Đã vào học viện làm học đồ, Cách Đắc có thể tìm một chiếc áo choàng thích hợp cho mình cùng những vật dụng quần áo có thể cần dùng khác ở phòng thay đồ. Cách Đắc mặc chiếc áo choàng đã chọn lên xong, Giả Tự Phác liền nói: "Bây giờ, ngài đã là một thành viên của chúng ta rồi."

Khi Giả Tự Phác nói chuyện, khóe miệng luôn mang ý cười mơ hồ, khiến Cách Đắc cứ cố tìm kiếm thành phần giễu cợt trong những lời khách sáo của cậu ta, thế nên cậu không vui đáp lại: "Chẳng lẽ làm pháp sư thì cứ dựa vào ăn mặc là tính xong sao?"

"Cũng không hẳn." Nam sinh lớn tuổi nói: "Nhưng tôi từng nghe nói, nhìn lễ nghi của họ thì biết con người họ. Tiếp theo, chúng ta đi đâu đây?"

"Tùy ý anh thôi, dù sao tôi cũng không quen thuộc Hoằng Hiên quán này."

Giả Tự Phác dẫn Cách Đắc đi tham quan dọc theo hành lang của Hoằng Hiên quán, chỉ cho cậu xem vài cái sân rộng và sảnh lớn có mái che. "Thư phòng" là nơi cất giữ sách dân gian và các cuộn sách bí ngữ, "Sảnh lò sưởi gia đình" rộng lớn là nơi toàn thể thầy trò tụ họp vui chơi vào các dịp lễ hội.

Những căn phòng trên tháp ở lầu trên là phòng nhỏ để thầy trò đi ngủ. Cách Đắc ngủ ở Nam tháp, phòng của cậu có một cửa sổ, có thể phóng tầm mắt nhìn xuống những mái nhà dốc của từng hộ gia đình ở trấn Tuy Nhĩ và biển cả ở phía xa. Trong phòng cũng giống như các phòng ngủ khác, ngoài chiếc giường cỏ đặt ở góc phòng ra thì chẳng có đồ đạc nào khác. Giả Tự Phác nói: "Cuộc sống ở chỗ chúng ta rất giản dị, nhưng tôi nghĩ chắc ngài sẽ không bận tâm đâu."

"Tôi quen rồi." Cách Đắc nói xong, muốn tỏ vẻ mình không hề thua kém tên nhợt nhạt khách sáo nhưng lại coi thường người khác trước mắt, liền nói tiếp: "Tôi đoán lúc mới đến chắc chắn cậu không quen rồi chứ gì?"

Giả Tự Phác nhìn Cách Đắc, biểu cảm tự nói lên tất cả: "Tôi là hậu duệ của lãnh chúa Ưu Ca trên đảo Hắc Phất Nặc, sao cậu có thể biết tôi quen hay không quen cái gì?" Nhưng thốt ra khỏi miệng cậu ta lại chỉ là: "Lối này."

Khi hai người còn ở lầu trên, tiếng chiêng đã vang lên, thế nên họ liền xuống lầu đến bên bàn dài ở phòng ăn để ăn trưa. Cùng dùng bữa lúc đó có khoảng hơn một trăm cậu thiếu niên và thanh niên. Qua ô đưa thức ăn giữa nhà bếp và phòng ăn, mọi người vừa đùa giởn với đầu bếp vừa tự mình múc thức ăn từ trong tô lớn đang bốc khói vào đĩa riêng, sau đó đi đến bên bàn dài tìm một vị trí vừa ý để ngồi xuống.

Giả Tự Phác bảo Cách Đắc: "Nghe nói dù bao nhiêu người đến bàn này ngồi đi nữa, thì lúc nào cũng có chỗ." Trông có vẻ chỗ ngồi quả thực rất đủ. Bên bàn có từng nhóm nam sinh ồn ào náo nhiệt, vừa ăn vừa nói chuyện rất hào sảng; lại có một số người lớn tuổi hơn, cổ áo choàng xám của họ đều có khuy bạc. Những đứa trẻ lớn đó yên tĩnh hơn, hoặc ở một mình, hoặc đi thành từng đôi, trên mặt mỗi người đều mang biểu cảm trầm tư nghiêm túc, giống như có rất nhiều chuyện phải suy nghĩ. Giả Tự Phác dẫn Cách Đắc đến ngồi chung với một thiếu niên vạm vỡ tên là Phí Cừ, Phí Cừ rất ít nói, chỉ cắm cúi ăn đồ ăn. Cậu ta nói chuyện mang giọng điệu của người phương Đông, da ngăm đen, không giống như Cách Đắc, Giả Tự Phác cùng đa số người vùng quần đảo có làn da màu đỏ nâu, mà là màu nâu đen. Phí Cừ là người thẳng thắn, cử chỉ không hề ra vẻ giả tạo. Ăn xong cậu ta phàn nàn về đồ ăn trước, sau đó quay đầu nói với Cách Đắc: "Ít nhất thì đồ ăn ở đây cũng không đến mức là ảo ảnh giống như rất nhiều thứ trong học viện, đủ để chống đỡ xương sườn." Cách Đắc nghe không hiểu ý cậu ta là gì, nhưng trực giác lại thích thiếu niên này, hơn nữa rất vui vì cậu ta sẵn lòng ở lại bên cạnh họ sau bữa ăn.

Ba người cùng nhau vào trấn, để Cách Đắc quen thuộc với môi trường xung quanh. Đường phố ở trấn Tuy Nhĩ chẳng có mấy con đường, đều rất ngắn, thế nhưng lại uốn lượn ngoằn ngoèo giữa những ngôi nhà mái cao, khiến người ta hoa mắt dễ bị lạc đường. Thị trấn nhỏ này kỳ lạ, người dân trấn cũng kỳ lạ, tuy cũng giống như cư dân ở các trấn khác, không ngoài ngư dân, công nhân, thợ thủ công..., nhưng họ đã quá quen với ma thuật mà hòn đảo trí giả này thi triển, cho nên dường như chính họ cũng là một nửa thuật sĩ. Cách Đắc sớm đã phát hiện ra, người ở đây nói chuyện cứ như đánh đố. Nếu nhìn thấy bé trai biến thành cá, hay ngôi nhà bay lên không trung, cũng chẳng có ai thèm chớp mắt một cái, bởi vì họ biết đó là trò ác ý của học trò. Hơn nữa dù có nhìn thấy, cũng chẳng ai lo lắng, người vá giày vẫn cứ vá giày, người thái thịt cừu vẫn cứ thái thịt cừu.

Leo dốc đi qua cửa sau bên ngoài học viện, vòng qua mấy khu vườn của Hoằng Hiên quán, ba thiếu niên này đi qua một cây cầu gỗ bắc qua dòng nước trong trẻo của sông Phiêu Nhĩ, đi qua rừng cây và bãi cỏ, tiếp tục hướng về phía bắc. Con đường nhỏ uốn lượn hướng lên trên, dẫn dắt họ băng qua mấy khu rừng sồi. Vì ánh mặt trời rực rỡ, bóng râm của rừng sồi càng thêm đậm đặc. Một khu rừng cách đó không xa lắm về phía bên trái, Cách Đắc mãi vẫn không thể nhìn rõ được, mặc dù hình như nó vẫn luôn ở ngay gần đó, thế nhưng lại chẳng có con đường nhỏ nào dẫn đến nơi đó cả. Cậu thậm chí không thể nhận diện được khu rừng đó mọc loại cây gì. Phí Cừ liếc thấy Cách Đắc đang đăm đăm nhìn khu rừng kia, liền nhỏ giọng nói: "Đó là 'Tâm Thành lâm', bây giờ chúng ta vẫn chưa thể vào đó được, thế nhưng..."

Trên bãi cỏ được ánh mặt trời phơi ấm, hoa vàng nở rộ khắp nơi. "Đây là hoa tinh thảo." Giả Tự Phác nói: "Trước kia, khi Ẹ Lợi Á Bái (Eriabe) dũng cảm chống lại sự xâm lược của Hỏa gia vào các hòn đảo vành đai trong, đảo Y Lợi An bị lửa thiêu rụi, tro tàn bay lả tả theo gió, đi đến đâu là hoa tinh thảo mọc lên đến đó." Giả Tự Phác thổi vào một nhành hoa đã héo úa, những hạt giống tơi xốp bay vút lên theo gió, lấm tấm như đốm lửa dưới ánh mặt trời.

Con đường nhỏ dẫn họ lên dốc, bao quanh chân một gò xanh lớn. Gò xanh này tròn vo và không có cây cối. Khi Cách Đắc đi thuyền đến, bước vào vùng biển đảo Nhu Khắc bị yểm bùa, từng từ trên thuyền nhìn từ xa thấy gò xanh này. Giả Tự Phác dừng bước ở chân núi.

"Ở quê hương Hắc Phất Nặc, tôi thường nghe người ta ca ngợi không ngớt lời về thuật phù thủy của đảo Cung Thất, cho nên từ lâu đã rất muốn được tận mắt chứng kiến. Giờ đây chúng ta đã có sư đệ đến từ Cung Thất, mà giờ khắc này chúng ta lại tình cờ đứng ở chân gò Nhu Khắc. Bởi vì gốc gác của gò đất cắm sâu vào tâm địa cầu, thế nên bất kể thi triển pháp thuật gì ở đây, hiệu lực đều đặc biệt cường đại. Tước Ưng, cậu hãy thi triển một pháp thuật cho chúng ta xem đi, thể hiện phong cách của cậu một chút nào."

Cách Đắc hoảng hốt bối rối, ngây người ra, không nói gì cả.

"Giả Tự Phác, từ từ đã, hãy để cậu ấy được tự nhiên một thời gian đi." Phí Cừ thẳng thắn lên tiếng với tác phong bộc trực của mình.

"Cậu ta nếu không có pháp thuật, thì cũng có sức mạnh, nếu không thì người giữ cửa đã không cho cậu ta vào. Đã như vậy, cậu ta biểu diễn bây giờ và biểu diễn sau này thì có gì khác nhau chứ? Đúng không, Tước Ưng?"

"Tôi không biết pháp thuật, cũng không có sức mạnh," Cách Đắc nói: "Các anh hãy biểu diễn thứ mà các anh vừa nói cho tôi xem đi."

"Đương nhiên là huyễn thuật rồi, chính là những trò mánh khóe có hình dáng giống thật ấy, giống như thế này!"

Giả Tự Phác lẩm bẩm đọc những từ kỳ lạ, ngón tay chỉ vào đám cỏ xanh ở chân gò. Chỉ thấy nơi cậu ta chỉ, một dòng suối nhỏ róc rách tuôn trào, hơn nữa còn từ từ mở rộng thành một mạch nước phun, chảy xuống sườn đồi. Cách Đắc vươn tay sờ dòng suối tuôn đó, cảm thấy ẩm ướt, uống vào thì mát lạnh, mặc dù là vậy nhưng lại không giải được cơn khát, bởi vì đó là một con suối ảo trong tưởng tượng. Sau khi Giả Tự Phác niệm những từ khác, dòng suối lập tức biến mất, cỏ xanh vẫn cứ đung đưa trong ánh nắng mặt trời. "Phí Cừ, đến lượt cậu rồi." Trên mặt Giả Tự Phác nở nụ cười lạnh lùng quen thuộc.

Phí Cừ gãi gãi đầu, trông có vẻ rất đau đầu, nhưng cậu ta vẫn nhặt lên một nắm đất, bắt đầu cất tiếng ca tụng nắm đất đó, rồi dùng những ngón tay màu nâu đen của mình bóp nắn nhào nặn, đột nhiên, nắm đất đó biến thành một con côn trùng nhỏ giống như ong nghệ hay ruồi lông, vo ve bay vụt qua gò Nhu Khắc rồi biến mất.

Cách Đắc đứng ngây ra nhìn, cảm thấy chột dạ vô cùng. Ngoài một số ít thuật phù thủy thôn quê dùng để gom dê, chữa mụn cóc, vá nồi, di chuyển đồ vật ra, cậu còn biết cái gì nữa? "Tôi mới không chơi ba cái trò mánh khóe này." Cách Đắc nói. Phí Cừ nghe Cách Đắc nói vậy liền thôi, bởi vì cậu ta không muốn làm mọi chuyện căng thẳng. Giả Tự Phác lại nói: "Sao cậu lại không chơi?"

"Pháp thuật không phải là trò chơi, người Cung Thất chúng tôi sẽ không vì chơi đùa hay để giành được lời ca tụng mà thi triển pháp thuật." Cách Đắc kiêu hãnh đáp.

"Vậy mục đích các cậu thi triển pháp thuật là gì?" Giả Tự Phác hỏi: "Vì tiền sao?"

"Đâu có!" Nhưng Cách Đắc chẳng nghĩ ra được câu trả lời nào khác vừa có thể che giấu sự vô tri của mình, vừa vớt vát lại lòng tự trọng. Giả Tự Phác mỉm cười, hoàn toàn không có ý ác. Cậu ta dẫn Cách Đắc và Phí Cừ vòng qua gò Nhu Khắc, tiếp tục tiến lên. Cách Đắc mang tâm trạng khó chịu bước theo sau, rất muốn nổi giận, bởi vì cậu biết vừa rồi mình thể hiện giống như một kẻ ngốc, mà cậu lại đổ hết chuyện này lên đầu Giả Tự Phác.

Đêm đó, Hoằng Hiên quán của học viện phù thủy đảo Nhu Khắc hoàn toàn tĩnh mịch, Cách Đắc nằm trên chiếc giường cỏ trong căn phòng đá không một ngọn đèn, thân mình cuộn tròn trong chiếc áo choàng. Đối với nơi này, cậu cảm thấy xa lạ, đối với những pháp thuật và ma thuật từng được thi triển ở đây trước kia, cậu cảm thấy sợ hãi.

Muôn vàn cảm xúc và suy nghĩ đè nặng lên cậu. Thân thể cậu bị bóng tối bao trùm, nội tâm thì tràn ngập sự sợ hãi, cậu thực sự ước gì mình đang ở một nơi khác, miễn là không ở trên đảo Nhu Khắc là được.

Nào ngờ, Phí Cừ lại đến cửa phòng cậu vào lúc này, hỏi xem có thể vào trò chuyện hay không. Cậu ta mượn một đốm sáng ảo nhỏ treo lơ lửng phía trên đỉnh đầu để chiếu sáng đường đi mà đến. Cậu ta trò chuyện phiếm với Cách Đắc, trước tiên hỏi Cách Đắc về chuyện đảo Cung Thất, sau đó với giọng đầy hoài niệm kể về quê hương phương Đông của chính mình. Phí Cừ nhắc đến việc vào lúc chạng vạng, khói bốc lên từ các lò sưởi ở các ngôi làng quê hương bay lượn như thế nào trên vùng biển tĩnh lặng giữa các hòn đảo; tên của những hòn đảo đó cũng rất thú vị, ví dụ như Khấu Nhi Phổ, Khấu Phổ, Hầu Phổ, Phân Vi, Phì Mễ Khư, Dịch Phi Khư, Cẩu Bì Khư, Tư Nãi Ca v.v. Để Cách Đắc hiểu rõ hình dáng các hòn đảo quê hương mình, Phí Cừ dùng ngón tay vẽ vời trên mặt đất, đường vẽ đó lấp lánh mờ ảo như được vẽ bằng gậy bạc, một lát sau mới dần phai nhạt đi. Phí Cừ đến học viện đã ba năm, chẳng bao lâu nữa là có thể thăng lên làm thuật sĩ. Biểu diễn những ma thuật sơ cấp đó đối với cậu ta chẳng khác nào chim bay lượn, chẳng có gì là lạ lẫm cả; nhưng cậu ta lại có một kỹ năng bẩm sinh tuyệt vời hơn, đó chính là "sự thân thiện". Kể từ đêm đó, thứ mà Phí Cừ thường xuyên cung cấp và ban tặng cho Cách Đắc chính là một tình bạn kiên định, rộng mở, và Cách Đắc cũng luôn tự nhiên đáp lại điều đó.

Thế nhưng, Phí Cừ cũng đối xử thân thiện y như vậy với Giả Tự Phác. Ngày đầu tiên đến học viện, ở chân gò Nhu Khắc, Cách Đắc từng bị Giả Tự Phác chơi khăm, chuyện này Cách Đắc vẫn mãi không chịu quên, và Giả Tự Phác hình như cũng không chịu quên. Khi nói chuyện với Cách Đắc, cậu ta vẫn luôn giữ giọng điệu lịch sự nhưng mang nụ cười giễu cợt. Lòng tự trọng của Cách Đắc không dung thứ cho sự khinh miệt hay coi thường, thế nên cậu thề rằng, có một ngày cậu sẽ chứng minh cho Giả Tự Phác và một đám sư huynh đệ lấy Giả Tự Phác làm đầu não thấy: Sức mạnh của Cách Đắc lớn đến mức nào. Những sư huynh đệ này mặc dù biết biểu diễn vài trò mánh khóe thông minh, nhưng chẳng có ai từng dùng thuật phù thủy để cứu cả một ngôi làng cả; bọn họ cũng chẳng có ai từng khiến Âu Cát An phải viết thư rõ ràng rằng, tương lai sẽ trở thành pháp sư vĩ đại nhất của đảo Cung Thất.

Lòng tự trọng một khi đã được củng cố như thế, Cách Đắc dùng ý chí mạnh mẽ để hoàn thiện các công việc mà học viện giao cho, cũng như các loại khóa học, thủ nghệ, lịch sử, kỹ thuật v.v. do các sư phụ áo choàng xám truyền dạy. Mấy vị sư phụ mặc áo choàng xám đó, mọi người thường quen gọi chung là "Cửu Tôn".

Mỗi ngày có một khoảng thời gian, Cách Đắc đi theo "Sư phụ tụng xướng" nghiên cứu về hành vi của anh hùng và những bài thơ trí tuệ. Tiết học đầu tiên là một bài cổ xưa nhất: 《Y Á sáng thế ca》. Tiếp theo, Cách Đắc cùng mười hai đồng môn đi theo "Sư phụ phong chìa khóa" học kỹ năng về thời tiết và gió. Toàn bộ mùa xuân và đầu hè, vào mỗi ngày trời quang mây tạnh, tất cả bọn họ đều ở trong những chiếc thuyền nhỏ ở vịnh Nhu Khắc, luyện tập dùng bùa chú để điều khiển thuyền, trấn áp sóng gió, trò chuyện với gió, tạo ra gió pháp thuật lớn. Đây đều là những kỹ thuật phức tạp rắc rối, Cách Đắc thường vì hướng gió bất ngờ đổi chiều, buồm thuyền quay ngược, mà bị xà ngang đập trúng đỉnh đầu; hoặc đâm sầm vào một con thuyền khác mặc dù bọn họ có cả một vịnh biển lớn để chèo thuyền, hoặc sóng lớn bỗng nhiên ập tới, bất ngờ quét ba cậu thiếu niên trên thuyền của cậu xuống nước bơi lội.

Có những ngày, các khóa học là thám hiểm trên bờ biển yên bình hơn. Khóa học dạng này là đi theo "Sư phụ dược thảo" học nhận biết các loại dược thảo và cách chúng sinh trưởng. "Sư phụ thủ nghệ" thì dạy bọn họ pháp thuật biến hóa cơ bản hoặc một số trò mánh khóe và kỹ xảo.

Cách Đắc vô cùng thành thạo tất cả các môn học, chưa đầy một tháng đã xuất sắc hơn cả sư huynh đã đến đây được một năm. Cậu đặc biệt nhạy bén trong việc học huyễn thuật, dường như sinh ra đã biết những huyễn thuật đó rồi, chỉ chờ người khác nhắc nhở mà thôi. Sư phụ thủ nghệ là một lão giả hòa nhã sảng khoái, sở hữu sự thông minh hoạt bát lấy mãi không hết, các kỹ xảo dạy ra cũng đều ẩn chứa vẻ đẹp của kỹ nghệ. Thế nên chẳng bao lâu sau Cách Đắc đã không còn sợ ông nữa, thường xuyên tìm ông hỏi cái này cái nọ, mà sư phụ thủ nghệ cũng luôn mỉm cười dạy cho Cách Đắc những gì cậu muốn học. Có một hôm, vì nóng lòng muốn làm cho Giả Tự Phác bẽ mặt, Cách Đắc liền hỏi sư phụ thủ nghệ ở "Sân viện hình dáng": "Sư phụ, những bùa chú mà ngài dạy đều rất giống nhau, thông một cái là thông tất cả. Thế nhưng thường thì sức mạnh thi triển vừa thả lỏng là ảo ảnh liền biến mất. Giống như bây giờ, con biến một viên sỏi thành kim cương," Cách Đắc vừa nói, vừa đảo cổ tay, niệm một câu chú, liền biến ra một viên kim cương. "Nhưng làm thế nào con mới có thể giữ nó ở dạng kim cương đây? Làm sao để khóa chặt pháp thuật biến hóa, khiến cho kim cương được bền lâu?"

Sư phụ thủ nghệ nhìn viên kim cương đang lấp lánh trong tay Cách Đắc, nó sáng ngời chẳng khác nào báu vật được giấu trong kho của rồng. Lão sư phụ niệm một chữ: "Thác", viên kim cương trong tay Cách Đắc lập tức biến thành một viên sỏi xám xịt thô ráp, kim cương đã biến mất. Sư phụ cầm lấy viên sỏi nhét vào lòng bàn tay.

"Trong 'Chân ngôn', loại đá này gọi là 'Thác'." Lão sư phụ ôn hòa nhìn Cách Đắc, nói: "Nó là một hòn đá nhỏ được tạo ra bởi đảo Nhu Khắc, cũng là một nhúm đất khô có thể để con người sinh sống trên đó. Nhưng nó chính là bản thân nó, là một phần của đất trời. Dựa vào sự biến hóa của huyễn thuật, con có thể khiến cho 'Thác' trông giống như kim cương, hoặc hoa, ruồi, mắt, ngọn lửa." Hòn đá nhỏ đó theo những cái tên mà lão sư phụ gọi ra, lại đổi hình dạng liên tục, cuối cùng lại biến thành hòn đá. "Nhưng những thứ này đều chỉ là 'hình dáng' giống nhau. Ảo ảnh đánh lừa cảm giác của người quan sát, là ảo ảnh khiến người quan sát 'nhìn, nghe, cảm nhận', tưởng rằng thứ đó dường như đã thay đổi, nhưng ảo ảnh không hề thay đổi bản chất của vật chất. Giả sử muốn biến hòn đá này thành kim cương, con buộc phải thay đổi tên thật của nó. Thế nhưng, đứa nhỏ à, sau khi làm như vậy dẫu chỉ là thay đổi một phần nhỏ bé này của đất trời, thì cũng chính là thay đổi đất trời rồi. Muốn biến đổi thì có cách biến đổi, quả thực là có, không sai đâu, đó là bản lĩnh của 'Sư phụ biến hóa', bản lĩnh đó đợi khi con chuẩn bị đầy đủ rồi, sớm muộn gì cũng sẽ được học. Tuy nhiên, nếu không biết sau khi biến hóa xong, ngay lập tức sẽ xuất hiện kết quả tốt xấu gì, dẫu chỉ là một món đồ, một hòn sỏi nhỏ, một hạt cát nhỏ đi chăng nữa, thì ngàn vạn lần cũng đừng biến hóa. Vũ trụ là sự cân bằng, ở vào trạng thái 'Thể chí hoành' (cân bằng tột cùng của thể thống nhất). Năng lực biến hóa hoặc năng lực triệu hồi của phù thủy sẽ làm rung chuyển sự cân bằng của đất trời, loại sức mạnh đó rất nguy hiểm, vô cùng nguy hiểm. Cho nên, nhất định phải hành động theo tri thức, nhất định phải thấy cần thiết mới làm. Thắp sáng một ngọn nến, chính là ném ra một cái bóng đen..."

Lão sư phụ lại nhìn viên sỏi đó một lần nữa. "Con xem này, bản thân một hòn đá chính là một giao dịch tốt." Ông vừa nói, vừa dần bớt nghiêm túc đi: "Nếu tất cả các hòn đảo của Địa Hải đều cấu thành từ kim cương, thế thì chúng ta có khổ ngày lớn rồi đấy. Đứa nhỏ à, đối với ảo ảnh, cứ thưởng thức là được rồi, hãy để hòn đá vẫn cứ là hòn đá đi." Ông mỉm cười nhẹ, thế nhưng Cách Đắc lại không thấy thỏa mãn. Bất kể ai có gặng hỏi pháp sư đến đâu chăng nữa, muốn hỏi ra bí quyết pháp thuật, thì pháp sư cũng sẽ lại y như Âu Cát An, nói cái gì mà cân bằng, nguy hiểm, bóng tối v.v. Thế nhưng, bất kỳ vị phù thủy nào nếu đã vượt qua những trò trẻ con ảo ảnh đó, mà đạt tới các pháp thuật chân chính như thuật triệu hồi, thuật biến hóa v.v., chắc chắn sẽ có đủ sức mạnh, có thể tùy tâm sở dục, dựa theo trạng thái tốt nhất mà mình cho là để cân bằng đất trời, và vận dụng ánh sáng cá nhân của mình để xua đuổi bóng tối trở về.

Cậu tình cờ gặp Giả Tự Phác ở ngã rạp. Kể từ khi việc học tập của Cách Đắc bắt đầu được ca ngợi rộng rãi khắp nơi trong học viện, Giả Tự Phác nói chuyện với Cách Đắc hình như càng thêm thân thiện lịch sự, nhưng ý tứ giễu cợt lại càng sâu sắc hơn. "Tước Ưng, trông cậu có vẻ không vui cho lắm," cậu ta nói, "là vì ma chú trò hề đã thất bại rồi sao?"

Cách Đắc giống như trước kia, lần này cũng rất hy vọng có thể đứng ở một lập trường bình đẳng với Giả Tự Phác. Cho nên cậu chỉ mải trả lời câu hỏi mà không để ý đến sự giễu cợt đó: "Tôi đã chán ngấy thuật biến hóa, chán ngấy những trò huyễn hoặc này rồi, chúng chỉ thích hợp để giải trí cho mấy lão gia nhàn rỗi qua ngày trong các lâu đài và lãnh địa. Pháp thuật chân chính duy nhất mà đảo Nhu Khắc truyền dạy cho tôi, chính là tạo ra ánh sáng giả, cùng với một chút pháp thuật thời tiết mà thôi. Những thứ còn lại đều chỉ là mấy trò lừa bịp."

"Cho dù là mấy trò lừa bịp, thì ở trong tay kẻ ngốc cũng rất nguy hiểm." Giả Tự Phác nói.

Cách Đắc nghe những lời này giống như bị giáng một cái tát vào mặt, lập tức bước một bước về phía Giả Tự Phác. Thế nhưng, nam sinh lớn tuổi này lại mỉm cười, giống như những lời vừa nói chẳng hề mang ý nghĩa lăng mạ nào cả, chỉ gật đầu một cách tao nhã cứng nhắc rồi bỏ đi.

Cách Đắc đứng tại chỗ, nhìn theo tấm lưng của Giả Tự Phác, trong lòng tràn ngập sự phẫn nộ. Cậu thề, nhất định phải vượt qua đối thủ của mình, không chỉ huyễn thuật mà ngay cả sức mạnh cũng phải thắng hắn. Cậu muốn chứng minh bản thân, làm nhục Giả Tự Phác; cậu sẽ không để cái tên đó đứng ở đó, dùng thái độ tao nhã, khinh miệt, oán hận để coi thường cậu.

Cách Đắc không nghĩ tới nguyên nhân có thể khiến Giả Tự Phác oán hận mình, cậu chỉ biết tại sao mình lại oán hận Giả Tự Phác. Từ khi vào học viện đến nay, các học đồ khác nhanh chóng phát hiện ra, bất kể là vận động hay tích cực học tập, bọn họ rất ít khi có thể trở thành đối thủ của Cách Đắc, cho nên khi nhắc đến Cách Đắc mọi người toàn là ca ngợi hoặc khích lệ, sư huynh đệ đều nói: "Cách Đắc là phù thủy bẩm sinh, vĩnh viễn không bao giờ bị cậu đánh bại." Chỉ có một mình Giả Tự Phác là không hề ca ngợi Cách Đắc, cũng không né tránh cậu, một mực mỉm cười nhè nhẹ, thần thái đó quả thực là xem nhẹ Cách Đắc. Đã chỉ có một mình Giả Tự Phác đối đầu với cậu, vậy thì cậu nhất định phải khiến Giả Tự Phác phải muối mặt mới được.

Cách Đắc chấp nhất vào quan điểm đối lập này, và nuôi dưỡng nó như lòng tự trọng cá nhân. Điều mà cậu không nghĩ thông, hoặc là không chịu nghĩ thông chính là: Trong sự đối lập này, ẩn chứa đủ loại nguy hiểm và bóng tối mà sư phụ thủ nghệ từng ôn hòa cảnh cáo.

Khi không bị sự phẫn nộ thuần túy thôi thúc, Cách Đắc rất rõ ràng rằng mình còn lâu mới là đối thủ của Giả Tự Phác hay các sư huynh khác, cho nên cậu cũng theo lệ vùi đầu vào công việc, học tập như thường lệ. Cuối mùa hè, công việc giảm bớt một chút, thời gian vận động cũng nhiều hơn. Các sư huynh đệ hoặc là tiến hành cuộc đua thuyền pháp thuật ở cảng, hoặc tổ chức yến tiệc huyễn thuật ở sân của Hoằng Hiên quán, hoặc lợi dụng buổi hoàng hôn dài đằng đẵng để chơi trốn tìm trong rừng cây. Khi chơi trốn tìm, cả hai bên đều ẩn thân, chỉ nghe thấy tiếng nói chuyện và tiếng cười đùa của nhau di chuyển giữa những tán cây, mọi người lần theo ánh sáng giả huyễn thuật lúc ẩn lúc hiện để đuổi bắt hoặc tránh né nhau. Mùa thu đến, mọi người lại quay về với công việc, luyện tập ma thuật mới. Cứ như vậy, tháng đầu tiên của Cách Đắc ở đảo Nhu Khắc ngập tràn nhiệt huyết và sự kinh ngạc, thời gian trôi qua rất nhanh.

Mùa đông thì hoàn toàn khác. Cách Đắc cùng bảy vị sư huynh đệ được đưa đến mũi phía bắc của đảo Nhu Khắc, chính là nơi "Đảo lập tháp" (Tháp cô lập) tọa lạc.

Bên trong Đảo lập tháp sống độc lập "Sư phụ tên gọi", tên của ông không mang ý nghĩa trong bất kỳ loại ngôn ngữ nào: Khôi Thụy Khả Mặc Duệ Khả. Trong vòng bán kính mấy dặm của Đảo lập tháp không có một trang trại hay nhà dân nào. Nó sừng sững trên vách đá góc phía bắc, u ám lạnh lẽo, mây trên biển vào mùa đông xám xịt ảm đạm; tám học trò mới bắt đầu học đi theo sư phụ tên gọi, công bài bắt buộc chính là những hàng tên gọi, không dứt không thôi.

Trong căn phòng cao ở trong tháp, Khôi Thụy Khả Mặc Duệ Khả ở chung phòng với các đồ đệ đứng đầu, viết những hàng tên gọi, những cái tên đó buộc phải ghi nhớ trước nửa đêm, nếu không thì đến lúc đó mực sẽ tự động phai mờ, chỉ còn lại những tờ giấy da cừu trống trơn không một chữ. Trong tháp lạnh giá mờ tối, quanh năm tĩnh mịch, âm thanh duy nhất chính là tiếng sư phụ cầm bút viết vẽ, thỉnh thoảng có một tiếng thở dài phát ra từ một học đồ nào đó. "Lâu Tẩu" - một hòn đảo nhỏ trên biển Bồi Ni, tên của từng cái mũi đất, đầu đảo, vịnh biển, tiếng động, cửa biển, eo biển, bến cảng, bãi cát cạn, đá ngầm, hòn đá dọc theo bờ biển, tất cả đều phải học thuộc lòng. Học đồ nếu phàn nàn, sư phụ có lẽ sẽ không nói gì cả, chỉ là thêm vào nhiều tên hơn nữa; nếu không thì sẽ nói: "Muốn trở thành đại sư hải dương, nhất định phải biết rõ chân danh của từng giọt nước trong biển."

Cách Đắc thỉnh thoảng sẽ thở dài, nhưng chưa bao giờ phàn nàn. Học tập chân danh của từng nơi, từng sự vật, từng sự tồn tại tuy khô khan khó hiểu, nhưng trong sự học tập này Cách Đắc lại nhìn thấy sức mạnh mà cậu có thể mưu cầu, nằm dưới đáy cái giếng khô cằn giống như viên ngọc bích, bởi vì ma thuật tồn tại trong chân danh của sự vật. Đêm đầu tiên bọn họ đến Đảo lập thụy Khả (Đảo lập tháp), Khôi Thụy Khả Mặc Duệ Khả từng nói với họ điều này, mặc dù sau đó ông không nhắc lại nữa nhưng Cách Đắc vẫn luôn không quên: "Rất nhiều pháp sư sở hữu sức mạnh hùng hậu, cả đời đều đang nỗ lực tìm kiếm tên gọi của một sự vật — một cái tên đã bị mất đi, hoặc ẩn giấu không hiển lộ. Dù là vậy, những cái tên hiện có vẫn chưa hoàn thiện đến cùng cực, cho đến tận ngày tận thế của thế giới, thì cũng vẫn không thể hoàn thiện được. Chỉ cần các cậu chú ý lắng nghe sẽ hiểu tại sao.

Thế giới dưới ánh mặt trời này, và thế giới khác không có ánh mặt trời, đều có rất nhiều sự vật không liên quan gì đến con người hoặc ngôn ngữ của con người, trên đại lượng của chúng ta cũng còn có những sức mạnh khác. Thế nhưng ma thuật — ma thuật chân chính, duy chỉ có những người tồn tại sử dụng 'Địa Hải Hách ngữ', hoặc 'Thái cổ ngữ' sinh ra Địa Hải Hách ngữ đó, mới có thể thi triển.

Đó chính là ngôn ngữ của loài rồng, ngôn ngữ của người Hề Quả Ất đã tạo ra các hòn đảo trên thế giới, cũng là ngôn ngữ được dùng trong thơ ca, bùa chú, pháp thuật, yêu thuật của chúng ta. Nhưng cho đến ngày nay, văn ngữ thái cổ vẫn tiềm ẩn trong Hách ngữ của chúng ta, hơn nữa còn sản sinh ra sự thay đổi. Ví dụ như, chúng ta gọi bọt nước trên sóng biển là 'Tô Khắc Ân', chữ này cấu thành từ hai từ vựng quá lớn: 'Tô Khắc' — lông vũ, với 'Y Nê Ân' — hải dương. 'Lông vũ của hải dương' chính là 'bọt nước'. Thế nhưng nếu niệm 'Tô Khắc Ân', thì vẫn không thể thao túng được bọt nước, buộc phải dùng chân danh Thái cổ ngữ của nó là 'Da Tát', mới có thể thi triển ma lực. Bất kỳ người phụ nữ nào biết chút ít ma thuật cũng đều hiểu vài từ vựng Thái cổ ngữ, pháp sư thì hiểu nhiều hơn. Nhưng những thứ chúng ta không hiểu còn nhiều hơn nữa, có những thứ vì niên đại lâu đời mà tan rả, có những thứ thì giấu đi không hiển lộ, có những thứ chỉ có loài rồng và lực thái cổ dưới lòng đất mới thông thạo; lại có một số thì hoàn toàn không có sinh vật nào biết, đương nhiên cũng chẳng có ai có thể học thuộc hết thảy, bởi vì thứ ngôn ngữ đó rộng lớn vô biên.

Đạo lý nằm ở đây. Tên của hải dương là 'Y Nê Ân', ai cũng biết, không có vấn đề gì. Thế nhưng, hải dương mà chúng ta gọi là 'Nội Cực hải' đó, trong Thái cổ ngữ cũng có tên gọi của riêng mình. Đã không có thứ gì có thể có hai chân danh, cho nên ý nghĩa của 'Y Nê Ân' chỉ có thể là: 'Toàn bộ hải dương bên ngoài Nội Cực hải'. Đương nhiên ý nghĩa của nó cũng không chỉ dừng lại ở đó, bởi vì còn có vô số hải dương, vịnh biển, eo biển, mỗi nơi đều có tên gọi của riêng mình. Cho nên, nếu có vị pháp sư hải dương nào điên rồ đến mức muốn thi chú đối với bão tố, hoặc bình định tất cả hải dương, thì pháp thuật của hắn không chỉ cần đọc ra 'Y Nê Ân', mà còn phải nói ra toàn bộ khu vực quần đảo, khu vực tứ thùy, và tất cả những nơi vô danh bên ngoài, từng mảnh, từng khối, từng phương của toàn bộ hải dương. Cho nên, thứ ban cho chúng ta sức mạnh để thi triển ma thuật, đồng thời cũng hạn chế phạm vi của sức mạnh này. Cứ như thế cũng tốt, bởi vì nếu không phải vậy, những phần tử tà ác có sức mạnh hoặc kẻ ngu ngốc trong số những người trí tuệ, nhất định từ sớm đã nghĩ cách đi thay đổi những thứ không thể thay đổi rồi, vậy thì 'Thể chí hoành' tất yếu sẽ tan rã, hải dương mất đi sự cân bằng cũng sẽ nhấn chìm từng hòn đảo mà chúng ta mạo hiểm sinh sống, trong sự tĩnh mịch thái cổ, tất cả âm thanh và tên gọi đều sẽ biến mất."

Cách Đắc suy ngẫm những lời này lâu ngày, đã thấu triệt lĩnh hội. Thế nhưng, đặc chất trang nghiêm của môn học này rốt cuộc vẫn không thể khiến cho việc nghiên cứu lâu dài ròng rã một năm ở Đảo lập tháp trở nên dễ dàng hay thú vị hơn chút nào. Khi năm đó kết thúc, Khôi Thụy Khả Mặc Duệ Khả nói với Cách Đắc rằng: "Công bài khải trí của ngươi học rất khá." rồi không nói gì thêm nữa. Phù thủy đều nói lời thật; hơn nữa, những kỹ năng thao túng tên gọi vất vả mất một đời mới học được đó, chỉ là sự khởi đầu mà Cách Đắc buộc phải tiếp tục không ngừng học tập suốt đời mà thôi. Do học rất nhanh, Cách Đắc rời khỏi Đảo lập tháp sớm hơn một bước so với những sư huynh đệ đi cùng; đó chỉ là lời ca ngợi duy nhất dành cho Cách Đắc mà thôi.

Đầu mùa đông, Cách Đắc đi một mình, dọc theo con đường lạnh lẽo không một bóng người, đi xuống phía nam qua đảo. Đêm tối buông xuống, mưa rơi, cậu không dùng bùa chú để xua mưa, bởi vì thời tiết trên đảo Nhu Khắc nằm trong tay Sư phụ phong chìa khóa, e rằng có muốn đổi cũng không đổi được. Cách Đắc tránh mưa dưới một gốc cây Phan Đê Khả khổng lồ. Cậu quấn chặt áo choàng nằm xuống, nhớ đến sư phụ Âu Cát An. Cậu đoán rằng, giờ này sư phụ có lẽ vẫn đang tiếp tục cuộc tản bộ mùa thu trên cao nguyên Cung Thất: Ngủ đêm ngoài trời, lấy cành cây không lá làm mái nhà, tia mưa nhỏ giọt làm tường. Nghĩ đến đây, Cách Đắc mỉm cười, bởi vì cậu phát hiện ra, mỗi lần nhớ đến Âu Cát An, luôn mang lại cho cậu sự an ủi. Cậu bình yên chìm vào giấc ngủ, trong bóng tối lạnh giá, nước mưa lẩm bẩm. Khi ánh ban ngày đánh thức, mưa đã tạnh, Cách Đắc nhìn thấy một con động vật nhỏ đang cuộn tròn trong nếp gấp áo choàng của mình để sưởi ấm ngủ ngon lành. Nhìn con vật đó, Cách Đắc khá ngạc nhiên, bởi vì đó là một loài thú hiếm có tên là "Âu Tháp Khách".

Âu Tháp Khách chỉ được tìm thấy ở bốn hòn đảo phía nam của vùng quần đảo: Nhu Khắc, An Ti Ti (An Ti Ti = An Si Mơ / Ansimo -> An Ti Ti?), Phịch Địch, Ngõa Sa. Thân hình nhỏ mà vạm vỡ, mặt rộng, mắt to mà sáng ngời, màu lông nâu sẫm hoặc có đốm nâu. Chúng không kêu, không phát ra bất kỳ âm thanh nào, nhưng răng vô tình, tính tình mãnh liệt, cho nên không ai nuôi chúng làm vật cưng cả. Cách Đắc vuốt ve con đang phục ở bên tay mình này, thế nên nó tỉnh dậy ngáp một cái, lộ ra cái lưỡi nhỏ màu nâu và hàm răng trắng, hoàn toàn không sợ Cách Đắc. "Âu Tháp Khách." Cách Đắc vừa gọi, vừa hồi tưởng lại hàng triệu tên loài thú đã học ở Đảo lập tháp, cuối cùng, cậu dùng chân danh Thái cổ ngữ gọi con vật này: "Hầu Gia Khách! Có muốn đi cùng ta không?"

Âu Tháp Khách ngồi yên trong lòng bàn tay rộng mở của Cách Đắc, bắt đầu liếm láp bộ lông.

Cách Đắc đặt nó vào trong chiếc mũ trùm đầu ở phần vai, để nó vắt vẻo ở đó. Ban ngày, thỉnh thoảng nó sẽ nhảy xuống, vút một cái chui vào trong rừng, nhưng cuối cùng chắc chắn sẽ quay về. Có một lần quay về còn ngậm theo một con chuột rừng mà nó bắt được, Cách Đắc mỉm cười, bảo nó ăn con chuột rừng đó đi, bởi vì hôm nay là đêm lễ hội Nhật Hồi, cũng là thời kỳ trai giới nhịn ăn của cậu. Cầu Đắc cứ thế đi qua gò Nhu Khắc trong buổi chiều tối ẩm ướt vì mưa, nhìn thấy phía trên mái nhà của Hoằng Hiên quán, có rất nhiều ánh sáng giả đang lấp lánh trong mưa. Đợi khi cậu vào được Hoằng Hiên quán, các sư phụ và sư huynh đệ đã chào đón cậu ở đại sảnh sáng rực ánh đèn. Cách Đắc không nơi nương tựa, cảm thấy giống như được về nhà, rất vui vì được nhìn thấy lại vô số gương mặt quen thuộc, đặc biệt là nhìn thấy khuôn mặt màu nâu đen của Phí Cừ chất đống nụ cười đậm sâu, tiến lên chào đón cậu. Lúc đó Cách Đắc mới biết rằng trong năm qua cậu đã nhớ người bạn này biết bao nhiêu. Phí Cừ đã thăng lên làm thuật sĩ vào mùa thu, không còn là học đồ nữa, nhưng điều này không hề trở thành vật cản giữa hai người, vừa gặp mặt là họ đã trò chuyện rôm rả. Cách Đắc cảm thấy trong tiếng đầu tiên đoàn tụ với Phí Cừ này, số lời cậu nói còn nhiều hơn cả số lời cậu nói trong suốt một năm ở Đảo lập tháp.

Khi mọi người ngồi vào các chỗ ngồi bên bàn dài ở sảnh lò sưởi gia đình, chuẩn bị dùng bữa tối mừng Nhật Hồi, Âu Tháp Khách vẫn vắt vẻo trên vai Cách Đắc. Phí Cừ nhìn thấy con vật nhỏ này, rất ngạc nhiên, có một lúc vươn tay muốn vuốt ve nó, nhưng Âu Tháp Khách đã nhe nanh cắn cậu ta một cái. Phí Cừ cười lên, nói rằng: "Tước Ưng, nghe nói những người được động vật hoang dã sủng ái, ngay cả lực thái cổ như hòn đá, dòng suối cũng sẽ dùng tiếng người để trò chuyện với họ đấy."

"Người ta nói, phù thủy đảo Cung Thất thường thuần dưỡng động vật," Giả Tự Phác ngồi ở bên kia của Phí Cừ nói, "Sư phụ Nê Ma Nhĩ của chúng ta cũng nuôi một con quạ đấy. Trong thi ca cũng từng nhắc đến, pháp sư đỏ của đảo A Lặc Khắc dùng một sợi dây chuyền vàng dắt theo con lợn rừng. Nhưng tôi vẫn chưa nghe nói có vị thuật sĩ nào lại nuôi chuột trong mũ trùm đầu cả."

Nghe những lời này xong, tất cả mọi người đều cười lớn, Cách Đắc cùng vui cười với mọi người. Đêm đó là đêm lễ hội vui vẻ, cùng trải qua ngày lễ với các đồng bạn, đặt mình trong sự ấm áp và vui tươi, Cách Đắc cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Trưa hôm đó, đảo chủ đảo Ngẫu là một trong những khách quý đến giáng lâm học viện, bản thân đảo chủ cũng là một thuật sĩ nổi tiếng, từng là đồ đệ của Đại pháp sư đảo Nhu Khắc, cho nên thỉnh thoảng sẽ quay về vào dịp lễ hội Nhật Hồi hoặc lễ hội Vũ Dài mùa hè. Ông cùng phu nhân đến làm khách, phu nhân đảo chủ vừa mảnh mai vừa trẻ tuổi, rực rỡ như đồng mới, trên mái tóc đen nhánh đội vương miện cẩn ngọc mắt mèo. Vì hiếm khi nhìn thấy phụ nữ ngồi trong sảnh đường của Hoằng Hiên quán, có mấy vị sư phụ bất mãn liếc mắt nhìn bà; nhưng các nam thanh niên thì đều trợn tròn mắt đăm đăm nhìn.

Phí Cừ nói với Cách Đắc: "Tôi sẵn sàng vì một mỹ nhân thế này mà toàn lực thi triển ma pháp vĩ đại..." Cậu ta thở dài, mỉm cười.

"Bà ấy chẳng qua cũng chỉ là một người phụ nữ thôi mà." Cách Đắc đáp.

"Công chúa Diệp Phù Nguyễn cũng chỉ là một người phụ nữ thôi," Phí Cừ nói: "Nhưng vì sự tồn tại của nàng ấy mà toàn bộ đảo Anh Lạp Đức biến thành phế tích, pháp sư anh hùng của đảo Hắc Phất Nặc qua đời, đảo Tác Lợi Y A cũng chìm xuống đáy biển."

Rằng "Đó đều là những câu chuyện cũ." Cách Đắc tuy nói vậy, nhưng cũng bắt đầu chú ý đến phu nhân đảo chủ, thầm đoán xem những mỹ nhân thế gian được kể trong những câu chuyện cổ xưa, có phải có bộ dạng chính là thế này hay không.

Sư phụ tụng xướng đã hát xong 《Hành nghi của thiếu vương》. Tiếp theo, thầy trò có mặt cùng nhau hát bài 《Đông nhật tụng》. Giả Tự Phác nhân khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi mọi người đứng dậy, nhanh chóng đứng lên, đi đến cái bàn gần lò sưởi nhất - nơi Đại pháp sư, các vị sư phụ và khách quý đang ngồi, để bái kiến phu nhân đảo chủ. Giả Tự Phác lúc này đã là một thiếu niên, lớn lên vạm vỡ tuấn tú, cổ áo choàng có khuy cài bằng bạc, bởi vì cậu ta cũng là thuật sĩ thăng cấp trong năm nay, khuy cài bằng bạc chính là dấu hiệu của thuật sĩ. Viên ngọc mắt mèo trên vương miện của phu nhân được mái tóc đen làm nền, càng thêm rực rỡ chói lọi. Bà mỉm cười lắng nghe Giả Tự Phác nói chuyện, các sư phụ có mặt đều từ tốn gật đầu, đồng ý để Giả Tự Phác biểu diễn một đoạn huyễn thuật cho phu nhân xem. Giả Tự Phác khiến một cái cây màu trắng mọc nhô lên từ nền nhà bằng đá, cành cây kéo dài hướng lên trên, chạm đến xà nhà cao. Cành nhỏ trên mỗi cành cây đều treo những quả táo vàng sáng lấp lánh, mỗi quả táo đều là một mặt trời, bởi vì cái cây này chính là một "cây năm tháng". Chợt trong chớp mắt, giữa các cành cây bay ra một chú chim nhỏ, toàn thân trắng tuyết, cái đuôi giống như thác nước tuyết trắng. Tiếp theo đó, ánh quang của tất cả những quả táo vàng đều mờ dần, biến thành hạt giống, mỗi một hạt giống đều là một giọt nước tinh thể nhỏ, rơi xuống từ cành cây, phát ra âm thanh giống như tiếng mưa rơi.

Thoắt cái thoang thoảng bay tới một trận hương thơm, những chiếc lá cây trong sự đung đưa biến thành ngọn lửa giống như hoa hồng, hoa trắng cũng trông giống như những vì sao... Huyễn thuật đến đây thì dần dần phai nhạt đi. Phu nhân đảo chủ vui vẻ kêu lên, cái đầu rực rỡ của bà cứ liên tục gật đầu với vị nam thanh niên thuật sĩ này, khen ngợi pháp lực của cậu ta. "Cậu đến đảo Ngẫu của chúng tôi sinh sống đi — được chứ, thưa ngài?" Phu nhân ngây thơ hồn nhiên hỏi người chồng nghiêm khắc của mình. Nhưng Giả Tự Phác chỉ nói: "Thưa phu nhân, đợi khi tôi luyện tập thuần thục những kỹ năng mà các sư phụ truyền dạy, xứng đáng với lời khen ngợi của ngài, tôi sẽ vui vẻ đi đến đó, và vĩnh viễn cam tâm tình nguyện phục vụ ngài."

Giả Tự Phác làm hài lòng tất cả mọi người có mặt — ngoại trừ Cách Đắc. Cách Đắc cất tiếng phụ họa theo lời ca ngợi của mọi người, nhưng tận đáy lòng thì lại không hề phụ họa. "Tôi còn có thể thi triển giỏi hơn hắn ta." Cách Đắc tự nhủ trong nỗi đố kỵ chua xót. Kể từ khoảnh khắc đó, tất cả niềm vui của đêm hôm đó đều vì thế mà trở nên ảm đạm u ám trong lòng cậu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.