Hải Tặc

Lượt đọc: 500 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

“Nhờ bàn tay này, ngươi tưởng ta cũng lún sâu vào cuốn sách của quỷ dữ chẳng kém gì ngươi và Falstaff, vì sự ngoan cố và cứng đầu. Hãy để kết quả phán định con người... Dẫu cho ta có thể nói với ngươi, (như với một kẻ mà ta thấy vui lòng, do không tìm được ai khá hơn, gọi là bạn,) rằng ta có thể buồn, và buồn thực sự nữa.”

Henry IV., Phần 2

Giờ đây, chúng ta phải chuyển bối cảnh từ Zetland sang Orkney, và mời độc giả cùng chúng tôi đến với những tàn tích của một công trình tuy cổ kính nhưng vô cùng tao nhã, được gọi là Cung điện của Bá tước. Những di tích này, dẫu đã đổ nát nhiều phần, vẫn hiện hữu ở vùng lân cận của tòa nhà đồ sộ và uy nghiêm mà lòng sùng đạo của người Na Uy từng dâng hiến cho Thánh Magnus vị tử đạo; và vì nằm liền kề với Cung điện Giám mục vốn cũng đã hoang phế, nơi đây mang lại một cảm giác thật sâu lắng, bày tỏ những dấu tích của sự đổi thay cả trong Giáo hội lẫn triều đình từng tác động đến Orkney, cũng như những xứ sở phải chịu nhiều cơn biến động tương tự. Người ta có thể chọn ra vài phần của những dãy nhà đổ nát này (với những điều chỉnh phù hợp) làm hình mẫu cho một dinh thự theo kiến trúc Gothic, miễn là các kiến trúc sư bằng lòng mô phỏng những gì thực sự đẹp đẽ trong lối xây dựng đó, thay vì tạo nên một sự chắp vá hỗn độn từ những sở thích thất thường của trường phái này, đem trộn lẫn ngẫu nhiên các phong cách quân sự, giáo hội và nhà cửa của mọi thời đại, kèm theo những hoang tưởng và sự kết hợp kỳ quái do chính họ nghĩ ra, “tất cả đều được nhào nặn từ bộ óc của người thợ xây.”

Cung điện của Bá tước tạo thành ba mặt của một hình chữ nhật thuôn dài, và dẫu chỉ còn là phế tích, nó vẫn phảng phất vẻ uy nghi của một công trình vừa tao nhã vừa đồ sộ, kết hợp hài hòa cả đặc điểm của một cung điện lẫn một lâu đài, như thường thấy nơi dinh thự của các bậc vương hầu phong kiến. Một phòng yến tiệc lớn, thông với nhiều căn phòng bán nguyệt hoặc tháp phòi rộng lớn, lại có ở mỗi đầu một chiếc ống khói khổng lồ, minh chứng cho lòng hiếu khách lâu đời theo lối Bắc Âu của các đời Bá tước xứ Orkney; nơi đây cũng liên thông, gần giống theo lối kiến trúc hiện đại, với một dãy hành lang hoặc phòng nghỉ có kích thước tương xứng, và cũng sở hữu các tháp phòi giống như sảnh lớn. Bản thân sảnh đường vương giả được chiếu sáng bởi một ô cửa sổ kiểu Gothic tuyệt đẹp làm bằng những cột đá ở một đầu, và có lối vào là một cầu thang rộng rãi, thanh lịch gồm ba nhịp bậc đá. Các họa tiết trang trí bên ngoài và tỷ lệ của tòa cổ kiến trúc này cũng vô cùng mỹ lệ; thế nhưng, vì hoàn toàn không được bảo vệ, tàn tích về sự xa hoa và tráng lệ của các vị Bá tước từng tự cho mình cả đặc quyền lẫn phẩm giá của những tiểu vương quốc này nay đang nhanh chóng mục nát, và đã sụt giảm đáng kể từ thời điểm diễn ra câu chuyện của chúng ta.

Với hai tay khoanh trước ngực cùng ánh mắt đăm đăm nhìn xuống, tên cướp biển Cleveland đang thong thả sải bước trong căn sảnh đổ nát mà chúng ta vừa miêu tả; một chốn tĩnh lặng mà hắn có lẽ đã chọn vì nó nằm xa những nơi đông đúc qua lại. Y phục của hắn đã thay đổi đáng kể so với bộ đồ hay mặc ở Zetland, trông như một dạng quân phục được viền ren lộng lẫy và thêu thùa không ít: một chiếc mũ gắn lông vũ cùng một thanh đoản kiếm được chạm trổ cực kỳ tinh xảo, thứ vốn là vật bất ly thân của bất kỳ ai mang tước hiệu quý tộc khi ấy, đã cho thấy tham vọng khoác lên mình thân phận ấy của hắn. Nhưng nếu bề ngoài của hắn có phần khởi sắc hơn, thì sức khỏe và tinh thần của hắn lại có vẻ trái ngược hoàn toàn. Hắn xanh xao, đã mất đi cả ánh lửa trong ánh mắt lẫn sự nhanh nhẹn trong bước đi, và toàn bộ diện mạo của hắn đều phảng phất vẻ u sầu trong tâm trí, nỗi thống khổ về thể xác, hoặc là sự kết hợp của cả hai nỗi khổ đau ấy.

Khi Cleveland đang rảo bước giữa những hoang tàn cổ kính đó, một thanh niên có vóc dáng mảnh khảnh, thanh tao, với bộ y phục diêm dúa trông có vẻ được chăm chút kỹ lưỡng nhưng lại bộc lộ sự phô trương nhiều hơn là phán đoán hay khiếu thẩm mỹ, với phong thái là sự ra vẻ bất cần đời của một tay ăn chơi phóng túng thời bấy giờ, và biểu cảm gương mặt vừa sống động vừa phảng phất nét mặt trơ tráo, bước nhanh lên cầu thang, tiến vào sảnh đường và trình diện trước Cleveland. Hắn chỉ gật đầu chào Cleveland, rồi kéo sụp vành mũ che kín trán và tiếp tục bước đi đơn độc trong tâm trạng bất mãn.

Kẻ lạ mặt tự chỉnh lại chiếc mũ của mình, gật đầu chào lại, thản nhiên nhón một nhúm thuốc hít từ chiếc hộp vàng chạm trổ lộng lẫy theo phong cách của một tay công tử bột, chìa ra mời Cleveland khi đi ngang qua, nhưng bị từ chối một cách khá lạnh lùng. Hắn bèn đút trả chiếc hộp vào túi, khoanh tay đứng nhìn với sự chú ý dán chặt vào từng chuyển động của người vừa bị hắn cắt đứt sự tĩnh mịch. Cuối cùng, Cleveland dừng phắt lại, như thể đã cạn kiên nhẫn khi phải tiếp tục làm đối tượng cho kẻ kia săm soi, và cộc lốc lên tiếng: “Sao tôi lại không thể được ở một mình dù chỉ nửa tiếng, và quỷ tha ma bắt anh muốn gì đây?”

“Tôi rất mừng vì anh đã mở lời trước,” kẻ lạ mặt thản nhiên đáp; “Tôi vẫn đang tự hỏi không biết anh là Clement Cleveland, hay là hồn ma của Cleveland, mà người ta đồn rằng hồn ma thì chẳng bao giờ thèm cất tiếng trước cả, thế nên giờ tôi mới đinh ninh đó chính là anh bằng xương bằng thịt; và nhìn xem, đây là một cái ổ rách nát tuyệt vời mà anh vừa tìm ra để cho một con cú ẩn mình giữa ban ngày, hay để một bóng ma quay về thăm những ánh sáng lờ mờ của vầng trăng, như lời nhà đại hiền triết Shakespeare từng nói.”

“Thôi nào, thôi nào,” Cleveland cộcn cằn đáp, “trò đùa của anh thế là đủ rồi, giờ thì nói chuyện chính sự đi.”

“Vậy thì nói chuyện chính sự nhé, Thuyền trưởng Cleveland,” bạn đồng hành của hắn đáp lại, “tôi nghĩ anh thừa biết tôi là bạn của anh.”

“Tôi lấy làm bằng lòng nếu phải nghĩ như vậy,” Cleveland nói.

“Ðó không chỉ là giả định,” chàng thanh niên đáp; “tôi đã chứng minh điều đó rồi—chứng minh cả ở đây lẫn những nơi khác.”

“Được rồi, được rồi,” Cleveland đáp, “tôi thừa nhận anh vẫn luôn là một người bạn tốt—rồi sao nữa?”

“Được rồi, được rồi—rồi sao nữa?” kẻ kia đáp lời; “đó quả là cách cảm ơn người ta một cách ngắn gọn đấy. Nghe này, Thuyền trưởng, chính tôi đây, cùng Benson, Barlowe, Dick Fletcher và một vài người khác vốn có thiện cảm với anh, đã giữ lão đồng chí cũ Thuyền trưởng Goffe của anh lảng vảng ở vùng biển này để tìm kiếm anh, trong khi lão ta cùng Hawkins và phần lớn thủy thủ đoàn lại vô cùng thèm thuồng được tiến xuống vùng biển Caribbe để quay lại nghề cũ.”

“Và tôi cầu trời khẩn phật là tất cả các anh cứ lo việc người nấy đi,” Cleveland nói, “và để mặc tôi với số phận của mình.”

“Số phận đó sẽ là bị tố cáo và đem treo cổ, Thuyền trưởng ạ, ngay lần đầu tiên mà bất kỳ tên cút, tên rợ người Hà Lan hay người Anh nào mà anh từng cướp sạch hàng hóa dám bén mảng đến nhìn thấy mặt anh; và chẳng có nơi nào thích hợp để gặp gỡ những kẻ đi biển hơn là ở các hòn đảo này đâu. Và ở đây, để che chở cho anh khỏi hiểm họa đó, chúng tôi đã phải hoài phí biết bao thời gian quý báu cho đến khi người ta bắt đầu sinh lòng ngờ vực; và khi chúng tôi chẳng còn hàng hóa hay tiền bạc để tiêu xài ở đây nữa, thì đám dân chúng sẽ nhào vô tóm gọn con tàu đấy thôi.”

“Vậy thì, sao các anh không nhổ neo rời đi mà không có tôi?” Cleveland nói—“chúng ta đã chia chác sòng phẳng, và ai nấy đều có phần của mình rồi—cứ để mọi người làm theo ý họ đi. Tôi đã mất tàu, và dã từng làm Thuyền trưởng, tôi sẽ không chịu ra biển dưới quyền chỉ huy của Goffe hay bất kỳ ai khác. Hơn nữa, anh thừa biết cả Hawkins lẫn lão ta đều mang lòng oán giận tôi vì đã ngăn cản chúng đánh chìm chiếc tàu brig Tây Ban Nha với những con người khốn khổ là nô lệ ở trên tàu.”

“Này, quỷ tha ma bắt cậu bị làm sao thế?” bạn đồng hành của hắn lên tiếng; “cậu có đúng là Clement Cleveland, con người cũ kỹ trượng nghĩa của chúng ta, Clem xứ Cleugh đấy không, mà lại đi mở miệng ra nói là sợ hãi Hawkins, Goffe cùng mấy chục tên giống như chúng, trong khi cậu lại có cả tôi, Barlowe và Dick Fletcher hậu thuẫn đằng sau? Có bao giờ chúng ta bỏ rơi cậu, dù là trong bàn tròn hội nghị hay giữa trận mạc, để mà giờ đây cậu phải sợ chúng ta chùn bước? Còn về chuyện phục vụ dưới quyền Goffe, tôi hy vọng đó chẳng phải là chuyện lạ lùng gì đối với những kẻ làm nghề trượng nghĩa hành hiệp trượng nghĩa khi phải thay đổi Thuyền trưởng dăm ba bận đâu nhỉ? Cứ để chuyện đó cho chúng tôi lo—cậu sẽ tiếp tục làm Thuyền trưởng; chứ còn bắt tôi phục vụ dưới quyền cái tên Goffe chẳng khác nào con chó săn máu lạnh từng bú sữa chó sói ấy à, có mà quỷ bắt hồn tôi đi!—Không, không, cảm ơn cậu nhé—Thuyền trưởng của tôi dẫu sao đi nữa cũng phải mang chút phong thái của một quý ông. Hơn nữa, cậu biết rõ chính cậu là người đã nhúng tay tôi vào vũng bùn nhơ nhớp ấy, biến tôi từ một kẻ diễn kịch dạo trên cạn thành một tên cướp biển tung hoành ngoài khơi.”

“Hỡi ôi, tội nghiệp Bunce!” Cleveland nói, “anh chẳng mang ơn tôi mấy đâu vì cái dịch vụ đó.”

“Ðó là tùy cách nhìn nhận của anh thôi,” Bunce đáp; “còn phần tôi, tôi chẳng thấy có gì là sai trái khi đánh thuế thiên hạ bằng cách này hay cách khác. Nhưng tôi ước gì anh chịu quên cái tên Bunce đó đi, và gọi tôi là Altamont, như tôi vẫn thường mong anh gọi. Tôi hy vọng một trang nam nhi theo nghiệp phiêu bạt cũng có quyền chính đáng được mang một cái tên giả chẳng kém gì một kẻ diễn viên lang thang, và chưa bao giờ tôi bước lên sân khấu mà lại không đóng vai Altamont cả.”

“Được rồi, Jack Altamont,” Cleveland đáp, “vì Altamont là cái tên được chọn”——

“Ừ, nhưng này Thuyền trưởng, Jack không phải là cái tên được chọn, dù Altamont đúng là thế. Jack Altamont ư?—Nghe cứ như một chiếc áo choàng nhung viền ren giấy ấy—Hãy gọi là Frederick đi, Thuyền trưởng; Frederick Altamont nghe mới đồng bộ và hoàn hảo làm sao.”

“Vậy thì Frederick đi, tôi hoàn toàn đồng ý,” Cleveland nói; “và xin hãy cho tôi biết, cái tên nào trong số các tên tuổi của anh sẽ nghe kêu nhất khi được xướng lên ở phần đầu của bản ‘Bài phát biểu cuối cùng, Lời thú tội và Trăn trối của John Bunce, tức Frederick Altamont, kẻ vừa bị treo cổ sáng nay tại Bến tàu Hành hình vì tội danh Cướp biển trên Biển khơi’?”

“Thề có Chúa, tôi chẳng thể trả lời câu hỏi đó nếu không có thêm một vại rượu grog nữa đâu, Thuyền trưởng; thế nên nếu anh chịu xuống quán Bet Haldane ở bờ tàu với tôi, tôi sẽ suy ngẫm thêm về vấn đề này, với sự trợ giúp của một tẩu thuốc Trinidado chính hiệu. Chúng ta sẽ làm đầy chiếc bát cạn dung tích một gallon với thứ rượu ngon nhất mà anh từng nếm thử, và tôi quen vài cô ả lẳng lơ lanh lợi sẽ giúp chúng ta nốc cạn nó. Nhưng anh lại lắc đầu—anh không có tâm trạng ư?—Thế thì, tôi sẽ ở lại với anh; vì thề có bàn tay này, Clem, anh đừng mong hất cẳng được tôi. Chỉ là tôi sẽ lôi cổ anh ra khỏi cái hang đá cũ kỹ này, và kéo anh ra dưới ánh mặt trời cùng bầu không khí trong lành.—Chúng ta sẽ đi đâu đây?”

“Đâu cũng được,” Cleveland nói, “miễn là anh tránh xa tầm mắt của đám đồng bọn chúng ta và cả thiên hạ nữa.”

“Thế thì,” Bunce đáp, “anh và tôi sẽ đi lên Đồi Whitford, nơi nhìn xuống thị trấn, và cùng nhau tản bộ nghiêm túc, đứng đắn chẳng khác nào một cặp luật sư đang bận rộn làm việc.”

Khi họ bắt đầu rời khỏi lâu đài đổ nát, Bunce ngoảnh lại nhìn nó lần nữa, rồi cất lời bảo người bạn đồng hành:

“Này Thuyền trưởng, anh có biết ai là kẻ cuối cùng cư ngụ trong cái gác xép cổ kính này không?”

“Một vị Bá tước xứ Orkney, người ta bảo thế,” Cleveland đáp.

“Và anh có rõ ngài ấy đã chết vì cái gì không?” Bunce nói; “vì tôi nghe nói đó là do một chiếc vòng cổ quá chật—một cơn sốt làm bằng dây gai, đại loại thế.”

“Người ta ở đây kể rằng,” Cleveland đáp, “vị Bá tước, từ vài trăm năm trước, đã gặp vận rủi khi làm quen với bản chất của một sợi thòng lọng và một cú nhảy giữa không trung.”

“Ồ, thế ra là vậy sao!” Bunce thốt lên; “thời đó được treo cổ cũng phải có chút thể diện chứ bộ, lại còn được ở trong cái đám quý phái nhường ấy. Và vị bá tước đó đã phạm tội gì mà xứng đáng được thăng quan tiến chức kiểu đó nhỉ?”

“Cướp bóc thần dân của nhà vua, người ta bảo thế,” Cleveland đáp; “giết hại và làm bị thương họ, nổ súng vào lá cờ của Quốc vương, v.v.”

“Thế thì cũng xấp xỉ họ hàng với một tên cướp biển phong lưu rồi,” Bunce nói, cúi đầu chào kiểu kịch nghệ về phía tòa nhà cổ; “và do đó, hỡi Ngài Bá tước Đại nhân tối cao, nghiêm trang và đáng kính của tôi, tôi xin phép được gọi ngài là người anh em họ thân thiết, và xin gửi lời từ biệt thắm thiết nhất đến ngài. Tôi để ngài lại đây trong bầu bạn tốt đẹp với lũ chuột nhắt, chuột cống và v.v., còn tôi thì mang đi theo một quý ông đáng kính, kẻ mà dạo gần đây vốn chẳng có lấy một lá gan to bằng con chuột, giờ lại đang khao khát trốn chạy khỏi nghề nghiệp và bạn bè như một con chuột cống, và do đó sẽ là một cư dân cực kỳ thích hợp cho cung điện của ngài Bá tước đại nhân.”

“Tôi khuyên anh đừng nên nói quá lớn tiếng như vậy, người bạn thân mến Frederick Altamont hay John Bunce của tôi ơi,” Cleveland nói; “khi còn đứng trên sân khấu, anh có thể tha hồ gào thét to lớn tùy thích; nhưng ở cái nghề hiện tại mà anh đang vô cùng yêu thích này, bất kỳ ai cũng phải cẩn trọng dưới tầm vóc của cây xà dọc và một sợi thòng lọng chạy đấy.”

Hai người đồng chí lặng lẽ rời khỏi thị trấn nhỏ Kirkwall và leo lên Đồi Whitford, nơi vươn cao sườn đồi phủ thạch thảo đen thẫm, không bị chia cắt bởi bất kỳ hàng rào hay sự canh tác nào, nằm về phía bắc của Trấn cổ Saint Magnus. Vùng đồng bằng dưới chân đồi đã tấp nập những nhóm người đang bận rộn chuẩn bị cho Hội chợ Saint Olla, sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau, một sự kiện tụ họp chung cho tất cả các hòn đảo lân cận thuộc Orkney, và thậm chí còn thu hút đông đảo người dân từ quần đảo Zetland xa xôi hơn tới tham dự. Đúng như lời của bản Tuyên ngôn, đây là “một khu chợ và hội chợ tự do, được tổ chức tại Trấn cổ Kirkwall vào ngày mùng Ba tháng Tám, tức ngày lễ Saint Olla,” và kéo dài trong khoảng thời gian không xác định sau đó, từ ba ngày cho đến một tuần hoặc hơn thế nữa. Hội chợ này có lịch sử vô cùng lâu đời, lấy tên theo Olaus, Olave, Ollaw, vị Quân vương lừng danh của Na Uy, người đã truyền bá đạo Thiên Chúa vào những hòn đảo đó phần lớn bằng lưỡi gươm thay vì bất kỳ lời lẽ ôn hòa nào, và được tôn kính như vị thánh bảo trợ của Kirkwall một thời gian trước khi ngài chia sẻ vinh dự đó với Thánh Magnus vị tử đạo.

Mục đích của Cleveland không phải là hòa mình vào khung cảnh nhộn nhịp đang diễn ra ở dưới đó; và rẽ hướng sang bên trái, họ nhanh chóng tiến lên vùng không gian vắng lặng không bị quấy rầy, ngoại trừ những chú gà gô, vốn dồi dào ở Orkney có lẽ hơn bất kỳ nơi nào khác thuộc lãnh thổ Anh quốc, bất ngờ bay vụt lên khỏi các bụi cây và tản đi trước mặt họ. [29] Tiếp tục leo lên cho đến khi gần chạm tới đỉnh của ngọn đồi hình chóp, cả hai cùng quay người lại, như thể có chung một ý định, để ngắm nhìn và chiêm ngưỡng khung cảnh bên dưới.

Sự náo nhiệt sinh động trải dài giữa chân đồi và thị trấn đã thổi bừng sức sống và nét phong phú cho phần đó của cảnh vật; tiếp đó là chính thị trấn hiện ra, từ đó vươn lên như một khối kiến trúc khổng lồ, vượt trội hơn hẳn so với toàn bộ thị trấn, chính là Nhà thờ lớn Saint Magnus mang trường phái kiến trúc Gothic nặng nề nhất, nhưng vô cùng đồ sộ, trang nghiêm và bệ vệ, là công trình của một thời đại xa xưa và của một bàn phím quyền uy. Bến cảng cùng những con tàu thuyền càng làm tăng thêm vẻ sinh động cho khung cảnh; và không chỉ toàn bộ vịnh tuyệt đẹp nằm giữa các mũi đất Inganess và Quanterness, nơi Kirkwall tọa lạc ở điểm tận cùng, mà tất cả vùng biển có thể nhìn thấy được, đặc biệt là toàn bộ eo biển giữa đảo Shapinsha và hòn đảo gọi là Pomona, hay Đại lục (Mainland), đều phủ kín và bừng sáng bởi vô số thuyền bè cùng các tàu nhỏ chở đầy hành khách hoặc hàng hóa từ những hòn đảo xa xôi đổ về Hội chợ Saint Olla.

Khi đã lên đến điểm có thể quan sát trọn vẹn nhất khung cảnh hội chợ tấp nập này, mỗi người trong số họ, theo thói quen của những người đi biển, liền dùng ống nhòm để hỗ trợ cho mắt thường ngắm nhìn vịnh Kirkwall cùng vô số tàu thuyền đang tấp nập qua lại trên đó. Nhưng sự chú ý của hai người bạn dường như bị thu hút bởi những đối tượng khác nhau. Ánh mắt của Bunce, hay Altamont theo cách hắn chọn gọi, dán chặt vào chiếc chiến hạm buồm lùn được trang bị vũ khí, nơi mà với bộ giằng buồm vuông vức và bề ngang thân tàu nổi bật, cùng lá cờ đuôi nheo và cờ hiệu Anh mà họ cẩn thận kéo lên cắm phất phới, nằm lẫn lộn giữa các tàu buôn, nổi bật hẳn lên nhờ vẻ ngăn nắp, gọn gàng của mình chẳng khác nào một người lính chính quy đứng giữa đám đông những kẻ hề.

“Nó kìa,” Bunce lên tiếng; “Tôi cầu trời cho nó đang ở vịnh Honduras—cậu làm Thuyền trưởng trên đài chỉ huy, tôi làm trung úy, còn Fletcher làm quản kho, dưới quyền chúng ta là năm mươi tráng sĩ—tôi sẽ chẳng thèm nhớ nhung gì đến cái đám thạch thảo và đá sỏi chết tiệt này trong một thời gian nữa đâu!—Và chẳng mấy chốc cậu sẽ lại làm Thuyền trưởng thôi. Lão thú vật Goffe ngày nào cũng say mèm như chúa chổm, nghênh ngang, nã súng và chém giết giữa đám thủy thủ; hơn nữa, lão lại gây sự với người dân ở đây một cách khốn nạn đến nỗi họ hầu như chẳng thèm cho nước ngọt hay lương thực đưa lên tàu chúng ta nữa, và chúng ta đang chờ đợi một cuộc xung đột công khai từng ngày đây.”

Vì Bunce chẳng nhận được lời đáp nào, hắn liền quay phắt lại nhìn người bạn đồng hành, và nhận ra sự chú ý của đối phương đang bị chi phối bởi chuyện khác, bèn thốt lên: “Quỷ tha ma bắt cậu bị sao thế? Hoặc hoặc hoả mù gì mà cậu cứ dán mắt vào mớ thuyền bè vụn vặt rách nệc chỉ chở đầy cá khô, cá tuyết, ngỗng hun khói và mấy hũ bơ còn tệ hơn cả mỡ nến kia chứ?—cộng tất cả đống hàng hóa đó lại cũng chẳng đáng giá bằng một phát súng ngắn đâu.—Không, không, hãy cho tôi thấy một cuộc truy đuổi như chúng ta từng thấy từ đỉnh cột buồm ngoài khơi đảo Trinidado ấy. Một chiếc tàu Tây Ban Nha kềnh càng ngập nước nặng trịch vì chở đầy rum, đường, các kiện thuốc lá, và tất cả những thứ còn lại toàn là thỏi vàng, tiền moidore cùng bụi vàng; rồi thì giương hết buồm lên, dọn sạch boong tàu, vào vị trí chiến đấu, giương cờ Jolly Roger lên[30]—chúng ta tiến sát lại gần nó—chúng ta nhận ra nó được trang bị vũ khí tận răng và đầy ắp người”——

“Hai mươi khẩu đại bác ở boong dưới,” Cleveland nói.

“Bốn mươi cũng được,” Bunce đáp trả, “còn chúng ta chỉ có mười khẩu—mặc kệ nó. Đám Tây Ban Nha nã đại bác ào ào—vẫn mặc kệ chúng nó, hỡi những đồng bào dũng cảm của tôi—áp sát mạn tàu nó vào, và nhảy lên tàu chúng—vào việc đi, dùng lựu đạn, mã tấu, rìu chiến và súng ngắn của các cậu—Đám Tây Ban Nha cất tiếng kêu Xin xỏ (Misericordia), và chúng ta chia nhau chiến lợi phẩm chẳng cần giấy phép gì sất, Ngài Thượng khách nhé!”

“Thề có đức tin của tôi,” Cleveland nói, “anh bén duyên với cái nghề này tự nhiên đến mức ai nấy đều thấy rằng chẳng có một người lương thiện nào bị hủy hoại cuộc đời khi anh trở thành cướp biển cả. Nhưng anh sẽ không tài nào thuyết phục tôi dấn thân sâu hơn trên con đường của quỷ dữ cùng anh đâu; vì chính anh thừa biết những gì kiếm được từ của phi nghĩa rồi cũng sẽ tan thành mây khói—anh biết rõ nó đi về đâu mà. Chỉ trong vòng một tuần, hoặc muộn lắm là một tháng, rượu rum và đường sẽ cạn sạch, các kiện thuốc lá sẽ biến thành làn khói, những đồng moidore, thỏi vàng và bụi vàng sẽ trôi khỏi tay chúng ta, lọt vào tay những con người tĩnh lặng, lương thiện và đầy lương tâm sống ở Port Royal hay những nơi khác—họ nhắm mắt làm ngơ trước nghề nghiệp của chúng ta chừng nào chúng ta còn tiền bạc, chứ đừng hòng mong vượt qua ranh giới đó một mảy may. Rồi thì chúng ta sẽ nhận lại những ánh nhìn lạnh lùng, và rất có thể một lời mật báo sẽ được gửi đến Quan tòa Tư pháp; bởi vì khi túi tiền của chúng ta cạn kiệt chẳng còn giá trị gì, thì những người bạn lương thiện của chúng ta, thà chịu mang tiếng chứ quyết không chịu thiệt, sẽ tìm cách kiếm tiền trên cái đầu của chúng ta. Thế rồi cái giá treo cổ cao ngất ngưởng cùng sợi dây thừng ngắn ngủn sẽ hiện ra, và một Tên cướp biển Phong lưu sẽ kết thúc cuộc đời như thế. Tôi bảo anh rồi, tôi sẽ từ bỏ cái nghề này; và khi tôi quay ống nhòm từ chiếc thuyền này sang chiếc thuyền khác, chẳng có chiếc nào tồi tệ đến mức tôi thà chèo thuyền bán sống bán chết để trốn chạy, còn hơn là tiếp tục làm cái thói đời mà tôi từng mang. Những con người khốn khổ ấy biến biển cả thành phương tiện kiếm sống lương thiện và là cầu nối giao thương thân thiện giữa bờ bên này với bờ bên kia, mang lại lợi ích tương hưu cho cư dân đôi bờ; nhưng chúng ta lại biến nó thành con đường dẫn đến sự hủy hoại của kẻ khác, và sự diệt vong của chính chúng ta ở cõi đời này lẫn chốn vĩnh hằng.—Tôi đã hạ quyết tâm trở thành một người lương thiện và sẽ không bao giờ dính líu đến cuộc đời này nữa!”

“Và sự lương thiện của anh sẽ tìm chỗ náu thân ở đâu đây, nếu anh không phiền?” Bunce hỏi.—“Anh đã phá vỡ luật pháp của mọi quốc gia, và bàn tay của luật pháp sẽ dò tìm và nghiền nát anh bất cứ nơi nào anh trốn tránh.—Cleveland, tôi đang nói chuyện với anh một cách nghiêm túc hơn thường ngày đấy. Bản thân tôi cũng từng có những khoảng lặng suy ngẫm; và chúng chẳng mấy tốt đẹp gì, dù chỉ kéo dài vài phút, cũng đủ sức phá hỏng cả tuần lễ vui vẻ của tôi. Nhưng vấn đề là thế này,—chúng ta có thể làm gì khác ngoài việc tiếp tục con đường đã đi, trừ khi chúng ta có sẵn một mục đích rõ ràng là đi trang trí cho cái xà dọc của tàu?”

“Chúng ta có thể viện dẫn quyền lợi từ bản tuyên ngôn ân xá dành cho những kẻ thuộc thành phần chúng ta ra đầu thú,” Cleveland nói.

“Ừm!” bạn đồng hành của hắn khô khốc đáp; “thời hạn của ngày ân huệ đó đã trôi qua từ lâu rồi, và họ có thể tùy nghi trừng phạt hoặc ban ơn tùy hứng. Nếu tôi là anh, tôi sẽ chẳng dại dột thò cổ vào một ván cược may rủi như thế.”

“Chà, những kẻ khác gần đây vẫn được khoan hồng đấy thôi, và tại sao tôi lại không?” Cleveland nói.

“Phải,” đồng bọn của hắn đáp lại, “Harry Glasby và vài kẻ khác đã được tha mạng; nhưng Glasby đã lập cái gọi là công trạng lớn khi phản bội đồng đội và chiếm lại con tàu Jolly Fortune; và tôi nghĩ anh sẽ khinh bỉ điều đó, dù cho có làm thế để trả thù cái tên thú vật Goffe kia đi chăng nữa.”

“Tôi thà chết hàng nghìn lần còn hơn,” Cleveland nói.

“Tôi dám thề là thế,” Bunce nói; “và những kẻ khác chỉ là bọn lính tráng quèn ở boong trước—những tên tiểu yêu ăn cắp vặt, chẳng bõ cho sợi gai tốn kém dùng để treo cổ chúng. Nhưng tên tuổi của anh lại đứng quá cao trong giới hảo hán giang hồ để có thể dễ dàng thoát thân như vậy. Anh là con cừu đầu đàn trong bầy, và sẽ bị đánh dấu theo đúng vị thế đó.”

“Và tại sao lại thế, xin ngài cho biết?” Cleveland nói; “anh thừa rõ mục đích của tôi mà, Jack.”

“Frederick, nếu anh không phiền,” Bunce đính chính.

“Quỷ tha ma bắt cái thói dở người của anh đi!—Làm ơn giữ lại sự khôn ngoan đó và hãy nghiêm túc lấy một phút đi.”

“Một phút—được thôi,” Bunce đáp; “nhưng tôi đang cảm thấy tâm hồn của Altamont ngập tràn trong huyết quản rồi đây,—tôi đã làm một kẻ nghiêm túc suốt mười phút nay rồi còn gì.”

“Vậy thì hãy tiếp tục như thế thêm lát nữa đi,” Cleveland nói; “Tôi thừa biết, Jack, là anh thực sự yêu mến tôi; và vì chúng ta đã đi được đến bước này trong cuộc trò chuyện, tôi sẽ tin tưởng anh hoàn toàn. Giờ hãy nói cho tôi biết, tại sao tôi lại bị từ chối ân huệ từ bản tuyên ngôn ân xá đầy nhân ái này? Tôi đã mang một vẻ ngoài xù xì, gai góc như anh biết đấy; nhưng vào thời điểm nguy cấp, tôi có thể trưng ra con số những sinh mạng mà tôi từng là nhân tố cứu giúp, những tài sản mà tôi đã trao trả tận tay chủ nhân thực sự của chúng, khi mà nếu không có sự can thiệp của tôi, chúng đã bị tàn phá một cách vô lối. Tóm lại, Bunce, tôi có thể chứng minh”——

“Rằng anh là một tên trộm hiền lành chẳng kém gì Robin Hood đích thực,” Bunce nói; “và vì lý do đó, tôi, tên Fletcher và những kẻ khá giả hơn trong số chúng tôi mới yêu quý anh, xem anh như một người cứu vớt danh tiếng của bọn cướp biển chúng ta khỏi sự chê bai phỉ nhổ hoàn toàn.—Nào, giả sử lệnh ân xá của anh đã được phê chuẩn đi, bước tiếp theo anh định làm gì?—tầng lớp nào trong xã hội sẽ tiếp nhận anh?—anh sẽ giao du với ai? Lão Drake thời Nữ hoàng Bess có thể cướp phá Peru và Mexico mà chẳng cần lấy một tờ giấy ủy nhiệm trong tay để làm bằng chứng, và phù hộ thay cho ký ức về người! Lão đã được phong tước hiệp sĩ vì điều đó ngay khi trở về. Và còn có Hal Morgan, gã xứ Wales, sống gần thời đại chúng ta hơn, vào những ngày tháng vui tươi của Vua Charles, đã mang tất cả chiến lợi phẩm về nhà, sở hữu dinh cơ cùng điền trang riêng, và còn ai sánh bằng lão nữa? Nhưng điều đó giờ đã chấm dứt rồi—một khi đã làm cướp biển, thì muôn đời là kẻ ngoại đạo. Kẻ khốn khổ ấy chỉ có thể sống ẩn dật, bị mọi người xa lánh và khinh miệt tại một cảng biển hờ hững nào đó, với phần chiến lợi phẩm tội lỗi ít ỏi mà đám cận thần và thư lại bố thí cho hắn—vì lệnh ân xá chẳng bao giờ qua được con dấu mà không tốn kém gì đâu;—và khi hắn đi dạo dọc theo cầu cảng, nếu có người lạ cất tiếng hỏi rằng, kẻ có dáng vẻ u ám, da ngăm đen, thiểu não đang khiến tất cả mọi người phải tránh đường như thể hắn mang theo dịch hạch trong người kia là ai, thì câu trả lời sẽ là, đó chính là kẻ đó, tên cướp biển đã được ân xá!—Sẽ chẳng có người lương thiện nào thèm mở lời với hắn, chẳng có người phụ nữ danh giá nào chịu trao tay cho hắn.”

“Bức tranh anh vẽ tô đậm màu quá đấy, Jack,” Cleveland bất ngờ ngắt lời bạn mình; “vẫn có những người phụ nữ—có ít nhất một người, sẽ chung thủy với người tình của mình, ngay cả khi anh ta có là kẻ như anh vừa miêu tả đi nữa.”

Bunce im lặng một lát, đăm đăm nhìn người bạn của mình. “Thề có linh hồn tôi!” cuối cùng hắn cất lời, “tôi bắt đầu nghĩ mình là một gã phù thủy mất rồi. Dẫu cho mọi chuyện có vẻ vô lý đến thế nào đi nữa, tôi vẫn không sao tránh khỏi hoài nghi ngay từ phút ban đầu rằng có một bóng hồng nhúng tay vào chuyện này. Chà, chuyện này còn tồi tệ hơn cả Hoàng tử Volscius đang đắm chìm trong yêu đương nữa ấy chứ, ha! ha! ha!”

“Cười thế nào tùy anh,” Cleveland nói, “đó là sự thật;—có một thiếu nữ bằng lòng yêu thương tôi, dẫu tôi có là một tên cướp biển; và tôi xin thẳng thắn nhận với anh, Jack, rằng dẫu tôi từng không ít lần căm ghét lối sống phiêu bạt của chúng ta cùng chính bản thân mình vì đã dấn thân theo nó, tôi vẫn hoài nghi không biết liệu mình có đủ kiên quyết để dứt bỏ nó như quyết định hiện tại nếu không phải vì cô ấy.”

“Thế thì, lạy Chúa thương xót!” Bunce đáp lại, “chẳng thể nào nói chuyện phải quấy với một kẻ điên được; và tình yêu trong cái giới của chúng ta, Thuyền trưởng ạ, chẳng khác gì chứng bệnh điên khùng. Cô gái đó chắc phải là một sinh vật hiếm có lắm, thì một kẻ khôn ngoan mới dám đánh cược cả cái cổ của mình vì cô ta. Nhưng nghe này, liệu cô ta có hơi bất thường đôi chút giống như anh không?—và chẳng lẽ sự đồng cảm đã tạo nên chuyện đó sao? Cô ta chắc không thể là một ả đĩ điếm thông thường nào đó, mà phải là một cô gái có học thức và phẩm chất đàng hoàng.”

“Cả hai điều đó đều chắc chắn như việc cô ấy là sinh vật xinh đẹp và mê hoặc nhất mà đôi mắt từng mở ra để chiêm ngưỡng vậy,” Cleveland đáp.

“Và cô ấy yêu anh, dẫu biết rằng anh, hỡi ngài Thuyền trưởng cao quý nhất, lại là một tên chỉ huy trong số những kẻ hảo hán giang hồ mà phường dân gian thường gọi là cướp biển ư?”

“Chính xác là thế—tôi đoan chắc điều đó,” Cleveland nói.

“Thế thì,” Bunce đáp, “hoặc là cô ấy thực sự điên khùng rồi, như tôi đã nói trước đó, hoặc là cô ấy chẳng hề biết cướp biển là cái gì.”

“Anh đã đúng ở điểm sau,” Cleveland đáp. “Cô ấy lớn lên trong sự cô tịch xa xôi và hoàn toàn mù tịt về những điều xấu xa, đến nỗi cô ấy so sánh nghề nghiệp của chúng ta với những người Na Uy cổ đại, những kẻ từng cướp phá biển khơi và bến cảng bằng những chiếc thuyền chiến bách chiến bách thắng, thiết lập thuộc địa, chinh phạt các quốc gia và mang danh hiệu các Vua Biển.”

“Và đó là một cái tên hay ho hơn nhiều so với từ cướp biển, và suy cho cùng cũng mang ý nghĩa tương tự cả thôi, tôi dám cá là thế,” Bunce nói. “Nhưng đây hẳn là một cô nàng gan dạ!—sao anh không đưa cô ấy lên tàu nhỉ? Tôi nghĩ thật đáng tiếc khi bỏ lỡ ý thích của cô ấy đấy.”

“Và anh nghĩ rằng,” Cleveland nói, “tôi có thể nhẫn tâm đóng trọn vai một kẻ sa ngã đến mức lợi dụng sự lầm tưởng đầy nhiệt thành đó của cô ấy, và đưa một thiên thần xinh đẹp và ngây thơ làm quen với cái địa ngục đang tồn tại trên con tàu quỷ quái kia của chúng ta ư?—Tôi bảo anh rồi, người bạn của tôi ạ, dẫu cho tất cả những tội lỗi trước đây của tôi có bị nhân đôi về trọng lượng lẫn sắc thái đi chăng nữa, thì hành vi đồi bại đó vẫn sẽ lấn át và nặng ký hơn tất thảy bọn chúng.”

“Thế thì, Thuyền trưởng Cleveland,” người tâm phúc của hắn lên tiếng, “tôi nghĩ việc anh đến đây từ đầu đến cuối chỉ là hành động của một kẻ ngốc mà thôi. Tin tức rồi cũng sẽ có ngày lan truyền ra ngoài, rằng tên cướp biển lừng danh Thuyền trưởng Cleveland, cùng con tàu buồm lùn Revenge tuyệt vời của hắn, đã bị đắm ở Đại lục Zetland, và toàn bộ thủy thủ đoàn đã bỏ mạng; nhờ đó anh sẽ vẫn ẩn mình tránh xa cả bạn lẫn thù, và có thể kết hôn với cô nàng người Zetland xinh đẹp của mình, biến dải khăn san và khăn quàng thành lưới đánh cá, biến đoản kiếm thành lao móc, và càn quét biển khơi vì loài cá thay vì những đồng tiền vàng florin.”

“Tôi cũng từng định làm thế,” Thuyền trưởng đáp; “nhưng một tay Jagger, theo cách gọi của họ ở đây, giống như một tên trộm vặt hay xía mũi vào chuyện người khác, đã mang tin tức đến Zetland rằng các anh đang cất giấu ở đây, và tôi đành phải khởi hành để xem các anh có phải là chiến hữu mà tôi từng kể cho họ nghe từ lâu, trước khi tôi nghĩ đến việc từ bỏ nghề cướp biển hay không.”

“Phải,” Bunce nói, “và về điểm đó anh đã tính toán đúng. Vì như anh từng nghe tin chúng tôi có mặt ở Kirkwall, chúng tôi cũng sẽ sớm biết được anh đang ở Zetland; và một số người trong chúng ta vì tình nghĩa, một số vì thù hận, và một số vì sợ anh sẽ chơi khăm một vố giống như Harry Glasby, sẽ kéo xuống đây với mục đích lôi kéo anh trở lại hội.”

“Tôi đã ngờ ngợ điều đó,” Thuyền trưởng nói, “và vì thế tôi đành từ chối nhã ý của một người bạn định đưa tôi đến đây vào khoảng thời gian này. Hơn nữa, Jack, tôi chợt nhớ ra rằng, đúng như anh nói, lệnh ân xá của tôi sẽ chẳng thể thông qua các con dấu nếu không có tiền, trong khi tiền của tôi thì đang cạn kiệt—cũng dễ hiểu thôi, anh thừa biết tôi chưa bao giờ là kẻ keo kiệt với nó cả—Và thế là”——

“Và thế là anh đến để đòi phần chiến lợi phẩm của mình chứ gì?” bạn hắn đáp—“Làm thế là khôn ngoan đấy; và chúng ta đã chia chác sòng phẳng—về điểm đó thì Goffe đã tuân thủ đúng các điều khoản, phải công nhận là như vậy. Nhưng hãy giữ kín dự định rời bỏ lão ta trong lòng, vì tôi rất e ngại lão sẽ chơi khăm anh một vố chó má nào đó; bởi lão chắc chắn đinh ninh rằng mình sẽ nuốt trọn phần của anh và sẽ khó lòng tha thứ cho việc anh còn sống trở về để làm lão chưng hửng đâu.”

“Tôi chẳng sợ hắn,” Cleveland nói, “và hắn thừa biết điều đó. Tôi chỉ ước gì mình có thể rũ bỏ triệt để hậu quả của việc từng là đồng chí với hắn, hệt như cách tôi tự nhủ mình đã rũ sạch mọi rắc rối có thể giáng xuống từ ác ý của hắn vậy. Tôi có thể còn vướng vào một rắc rối không may khác nữa—tôi đã đả thương một gã thanh niên, kẻ từng là cái gai trong mắt tôi suốt một thời gian, trong một vụ xô xát không hay xảy ra vào buổi sáng tôi rời Zetland.”

“Hắn chết chưa?” Bunce hỏi: “Đó là vấn đề nghiêm trọng hơn ở đây, so với khi ở Quần đảo Grand Cayman hay Bahamas, nơi mà một vài tên có thể bị bắn ngã lăn quay vào buổi sáng mà chẳng ai thèm bận tâm hay hỏi han gì đến chúng, tựa như chúng chỉ là lũ bồ câu rừng. Nhưng ở đây thì mọi thứ có thể khác đấy; nên tôi hy vọng anh chưa tiễn người bạn của mình về cõi vĩnh hằng.”

“Tôi hy vọng là chưa,” Thuyền trưởng đáp, “dù cơn thịnh nộ của tôi từng mang đến cái chết cho những kẻ gây ra cho tôi ít sự khiêu khích hơn thế. Thật tình mà nói, dẫu sao tôi vẫn cảm thấy hối hận vì cậu ta, đặc biệt là khi tôi buộc phải để cậu ta lại trong sự chăm sóc điên rồ đó.”

“Sự chăm sóc điên rồ ư?” Bunce thốt lên; “thế nghĩa là sao chứ?”

“Anh sẽ được nghe kể đây,” người bạn của hắn đáp. “Trước tiên, anh phải biết rằng, thanh niên này đã bất ngờ lao đến chỗ tôi khi tôi đang cố gắng tiếp cận Minna để có một cuộc trò chuyện riêng tư trước khi nhổ neo, nhằm giải thích dự định của mình cho cô ấy. Giờ thì, việc bị cắt ngang bởi sự thô lỗ đáng nguyền rủa của tên thanh niên này vào một thời điểm như thế”——

“Sự ngắt quãng đó đáng phải nhận cái chết,” Bunce tuyên bố, “chiếu theo mọi luật lệ của tình yêu và danh dự!”

“Dẹp mấy cái câu thoại kịch trường của anh đi, Jack, và nghe tôi nói nốt một lát. Tên ranh con năng nổ đó lại dám bật lại khi tôi ra lệnh cho hắn cút đi. Anh thừa biết tôi vốn chẳng phải là kẻ kiên nhẫn gì, nên đã giáng cho hắn một cú đấm để củng cố mệnh lệnh của mình, và hắn cũng đấm trả lại một cú ra trò giòn giã không kém. Chúng tôi giằng co cho đến khi tôi bắt đầu khao khát rằng dù thế nào đi nữa đôi bên cũng phải tách ra, điều mà tôi chỉ có thể thực hiện được bằng một nhát dao găm, thứ mà theo thói quen cũ, anh biết đấy, tôi luôn giắt theo người. Tôi vừa làm điều đó xong thì đã thấy hối hận; nhưng chẳng còn thời gian để nghĩ ngợi gì khác ngoài việc trốn chạy và ẩn nấp, vì nếu cả nhà chúng kéo đến vây bắt thì tôi coi như tiêu đời; bởi lão già nóng tính đứng đầu gia đình đó sẽ thẳng tay trừng phạt tôi dẫu tôi có là anh em ruột thịt của lão đi nữa. Tôi vội vã vác cái xác lên vai để đem ra bờ biển, với mục đích vứt nó xuống một con rãnh đá sâu thẳm, nơi sẽ phải mất khối thời gian người ta mới phát hiện ra. Xong xuôi, tôi định nhảy lên chiếc thuyền đã chuẩn bị sẵn để nhổ neo chạy thẳng về Kirkwall. Nhưng khi tôi đang rảo bước vội vã về phía bãi biển cùng gánh nặng trên vai, chàng thanh niên tội nghiệp bỗng rên rỉ, qua đó báo cho tôi biết vết thương chưa cướp đi mạng sống ngay tức khắc. Lúc đó tôi đã ẩn nấp kỹ càng giữa đám đá ngầm, và thay vì muốn hoàn tất tội ác của mình, tôi đặt cậu ta xuống đất, đang cố gắng làm mọi cách để cầm máu thì bỗng nhiên một mụ già xuất hiện trước mặt tôi. Đó là kẻ mà tôi từng nhìn thấy nhiều lần khi ở Zetland, và bị người ta gán cho danh xưng phù thủy, hay theo cách gọi của mấy tên nô lệ là mụ mọc mụ mị (Obi woman). Mụ ta đòi giao gã bị thương lại cho mụ, và tôi quá vấp váp về thời gian nên chẳng ngần ngại gì mà tuân theo yêu cầu đó. Mụ còn định nói thêm với tôi điều gì nữa, thì chúng tôi nghe thấy tiếng gào thét của một lão già ngốc nghếch trong gia đình đang ca hát ở đằng xa. Mụ bèn đặt ngón tay lên môi ra hiệu giữ bí mật, huýt sáo một tiếng thật khẽ, và một tên lùn dị dạng, thô kệch lao đến ứng cứu, chúng khiêng gã bị thương vào một trong những hang động nhan nhản ở nơi đó, còn tôi thì chạy thục mạng ra thuyền và ra khơi với tất cả tốc độ. Nếu mụ già mụ mị đó quả thực có liên hệ với Chúa tể Gió bão như người ta đồn đại, thì sáng hôm ấy mụ đã ban cho tôi một ân huệ từ nghề nghiệp của mụ; vì ngay cả những cơn lốc xoáy ở Tây Ấn mà chúng ta từng cùng nhau chống chọi cũng chẳng gây ra trận cuồng phong dữ dội nào bằng cơn bão đã thổi bay tôi lệch khỏi hải trình đến mức nếu không có chiếc la bàn bỏ túi mang theo bên mình, tôi đã chẳng tài nào tìm lại được hòn đảo Fair Isle, nơi chúng tôi ghé qua và tìm được chiếc tàu brig đưa tôi đến chốn này. Nhưng cho dù mụ già đó có mang ý tốt hay ác ý với tôi đi chăng nữa, cuối cùng chúng tôi cũng đặt chân đến đây bình an vô sự từ biển khơi, và giờ tôi lại phải đối mặt với những hoài nghi cùng vô vàn rắc rối đủ mọi thể loại.”

“Ồ, quỷ tha ma bắt cái mỏm Sumburgh-head đi,” Bunce thốt lên, “hoặc bất cứ cái tên nào gọi cái mỏm đá mà cậu đã đâm con tàu Revenge bé nhỏ tài ba của chúng ta vào!”

“Đừng có bảo là tôi đâm nó vào vách đá,” Cleveland nói; “tôi đã bảo anh tới năm mươi lần rồi còn gì, nếu đám hèn nhát đó không tranh nhau nhảy xuống thuyền, dẫu tôi đã chỉ cho chúng thấy hiểm họa và báo trước là tất cả sẽ bị lật úp, điều đã xảy ra ngay khoảnh khắc chúng vừa tháo dây buộc tàu, thì con tàu giờ này vẫn đang nổi lềnh bềnh rồi! Nếu chúng chịu ở lại cùng tôi và con tàu, mạng sống của chúng đã được cứu; còn nếu tôi đi theo chúng, mạng sống của tôi đã bỏ mạng; ai mà dám chắc đằng nào mới là tốt nhất chứ?”

“Thôi được,” bạn hắn đáp, “tôi đã rõ hoàn cảnh của anh bây giờ rồi, và có thể giúp đỡ cũng như đưa ra lời khuyên tốt hơn. Tôi sẽ trung thành với anh, Clement, như lưỡi dao với chuôi kiếm; nhưng tôi không nghĩ anh nên rời bỏ chúng ta. Đúng như câu hát cổ của người Scotland đã vang lên: ‘Đau đớn thay trái tim này khi đôi ngả lìa tan!’—Nhưng thôi nào, dẫu sao hôm nay anh cũng sẽ lên tàu cùng chúng tôi chứ?”

“Tôi chẳng còn nơi nào khác để dung thân nữa,” Cleveland thở dài nói.

Hắn lại một lần nữa đảo mắt nhìn khắp vùng vịnh, hướng chiếc ống nhòm vào một số con tàu đang lướt qua mặt nước, chắc là với hy vọng nhận ra chiếc thuyền của Magnus Troil, rồi lặng lẽ theo chân người bạn đồng hành bước xuống đồi.

[29] Thật là kỳ lạ khi loài gà gô, vốn dồi dào ở Orkney như trong văn bản đã nêu, lại hoàn toàn xa lạ ở quần đảo Zetland lân cận, nơi chỉ cách đó chừng sáu mươi dặm, với hòn đảo Fair Isle làm trạm trung chuyển ở giữa.

[30] Những kẻ cướp biển đã đặt cái tên này cho lá cờ đen của chúng, thứ mang theo vô số họa tiết kinh hoàng nhằm tăng thêm phần uy hiếp, là cờ hiệu ưa thích của chúng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Walter Scott

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.