Màu Của Nước

Lượt đọc: 198 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10
Trường học

❊ ❊ ❊

Vào những năm 60, khi mẹ tôi có tiền - thứ mà mẹ hiếm khi có - mẹ đưa anh chị em tôi đến phố Delancey ở khu Đông của Manhattan để mua quần áo mặc đi học. “Các con phải đi đến chỗ có các cuộc mặc cả,” mẹ nói. “Các cuộc mặc cả không tự đến với các con đâu.”

“Các cuộc mặc cả ở đâu ạ?” chúng tôi hỏi.

“Ở chỗ của người Do Thái?”

Tôi nghĩ người Do Thái chỉ có ở trong Kinh Thánh. Tôi đã nghe nói về họ ở lớp học giáo lý vào ngày Chủ nhật, qua Chúa Jesus hoặc đại khái thế. Tôi nói với mẹ rằng tôi không biết người Do Thái vẫn còn tồn tại.

“Họ vẫn sống chứ,” mẹ nói. Mặt mẹ trông thật buồn cười.

Các nhà buôn người Do Thái thuộc phái Hasidic đội mũ cầu kinh màu đen trố mắt nhìn mẹ trong cảm giác sửng sốt khi mẹ bước vào cửa hàng của họ với năm, sáu đứa con bám nhằng nhẵng theo sau. Khi họ hoàn hồn đủ để kiếm tiền, mẹ sẽ dồn họ vào chân tường, mặc cả với họ cho đến chết, sa vào cái mê cung tiếng Do Thái khi cuộc mặc cả trở nên căng thẳng. “Tôi biết chuyện gì đang xảy ra ở đây! Tôi biết chuyện gì đang xảy ra!” mẹ phản ứng khi họ quay ra nói tiếng Do Thái với nhau trong những cuộc mặc cả xung quanh một đôi giày. Mẹ nói lắp bắp đầy vẻ tức giận và các nhà buôn càng trố mắt nhìn mẹ. Chúng tôi đứng ngây ra nhìn trong sợ hãi.

Lần đầu tiên chứng kiến cảnh đó, chúng tôi hỏi: “Mẹ, mẹ học bằng cách nào để nói như thế?”

“Lo việc của các con đi,” mẹ nói. “Đừng bao giờ hỏi nếu không não của các con sẽ cứng như đá đấy. Mấy người Do Thái đó không chịu đựng nổi các con đâu.”

Nhớ lại hồi đó tôi hiểu rằng mình chẳng bao giờ cảm thấy có mối quan hệ gì với người Do Thái. Chúng tôi không những bị cách ly khỏi thế giới của họ và bất cứ thế giới nào khác, mà còn bị cô lập trong chính thế giới của mình. Tuy nhiên tôi phần nào thừa nhận rằng người Do Thái hơi khác so với những người da trắng khác, một phần do những thông tin được lượm lặt từ mẹ tôi, người đã tìm kiếm một cách vô thức và có ý thức nhiều thứ thuộc về người Do Thái, và một phần qua các anh chị của tôi. Toàn bộ chi phí học hành của chị Rosetta nhà tôi ở trường Đại học Howard, trường dành cho người da đen - tiền học phí, tiền sách vở, thậm chí cả tiền quần áo - đều do Quỹ Joseph L. Fisher, với sự điều hành của Giáo đường Do Thái Stephen Wise Free ở Manhattan tài trợ. Thêm vào đó, Dennis, anh cả của tôi, vị quân sư đầy trí khôn và là cuốn từ điển sống về mọi điều trên thế giới của nhà chúng tôi vào những năm 60, ở trường đại học trở về nhà với niềm kính trọng dành cho những người bạn Do Thái mà anh đã gặp. “Họ ủng hộ phong trào vì dân quyền,” anh nói. Mẹ ủng hộ bất cứ điều gì liên quan đến việc cải thiện giáo dục và điều kiện sống của chúng tôi, và trong khi mẹ nhanh chóng chỉ ra rằng “Một số người Do Thái không chịu đựng nổi các con đâu,” bằng cái cách đẩy mâu thuẫn của mình mẹ cũng truyền đạt cho chúng tôi ý này: Nếu chúng tôi đủ may mắn để tình cờ gặp những người Do Thái tốt bụng - một giáo viên, một cảnh sát, một thương gia - thì chúng tôi sẽ thấy người đó còn tốt bụng hơn những người da trắng thuộc các dân tộc khác. Mẹ chưa bao giờ nói người Do Thái là người da trắng. Mẹ đơn giản chỉ nói họ là người Do Thái, và điều đó khiến người Do Thái có vẻ khác với người da trắng. Tất cả các anh chị em chúng tôi đều lớn lên với cảm giác rằng về một khía cạnh nào đó người Do Thái khác với người da trắng. Sau này, khi đã là người lớn nghe người ta nói về mối quan hệ yêu/ghét giữa người da đen và người Do Thái tôi thấm điều đó đến tận xương tủy không phải bởi bất kỳ cuộc nghiên cứu xã hội học nào từ bên ngoài, mà vì trải nghiệm của chính bản thân tôi với các giáo viên và các bạn học người Do Thái - vài người trong số họ thực sự tốt bụng, tài năng, và nhạy cảm, những người khác không thể giấu nổi sự chán ghét đối với khuôn mặt da đen của tôi - những người tôi gặp trong những cuộc tiếp xúc riêng của mình với thế giới của người Do Thái mà mẹ tôi đã ngầm thu xếp bằng cách ép từng đứa chúng tôi đi học ở các trường công chủ yếu gồm học sinh người Do Thái.

Hơn bất cứ ai khác, mẹ tôi, với sự ý thức cao về giáo dục, đã truyền chất Do Thái của mẹ sang chúng tôi. Mẹ khâm phục cách các bậc cha mẹ người Do Thái nuôi dạy các con của họ trở thành những nhân vật nổi bật về học thức, bảo vệ chúng khỏi hệ thống trường công nguy hiểm bằng cách co cụm lại trong những cộng đồng nhất định, học ở một số trường nhất định, được dạy bởi những giáo viên luôn khép học trò vào sự kỷ luật và khích lệ việc học tập, và mẹ tuân theo sự dẫn dắt của họ. Trong năm học mẹ đưa ra những mệnh lệnh chi tiết, bắt chúng tôi phải mang về nhà từng bài kiểm tra mà giáo viên giao cho chúng tôi ở trường, đặc biệt là vào tháng 1, và nếu chúng tôi không làm theo những mệnh lệnh đó thì sẽ nhừ đòn. Khi chúng tôi, theo bổn phận, mang các bài kiểm tra về nhà, mẹ đọc chúng thật kỹ càng, và chăm chú tìm kiếm - “Được… được… đây rồi!” - chộp lấy một mẫu đơn và điền thông tin vào. Hàng năm, con khủng long cực kỳ quan liêu được biết đến với cái tên Hệ thống Trường Công của Thành phố New York phun ra một viên kim cương bé xíu: Nó dúi cho các phụ huynh một thông báo nhỏ cho họ cơ hội nhét con mình lên xe buýt đến những trường khác trong quận nếu họ muốn; nhưng thời gian nộp đơn có hạn, cơ hội chỉ như cánh cửa hé mở trong vài ngày rồi đóng sập lại. Mẹ tôi rình cơ hội đó như một con diều hâu rình mồi. Mẹ luôn chọn những trường công có phần lớn học sinh là người Do Thái: Trường P.S. 138 ở Rosedale, J.H.S. 231 ở Springfield Cardens, Benjamin Cardozo, Francis Lewis, Forest Hills, Trường Nhạc Họa. Sáng sáng chúng tôi bước ra khỏi cửa lúc sáu giờ ba mươi phút, tiến vào thành phố như những người lính, với “vũ khí” là những cuốn sách, tập vở, ê-ke, nhạc cụ, và tấm thẻ có chữ “S” cho phép chúng tôi đi xe buýt, tàu điện ngầm với số tiền năm xen, và một phiếu ăn trưa miễn phí tại trường trong túi áo. Ngay cả đứa bé nhất trong số chúng tôi cũng biết lịch trình của tàu điện ngầm, của xe buýt ở trong khu vực, và thuộc lòng các tuyến đường. Xe buýt số 3 sẽ dừng cho bạn xuống ở góc đường, nhưng xe 3A thì dừng ở ngã tư, vậy nên bạn phải xuống xe… Mười hai tuổi tôi đã mài mông trên xe công cộng một tiếng rưỡi để đến trường một mình, hàng ngày mỗi lần đi hoặc về đều chuyển qua hai tuyến xe buýt. Giáo viên chủ nhiệm của tôi, cô Allison, một phụ nữ trẻ người da trắng đeo kính và là người không quan tâm đến tôi lắm, thường nhún vai khi tôi bước vào lớp muộn mười phút, lúng búng xin lỗi vì xe buýt đến chậm. Ở căng-tin những đứa trẻ da trắng nhìn tôi trừng trừng khi tôi nuốt vội suất ăn trưa của mình. Ai thèm quan tâm chứ. Đó là tất cả những gì tôi phải nuốt.

Trước khi Nhà nước xóa bỏ quy định học sinh da đen đi xe buýt riêng, học sinh da trắng đi xe buýt riêng, anh chị em tôi không giống như những đứa trẻ khác ở trong khu, phải vượt qua nhiều dặm đường đến những nơi có đông người Do Thái da trắng sinh sống để học trong khi bạn bè cùng trang lứa của chúng tôi chỉ việc đi bộ đến các trường học ở địa phương, chúng tôi quen dần với thực tế mình là người da đen hoặc “mọi đen” duy nhất ở trường và trở thành những học sinh xuất sắc, có kỷ luật và lịch sự, bất chấp thái độ phân biệt chủng tộc của nhiều giáo viên, những người thích thú đánh tụt điểm học lực của chúng tôi từ 95 xuống 85 hoặc 80 vì những lỗi không đáng kể. Là một đứa trẻ da đen là điều chưa bao giờ khiến tôi được thoải mái. Hồi đó tôi là học sinh da đen duy nhất ở lớp năm của tôi tại ở P.S. 138, ở Rosedale, thuộc quận Queens, và một buổi chiều khi cô giáo đọc to một cách nghiêm túc một trang trống cuốn sách “Lịch sử của người da đen” một học sinh ở cuối lớp thì thầm, “James là một thằng mọi đen!” và thế là tiếng cười rúc rích, khúc khích nổi lên khắp phòng học. Cô giáo yêu cầu học sinh kia im lặng và nhìn cậu ta bằng ánh mắt giận dữ, nhưng “bom” đã nổ rồi. Tôi cảm thấy máu dồn lên mặt và tôi ngồi lún sâu trong ghế, giận sôi máu, nhưng tôi không làm gì. Tôi có thể tưởng tượng được những gì các anh chị của tôi sẽ làm trong hoàn cảnh này. Họ sẽ nổi điên. Họ sẽ tìm cái đứa học trò thô lỗ kia và xử nó. Anh chị tôi sẽ không bao giờ cho phép bất cứ ai gọi mình là “mọi đen”. Nhưng tôi không phải là họ. Tôi nhút nhát, thụ động, trầm tính, và chỉ sau đó nỗi tức giận mới bùng nổ, gầm lên trong tôi với sự dữ dội khủng khiếp đến mức tôi tự hỏi cái đứa đã gọi mình như vậy là đứa nào và toàn bộ chuyện này bắt nguồn từ đâu.

Chính vào thời điểm đó âm nhạc và những cuốn sách đi vào cuộc sống của tôi. Tôi chìm đắm trong thế giới của các cuốn sách Những cuộc phiêu lưu của Gulliver, Shane, và những cuốn sách của Beverly Cleary. Tôi tham gia các lớp học piano và clarinet ở trường, thường tìm đến một góc nào đó cùng với chiếc kèn clarinet để tập chơi nhạc, để cho tâm hồn và trí óc của mình phiêu lãng trong những bản nhạc của Tchaikovsky hoặc John Philip Sousa, thử chơi những đoạn ứng tác như nghệ sĩ saxophone chơi nhạc Jazz James Moody, để rồi một hoặc hai giờ sau đó lại ngơ ngác trở về với thực tại. Để thoát khỏi thực tại gây đau đớn, tôi tạo ra một thế giới tưởng tượng cho riêng mình. Tôi tin rằng con người thật của mình là một cậu bé sống ở trong gương. Tôi giam mình trong phòng tắm, chơi với tôi ở trong gương hàng giờ liền. Cái con người ở trong gương ấy trông giống tôi. Tôi nhìn cậu ta không chớp mắt. Tôi hôn cậu ta. Tôi pha trò với cậu ta, sai phái cậu ta. Không giống các anh chị của tôi, cậu ta không có ý kiến gì. Cậu lắng nghe tôi. “Nếu tôi ở đây và cậu là tôi, liệu cậu có thể đồng thời ở đó không?” tôi hỏi. Cậu ta nhún vai, mỉm cười. Tôi quát cậu ta, hành hạ cậu ta bằng lời nói. “Hãy trả lời tôi đi!” Tôi càu nhàu. Tôi sắp sửa bỏ đi, nhưng khi tôi quay gót cậu ta luôn ở đó, đợi tôi. Tôi có nỗi nhức nhối ở trong lòng, nhưng tôi không biết nó bắt nguồn từ đâu và tại sao tôi lại có nó. Cậu bé ở trong gương dường như không có nỗi nhức nhối đó. Cậu ta tự do. Cậu không bao giờ đói, có lẽ cậu có giường riêng để ngủ, và mẹ cậu không phải là người da trắng. Tôi ghét cậu ta. “Biến đi!” Tôi gào lên. “Biến mau! Biến khỏi đây mau!” nhưng cậu ta không biến đi. Các anh chị của tôi áp tai vào cửa nhà tắm và cười phá lên khi thấy tôi nói chuyện một mình. “Đồ ngớ ngẩn!” anh Richie của tôi cười khúc khích.

Dù các anh chị của tôi gọi tôi là “Đầu To” bởi vì tôi có cái đầu to và một thân hình gầy nhom, đối với thế giới bên ngoài tôi có lẽ ở trong danh sách của những người “có khả năng thành công cao nhất”. Tôi là một đứa trẻ thông minh. Tôi đọc nhiều. Tôi chơi nhạc giỏi. Tôi chăm đi lễ nhà thờ. Tôi có những gì mà người da đen gọi là “mái tóc đẹp” bởi vì nó quăn thành lọn chứ không quăn tít thò lò. Tôi có nước da sáng hoặc có thể gọi là da nâu, và các bạn gái nghĩ tôi dễ thương cho dù tính tôi nhút nhát. Tuy nhiên tôi không biết mình là ai. Tôi yêu mẹ nhưng tôi trông chẳng giống mẹ chút nào. Tôi trông cũng chẳng giống các thần tượng của đời tôi - cha dượng, bố mẹ nuôi của tôi, và những người bà con khác - những người đều là dân da đen. Và họ trông chẳng giống những người anh hùng khác mà tôi từng nhìn thấy, những anh hùng trong phim, những người da trắng như Stvie McQueen và Paul Newman, người hùng đã nện những gã đàn ông xấu xa để cuối cùng có được cô gái xinh đẹp - những người mà, ngẫu nhiên, luôn là người da trắng.

Một buổi trưa đi học về tôi dồn mẹ vào thế bí trong khi mẹ đang nấu bữa tối. “Mẹ, một người da trắng lai da đen thảm hại là người như thế nào hả mẹ?” tôi hỏi.

Sự tức giận hiện rõ trên mặt mẹ giống như ánh chớp và mũi mẹ, vốn luôn có xu hướng đỏ và phồng lên vì giận dữ, giờ đây trông như một quả bóng bay. “Con nghe thấy những từ đó ở đâu vậy?” mẹ hỏi.

“Con đọc được ở trong một cuốn sách.”

“Lạy Chúa, con không phải là một người da trắng lai da đen thảm hại - cuốn sách đó là cuốn gì?”

“Là một cuốn sách con đã đọc ấy mà.”

“Đừng đọc cuốn sách đó nữa.” Mẹ nghiến răng. “Người da trắng lai da đen thảm hại. Sao lại có người dùng những từ ngớ ngẩn đó nhỉ! Ai đó đã gọi con như vậy phải không?”

“Không ạ.”

“Đừng bao giờ dùng những từ đó.”

“Con là người da đen hay người da trắng hả mẹ?”

“Con là con người,” mẹ gắt lên. “Học hành cho tử tế nếu không con sẽ là một người vô giá trị.”

“Con sẽ là một người vô giá trị da đen chứ không phải chỉ là một người vô giá trị đúng không mẹ?”

“Nếu con là một người vô giá trị,” mẹ nói bằng giọng khô khốc, “thì da con màu gì cũng thế mà thôi.”

“Cũng thế mà thôi,” tôi nói.

Mẹ thở dài và ngồi xuống. “Mẹ đánh cược rằng con chưa từng nghe câu chuyện cười về người thầy giáo và những hạt đậu,” mẹ nói. Tôi lắc đầu. “Thầy giáo nói với cả lớp: Chúng ta hãy nói về những loại đậu khác nhau.”

“Cậu học sinh đầu tiên nói: đậu pinto.”

“Đúng,” thầy giáo nói.

“Một cậu học sinh khác giơ tay ‘Đậu bơ ạ’.”

“Rất tốt,” thầy giáo khen.

“Một cô bé ngồi ở cuối lớp giơ tay và nói: ‘Chúng ta tất cả là đậu người ạ!’”

Cô bé cười thành tiếng “Thầy là một loại đậu người!”

Mẹ cười thành tiếng. “Con là vậy đấy, một loại đậu người! Và một bữa chén no nê!” Mẹ đứng dậy, quay trở lại với việc nấu nướng trong khi tôi đi thơ thẩn trong bối rối.

Bối rối đến mức muốn nổ tung, tôi đem câu hỏi đó đến hỏi các anh chị của mình. Mặc dù tất cả chúng tôi đều được nuôi dạy từ hệ thống lý luận mà mẹ cung cấp, dường như không ai có chung sự bối rối như tôi. “Chúng ta là người da đen hay da trắng?” Một hôm tôi hỏi anh David.

“Anh mày là người da đen,” David nói, hãnh diện với mái tóc xoăn dài hợp thời trang của dân da đen ở Milwaukee. “Nhưng mày là một thằng mọi. Tốt hơn mày nên hỏi Billy.”

Tôi đến chỗ Billy, nhưng trước khi tôi kịp mở miệng, anh ấy đã hỏi: “Mày có muốn xem cái này không?”

“Có,” tôi đáp.

Anh dẫn tôi đi qua chỗ mẹ đang xử lý đám khăn tã, đi qua những chiếc ghế đổ kềnh, những cuốn sách, những giá đựng đĩa nhạc và nhạc cụ tạo thành cái gọi là phòng khách, đi lên phòng ngủ của đám con trai ở trên gác và đến bên một chiếc tủ đựng đồ tạp nham đầy ặc đến tận nóc. Billy rúc đầu vào trong tủ, chỉ tay về phía vách tủ nói: “Nhìn cái này đi.” Khi tôi thò đầu vào tủ, anh đẩy tôi từ phía sau và đóng sập cửa tủ lại, đè chặt cánh tủ. “Này! Trong này tối lắm.” Tôi gào lên, đập cánh cửa tủ, cố đẩy nỗi sợ hãi ra khỏi giọng nói của mình. Bỗng nhiên, trong bóng tối, tôi cảm thấy những bàn tay chộp lấy tôi và nghe thấy tiếng một con quái vật gầm lên. Nỗi hoảng sợ trong tôi phát triển thành nỗi kinh hoàng và tôi cuống cuồng đấm cánh cửa với tất cả sức lực của mình, hét toáng lên, “BILLLLLLYYYYYYY!” Billy mở cửa tủ và tôi lao ra khỏi tủ, anh David nhào ra sau tôi. Hai anh trai của tôi cười lăn lộn trên sàn nhà, trong khi tôi chạy khắp các phòng gọi mẹ.

Trong gia đình tôi, câu hỏi về chủng tộc giống như lực hút của mặt trăng. Nó là lực làm cho những dòng sông không ngừng chảy, khiến cho nước biển và thủy triều dâng lên, nhưng nó là loại lực bí ẩn, không thay đổi, không thể khuất phục, không thể bàn cãi vì thế hoàn toàn có thể bị phớt lờ. Mẹ khiến chúng tôi phải tuân theo một nhịp sống điên cuồng đến mức không còn thời gian dành cho vấn đề đó. Chúng tôi phát triển nhanh nhờ suy nghĩ, những cuốn sách, âm nhạc và hội họa mà mẹ cho chúng tôi “ăn” thay vì thức ăn. Hễ cứ có cơ hội thì y như rằng mẹ nhét năm hoặc sáu đứa chúng tôi lên tàu điện ngầm, trả tiền vé và đẩy những đứa còn lại qua những cánh cửa quay, trong khi nhân viên soát vé chau mày còn hành khách trên tàu thì mở to mắt nhìn, dẫn chúng tôi diễu khắp mọi sự kiện tổ chức miễn phí của thành phố New York: các lễ hội, vườn thú, các cuộc diễu hành, những bữa tiệc đường phố, các thư viện, những buổi hòa nhạc. Chúng tôi đi bộ nhiều giờ quanh thành phố, đi qua những con phố quanh co của tất cả những khu lân cận và chỉ đi không thôi chứ không mua hay nói chuyện với bất cứ ai. Mỗi năm hai lần mẹ dẫn chúng tôi đến phòng khám nha khoa Guggenheim ở Manhattan để khám miễn phí, nơi các sinh viên nha khoa của nước ngoài mặc áo choàng cầm những y cụ để khoan và gắp, và không có thuốc gây tê, nơi cung cấp một dãy ghế nha khoa và biến mỗi đứa chúng tôi thành một dàn âm thanh của những tiếng kêu xé tai đẫm nước mắt trong khi những đứa khác xếp hàng đợi, chứng kiến cảnh đang diễn ra mà hồn xiêu phách lạc. Họ nhổ răng như những kẻ điên, quát mắng chúng tôi bằng tiếng mẹ đẻ của họ trong khi giật đầu chúng tôi sấp ngửa như giật đầu những con búp bê bằng vải. Có lần họ nhổ răng cho anh Billy của tôi sau đó bảo anh ấy đi ra chỗ mẹ ngoài phòng đợi, và tại đó mẹ nhìn vào cái miệng đầy bông gạc và máu của anh ấy, phát hiện ra họ đã không nhổ chiếc răng cần phải nhổ. Mẹ nổi điên, xông vào gặp họ. Vào mùa hè, mẹ là Pied Piper[1] dẫn cả lũ chúng tôi đến các bể bơi công cộng, trút bỏ quần áo ngoài, mặc bộ đồ bơi một mảnh và nhảy ùm xuống nước như một con hải mã. Lũ chúng tôi nhảy theo mẹ như một đàn hải cẩu, làm nước bắn tung tóe trong nỗi hoảng sợ khi mà mẹ đập nước hoài như thể mẹ không biết bơi cho đến lúc một trong mấy đứa chúng tôi ho sặc sụa, thổi phù phù, và mẹ rẽ nước lội đến chỗ đứa ấy túm lấy nó lôi nó lên khỏi mặt nước vừa vỗ vỗ vào lưng nó vừa bật cười. Chúng tôi không coi bản thân là người bất hạnh, bị tước đoạt, hoặc là những người chán nản bởi vì khi chúng tôi còn nhỏ các luật lệ của thế giới bên ngoài dường như vô nghĩa đối với chúng tôi. Nhưng khi lớn hơn, trở thành những đứa trẻ mới lớn và trở thành sinh viên, bước vào đời chúng tôi mang thế giới bên ngoài về nhà cùng mình, và cái thế giới mà mẹ đã cần cù tạo ra bắt đầu sụp đổ.

Những năm sáu mươi tràn qua nhà của chúng tôi như một con sóng thủy triều. Quyết định bỏ học và đi khỏi nhà ở tuổi mười lăm của chị Helen, mặc dù năm năm sau chị quay trở về nhà với tấm bằng y tá và một đứa con gái, là dấu hiệu đầu tiên của sự sụp đổ treo lơ lửng trên đầu chúng tôi. Các anh chị khác của tôi bắt đầu hành động và thế là ý thức về sự công bằng cũng như khát vọng về quyền được hưởng sự công bằng mà mẹ và cha tôi đã truyền cho chúng tôi bắt đầu đem lại kết quả trái với mong muốn. Những đứa trẻ tốt bụng, hiền lành ở lớp giáo lý được dạy để nói một cách hãnh diện, “Mình là người da đen,” và thuật lại những việc làm của Jackie Robinson, Paul Robeson giờ đây đã quay sang Malcolm X, Ha. Rap Brown, Martin Luther King để được truyền cảm hứng. Mẹ là người mang màu da không phù hợp cho niềm tự hào của người da đen cũng như sức mạnh của người da đen, và điều đó gần như chia rẽ gia đình tôi thành hai phe.

Các anh chị của tôi, từng người, từng người một phá vỡ các luật lệ của mẹ, mang về nhà những kết quả của sự bối rối, khó hiểu của riêng mình, những kết quả mà chúng tôi gọi vui là “cuộc cách mạng”. Một người anh của tôi đã bỏ nhà sang châu Âu. Một người chị của tôi có quan hệ nam nữ ở trường đại học và trở về nhà bế trên tay một đứa con của tình yêu, một chuyện không hề nhỏ vào năm 1967. Anh Richie cưới vợ khi mới mười tám tuổi bất chấp sự phản đối của mẹ, rồi ly dị, sau đó vào đại học, và có mặt ở nhà trong kỳ nghỉ hè khi anh bị hai cảnh sát chặn lại trong khi đi ra phố với một người bạn. Một nhóm nam thanh niên đi trước Richie khoảng mười bước chân và bạn của anh đã thả một thứ trông giống như một túi heroin xuống khi xe cảnh sát tới gần. Cảnh sát tóm đám con trai kia, bắt họ đứng xếp hàng bên một hàng rào, và tra hỏi ai trong số họ đã vứt cái túi kia xuống, cái túi mà sau đó được kiểm tra hóa ra chỉ chứa toàn ký ninh, chứ không phải heroin. Không ai nhận đã làm chuyện đó, vậy nên cảnh sát kiểm tra cả đám và tìm thấy chín mươi đô la tiền vay từ ngân hàng hỗ trợ sinh viên ở trong túi của Richie. Khi cảnh sát hỏi anh số tiền đó từ đâu ra, Richie nói rằng đó là tiền anh vay ở trường và anh không nhớ là mình có số tiền đó. Nếu bạn hiểu rõ Richie bạn sẽ gật đầu và nói: “Ừ,” bởi việc quên rằng mình đang có trong người chín mươi đô la quý giá, một số tiền lớn vào thời đó, thuộc về tính nết của anh. Khi anh còn nhỏ chúng tôi thường gọi anh là “Nhà khoa học lập dị”. Những thí nghiệm khoa học của anh suýt làm nổ tung cả căn nhà của chúng tôi bởi vì bất cứ thứ gì anh sáng tạo ra, anh đều để nó trong tình trạng đang sôi và hoàn toàn quên nó trong khi chúng tôi lục tìm thức ăn. Anh có thể nhớ được những phép tính vi phân khó nhớ nhất và sành nhạc gần như một nhạc sĩ thực thụ, nhưng anh không thể nhớ nổi cách mặc quần. Anh chơi các bản solo của John Coltrane bằng kèn saxophone hàng giờ và mặc áo khoác mùa đông cùng với quần sooc thể thao. Hồi còn nhỏ anh rất thông minh nhưng hay đãng trí và sau này anh trở thành một nhà hóa học. Nhưng đối với những tay cảnh sát kia, anh chỉ là một tội phạm da đen và thế là anh bị bắt, bị tống giam.

Mẹ tôi đi đi lại lại trong nhà suốt cả đêm sau khi mẹ nhận được tin chẳng lành đó. Ngày hôm sau mẹ có mặt ở nơi buộc tội Richie từ sáng sớm, ngồi ngay sau bàn của người biện hộ và khi mẹ nhìn thấy họ giải anh vào, thấy anh bị còng tay còn người thì bẩn thỉu sau một đêm bị tạm giam mẹ không thể kìm nén được cảm giác xót thương, bắt đầu lẩm bẩm, vò siết hai tay vào nhau như một người đàn bà đã hóa điên. Trong cơn lẩm bẩm đầy bấn loạn mẹ nghe thấy viên luật sư được tòa án chỉ định nghiêng người sang phía Richie và thốt ra cụm từ của một cố vấn luật pháp “nhận tội.” Mẹ đứng phắt dậy, hét lên: “Khoan đã!” Mẹ nhảy xổ qua những nhân viên của tòa án, hét lên với thẩm phán rằng sự buộc tội của tòa là nhầm lẫn, rằng từ trước đến giờ không đứa con nào của mẹ vi phạm pháp luật, rằng con trai của mẹ là một sinh viên. Vị thẩm phán da trắng nhận ra mẹ là người từng xuất hiện ở nhiều phiên tòa của người da đen liền cho phép mẹ bảo lãnh Richie và lời buộc tội sau đó bị xóa bỏ.

Nhưng trải nghiệm ấy càng khiến mẹ có nhiều biện pháp mạnh đối với những đứa con nhỏ của mình hơn. Nhớ lại chuyện ngày xưa, tôi thấy mẹ mình quả là khá thông minh trong việc kiểm soát chúng tôi. Mẹ dựa nhiều vào hệ thống “hoàng đế/ nữ hoàng” mà mẹ thiết lập trong gia đình tôi từ lâu trước khi tôi ra đời: Con cả là vua hoặc nữ hoàng và bạn không thể không tuân lệnh người đó, bởi vì bạn là nô lệ. Khi người con cả rời gia đình đi học đại học, người con thứ hai nối ngôi. Hệ thống hoàng đế/ nữ hoàng mang đến cho chúng tôi khái niệm về trật tự, cấp bậc, và cái tôi. Nó tạo cho những anh chị lớn của tôi cảm giác mình là người có trách nhiệm quản lý, trông nom, nhưng thực ra chính mẹ mới là người trị vì thế giới của chúng tôi. Hệ thống đó cũng gợi lại cách dạy dỗ truyền thống của Do Thái chính thống nơi mà gia đình được điều hành bởi một nhân vật chiếm ưu thế với những luật lệ và quy định nghiêm khắc. Mặc dù gia đình tôi có sự lộn xộn, chúng tôi luôn ăn các bữa, luôn làm bài tập và đi ngủ vào giờ nhất định. Mẹ cũng liên kết với bất cứ người thân hoặc người bạn nào quan tâm đến các con của mẹ và thường gửi chúng tôi đến ở với bất cứ người thân nào đã hứa sẽ giúp chúng tôi cải thiện cách cư xử hoặc tính cánh, và nhiều người đã làm như họ hứa. Cái gia đình da đen đông đúc của chúng tôi là những lá bài của riêng mẹ, và mẹ chơi những lá bài đó thường xuyên theo sự đòi hỏi của hoàn cảnh bởi vì mẹ không thể nhờ vả đằng nhà đẻ của mình. Khi lớn lên có lúc tôi tôi chợt nghĩ rằng có vài người họ hàng mà chúng tôi chưa bao giờ gặp mặt. “Tại sao không có cô dì chú bác nào gần gũi với mẹ, mẹ nhỉ?” Một hôm tôi hỏi mẹ.

“Mẹ có một người anh trai đã qua đời rồi còn em gái của mẹ… Mẹ không biết dì ấy hiện giờ ở đâu,” mẹ nói.

“Tại sao mẹ lại không biết?”

“Chị em mẹ ly tán.”

“Như thế nào hả mẹ?”

“Mẹ bỏ nhà đi.”

“Bỏ nhà nhà đi ư?”

“Bỏ nhà đi. Chết.”

“Ai chết hả mẹ?”

“Mẹ. Có lẽ bây giờ họ cũng chết rồi. Có khác gì chết đâu nào? Gia đình bên ngoại không muốn mẹ kết hôn với người da đen.”

“Nhưng nếu bản thân mẹ là người da đen rồi thì làm sao họ có thể nổi điên với mẹ được cơ chứ?”

Mẹ bí rồi. Tôi đã bắt thóp mẹ. Nhưng mẹ lờ câu hỏi của tôi đi. “Đừng có hỏi mẹ câu nào nữa.”

Cha dượng của tôi, một nguồn thông tin tiềm tàng về gốc gác của mẹ, không giúp ích được gì. “Ồ, mẹ của con hả, con bận tâm đến mẹ của con thế nhỉ,” ông cằn nhằn khi tôi hỏi ông về gốc gác của mẹ. Cha dượng tôi yêu mẹ. Ông dường như không phiền chút nào trước thực tế mẹ là người da trắng, và điều đó khiến tôi lấy làm lạ, bởi vì rõ ràng mẹ khác biệt so với ông. Trong khi ông thoải mái và cởi mở về hầu hết các vấn đề trên thế giới, mẹ lại đầy hoài nghi, nghiêm khắc, và kín như bưng. Bất cứ khi nào mẹ bước ra khỏi nhà cùng chúng tôi, mẹ đều rơi vào một trạng thái tinh thần mà trong đó phạm vi chú ý của mẹ không vượt ra ngoài năm đứa trẻ đang bám đuôi mẹ và cái bóp nhỏ trong đó có một ít tiền mà mẹ luôn đếm cho đến đồng xu cuối cùng. Mẹ tuyệt đối không quan tâm đến một thế giới mà dường như bị kích động một cách khó tin trước sự hiện diện của chúng tôi. Những cái nhìn trừng trừng, những lời bình phẩm, những cái liếc mắt và những tiếng kêu tanh tách mà chúng tôi nghe thấy khi chúng tôi đi ra ngoài không lọt được vào đầu mẹ, nhưng lại lọt vào đầu tôi. Mười tuổi tôi đã có những cảm giác rất riêng biệt về bản thân và về tuổi trưởng thành sắp đến của mình, và việc đi ra ngoài với mẹ từng là một sự ưu tiên và niềm vinh dự khi tôi năm tuổi, khi ấy lại trở thành một điều đáng sợ. Những gì tôi cảm nhận được đã đẩy tôi đến chỗ xấu hổ về mẹ và tôi không muốn thế giới nhìn thấy người mẹ da trắng của mình. Khi tôi đi ra ngoài với bạn bè, tôi tránh nói cho mẹ biết chúng tôi sẽ chơi ở đâu bởi vì tôi không muốn mẹ đến chỗ chúng tôi chơi để tìm tôi. Tôi trở nên bí ẩn, thận trọng, tiêu cực, tức giận, sợ hãi, luôn luôn sợ con mèo xấu nết nhất ở khu chúng tôi sinh sống gọi mẹ mình là “honky”[2], và trong trường hợp đó tôi sẽ phải phản ứng và hậu quả là tôi sẽ bị đá vào mông. Một buổi trưa mẹ bảo tôi: “Mẹ con mình cùng đến cửa hàng đi.”

“Con tự đi một mình được mà mẹ,” tôi nói. Tôi muốn giấu người mẹ da trắng của mình đi và muốn đến cửa hàng một mình.

“Được thôi,” mẹ nói. Mẹ dường như không bực bội vì sự tự lập mới được phát hiện của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi đi đến cửa hàng thực phẩm ở gần nhà. Chủ cửa hàng, một người đàn ông da trắng cục cằn giống như nhiều người da trắng ở St. Abans, đang đi ra khỏi cửa hàng thì mấy đứa trẻ da đen chúng tôi bước vào. Ông ta dường như không ưa những đứa trẻ da đen và rõ ràng ông ta không thích hoặc không thèm đếm xỉa đến tôi. Khi tôi trở về nhà, mẹ đặt hộp sữa mà ông ta đã bán cho chúng tôi lên bàn, mở nó ra và mùi sữa chua loét sực lên khắp phòng. Mẹ đóng nắp hộp sữa lại và đưa nó cho tôi. “Mang nó trả lại cửa hàng và lấy lại tiền của mẹ đi.”

“Con phải làm việc đó ư?”

“Mang nó đi.” Đó là một mệnh lệnh. Tôi là Đứa Nhỏ trong nhà chứ không phải đứa lớn nên không có tiếng nói và không thể gây ảnh hưởng với chủ nhân. Tôi phải tuân lệnh.

Tôi lê chân trở lại cửa hàng, kinh hãi trước thử thách cuối cùng mà tôi biết chắc đang đến. Chủ cửa hàng trừng mắt nhìn tôi khi tôi bước vào. “Cháu phải trả lại hộp sữa này,” tôi nói.

“Không phải ở đây,” chủ cửa hàng nói. “Hộp sữa này bị mở nắp rồi. Tao không nhận trả lại đâu.”

Tôi trở về nhà. Mười phút sau mẹ xông vào cửa hàng, với dáng đi vòng kiềng báo hiệu sấm chớp sắp xảy ra - người mẹ ngả về phía trước, cằm mẹ bạnh ra, hai bàn tay mẹ siết thành nắm đấm, mũi mẹ đỏ ửng lên, chân mẹ dậm xuống mặt đất như Cab Calloway cùng với ban nhạc của Billy Eckstein đang chơi hết mình ở phía sau. Tôi ngượng ngùng đi theo mẹ, kế hoạch đến cửa hàng một mình không muốn để người mẹ da trắng của mình xuất hiện đã đổ bể hoàn toàn, và có kết quả trái với mong muốn.

Mẹ tức giận đặt hộp sữa lên mặt quầy hàng, chủ cửa hàng nhìn mẹ, rồi nhìn tôi. Sau đó ông ta lại nhìn mẹ. Rồi ông ta lại nhìn tôi. Sự ngạc nhiên hiện rõ trên mặt ông chuyển thành sự tức giận, sự ghê tởm, và điều đó khiến tôi bất ngờ. Tôi cứ nghĩ ông ta sẽ nhìn mẹ và nghĩ ông ta và mẹ có điểm chung, rồi trả tiền lại cho mẹ và chúng tôi rời khỏi cửa hàng. “Hộp sữa này đã được bán rồi,” ông ta nói.

“Ông ngửi mà xem,” mẹ nói. “Sữa hỏng rồi.”

“Tôi không ngửi sữa. Tôi bán sữa.”

Thế là họ đấu khẩu, tôi muốn nói rằng họ cãi nhau. Một đám đông trẻ da đen xúm lại, xem người mẹ da trắng của tôi cãi nhau với người đàn ông da trắng đó. Tôi muốn độn thổ và biến mất luôn. “Thôi, mẹ ơi…” tôi nói. Mẹ phớt lờ tôi đi. Trong chuyện tiền nong, thứ mà mẹ có rất ít, tôi biết có can ngăn như thế chứ hơn nữa cũng chẳng ăn thua. Mẹ nổi điên - “Đồ ngớ ngẩn… ông là đồ… đần!” - Mẹ nói lập bập lập bập như nói lắp, trong khi những đứa trẻ ở xung quanh hú hét như những con sói, thích thú trước cảnh cãi cọ.

Một lúc sau rõ ràng người đàn ông ấy không có ý định trả lại tiền cho mẹ, vậy nên mẹ chộp lấy tay tôi bước ra cửa, khi ông ta buông một câu bình phẩm, một câu gì đó mà tôi không nghe rõ, một câu nói mà ông ta lẩm bẩm qua hơi thở, nhỏ đến nỗi tôi không thể nghe, nhưng nó khiến đám đông xì xào “ôi chao.” Mẹ tôi cứng người. Vẫn cầm hộp sữa trong tay phải, mẹ quay người lại ném thẳng nó về phía ông ta như ném một quả bóng. Ông ta cúi đầu xuống để tránh và hộp sữa bay sạt qua đầu ông ta, đập vào tủ đựng thuốc lá ở phía sau, khiến sữa và thuốc lá bắn tung tóe.

Tôi không thể hiểu nổi nỗi tức giận đó. Tôi không thể hiểu được tại sao mẹ lại không bỏ hộp sữa đi. Tại sao mẹ lại gây ra sự lộn xộn này? Tôi cứ suy nghĩ mãi. Nỗi xấu hổ của chính tôi vượt trên mọi cảm giác. Khi tôi lê bước về nhà, nắm tay mẹ trong khi mẹ vẫn tức giận bừng bừng, tôi nghĩ sẽ dễ dàng hơn nếu như mẹ con tôi có cùng một màu da, cùng là người da đen, hoặc đều là người da trắng. Tôi không muốn là người da trắng. Các anh chị của tôi đã truyền cho tôi niềm tự hào là người da đen rồi. Tôi thích mẹ là người da đen hơn. Giờ đây khi đã lớn tôi cảm thấy xuất thân từ hai thế giới là một đặc ân. Quan điểm của tôi về thế giới không đơn thuần là quan điểm của một người da đen mà là quan điểm của một người da đen mang tâm hồn của người Do Thái. Tôi không coi bản thân mình là người Do Thái, nhưng khi tôi xem các bức ảnh về những người phụ nữ Do Thái là nạn nhân của nạn tàn sát người Do Thái dưới thời Hitler, những người có con bị phát xít Đức cướp đi, những người phụ nữ trông giống như mẹ của tôi và tôi nghĩ thầm: Chắc hẳn mẹ mình đã nhận được hồng ân của Đức Chúa Trời - và vì thế mình cũng được hưởng hồng ân đó. Khi tôi nhìn thấy hai bà cụ già bé nhỏ người Do Thái ngồi khẽ cười qua tách cà phê tại một quán ăn ở Manhattan, cảnh đó khiến tôi mỉm cười, bởi vì tôi nghe thấy tiếng cười của mẹ mình sau tiếng cười của họ. Ngược lại, khi tôi nghe “những lãnh tụ” da đen nói về “các chủ nô lệ người Do Thái” tôi cảm thấy tức giận và phẫn nộ, biết rằng họ làm mọi người bị kích động bằng những lời dối trá và bằng lịch sử bị bóp méo, cứ như thể cả bảy chủ nô lệ người Do Thái ở miền Nam trước chiến tranh phải chịu trách nhiệm về các vấn đề của người Mỹ gốc Phi hiện nay. Những lãnh tụ đó không hơn gì những đối thủ người Do Thái của họ, những người đảo các con số thống kê theo các cách lạ lùng để khiến cho người Mỹ gốc Phi bị coi là những kẻ hung dữ, tội phạm, những kẻ kéo lùi sự phát triển của xã hội, là “súc vật” (một từ khá phổ biến từng được dùng để miêu tả người da đen thời bây giờ). Tôi không thuộc bất cứ nhóm nào trong các nhóm ấy. Tôi thuộc về thế giới của Chúa, của nhân loại. Nhưng khi còn nhỏ tôi thích ở bên người da đen hơn, và thường ước gì mẹ cho tôi đi học ở trường dành cho người da đen như các bạn của tôi. Thay vì thế tôi mắc kẹt ở cái trường P.S. 138 dành cho người da trắng đó, giữa đám bạn học luôn tin rằng tôi có thể nhảy như James Brown. Họ liên tục quấy rầy tôi bắt tôi làm James Brown cho họ xem, vặn vẹo đôi bàn chân theo kiểu của “ông vua nhạc Soul”, một người nổi tiếng vào những năm sáu mươi. Tôi cố gắng giải thích cho họ rằng tôi không biết nhảy. Tôi luôn là một trong những người nhảy dở nhất mà Chúa gửi xuống trái đất này. Các chị gái của tôi dành nhiều giờ để học những điệu nhảy mới của các nhóm Archie, Drells, Martha Reeves, King Curtis, Curtis Mayfield, Aretha Franklin, và Spinners. “Nào, nhảy đi!” các chị gào lên và nhảy điệu bu-gi quanh phòng. Ngay cả mẹ tôi cũng tham gia, nhảy cuồng nhiệt, nhưng khi nhập hội tôi nhảy trông rất buồn cười, vụng về đến mức các chị tôi cười lăn ra sàn nhà. “Thôi thôi,” các chị nói “Mày không biết nhảy.”

Những đứa trẻ da trắng ở trường không tin tôi, và sau vài tuần được khích lệ tôi nhận thấy mình đứng trước cả lớp trong ngày biểu diễn tài năng, đi đôi giày đẹp của anh tôi, xốc cạp quần, theo phong cách của một ca sĩ thuộc nhóm Temptations, trong khi một người nào đó thả cần quay lên mặt đĩa nhạc của James Brown. Tôi lướt nhẹ theo cách mà tôi đã xem ca sĩ đó thường thể hiện, gào lên “Owwww-shabba-na!” Mọi người tỏ vẻ thích thú. Thậm chí cả cô giáo cũng phấn khích. Mọi người thực sự tin rằng tôi có thể nhảy! Tôi đã lừa họ. Họ la hét yêu cầu tôi biểu diễn nữa, và tôi buộc phải tiếp tục, nhảy bật lên, và tiếp đất gần tấm bảng đen bằng một cú xoạc chân, trong khi miệng gào to “Eeeee-Yowwww!” Các bạn của tôi phát rồ, nhưng ngay cả khi tôi ngồi xuống với tiếng vỗ tay của họ vang vang bên tai, với tiếng cười dành cho mình, cảm thấy hạnh phúc vì được chấp nhận, cảm thấy mình đã trở thành một phần trong số họ, biết rằng tôi đã làm cho họ vui thích, tôi vẫn nhận thấy sự nhạo báng trên mặt họ, trong nụ cười của họ, trong tiếng cười dành cho sự kỳ cục, và tôi cảm thấy một nỗi nhức nhối giống như nỗi nhức nhối tôi đã từng cảm thấy khi nhìn hình ảnh của chính mình trong gương. Tôi nhớ thằng bé ở trong gương, nhớ nó đã tự do như thế nào, và tôi thậm chí càng ghét nó hơn.

[1] Pied Piper là nhân vật trong huyền thoại của người Đức. Theo huyền thoại, năm 1284 thị trấn Hamelin, một thị trấn ở nước Đức, bị nạn chuột hoành hành và một người thổi sáo xuất hiện cam kết sẽ quét sạch chuột khỏi thị trấn để lấy một khoản tiền công. Lũ chuột bị quét sạch nhưng thị trấn không trả tiền công cho người thổi sáo khiến người đó tức giận bỏ đi. Sau đó người thổi sáo đã quay lại đưa tất cả trẻ em trong vùng đi biệt tăm.

[2] Từ “honky” được người Mỹ da đen dùng để chỉ người da trắng với tính chất miệt thị.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.