Mùa hè năm 1941, trước khi mẹ trở lại New York để sống với Dennis ở Harlem, mẹ nhận được một bức thư từ gia đình của Mameh ở New York. Thư đó viết: “Chúng tôi có đồ nội thất dành cho ba căn phòng. Anh chị có muốn nhận chỗ đồ đạc đó không?”. Bubeh sống trong một căn hộ ba phòng. Đó là cách họ báo tin Bubeh đã chết. Họ thậm chí không buồn viết thư cho Mameh, mà viết cho Tateh bằng tiếng Anh, trong khi Mameh không biết đọc tiếng Anh và cũng chẳng thể hiểu ngôn ngữ đó. Tateh đọc thư xong quẳng nó cho mẹ. “Mày đọc cho mẹ mày đi,” ông nói và bỏ đi chỗ khác.
Mẹ đợi đến tối mới đọc thư cho bà ngoại của con nghe, và như thế có nghĩa là bà quanh quẩn trong cửa hàng cả ngày mà không hề biết mẹ mình đã qua đời, trong khi Tateh biết và mẹ biết. Mẹ đọc thư cho bà nghe trong phòng ngủ, căn phòng mà bà, mẹ và Dee-Dee dùng chung. Bà có một chiếc ghế chao và khi mẹ bước vào phòng bà đang ngồi trên ghế nhìn ra cửa sổ. Mẹ nói: “Mameh, con có thư này muốn đọc cho mẹ nghe,” và mẹ đọc thư cho bà nghe. Bà không nói một lời. Bà chỉ ngồi im lặng, nhìn ra màn đêm, những giọt nước mắt lăn xuống má bà. Không có một âm thanh nào bật ra từ môi của bà. Không một lời nào.
Sau đó mẹ đi ngủ và mẹ nghe thấy tiếng gì đó phát ra từ giường của bà. Bà ngủ một mình trên chiếc giường nhỏ. Mẹ nghe thấy tiếng gì đó từ phía giường của bà và mẹ biết bà đang khóc. Mẹ nói: “Sẽ ổn cả thôi, Mameh, sẽ ổn thôi,” nhưng bà cứ khóc mãi. Bà chỉ khóc thôi. Cho đến bây giờ thỉnh thoảng mẹ vẫn nghe thấy tiếng bà khóc. Mẹ biết chính xác tiếng khóc của bà, giống như một nốt nhạc mà con nghe thấy hoặc một bài hát cứ vang lên trong đầu con và con không thể nào quên nó được. Thỉnh thoảng khi mẹ đi xuống phố mẹ nghĩ mẹ nghe thấy tiếng khóc đó, tiếng khóc sụt sịt, giống như tiếng “than ôi!” và mẹ quay đầu lại nhìn nhưng chẳng thấy ai cả.
Mẹ bị kẹt ở Suffolk trong một thời gian, lâu hơn dự định, và cuối cùng mẹ rời khỏi đó vào năm 1941. Mẹ không thể nhớ chính xác mẹ đi khỏi Suffolk vào ngày mấy tháng mấy bởi vì đó là giai đoạn u ám trong gia đình của mẹ. Tình hình thật sự xấu. Mẹ mặc cho Mameh phản đối. Bà nói: “Ở đây con có thể có một cuộc sống tốt mà,” nhưng mẹ nói: “Con không thể sống ở đây, Mameh ạ,” và bà không đề cập đến chuyện đó nữa và cũng không bảo mẹ phải ở lại nữa. Không có cuộc sống nào dành cho mẹ ở Suffolk. Mẹ gói ghém vài thứ mà mẹ muốn mang theo và cố nói chuyện với Dee-Dee trước khi mẹ ra đi, nhưng Dee-Dee không muốn nói chuyện với mẹ. “Chị đã hứa với em rằng chị sẽ không đi cơ mà,” Dee-Dee nói, và bỏ đi. Khi mẹ bước ra khỏi cửa hàng để đi bộ ra bến xe buýt, Mameh đưa cho mẹ một túi đồ ăn trưa rồi hôn mẹ, và mẹ cứ thế bước ra cửa mà đi. Mẹ không bao giờ còn gặp lại Dee-Dee nữa. Tateh không nói một lời với mẹ kể từ khi mẹ bước chân đi.
Hồi đó bến xe buýt Greyhound nằm đối diện với khách sạn Suffolk. Mẹ đang đứng đợi xe buýt thì Tateh lái xe tới, đỗ xịch. Ông có một khẩu V-8 TO. Ông bước ra khỏi xe và rút tay khỏi túi áo, bước tới chỗ mẹ. Ông nói: “Mày sẽ ở lại.”
Mẹ nói: “Con không thể.” Mẹ rất sợ. Ông luôn làm mẹ sợ.
“Tao sẽ cho mày một con đường,” ông nói. “Mày có thể làm ăn riêng, bán hàng cho nông dân ở nông thôn. Mày sẽ kiếm bộn tiền. Hoặc mày có thể kiếm việc làm ở Norfolk. Mày có thể chuyển tới Norfolk.”
Mẹ nói không.
“Mày muốn đi học đại học chứ gì ? Tao sẽ cho mày đi học ở Norfolk. Học ở trường kinh doanh, bất cứ trường nào mày muốn, nhưng mày phải ở lại.’’
“Con không thể ở lại.”
“Tao đang bảo mày ở lại,” ông nói. “Mày có nghe không hả? Tao cần mày trông nom cửa hàng. Và mẹ mày cần mày.”
Mẹ bắt đầu to tiếng với ông, và hai bố con cãi nhau. Ông đã ly dị bà, vậy mà vẫn sử dụng bà để chống lại mẹ. Rồi ông nói: “Tao biết mày bỏ nhà đi để lấy một thằng mọi đen. Mày đang phạm sai lầm đấy.” Mẹ không thốt lên lời được, bởi vì mẹ không hiểu làm thế nào ông lại biết chuyện của mẹ. Cho đến tận bây giờ mẹ cũng không biết. Ông nói: “Nếu mày cưới một thằng mọi đen, thì đừng bao giờ vác mặt về nhà nữa. Đừng bao giờ về nữa.”
“Con sẽ thường xuyên về thăm mẹ.”
“Nếu mày cưới một thằng mọi đen thì mày sẽ không được vác mặt về đây nữa.”
Ông lên xe và phóng đi. Khi xe buýt đến mẹ bước lên xe, khóc một lúc rồi ngủ thiếp đi. Khi tỉnh dậy, mẹ mở cái túi thức ăn của bà đưa cho và thấy giữa những chiếc bánh thánh, món gan thái miếng là tấm hộ chiếu Ba Lan và một bức ảnh của bà. Đó là bức ảnh duy nhất của bà mà mẹ có, bức ảnh chụp bà đang ngồi xuống ôm mẹ và Sam vào lòng.
Vài ngày sau, khi mẹ quay trở lại New York và sống với Dennis ở Harlem, Dennis nghe lỏm bác Mary của mẹ nói rằng Tateh đã thuê thám tử tìm mẹ. Điều đó khiến mẹ nấp kín ở Harlem. Mẹ không bao giờ quay trở về nhà nữa. Thay vì thế mẹ kiếm được việc làm tại một nhà máy sản xuất đồ thủy tinh ở Chelsea, thuộc Manhattan. Công việc của mẹ là kéo những ống thủy tinh đã qua lửa thành những ống nghiệm. Đêm nào mẹ cũng đi làm về trong tình trạng hai tay đầy những vết bỏng. Không lâu sau đó, vào đầu năm 1942, Dennis từ nhà máy của bác Mary về, nói với mẹ rằng bác Mary nói bà ngoại của con bị ốm và đã được đưa đến một bệnh viện ở Bronx. Mẹ lập tức ra ngoài, gọi điện cho bác Mary của mẹ và hỏi bác có biết hiện Mameh đang ở viện nào không. Bác ấy nói: “Mày không còn là người của gia đình này nữa. Đừng có hỏi han gì về gia đình nữa. Chúng tao đã ngồi chịu lễ shiva cho mày rồi. Mày không thể gặp bà ấy nữa.” Những gì bác ấy nói khiến mẹ đau đến tận xương tủy. Đêm hôm ấy mẹ nói với Dennis: “Em phải đi gặp mẹ.” Dennis nói: “Ruth, bác Mary đã nói rõ rằng ở đó em không được đón chào đâu.” Những gì Dennis nói đã ngăn mẹ lại. Mẹ không muốn làm cho Mameh ốm nặng thêm. Suy cho cùng, mẹ đã bỏ nhà đi. Mẹ lo phát ốm, cố nghĩ xem phải làm gì và mẹ chẳng thể quyết định được.
Vài ngày sau mẹ đang làm việc ở nhà máy thủy tinh thì ông quản đốc người Đức đi đến chỗ mẹ, thông báo rằng mẹ có điện thoại. Dennis gọi. Dennis gọi từ nhà máy của bác Mary. Dennis nói với mẹ rằng Mameh đã qua đời.
Ở nhà máy thủy tinh có một phòng để bọn mẹ thay đồ, và mẹ gác máy điện thoại, chạy vào đó khóc nấc lên trong đau đớn. Người quản đốc và những công nhân khác cố xốc mẹ dậy bởi vì mẹ đã đổ gục xuống sàn, nhưng mẹ không thể đứng dậy được. Mẹ đã cố gắng, nhưng mẹ không thể, và một người phụ nữ nói: “Ôi chao, cô ta không phải diễn như thế đâu, không phải la lên, và làm bộ kỳ cục như vậy đâu.”
Mẹ buồn và khổ tâm suốt nhiều tháng trời. Mẹ sụt cân, không thiết ăn uống và gần như muốn tự tử. Mẹ cứ lẩm bẩm: “Tại sao mình không chết đi?” Mẹ cứ đi lang thang hàng giờ, không nhớ mình đang ở đâu. Mẹ đang một chỗ nào đó và chợt nhận ra mẹ không thể nhớ nổi mình đã đến đó bằng cách nào. Dennis là người đã kéo mẹ ra khỏi tình trạng đó. Dennis cứ nói đi nói lại: “Ruth, em phải tha thứ cho bản thân mình. Chúa tha thứ cho em. Ngài sẽ tha thứ cho tội lỗi khủng khiếp nhất.” Nhưng trong suốt một thời gian dài mẹ không thể nghe. Mẹ quá ân hận, ân hận từ tận đáy lòng, nhưng tất cả những lời xin lỗi có ích gì khi người mà ta cần xin lỗi không còn sống trên cõi đời này nữa. Bà không còn nữa. Bà đã ra đi mãi mãi. Đó là lý do tại sao con phải nói tất cả những lời xin lỗi, và phải nói những lời yêu thương khi người con yêu thương còn sống, bởi vì ngày mai chẳng ai biết thế nào, chắc gì ngày mai con đã có cơ hội nói những điều ấy. Ôi chao, nỗi đau thiêu đốt mẹ. Mẹ cứ cầm khư khư tấm hộ chiếu của bà, mang nó đi khắp nơi. Khi mẹ bước chân ra đi, rời khỏi gia đình ở Suffolk mẹ đâu có nghĩ bà chẳng còn sống được bao lâu nữa, nhưng bà thì biết điều đó. Đó là lý do tại sao bà lại đưa tấm hộ chiếu cho mẹ. Cho đến bây giờ mẹ luôn giữ tấm hộ chiếu ấy, giữ cái tội lỗi đó, cái tội mẹ bỏ Mameh mà đi, bởi vì mẹ là người duy nhất phiên dịch cho bà và giúp bà các việc. Mẹ là đôi mắt, đôi tai của bà ở Mỹ, và khi mẹ bỏ đi… Ôi, Sam đã bỏ nhà đi, Bubeh đã qua đời, còn chồng của bà thì đối xử với bà thật tồi tệ, đã ly dị bà, và lý do để bà sống trên đời này đã chuội mất. Đó là quãng thời gian thật tồi tệ.
Phải mất một thời gian dài để vượt qua cú sốc đó, nhưng Dennis luôn ở bên mẹ, và sau một thời gian mẹ bắt đầu nghe những gì Dennis nói về lòng bao dung của Chúa, và bắt đâu bám vào đó, bám vào cái ý nghĩ rằng Chúa sẽ tha thứ cho mẹ, sẽ tha thứ cho tội lỗi khủng khiếp nhất, bởi vì mẹ cảm thấy Mameh xứng đáng được mẹ đối xử tốt hơn, và mẹ bắt đầu đến nhà thờ Metropolitan ở Harlem cùng với Dennis để nghe mục sư Brown giảng đạo. Đó là lý do mẹ tiếp thu đạo Cơ Đốc, bởi vì mẹ cần được giúp đỡ, mẹ cần để linh hồn Mameh được siêu thoát, và khi đó mẹ bắt đầu trở thành một người Cơ Đốc, con người Do Thái trong mẹ bắt đầu chết. Dù gì thì con người Do Thái trong mẹ cũng đang hấp hối, nhưng nó thực sự chết khi bà ngoại của con qua đời.
Mẹ nhớ bà đã từng cười như thế nào khi bà cầm con gà vẫy vẫy phía trên đầu bọn mẹ trong lễ Yom Kippur. Mẹ cược rằng bây giờ người ta không thực hiện nghi lễ đó nữa. Bà cầm một con gà sống giơ lên phía cao và nói với con gà: “Mày chết, tao sống!” trong khi bọn mẹ hét lên, chạy túa ra xa bởi vì Tateh sẽ giật con gà từ tay bà và giết nó theo cách dùng máu để tế lễ. Mẹ không thích điều đó. Đó là một nghi lễ quái đản và lạc hậu. “Con không muốn làm điều đó ở Mỹ đâu,” mẹ nói. Nhưng bà bảo mẹ: “Con gà đó cho Chúa thấy rằng chúng ta tỏ lòng biết ơn vì được sống. Đó chỉ là một con gà thôi mà. Nó không phải là một con chim biết bay đâu. Một con chim biết bay đặc biệt lắm. Con sẽ không bao giờ bẫy được một con chim bay đâu.” Bà thường ngồi trên chiếc ghế bập bênh của mình ở trong căn phòng trên gác và ngắm nhìn những con chim bay. Bà nằm cuộn mình trên thành cửa sổ và những con chim thường tập trung ở đó, và bà hát cho chúng nghe, nhưng bà luôn đuổi chúng đi, làm chúng bay vù lên không trung để chúng được tự do. Bà có một bài hát ngắn bằng tiếng Do Thái mà bà thường hát cho lũ chim nghe. “Feygele, feygele, gay a veck.” “Chim, chim ơi, hãy bay đi.”