Vào tháng Mười một năm 1942 một người phụ nữ Do Thái hai mươi mốt tuổi tên là Halina Wind được gửi đi lánh nạn sau khi quân phát xít Đức tràn qua ngôi làng của cô ở Turka, Ba Lan, giết hại hầu hết dân cư gồm sáu nghìn người Do Thái trong làng, thậm chí giết cả cha mẹ, anh trai và bà của cô. Halina Wind trốn đến thành phố Lvov, nơi cô và chín người Do Thái khác ẩn trong một cống ngầm trong suốt mười bốn tháng, sống giữa những đàn chuột và sự hôi thối trong một nhà tù ẩm ướt dưới lòng đất, không hề nhìn thấy một tia nắng mặt trời, được ba công nhân thông cống người Ba Lan tiếp tế thức ăn. Halina Wind đã sống sót qua trải nghiệm kinh hoàng đó và sống để kể với thế giới câu chuyện đó.
Năm 1980 - gần bốn mươi năm sau - người con trai duy nhất của Halina, David Lee Preston, một người đàn ông đẹp trai, có vóc dáng cao gầy và khuôn mặt xương xương, đôi mắt đen đeo kính, đi tới bàn làm việc của tôi ở Wilmington (Delaware). Tờ News Journal đăng tải bài viết của tôi về võ sĩ quyền Anh Muhammad Ali. Giống như tôi anh ấy cũng là phóng viên của báo đó, nhưng tôi chưa bao giờ gặp anh.
“Đây là một bài báo xuất sắc,” anh nói.
“Cảm ơn,” tôi nói.
“Cậu phiên âm tên Muhammad không chính xác. Tên đó có âm cuối cùng là âm “a”, chứ không phải “e”. Bộ phận biên tập đã bỏ sót lỗi đó.” Bộ phận biên tập có nhiệm vụ soát mọi loại lỗi trước khi báo được in.
“Okay.” Tôi nhún vai. Tôi không cảm thấy phiền.
“Tôi nghe nói cậu là một tay chơi saxophone,” anh nói. “Cậu đã bao giờ nghe nói đến Albert Ayler chưa?”
Albert Ayler là một nghệ sĩ saxophone tiên phong gây kinh ngạc chỉ được biết đến bởi thế hệ những người yêu nhạc Jazz theo kiểu bảo thủ. Có tin đồn rằng ông đã biến mất trên sông Đông ở Manhattan với những dấu vết trừ khử của bọn tội phạm. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên. “Làm thế nào anh biết về ông ấy?” Tôi hỏi.
Anh nhún vai và mỉm cười. Từ ngày đó đến nay con trai của Halina Wind trở thành một trong những người bạn tốt nhất của tôi. Lần đầu tiên gặp David Preston tôi không biết anh là người Do Thái. Anh không có cái mác của người Do Thái. Anh giàu tình cảm, tò mò, hài hước một cách đầy trí tuệ, là một cây viết xuất sắc, và cho đến lúc bấy giờ nền tảng tôn giáo của anh chưa bao giờ được tiết lộ, cũng không quan trọng đối với tôi. Chỉ khi tôi tâm sự với anh rằng mẹ tôi là con gái của một giáo sĩ Do Thái chính thống anh mới cho tôi biết về nền tảng tôn giáo của anh, bởi vì ngay lập tức anh thấu hiểu những trải nghiệm của mẹ tôi. “Một người phụ nữ đáng nể,” anh nói. Lời khen đó xuất phát từ một người đàn ông được nuôi dạy bởi một người phụ nữ phi thường.
Cuộc sống của anh hướng về phía trước - hiện nay anh đang viết một cuốn sách về mẹ anh, đồng thời đang phụ trách một chuyên mục của tờ Philadelphia Inquirer - và cuộc sống của tôi cũng vậy. Tôi mời anh dự đám cưới của mình khi tôi kết hôn với Stephanie, một phụ nữ Mỹ gốc Phi vào năm 1991. Thế rồi anh mời tôi làm điều tương tự khi anh kết hôn với Rondee, một phụ nữ Do Thái, vào năm sau đó. Anh cũng muốn mẹ tôi đến dự đám cưới của anh. Tôi đồng ý mời mẹ giúp anh, mặc dù trong bụng tôi không dám chắc kết quả sẽ như ý.
“Hay đấy.” Đó là sự phản ứng của mẹ khi tôi chuyển lời mời của anh tới mẹ.
“Anh ấy thực sự muốn mẹ đến dự,” tôi nói. Tôi biết mẹ quý David vô cùng.
“Mẹ sẽ đi nếu Kathy đi cùng mẹ,” mẹ nói. Mẹ thích các con gái của mình đi cùng mẹ trong những tình huống gây xúc động. Mẹ thích có các con trai để tán gẫu và nói về những chuyện quan trọng mà họ đã làm, về trường mà họ đã học, và những chuyện tương tự như vậy, nhưng thực ra chính những người phụ nữ trong liên minh McBride-Jordan là những người gắn kết gia đình và sẽ duy trì sự gắn kết ấy khi mẹ không còn nữa. Giống như mẹ, các chị em gái của tôi đã học cách chịu sự trừng phạt và học cách đứng dậy sau cú sốc từ những trận đòn mà cuộc sống giáng xuống họ. Cánh đàn ông chúng tôi loay hoay vật lộn khi những chuyện vụn vặt của cuộc sống làm chúng tôi ngả rạp và đặt chúng tôi lên trường kỷ của mẹ để nằm đó xem những trận đấu của giải bóng bầu dục khi cả gia đình đoàn tụ vào những dịp Giáng Sinh và Lễ Tạ ơn, bất kể trận đấu mình đang xem tệ hại đến mức nào. Kathy đồng ý đến dự đám cưới của David cùng đứa con gái chín tuổi và thế là chúng tôi kéo nhau đi.
Đám cưới được tổ chức tại đền thờ Beth Shalom ở Wilmington, nơi Halina Wind Preston dạy học trong ba thập kỷ. Tôi là người giúp đón khách trong đám cưới, và tôi bước dọc lối đi trong chiếc áo lễ phục màu đen và chiếc mũ yarmulke màu trắng, đi sau sáu nhạc công Do Thái trong khi họ chơi một bản dân ca Israel mang tên “Erev shel Shoshanim,” và tôi cảm thấy lòng chùng xuống, thực sự cảm động và tự hào. David Preston cưới vợ với sự thích thú, nhiệt tình và nghiêm túc mà anh dành cho mọi thứ mà anh bắt đầu trong cuộc sống. Họ ký một hợp đồng. Họ cưới nhau trong một huppah, tức là lều tân hôn của người Do Thái. Hai người điều khiển ca đoàn, một trong số đó là Shari Preston, em gái của David, bước lên phía trước và cất tiếng hát. Cậu của David, tức là em trai của Halina Wind, giáo sĩ Leon Wind, chủ trì hôn lễ, nói một cách hùng hồn với uy lực và sự tôn kính. “Hôm nay trái tim tôi tràn đầy cảm xúc sâu sắc và những tình cảm trái ngược,” vị giáo sĩ bảy mươi tám tuổi nói. “Tôi quá vui mừng vì ngày hôn lễ của con đã đến. Tuy nhiên trái tim tôi đau đớn vì chị gái của tôi, người chắc hẳn coi đây là phút giây trọng đại của đời mình, không còn sống để chứng kiến sự kiện này.” Mẹ của David, bà Halina Wind Preston, đã qua đời ở tuổi sáu mươi mốt sau một cuộc phẫu thuật tim vào tháng Mười hai năm 1982. Những lời nói chân thành của vị giáo sĩ khiến toàn thể giáo đoàn xúc động, và khiến tôi nghĩ đến mẹ của mình lúc đó đang ngồi ở hàng ghế thứ tư.
Tôi quay đầu lại nhìn thấy mẹ đang dùng khăn tay lau nước mắt trên cánh mũi đỏ ửng, chiếc máy ảnh nhỏ được đeo ở cổ tay của mẹ. Vào những lúc như thế mẹ thích chụp ảnh. Mẹ chớp lấy những khoảnh khắc quan trọng, đi lạch bạch dọc đại lộ Atlantic ở Brooklyn từ bến xe điện đến bệnh viện của trường Đại học Long Island để chụp ảnh những ngày đầu đời của Azure, con gái tôi; dắt Jordan, đứa con trai đang ở tuổi chập chững của tôi, đứng dựa vào một cái cây trong sân nhà mẹ để mẹ có thể chụp một tấm ảnh thằng bé mặc bộ quần áo dành cho lễ Phục Sinh. Những bức ảnh của mẹ chụp thật kinh khủng, tấm thì có người nhưng mất đầu, cái thì trống không chẳng có gì, tấm thì có một cái bàn, một bàn tay, một cái ghế. Thế nhưng mẹ vẫn chụp ảnh ở bất cứ sự kiện nào quan trọng đối với mẹ, biết rằng mỗi kỷ niệm quá quan trọng nên không thể để mất, biết rằng trước kia đã có quá nhiều thứ mất đi. Ấy thế mà lúc này mẹ không chụp ảnh. Mẹ nhìn thẳng về phía trước. Trong buổi trưa trời mưa lắc rắc đó mẹ mặc chiếc váy trắng, đeo vòng cổ, sống mũi dài và đôi mắt đen của mẹ dường như hòa hợp một cách hoàn hảo với những khuôn mặt đậm chất Đông Âu ở xung quanh. Giờ đây việc bước vào một thánh đường Do Thái không quá khó khăn đối với mẹ. Mẹ nhìn quanh phòng lớn và gật đầu tỏ ý hài lòng. Ở đây có một bức tường tưởng niệm nơi người ta khắc tên những người đã chết, mẹ nói như vậy. Những người đàn ông sẽ rời khỏi phòng nếu một người phụ nữ điều khiển ca đoàn biểu diễn. Mẹ nói như thể mẹ đang tham quan một bảo tàng.
“Mẹ cảm thấy như thế nào khi ở đây?” Tôi hỏi mẹ.
“Mẹ thấy ổn,” mẹ đáp. “Mẹ vui khi chứng kiến lễ cưới của David. Cậu ấy là một chàng trai Do Thái hấp dẫn.” Mẹ cười trước sự hài hước trong câu nói của mình. Khi đó tôi hiểu rằng bất cứ ai đọc kaddish cho mẹ - lời cầu nguyện trong tang lễ của người Do Thái, sự báo tử, nghi lễ miễn cho họ trách nhiệm đối với số phận kẻ được coi là đã chết - đều đã làm đúng, bởi vì mẹ thực sự đã rời khỏi khỏi thế giới của họ. Trong cách nhìn của mẹ, mẹ chỉ là khách ở đây. “Chất Do Thái không còn trong con người mẹ nữa,” mẹ nói.
Trong buổi tiệc diễn ra sau lễ cưới, mẹ thậm chí tỏ ra vui vẻ hơn khi các nhạc sĩ biểu diễn các bài dân ca truyền thống của người Do Thái. Mẹ ăn món khai vị kosher, tahini, và baba ghanouj, giải thích tầm quan trọng của thức ăn kosher cho cháu gái Maya của tôi nghe; mẹ cười và nói chuyện thoải mái với một nhóm các bà Do Thái ngồi bên cạnh chúng tôi, và thậm chí đứng dậy quan sát tôi giúp những người đàn ông khác đặt David Preston vào một chiếc ghế, nâng anh ấy lên cao, và đưa anh ấy đi quanh phòng theo điệu múa trong đám cưới truyền thống của người Do Thái. Nhưng chẳng bao lâu sau, mẹ quay lại bàn của chúng tôi và thông báo: “Đến lúc phải về rồi,” bằng giọng dứt khoát cho thấy mẹ thực sự đã sẵn sàng rời khỏi đó.
Khi chúng tôi mở cánh cửa thánh đường để ra ngoài, trời đang mưa và chúng tôi không mang theo ô. Kathy và Maya chạy ào ra ngoài trước để lấy xe, còn tôi và mẹ đi sau. “Người Do Thái làm lễ cưới như vậy đó,” mẹ nói khi tôi dìu mẹ bước xuống những bậc lên xuống của thánh đường, đầu gối của mẹ lại đau trong thời tiết ẩm ướt. “Đó là cách người Do Thái ở thời của mẹ làm đám cưới đấy. Họ làm đám cưới ở nơi mà người ta gọi là huppah. Họ đập vỡ những chiếc ly theo nghi thức. Con biết đấy, nếu mẹ làm đám cưới theo cách của người Do Thái thì các thủ tục cũng diễn ra như thế đấy,” mẹ nói khi mẹ bước xuống bậc cuối cùng của thánh đường và đặt chân xuống lối đi trơn ướt.
“Con biết,” tôi nói, buông cánh tay mẹ ra và bước về phía chiếc xe hơi đang đỗ, “và đó sẽ là nơi mà con… ?” Nhưng tôi bỗng nhận ra tôi đang nói một mình. Mẹ đã biến đâu mất. Tôi dừng lại và quay đầu lại nhìn. Mẹ đang đứng trước lối vào thánh đường, đứng trên lối đi nhìn đăm đăm lên lối cửa, đắm chìm trong suy tư, trong khi mưa tạo thành những cái bong bóng phập phồng xung quanh mẹ. Mẹ đứng đó một lát trong màn mưa, nhìn đăm đăm trong dáng vẻ trầm tư, trước khi quay gót bước vội về phía xe của chúng tôi với dáng đi vòng kiềng quen thuộc.
HẾT