Chia tay Mu Jae ở ga tàu điện ngầm, tầm giữa trưa thì tôi về đến khu gần nhà. Tôi thất thểu bước trên con đường nắng chang chang. Cái bóng ngắn và sẫm, hơi đồ sang bên phải, tựa phần lòng đào của quả trứng chưa chín tới lem ra ngoài, chuyển động theo từng nhịp chuyển động của cơ thể tôi. Ý nghĩ cái bóng của mình có thể sống dậy thật cứ luẩn quẩn trong đầu, nên đã băng qua dãy cửa hàng quen và tiến vào con ngõ quen rồi mà tôi vẫn thấy như đang ở nơi xa lạ. Rẽ vào ngõ, lúc lướt qua cửa sổ một nhà nào đó, tôi nghe có tiếng ti vi vọng tới. Hình như trên ti vi đang tường thuật trực tiếp một trận bóng chuyền, tiếng phát âm từ spike rất mạnh, nhưng nghe không giống tiếng người mà như tạp âm điện tử. Spike, spike, spike, tôi thử nhại theo rồi lại rẽ vào ngó kế. Đút tay vào túi, tôi đang nghĩ “Nghe từ spike được phát âm thành tiếng thế này thật là…” thì hoàn toàn không nhớ ra mình định nghĩ gì tiếp nữa. Có góc giấy nhọn đâm vào ngón tay tôi. Tôi lôi ra, là mẩu giấy gói nửa thanh kẹo cao su Mu Jae đã chia cho lúc ở trong rừng. Tôi lấy ngón cái gập mẩu giấy kêu sột soạt, như vò một cái tai khô queo.
Tôi bóc những tờ quảng cáo pizza và gà rán dán đầy cửa rồi bước vào trong nhà. Dù tôi đã đi vắng cả một ngày trời nhưng căn nhà vẫn tối om và chẳng có gì khác lạ. Tôi cởi quần áo quyện mùi bùn đất, lấy khăn lau, bật đèn rồi bước vào buồng tắm. Dưới bóng đèn tròn gắn trên trần nhà cao, tôi cúi đầu nhìn cái bóng của mình. Dưới ánh đèn và trên nền gạch lát, cái bóng nhìn to và nhạt hơn chút ít, tôi vừa nghĩ vậy vừa thử nhấc chân trái lên. Hạ chân trái xuống, tôi nhấc chân phải lên. Hạ chân phải xuống tôi lại nhấc chân trái lên, rồi tôi nhảy bật lên hòng nhấc cả hai chân khỏi mặt đất. Trong một thoáng, cái bóng nhạt đi và tỏa rộng ra, khi hai chân tôi hạ xuống đất, cái bóng lại nối vào bàn chân tôi như cũ. Chân trần, tôi bật nhảy thêm hai ba lần nữa rồi ngước lên nhìn bóng đèn tròn, mở nước nóng gội đầu. Vừa lau bọt chảy vào mắt, tôi vừa nghĩ, dẫu mình có đi theo cái bóng ở trong rừng mãi mãi không thể trở về thì vẫn sẽ có ai đó dán quảng cáo lên của nhà này và pizza vẫn sẽ được bán. Tôi trở ra phòng, kéo chăn đắp lên đến bụng rồi nằm xuống. Trời về chiều oi nóng nhưng ngón chân tôi lạnh buốt. Nghĩ chắc do để chân hướng Bắc nên tôi khẽ dịch người quay chân về hướng Đông, đầu gối hướng Tây. Nằm hướng không quen tôi lại lục đục trở mình rồi dịch người lần nữa. Liên tục xê dịch như thế một hồi cuối cùng tôi lại quay về hướng nằm cũ, nhưng giờ cứ thấy có gì đó không quen. Cảm giác người mình bị nhấc bổng lên ở thắt lưng, đang rung bần bật như kim la bàn. Chốc ngủ chốc tỉnh, tôi nghĩ ngợi mông lung hết chuyện nọ chuyện kia.
Tôi đang làm việc trong một trung tâm thương mại chuyên về đồ điện tử nằm giữa lòng thành phố. Trung tâm được chia thành tòa A, tòa B, tòa C, tòa D và tòa E, năm tòa nhà vốn tách rời nhau nhưng trong suốt bốn mươi năm đã được cải tạo cơi nới nhiều chỗ, rồi không biết từ bao giờ và bằng cách nào chúng đã liền lại thành một khối mà nếu chỉ thoáng nhìn bằng mắt thường thì khó lòng nhận ra. Tôi và Mu Jae gặp nhau ở trung tâm thương mại ấy. Tôi làm chân sai vặt kiêm tiếp nhận đơn hàng ở tiệm sửa chữa của chú Yeo, còn Mu Jae đang vừa làm vừa học nghề tại xưởng sản xuất biến áp của chú Gong. Một ngày nọ, tôi cầm cái biến áp cũ cần thay dây đồng đi xuống xưởng, bắt gặp Mu Jae giữa không gian chật hẹp đó. Anh đeo tạp dề và ống tay bảo hộ, đứng cạnh chú Gong đang quay cái guồng cuộn dây đồng. Tôi đưa cái biến áp cũ ra, Mu Jae đỡ lấy cục nặng trịch ấy bằng một tay rồi đặt xuống mặt bàn chất đống dây đồng, sau đó ghi lại số điện thoại và tên tiệm. Mu Jae không để lại chút ấn tượng gì trong tôi ngoài chữ viết rất đẹp. Trong suốt một thời gian dài, tôi có gặp anh vài bận lúc ra vào xưởng hay lên xuống tòa nhà nhưng cũng chẳng có cảm xúc gì đặc biệt.
Lúc chia tay, chúng tôi đã hẹn thứ Hai gặp lại, liệu thứ Hai đi làm có gặp Mu Jae không nhỉ, tôi vừa nghĩ vừa lơ mơ ngủ. Khi giật mình tỉnh giấc thì đã quãng mặt trời lặn. Ánh hoàng hôn tràn ngập căn phòng. Tôi nhận ra mình đã để quên túi đựng cơm hộp trong rừng.
Chú Yeo chớp mắt khi nghe tôi kể chuyện cái bóng của mình sống dậy.
Chú đang ngồi trên một cái ghế đầu, tay phải cầm cây kim dò của dao động ký. Dưới món tóc lòa xòa nhiều sợi bạc gần như đã muối tiêu, vầng trán chú Yeo cau lại, chú chớp mắt một lần, hai lần rồi hỏi.
‘Thế rồi sao?’
‘Cháu đã đi theo nó.’
‘Đi theo ư?’
‘Đi theo một lát thôi ạ.’
‘Đáng lẽ cô đừng đi theo nó mới phải.’
‘Cháu sẽ không đi theo nữa.’
‘Đúng đấy.’
Nói rồi chú Yeo chạm đầu kim dò vào bảng điện và quan sát màn hình máy. Trên màn hình nhỏ cỡ lòng bàn tay, dải màu xanh trôi ngang vẽ nên những gợn sóng nhấp nhô nhấp nhô.
‘Cái bóng ấy mà.’
Chú Yeo cất giọng rồi chẳng nói thêm lời nào nữa, đăm đăm nhìn màn hình thật lâu. Lúc tôi tưởng chú đang trầm ngâm suy tư thì chú liền nhấc kim dò khỏi bảng điện cắm sang chỗ khác, lúc tôi ngỡ chú đang tập trung làm việc thì bỗng nhiên chú lại mở lời, ‘Cái bóng ấy mà…’ Cứ lập lờ như vậy, chú Yeo tập trung vào thứ gì đó rồi một lát sau mới nói tiếp.
‘Thế tâm trạng cô lúc đi theo cái bóng như thế nào?’
‘Không tệ ạ. Cháu cứ bị cuốn theo nó.’
Nghe tôi bảo vậy chú Yeo liền gật đầu như muốn đồng tình, ‘Chính thế. Đáng sợ ở chỗ đó đấy, nếu mình cứ để cái bóng lôi kéo mà đi theo nó không chút cảnh giác là tự dưng sẽ thấy nhẹ nhõm ngơ ngẩn, thích lắm, cũng vì thích quá nên mình cứ đi theo nó mãi, riết rồi chết dở đấy, con người nếu liên tục mất cảnh giác thì sẽ trở nên ngu muội mà, cái bóng sẽ ập tới tấn công khi mình ngu muội nhất.’
Chú Yeo nói xong mới lặng lẽ đặt cây kim dò xuống mặt bàn.
‘Cô chờ xem, giờ nó sẽ lớn lên đấy.’
‘Lớn lên ạ?’
‘Lớn lên chứ.’
‘Vậy nó sẽ thành thế nào ạ?’
‘Sẽ đặc lại. Nói thế nào nhỉ, có sức người hơn chăng, đại loại thế.’
‘A.’
‘Đừng lo lắng quá. Người ta chẳng bảo dù bị cáo cắn thì chỉ cần thần trí vững vàng là sống được đấy thôi.’
‘… Không phải hổ sao ạ?’
‘Hổ á?’
‘Dù bị hổ cắn thì chỉ cần thần trí vững vàng là sống được ạ.’
‘Hổ hay cáo cũng như nhau cả thôi.’ Chú Yeo đẩy cái bóng đèn gắn chao sắt tây hình bán cầu gần sát bảng điện rồi nói tiếp. ‘Ý tôi là, trước những thứ sẵn nanh nhọn thì bằng mọi cách mình phải biết giữ tinh thần cho tỉnh táo.’
‘Cái bóng có răng ạ?’
‘Nó là thứ gắn với loài có răng thì dĩ nhiên phải có răng chứ? Một khi cái bóng sống dậy cô sẽ thấy quá nhiên nó rất giống mình, vì nó là bóng của mình mà.’
Tôi đang nghe chú Yeo nói đến đó thì cơm hộp đặt ăn trưa được giao tới. Chú Yeo kêu nhạt miệng, bỏ hộp cơm đó không động đến. Một mình tôi ăn cơm hộp hiệu Thiếu Gia, rồi vì chú Yeo rủ ăn đá bào nên ăn cơm xong tôi rời tiệm đi mua đá bào theo lời chú sai. Tiệm sửa chữa tọa lạc ở tòa B trong số năm tòa A, B, C, D, E. Là tòa nhà thứ hai nếu bắt đầu tính từ tòa A ở phía Bắc. Cứ đi qua tám cửa hàng lại có một gian bỏ không đã nhiều tháng liền nên tòa nhà không giấu nổi vẻ hoang tàn, song dẫu vậy tòa B này vẫn là nơi nhiều người ra vào nhất. Ở tầng một nhìn ra bãi đỗ xe quanh năm khuất bóng âm u có bán đồ điện tử gia dụng cỡ nhỏ như lò sưởi, quạt hay máy phát thanh; từ tầng hai lên tầng bốn, hiện vẫn đang tiếp tục cầm cự bằng mọi giá giữa cảnh kinh doanh ảm đạm, là các cửa hàng nhỏ bán linh kiện máy móc, thiết bị nghe nhìn cùng các đồ dùng sinh hoạt như chối hoặc khăn lau cỡ đại; tầng năm nơi có tiệm sửa chữa lại toát ra vẻ đìu hiu hơn hẳn các tầng khác với nào nhà kho, nào phòng giám định đá quý, phòng nghiên cứu sóng vô tuyến hay cả những văn phòng mờ ám vừa nghiên cứu gì không rõ vừa kiêm cả dịch vụ nghe trộm.
Lúc đi xuống những bậc cầu thang đã tù mép vì cọ xát với đủ loại hàng hóa nặng nề, tôi nghe có tiếng gọi. Tôi quay lại, thấy Mu Jae đang bước xuống cầu thang, anh đeo ống tay bảo hộ, cổ tròng tạp dề.
‘Eun Gyo có đến hai cái xoáy tóc nhỉ.’
‘Tôi biết.’
‘Eun Gyo từng nhìn thấy rồi à?’
‘Không.’
‘Eun Gyo chưa từng nhìn thấy à?’
‘Chưa.’
Tôi đang định đáp mình chẳng có cớ gì để tự nhìn xoáy tóc của chính mình cả và hỏi lại, “Chẳng phải xoáy tóc là thứ nếu không chủ tâm cố nhìn thì không thể nhìn thấy hay sao,” thì Mu Jae đã kêu, ‘Tiếc thật. Xoáy tóc của Eun Gyo có hình dạng rất thú vị đấy.’
‘Xoáy tóc cũng có hình dạng khác nhau ư?’
‘Có chứ.’
Mu Jae đáp rồi bước nốt những bậc cầu thang còn lại đến đứng trước mặt tôi. Anh nhìn sâu vào mắt tôi. Nghĩ đảo mắt đi thì chắc hơi kỳ nên tôi nhìn lại. Tuy cứ nhìn chằm chằm như vậy cũng kỳ, nhưng giờ đã quá muộn không thể đưa mắt đi nữa nên tôi đành tiếp tục nhìn thẳng vào mắt anh. Mu Jae lặng lẽ cười.
‘Sao anh lại cười?’
‘Tôi có cười đâu.
‘Anh vừa cười mà.’
‘Eun Gyo ăn trưa chưa?’
‘Chưa.’
Tôi còn đang đứng sững, đỏ bừng mặt vì ngỡ ngàng với chính mình khi ăn rồi mà lại trả lời chưa ăn, thì anh rủ, ‘Vậy cùng đi ăn cơm đi.’
Tôi theo anh, tiếp tục bước xuống cầu thang. Từ tầng một tòa nhà, chúng tôi băng qua bãi đỗ xe rồi tiến vào những con ngõ tỏa khắp xung quanh trung tâm thương mại như những nhánh cây. Đi qua hàng bán dây cáp và dãy cửa hàng bán các loại dụng cụ, chúng tôi lách vào một ngách hẹp trải dài những tiệm bán và sửa đồng hồ. Những người đàn ông đang ngồi đọc báo sau khi kê giá trưng bày ra trước cửa nhìn chằm chằm chúng tôi đi qua. Cứ lẳng lặng đi theo Mu Jae kể cùng kỳ nên chốc chốc tôi lại gợi chuyện nọ chuyện kia, giữa lúc đó có nhắc đến chuyến dã ngoại tập thể hôm thứ Bảy.
‘Bốn mươi sáu người đấy.’
‘Gì cơ?’
‘Ở trên núi ấy. Chú Yeo bảo vậy, lúc điểm danh xuống núi chắc chắn đã có đúng bốn mươi sáu người.’
‘Chú ấy bảo thế à?’
‘Đúng bốn mươi sáu không thiếu một người, y như lúc đầu nên họ không ngờ có đến hai người đã bị rớt lại trong rừng. Như vậy tức là ai đó đã trà trộn vào thế chỗ hai người bị thiếu.’
‘Lẽ nào lại là vậy?’
‘Liệu có phải cái bóng không nhỉ?’
‘Không biết nữa.’
‘Cũng có thể người ta đếm nhầm,’ Mu Jae nói, rồi anh đột ngột len vào giữa hai tiệm đồng hồ. Tôi cứ tưởng lại là một ngõ ngách nào nữa nhưng hóa ra đó là cửa một quán mì lâu đời.
Mu Jae vào quán, chọn một bàn phía trong rồi tháo ống tay bảo hộ, cuộn lại để lên mặt bàn. Người phục vụ mang cái ấm nóng rẫy đựng nước xuýt ra đặt đấy rồi đi mất. Mu Jae rót nước xuýt ra cốc cho tôi. Mằn mặn và bùi bùi. Mì lạnh với canh sườn hầm cay quán này rất ngon, nghe Mu Jae giới thiệu vậy tôi bảo mình sẽ ăn canh sườn hầm cay. Tới khi nhận bát canh nóng bỏng miệng tôi lại ước giá mình gọi món lạnh. Mu Jae ăn mì lạnh không có một giọt mồ hôi, còn tôi vừa quệt mồ hôi vừa húp canh sườn. Mỗi lần Mu Jae cúi xuống mút mì, cái xoáy tóc khó roong gần đỉnh đầu anh lại lọt vào mắt tôi.
‘Xoáy tóc ấy,’ tôi lên tiếng. ‘Nếu hỏi mười người xem họ nghĩ mình có xoáy tóc hay không thì liệu sẽ có mấy người giơ tay nhỉ?’
‘Ừm,’ Mu Jae trả lời. ‘Chưa biết chừng sẽ có một hai người không giơ tay ấy.’
‘Cũng có thể tất cả sẽ giơ tay chứ.’
‘Cũng có thể.’
‘Vậy nếu hỏi những người nghĩ mình có xoáy tóc rằng ai từng nhìn thật kỹ xoáy tóc của mình chưa thì sẽ có mấy người giơ tay nhỉ?’
‘Mấy người nhỉ.’
‘Anh Mu Jae, trước giờ tôi luôn coi xoáy tóc chỉ là xoáy tóc mà thôi, chưa bao giờ nghĩ chúng cũng có hình dạng riêng.’
‘Xoáy tóc là xoáy tóc nhưng có lẽ xoáy tóc cũng không phải là xoáy tóc đâu.’
‘Ý anh là sao?’
‘Eun Gyo thử nói xem: xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Lạ thật.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc, càng nói càng có vẻ như xoáy tóc này không phải xoáy tóc mà chúng ta đã biết ấy.’
‘Chính thể đây. Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘
Xoáy tóc ấy mà,’ Mu Jae nói. ‘Mỗi cái lại một khác đấy. Hồi nọ tôi từng đọc được trong sách rằng xoáy tóc của mỗi người đều mang hình dạng khác nhau.’
‘Thật ư?’
‘Thế mà tất cả lại đều được gọi chung là xoáy tóc, cũng tiện, nhưng nếu đặt mình vào quan điểm của xoáy tóc thì đó lại là một sự áp đặt không nhỏ đâu.’
‘Quan điểm của xoáy tóc?’
‘Nếu đặt mình vào quan điểm của xoáy tóc thì hẳn sẽ có một xoáy tóc nghĩ thế này, Cái quái gì vậy, thằng xoáy tóc kia vốn dĩ có giống mình tí nào đâu chứ. Thế cho nên càng nói xoáy tóc lại càng thấy gợn gợn kỳ kỳ, không phải sao?’
‘Hay là thế nhỉ?’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc.’
‘Khó quá.’
‘Khó nhỉ.’
‘Xoáy tóc.’
‘Xoáy tóc, xoáy tóc,’ tôi vừa nói vừa chăm chú nhìn mẩu hành đã khô dính chặt lấy góc bàn. Xoáy tóc là xoáy tóc nhưng có lẽ xoáy tóc cũng không phải là xoáy tóc, rốt cuộc nghĩa là sao đây, giữa dòng suy ngẫm tối thoáng hoang mang. Tôi cứ ngồi như vậy, hoang mang.
‘Eun Gyo,’ Mu Jae lấy đũa xắn đôi quá trứng trong bát mì và hỏi. ‘Eun Gyo thích canh sườn hầm cay à?’
‘Vâng.’
‘Tôi thích mì lạnh. ‘
‘Vậy ạ.’
‘Eun Gyo còn thích gì nữa nhỉ?’
‘Tôi thích linh tinh cái này cái kia.’
‘Là thích cái gì?’
‘Thì cái này cái kia linh tinh thôi.’
‘Tôi thích người có xương quai xanh thẳng.’
‘Ra vậy.’
‘Phải, tôi rất thích.’
‘Thích xương quai xanh?’
‘Thích Eun Gyo.’
‘… Xương quai xanh của tôi không thẳng một tí nào.’
‘Không thẳng tôi cũng thích, vì tôi thích Eun Gyo mà.’
‘Vậy ư?
‘Ăn trứng nhé?’
‘Vâng.’
Mu Jae gắp nửa quả trứng vừa tách đôi vào bát tôi, nửa còn lại bỏ vào miệng. Trong tấm gương treo trên bức tường tít phía xa của quán mì, tôi đang ngồi đối diện Mu Jae, mặt đỏ bừng. Mu Jae hỏi tôi tại sao lại nhễ nhại mồ hôi thế. Tại canh nóng quá, tôi đáp rồi đưa giấy ăn lên, dấn xuống vầng trán đẫm mồ hôi.
Chú Yeo lấy thìa trộn đá bào và đậu đỏ cho đều rồi hỏi.
‘Eun Gyo biết vị đậu đỏ không?’
‘Đậu đỏ ngọt quá nên cháu ít ăn.’
‘Không ngọt lắm đâu.’
‘Đậu đỏ ấy,’ chú Yeo xúc một thìa đá bào lên ăn, tạm ngừng lời rồi lại nói tiếp. ‘Hồi còn trẻ tôi cũng không thích đậu đỏ lắm đâu. Nhưng nói sao nhỉ, càng có tuổi dần dần lại càng nghiện chăng, vị nó khó tả mà. Nếu bảo ngọt thì ngọt, bảo thanh thì thanh, bảo cay thì cay, mà bảo bùi cũng lại bùi, rồi đâu đó còn có cả vị ngăm ngăm đắng nữa. Mùa hè nóng bức ăn đậu đỏ với đá bào, mùa đông lạnh lưng lạnh bụng bỏ đậu đó vào ninh với gạo nếp, mùa nào thức này cứ tự nhiên nhớ ra như vậy. Nhân nhắc đến đâu đỏ, tôi có một ông bạn cực kỳ thích đậu đỏ. Ông ấy là chủ một nhà máy sản xuất linh kiện điện tử nhỏ. Nghĩ bản thân thiệt thòi không được học hành tử tế, ông ấy đã gửi các con và vợ qua Mỹ còn mình thì ở lại Hàn Quốc làm lụng kiếm tiền gửi sang. Ông ấy cho con đi học trường tư ở cái vùng gì gì bên Mỹ ấy, nên học phí với phí sinh hoạt cũng chẳng vừa. Mà còn tỷ giá tiền tệ nữa chứ. Dẫu ở nhà làm ăn được nhưng tỷ giá chênh lệch gấp mười lần thì cũng khó mà kham nổi. Ngoài lo liệu công việc ở nhà máy ông ấy còn phải làm thêm nhiều việc khác nữa. Mang danh giám đốc mà ông ấy còn chẳng có xe riêng mà đi. Mỗi lần gặp nhau tôi lại hỏi gia đình xa cách thế thì sống kiểu quái gì, ấy thế mà ông ấy chỉ ha ha cười. Tiền vé máy bay cũng không đơn giản nên một năm ông ấy chỉ sang Mỹ một lần, quyết tâm lắm thì hai lần, phải tầm cuối năm hay dịp Trung Thu mới dám bay sang.’
Nói đến đây chú Yeo nhai đá bào một hồi rồi mới kể tiếp.
‘Một ngày nọ, sang năm mới chưa được bao lâu, quá nửa đêm tôi vẫn đang mò mẫm trong phòng làm việc. Ba bốn hôm trước đó tôi có nhận sửa một cái đèn điện tử chân không, mà triệu chứng hơi phức tạp nên phải đánh vật với nó tới tận khuya. Giữa lúc đó ông bạn tôi mở cửa, ló vào hỏi, Ông có đây không? Vẫn ở đây hả? Nửa đêm nửa hôm không hiểu ông ấy mua được ở đâu đem tới hai bát cháo đậu đỏ. Rồi ông ấy rủ ăn nên tôi cũng ăn. Vừa ăn tôi vừa hỏi ông ấy đợt cuối năm đã qua bên đó chơi hả thì ông ấy đáp ừ. Đoạn, ông ấy kể tôi nghe chuyện này. Ở bên đó rộng lắm, đất rộng, nhà cũng rộng, con cái ông ấy đã lớn cả, chúng lớn lắm, đến tuổi dậy thì hết rồi, đứa con gái đầu Jenny đã mười lăm tuổi. Một hôm, mấy đứa bạn Jenny đến chơi nhà, ông ấy mở lời chào chúng nó, Hi, nice to meet you, nhưng Jenny lại ra vẻ khinh khỉnh rồi mau chóng dẫn bạn lên phòng mình. Sau khi đám bạn về hết con bé bảo ông ấy thế này. Bố, lúc có bạn con ở đây con mong bố đừng nói một lời nào cả. Bố phát âm tiếng Anh kỳ cục, con ngượng với bạn lắm. Nghe con gái mình nói vậy, sau một thoáng sửng sốt ông bạn tôi bật cười, nhưng ông ấy cứ nghĩ mãi về chuyện đó. Thẻ rồi ông ấy gọi Jenny ra ghế xô pha ngồi, quở nó rằng nói như thế với người bố vất vả kiếm tiền nuôi mình là không được. Con bé Jenny lại bảo ông ấy đừng có làm ra vẻ người bị hại, rằng ông không có tư cách giáo huấn gì tôi, rằng tuy ông là bố tôi nhưng ông có bao giờ ở bên cạnh tôi đâu. Con bé nói bằng tiếng Anh à? Tôi hỏi thì ông ấy lưỡng lự gật đầu tỏ ý đúng là vậy. Thế ông nghe thủng được hết à? Tôi lại hỏi, ông ấy đáp rằng thì cũng đại khái đoán được ý.
‘Xót xa thay cho bạn, tôi giận dữ điên người mà không dám tỏ ra mặt, chỉ vừa cắm cúi ăn cháo đậu đỏ vừa hỏi tiếp. Thế ông đến đây để nói chuyện đó à? Nghe thể ông bạn tôi lấy hai tay vò mặt chổi và bảo rằng cái bóng của ông ấy đã sống dậy. Thế nào nhỉ, ông ấy kẻ đem đem hễ mình tắt đèn định đi ngủ là cái bóng lại leo lên cửa sổ. Nhà ông ấy ở tít trên tầng ba mươi mà cái bóng cứ leo lên cửa sổ.’
Chú Yeo kể đến đó rồi mím chặt miệng, mặt tối sầm, và như không còn lòng dạ nào kể tiếp, chú cặm cụi xúc đá bào ăn.
‘Thế nên hồi cái bóng của tôi sống dậy,’ chú Yeo cất tiếng.
Câu ấy đột ngột nảy ra sau khi chú Yeo ăn sạch sẽ đến thìa cuối cùng thứ đá bào đã tan hòa thành nước đậu đỏ, giữa lúc đó chú cũng đã kịp sửa xong và gửi cái ăm li của một vị khách gói trong bọc vải mang tới.
Tôi đã rất hoảng hốt. ‘Cái bóng của chú từng sống dậy ạ?’
‘Ừ, cũng đã từng…’
Chú Yeo chớp mắt nhìn tôi như lấy làm lạ.
‘Tôi sống từng này tuổi đầu cũng đã kinh qua đủ chuyện rồi nên cũng khó mà chưa thấy cái bóng bật dậy cho được. Nó thình lình vụt đứng dậy, ngoài hiên nhà tôi, lúc tôi đang xỏ giày. Chắc đến lúc rồi đây, tôi vừa đoán vậy vừa nhớ tới ông bạn xưa, nhìn cái bóng tôi cũng lại nghĩ, có lẽ chữ “sởn gai ốc” được sinh ra chính là để tả cảm giác chứng kiến cảnh tượng này. Phải làm sao đây, tôi chạm vào cái bóng. Sống dậy một cái là nó cứ kéo riết mình theo, may mà tôi vững tinh thần chứ nói dại mồm không phải thì cũng chẳng biết thế nào. Cơ mà trên hết, phản ứng của gia đình tôi rất lạ. Cái bóng chỉ quanh quẩn trong nhà tôi không đi đâu xa, chẳng hiểu người nhà tôi không nhìn thấy nó thật hay và không nhìn thấy nữa. Ví như, cái bóng chết tiệc đó có lúc còn ngồi xen vào mâm cơm gia đình tôi. Những lúc như thế, rất tự nhiên người nhà tôi đều ngồi tránh chỗ nó ra. Hay khi đưa đĩa kim chi củ cải hoặc bát cơm mới xới họ cũng thường tránh cái bóng của tôi rồi mới vươn tay ra, cả khi nói chuyện, những người ngồi hai bên cái bóng cũng vừa nói vừa hơi nghiêng đầu nhìn nhau.’
‘Vậy là họ nhìn thấy cái bóng còn gì?’
‘Nhìn thấy chứ. Vì họ cứ giả bộ không nhìn thấy thứ rõ ràng là nhìn thấy được nên tôi đã thử chỉ về phía cái bóng nói, “Cái bóng đó, là cái bóng đó.” Kiểu thế này.’ Vừa nói chú Yeo vừa chập ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái lại như muốn véo vào hư không. Rồi nhăn nhó mặt mày, ra chiều ghê tởm lắm, chú Yeo chăm chăm nhìn tôi.
‘Sự đã thành như vậy hẳn mình ra sao họ cũng mặc, hẳn mình có bỏ đi theo cái bóng kia họ cũng chẳng bận tâm. Đấy, làm sao tôi không nghĩ thế cho được? Tôi đi tặc lưỡi nghĩ, “Chết tiệt, hay bỏ quách đi theo cái bóng cho rồi.”’
‘Chú đã đi theo nó à?’
‘Đi theo chứ. Nhưng có đi theo cũng chẳng được tích sự gì. Vì cứ có một giọng nói bám theo tôi.’
‘Giọng nói ạ?’
‘Giọng của chính tôi, cản lại, “Đừng đừng.” Thế nên đi chưa được mười dặm tôi đã bỏ cuộc lộn trở về nhà. Thật chẳng ra làm sao. Loại như tôi, để đi theo cái bóng của chính mình cũng không nổi. Đêm hôm đó cũng chẳng hiểu tại sao trăng lại tròn và sáng thế, nhìn rõ mồn một từng miệng núi lửa.’
Chú Yeo nói rồi thở dài thườn thượt. Tôi thử tưởng tượng dáng chú lếch thếch dắt cái bóng duỗi dài về nhà trong đêm trăng sáng trông rõ cả từng đường viền miệng núi lửa.
Chú Yeo cất giọng nói tiếp.
‘Dạo này thỉnh thoảng nó cũng sống dậy đấy, nhưng tôi nghĩ cái bóng cũng chẳng phải thứ gì ghê gớm. Nghĩ thế ít nhiều tôi đã thấy dễ chịu hơn. Thực ra nó đâu phải không ghê gớm, nhưng cứ nghĩ nó không ghê gớm thì đôi khi cảm thấy nó cũng chẳng ghê gớm gì thật, rồi thời gian trôi qua, có lẽ thực sự nó đúng là không ghê gớm chút nào đâu. Cái bóng ấy mà, nó cũng có lúc đứng lên lúc nằm xuống chứ, phỏng? Dĩ nhiên nghĩ thì cũng rờn rợn. Cái thứ vốn chẳng là gì bỗng một khoảnh khắc lại trở thành thứ rất là gì, khi đó, có cảm giác như mình bị kéo vào vùng vô tận vậy, gọi là gì nhỉ, tận đời chăng. Kiểu như vậy.’
Chú Yeo lôi cái tua vít trong ngăn kéo bàn ra rồi bắt đầu xoay những con ốc gắn trên vỏ một chiếc ăm li khác.
Trong tiệm sửa chữa có hai cái bàn. Cái kê phía cửa số là bàn chú Yeo dùng, còn tôi dùng cái đặt song song gần đó. Cái bàn sắt của chú Yeo hơi võng xuống ở giữa vì chồng ăm li, có ba ngăn kéo đều không đóng nổi về góc móp méo hết cả. Trong ba ngăn kéo, cái nông và dài gắn dưới mặt bàn đựng vô số tua vít, hai cái bên trái chứa đủ thứ tạp phí lù đến độ một câu đơn giản khó có thể tóm tắt cho hết. Nhiều năm trước, công việc đầu tiên tôi làm ở tiệm sửa chữa chính là sắp xếp lại hai ngăn kéo đó.
Những mẩu dây thép, ốc vít, tay cầm tua vít, băng cát xét, nhãn mác, túi đựng thuốc viên, đơn thuốc, giấy nhớ, bột sắt, dây điện, các mảnh kim loại mỏng không biết long từ đâu ra, chip IC, mẩu vỡ từ bảng điện, túi zip thủng, ruột bút bi, kim khâu, dây hàn, đồng hồ đeo tay, nắp chai nước ngọt, dây da, dây cao su, dây thừng, những mẩu giấy bị vo tròn sau khi lau cái gì đó, hộp phim máy ảnh nhưng lại đựng hồ hoặc nước xả vải, bột cà phê, bụi vẻ tròn thành viên, mẩu thuốc lá đã hút sát đến đầu lọc, sâu bọ khô đét lăn lăn nhìn như hạt ngô, sơ đồ mạch điện được gấp như cái vẩy đập[1]… ngoài ra tôi còn phát hiện mấy thứ khô queo nhìn đi nhìn lại cũng không hiểu là cái gì, hoặc thậm chí có móc gài áo lót nữ, không thể tổng hợp hết được.
Cái ngăn kéo to nhất và sâu nhất ở dưới cùng bao gồm tất cả những thứ kể trên cộng thêm rất nhiều tiền xu. Chú Yeo bảo hễ có xu lẻ là chú vứt vào đó, tôi bới đủ thứ đổ tạp nham ra thì thấy một lớp dày ụ dưới đáy ngăn kéo. Trải báo ra nền nhà, tôi ngồi một ngày rưỡi đếm và phân loại tiền xu. Chú Yeo tuy cằn nhằn xu kêu lẻng xẻng điếc tai nhưng cũng không bảo tôi dừng tay đếm. Các chủ cửa hàng khác ban sáng thấy tôi ngồi đếm tiền xu xế chiều quay lại hóng, hỏi tôi vẫn còn đang đếm à. Phải đến suýt soát lúc mặt trời lặn tôi mới đếm xong. Một triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm won. Tôi chia mỗi loại xu vào một túi, sau đó phải chất lên cái xe kéo chuyên chở ăm li để kéo đến ngân hàng vì quá nặng. Tôi dỡ từng túi đựng tiền xu xuống trước máy đem tiền, đổ tiền vào rồi đợi, đổ tiền vào rồi đợi, đổ tiền vào rồi đợi, cứ lặp đi lặp lại như thế. Cuối cùng tôi kiểm tra tổng số tiền. Một triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm hai mươi won. Tôi giữ lại hai mươi won chênh lệch, còn đâu gửi hết vào ngân hàng. Chú Yeo vô cùng ngạc nhiên, không ngờ trong cái ngăn kéo mình bỏ bẵng suốt mấy năm trời lại chứa số tiền lớn đến vậy.
Vài năm sau, cái ngăn kéo lại đầy lên nhưng chú Yeo báo vẫn chưa đến lúc, cứ để kệ nó đấy. Cái ngăn kéo như thế nào thì tiệm sửa chữa cũng y hệt vậy. Tiệm tối tăm và ngổn ngang đồ đạc, tựa khoang bụng một con cá voi bằng kim loại. Quang cảnh tiệm trông như thể có một chiều không gian thứ ba rưỡi lơ lửng bên trên thình lình bị thủng toang đáy vì trong giây lát mọi thứ ào ào tuôn hết xuống. Từ khi bắt đầu đi làm ở tiệm chú Yeo, trong vòng khoảng một năm tôi vừa làm việc vừa dọn dẹp lại tiệm. Tôi cất vào tủ đứng hoặc ngăn kéo những phụ phẩm chú Yeo tiện đâu bỏ đó chất chồng thành đống. Tôi dán nhãn phân loại dây điện, ốc vít và các loại dụng cụ rồi xếp gọn vào một chỗ. Tôi chia ra và sắp lại theo thứ tự đơn nhận sửa những ăm li chất tùy tiện lên tít tận trần nhà hoặc quanh cửa ra vào. Tuy tiệm đã gọn gàng hơn trước kia nhiều nhưng vì lượng đồ đạc vẫn ngồn ngộn như xưa nên những người mới tới lần đầu vẫn thường đứng ở cửa há hốc miệng rồi hỏi làm thế nào chúng tôi biết được ở đâu có cái gì.
Chú Yeo đã ở đó sửa các thiết bị âm thanh trong suốt hơn ba mươi năm. Tuy chú lấy phí sửa chữa rẻ hơn hẳn so với tay nghề nhưng lại có tật hơi lề mề, nhiều khi đến mức phát bực, nên thỉnh thoảng cũng nổ ra cãi vã với những khách hàng khó tính hoặc vô lễ. Chú Yeo thường chấm một dấu son nhỏ ở mặt trong đồ đạc gửi sửa của những vị khách đó, để sau này nếu họ nhờ người khác hay giả bộ như chưa từng có xích mích mà tự mình mang đến tiệm sửa tiếp thì chú sẽ có cái thú vui mở nắp ra kiểm tra vết sơn mà nhớ lại a ha đây là cái gã hồi này hồi nọ. Rồi sau đó chú cũng vờ như không có gì, sửa đồ và trả lại cho họ.
Nhìn xuống dưới qua khung cửa sổ cũ đã hứng gió mưa đằng đẵng mấy chục năm trời sẽ thấy những tầng mái tôn phẳng phờ quanh quán mì lâu đời mà tôi và Mu Jae cùng ăn trưa hôm nọ. Thỉnh thoảng có đôi ba con mèo lang thang trên đó. Chấn song cửa sổ làm bằng gỗ, đen kịt và đã dần ẩm mục. Ấn tay vào là mủn ra như bánh quy ỉu do ngấm nước. Những đêm bão, tôi thường trằn trọc không ngủ nổi vì cứ tưởng tượng những chấn song cũ kỹ bị gió giật thổi bay, theo gió chao liệng trên không rồi rơi sầm sập xuống mái tôn.
‘Cháu đến rồi.’
Anh Yu Gon chào rồi chui tọt vào trong tiệm.
‘Ông chủ có thể cho cháu vay hai nghìn won được không ạ?’
‘Cậu định làm gì?’
Chú Yeo hờ hững hỏi lại. Anh Yu Gon khẽ đưa tay vuốt vuốt vạt áo trước đính cúc trắng, trả lời.
‘Cháu định tiêu ạ.’
‘Chứ cậu định tiêu vào đâu?’
‘Cháu định mua xổ số.’
‘Ôi giời.’
‘Lần này cháu đã tính toán không sai vào đâu được.’
‘Cái sự tính toán không sai vào đâu được của cậu đó, đã có bao giờ đúng chưa?’
‘Lần này khác ạ.’
‘Khác chỗ nào?’
‘Khác ở chỗ lần này không sai vào đâu được.’
Nói rồi anh Yu Gon dựng thẳng lưng ngồi xuống cái ghế đầu đặt ở góc tiệm, bắt đầu làm nhảm những chuyện không đầu không cuối. Hôm nay, từ sáng ngón chân cháu đã bị đau, ngón chân cháu mà đau như thế là thời tiết sẽ xấu lắm, thấy ban sáng trời có vẻ đẹp cháu đã tạm an tâm nhưng đến chiều quả nhiên không khí chùng hắn xuống, chú có thấy thế không, trên đường lên đây cháu thấy một cửa hàng có cái xô cắm hai ba cái ô đi mưa chẳng biết có phải để bán không nữa, hôm nọ hình như cháu có bỏ quên ô ở tiệm, tuy không có nó còn ở đây không nhưng không còn thì cháu cũng chẳng buồn đâu vì hẳn một lúc nào đó nó đã được đem ra dùng tức là có ích cho ai đó, lại nói đến chuyện còn mất, hai người ăn cơm mà còn một miếng trứng thì thật là khó xử phải không ạ, trứng rán ấy, chú có thích trứng rán không, cháu thì thích lắm… anh Yu Gon vừa luyên thuyên những chuyện mà người khác nghe hay không anh cũng chẳng quan tâm, vừa đặt cái máy tính bỏ túi cũ đã mòn bóng không lúc nào rời tay lên đầu gối, mân mân mê mê.
Không dễ đoán anh Yu Gon tầm bao nhiêu tuổi. Anh nhìn trẻ mà lại toàn mặc áo quần cú mang phong cách xa xưa, tuy vận đồ cũ nhưng dáng vẻ bao giờ cũng gọn gàng, gọn gàng đấy song có những lúc anh cứ để mặc nước mũi trong trong thò lò chẳng buồn chùi, trông anh vừa ra dáng thông minh lại cũng vừa có vẻ ngốc nghếch, vừa vô ý lại vừa quá đỗi tinh ý. Một tuần anh Yu Gon ghé tiệm sửa chữa độ một hai lần. Theo những gì tôi nghe được từ chú Yeo, anh Yu Gon đã ra vào tiệm từ hồi còn thiếu niên, từ đó đến nay cỡ cũng phải hơn chục năm rồi, thế nên tôi chỉ có thể đoán anh ấy khoảng ba mươi, bốn mươi tuổi. Anh Yu Gon đi đâu cũng có một cọc xổ số buộc dây chun cất trong túi áo. Hễ có ai tỏ ý quan tâm tới cọc xổ số đó là anh liền bừng bừng giận dữ khua gõ cái máy tính bỏ túi, sau một hồi cần mẫn tính toán gì không rõ anh sẽ giơ máy tính ra cho người kia xem rồi giải thích rằng vì thế nọ nên sẽ thành thế kia nên tổ hợp số tuần này chắc chắn sẽ là thế này không sai vào đâu được.
“Con người là giống không đáng kỳ vọng nhưng xổ số lại là thứ rất đáng.”
Anh Yu Gon hay nói vậy, hoặc:
“Có vỏn vẹn hai nghìn won mà lẽ nào ông chủ không cho cháu vay được sao?”
Có lần anh Yu Gon được chú Yeo cho vay, nhưng cũng có lần anh nói hết chuyện nọ chuyện kia rồi ra về như không hề bận tâm chuyện tiền nong, nên tôi đoán có lẽ anh ghé tiệm không nhất thiết chỉ để vay tiền. Cũng có khi mấy tuần anh Yu Gon mới lại đến, mặt trắng bệch, ngồi im không nói một lời, cuối cùng bỏ về.
‘Anh Yu Gon đến đây làm gì thế chú nhỉ?’ Tôi hỏi.
Chú Yeo đáp rằng vì anh ấy cô đơn.
‘Anh Yu Gon cô đơn ạ?’
‘Cô đơn chứ.’
Trong số những khách buôn bán thiết bị âm thanh hay ghé tiệm cũng có người hỏi chú Yeo sao lại đưa tiền cho loại người như anh Yu Gon, nhưng càng những người nói vậy chú Yeo lại càng tỏ ý cảnh giác.
‘Tôi uống chút nước được không ạ?’
Anh Yu Gon hỏi lúc ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Đợi tôi cho phép rồi anh Yu Gon mới lặng lẽ đứng dậy khỏi ghế, thận trọng lách người tiến sâu vào trong tiệm, tránh không động vào góc cạnh của các máy móc. Sau khi chăm chăm nhìn cái giá gắn máy lọc nước nóng lạnh, lưỡng lự một lúc lâu, anh nhón một cái cốc giấy, lấy nước lạnh. Tiếp theo, anh như muốn pha thêm nước nóng nữa, nhưng muốn vậy lại phải bấm cái nút an toàn ở van vòi nước nóng, tức phải dùng cả hai tay. Có vẻ anh Yu Gon đang không biết làm sao với bàn tay cầm máy tính bỏ túi. Sau một hồi lúng ta lúng túng, anh Yu Gon kẹp cái máy tính vào cạnh sườn, rón rén giơ ngón tay ra bấm nút lấy nước nóng, cuối cùng chậm rãi uống nước. Dù biết nhìn chằm chằm là bất lịch sự nhưng tôi vẫn không thể rời mắt khỏi anh Yu Gon.
‘Chào chú.’
Mu Jae bước vào tiệm sửa chữa. Sau khi chào hỏi ngắn gọn chú Yeo, anh đặt hai cái biến áp đã sửa xong xuống nền nhà rồi ngay lập tức quay lưng đi ra ngoài. Cũng đã lâu không gặp lại Mu Jae sau bữa trưa “xoáy tóc, xoáy tóc” nên vô thức tôi cứ dõi theo anh. Thình lình Mu Jae quay lại vẫy tay với tôi. Tôi nhìn anh như muốn hỏi, vừa gọi tôi đấy à. Anh gật đầu. Đợi tôi ra khỏi tiệm, Mu Jae liền lôi từ túi tạp dề ra một vật tròn và sáng. Trong cái chậu cây tròn trịa đỏ như một quả hồng, vươn lên cặp mầm lá mũm mĩm. Là đồ nhựa được làm rất mượt nhìn không bị bóng chút nào.
‘Nếu gây ra tiếng động hoặc cất tiếng nói, Mu Jae vừa nói vừa chìa món đồ ra, ‘cái này, nó sẽ cử động đấy.’
Đôi mầm lá uốn cong như cặp lông mày ngay tức khắc nhún lên nhún xuống như để chứng minh cho lời Mu Jae.
Tôi nhận lấy chậu cây mà Mu Jae nói đã nhìn thấy và mua trên đường đi làm về. Hôm nào gặp lại nhé, Mu Jae chào tạm biệt rồi đi xuống xưởng, còn tôi đứng nhìn mãi theo anh. Giấu chậu cây trong lòng bàn tay, tôi quay bước trở vào tiệm. Anh Yu Gon không biết từ bao giờ đã quay lại ngồi ở góc gần cửa ra vào, anh nhìn tôi hỏi.
‘Cô ốm đấy à?’
‘Không ạ.’
‘Mặt cô đỏ lắm.’
Có đỏ đâu ạ, tôi chống chế rồi đặt chậu cây lên nóc tủ đứng. Hai mầm lá đang siêng năng nhún nhảy.
❀ ❀ ❀
[1] Đập vẩy (ddakji) là trò chơi truyền thống của Hàn Quốc, vẩy được gấp bằng giấy và ghép lại thành hình vuông dẹt. Khi chơi. Đặt vẩy của đối phương trên mặt đất và dùng hết sức ném vẩy của mình xuống sao cho vẩy của đối phương nẩy lên và lật sang mặt sau. (Mọi chú thích đều của người dịch)