Tháng Tám, trời đổ mưa. Hầu như ngày nào cũng mưa. Mưa xối xả như trút, rồi tạnh, trời vừa thoáng hưng hửng ngay lập tức lại sầm sì, rồi lại mưa, lại trút rào rào rào rào, rồi mưa mảnh hạt dần, rả rích suốt đêm, thứ thời tiết thù hằn dai dẳng ấy cứ kéo dài mãi không dứt. Đắp chăn thì nặng người nên thỉnh thoảng tôi bật bếp sưởi để đó nằm ngủ. Sáng, đang mở tủ lạnh tôi phát hiện ra một chú ếch xanh. Suýt chút nữa tôi đã giẫm nát nó. Chú ếch nhỏ có ngón tay cái, xanh chuối trong suốt. Tôi bắt nó lên. Tôi vừa chọt chọt cái mỏng phính ra như quả tầm bóp thì ếch ta liền phòng nọng cằm kêu ộp một tiếng rồi xoay mình đối hướng trên lòng bàn tay tôi. Vốn cứ nghĩ ếch là động vật máu lạnh thì thân nhiệt cũng sẽ thấp, tôi rất ngạc nhiên khi chú ếch trên tay mình không lạnh chút nào. Những ngón chân của chú nhỏ xíu, mảnh và trong suốt, tách khỏi nhau một cách tinh tế. Lỡ giẫm phải thì không biết thế nào, tôi lấy làm sửng sốt với chính mình. Trên đường đi làm tôi đặt chú ếch lên nhành cỏ đuôi cáo mọc ở luống đất trồng hoa. Dưới sức nặng của chú ếch, phiến cỏ hơi cong xuống. Chú nhẹ nhàng dán mình lên lá cỏ rồi thình lình nhảy phắt vào trong bụi rậm, biến mất.
Xuống xe buýt, tôi vừa đung đưa ô vừa băng ngang qua bãi đỗ xe của trung tâm thương mại. Trong lúc đợi thang máy, nhìn thấy một tờ giấy dán trên tường, tôi ngây người ra đọc. Tờ giấy ghi tiêu đề “Cuộc họp các chủ thuê mặt bằng để để đạt hướng giải quyết kế hoạch giải tỏa trung tâm thương mại điện tử” kèm thông báo ngày giờ và địa điểm cụ thể. Tôi đợi chú Yeo đến hỏi về việc giải tỏa, chú bảo rằng chuyện này đã có từ xưa rồi mà chưa bao giờ được triển khai cụ thể cả.
Lần này chắc có việc gì cấp bách nên mới phải họp chăng, tuy nói vậy nhưng chú Yeo lại ra vẻ thong thả như thể vẫn còn xa xôi lắm. Thế nhưng, sau ngày họp lại có một tờ thông báo khác dán trên tường báo ngày họp mới, rồi còn có cả băng-rôn chăng ngang… khiến bầu không khí khá là chộn rộn.
‘Đi uống sake nhé?’
‘Hôm nay là thứ Hai mà.’
‘Thứ Hai thì làm sao nhỉ? Dạo này hay mưa nên lạnh bụng,’ nói rồi Mu Jae tiến lên trước.
Tôi đi theo anh, đi uống rượu vào một ngày thứ Hai. Trên đường chúng tôi gặp anh Yu Gon. Anh Yu Gon đang ôm chặt một cái túi giấy đựng ổ cắm chuyền, đứng loay ha loay hoay tìm ô ở trước lối ra vào tòa nhà. Nhìn cách Mu Jae chào hỏi anh Yu Gon thì có vẻ thỉnh thoảng anh ấy cũng ghé qua xưởng chú Gong.
‘Tôi lạnh. Vì gấu quần tôi bị ướt.’
Nghe anh Yu Gon nói giọng thiểu não Mu Jae liền ép anh ấy đi uống rượu cùng. Chúng tôi vào ngồi trong một quán rượu gần bến xe buýt. Mu Jae và anh Yu Gon gọi sake, còn tôi gọi bia. Nhân viên phục vụ đem dưa chuột cùng salad rong biển ra làm đồ nhắm. Trong cốc sake của Mu Jae và anh Yu Gon lờ lững chiếc vây cá nóc đã nướng qua lửa.
‘Cái này là vây đuôi phải không nhỉ?’
‘Hình như là đuôi đấy.’
‘Nhìn như một con bướm đêm khổng lồ vậy.’
‘Liên tưởng tới bướm đêm lại thấy cứ rờn rợn ấy nhỉ?’
‘Quả cũng thể thật.’
Chúng tôi nhìn vào cốc sake, chuyện qua chuyện lại, rồi im lặng uống rượu suốt một lúc lâu. Mưa vẫn đang rơi. Tê chân, tôi nắm lấy cổ chân thì thấy da thịt mình lạnh ngắt. Dạo này tôi rất hay về nhà trong cảnh bị ướt cổ chân. Chú ếch ban sáng giờ thế nào nhỉ, tôi nghĩ. Liệu nó có vẫn an toàn trong luống hoa không. Dù gọi là luống hoa nhưng cũng chỉ be bé thôi, chưa biết chừng nó đã nhảy ra khỏi đó rồi. Ếch thì nào có biết đến ranh giới của luống hoa nên hẳn nó đã nhảy phốc đi chỗ khác, và lần này chưa biết chừng đã bị giẫm bẹp dưới chân ai đó. Nếu nó chết thì liệu tôi, cái kẻ đã chẳng suy tính trước sau mà đem bỏ nó vào luống hoa kia, có phải là người xấu không nhỉ? Giữa lúc nghĩ ngợi mông lung tôi đã uống hết nửa chỗ bia. Cửa sổ nhìn ra ngoài, mặt kính mờ hơi nước. Mu Jae lấy đầu ngón tay chà chà kính, ở bên kia mặt kính liền hiện lên những giọt nước mưa đọng. Từ phía nhà bếp đưa ra mùi rau xào xì dầu. Đặt chiếc máy tính bỏ túi không lúc nào rời tay xuống bên cốc rượu, anh Yu Gon chốc nắm lấy cốc chốc lại buông tay, rồi nhấp một ngụm rượu, anh lên tiếng.
‘Hai người biết mọt ẩm không?’
‘Biết chứ.’
‘Không phải rận gỗ đâu mà là mọt ẩm cơ.’
‘Hai loài khác nhau à?’
‘Khác chứ. Chúng là hai loài sinh vật hoàn toàn khác nhau,’ anh Yu Gon nói vậy rồi vẽ đi về lại một hình tròn lên mặt bàn. ‘Rận gỗ có thể cuộn mình lại tròn như thế này nhưng mọt ẩm thì không đâu. Phòng tôi ở có nhiều mọt ẩm lắm. Không biết chúng trốn ở đâu rồi thình lình chui ra, giờ nhìn chỗ nào cũng thấy. Tôi sẽ giết hết bọn mọt ẩm.’
Mu Jae bảo, ‘Mọt ẩm không hại gì lắm. Chúng cũng có hút máu người đâu.’
Anh Yu Gon nghiêm sắc mặt, chằm chằm nhìn Mu Jae.
‘Vấn đề nằm ở tiêu chuẩn đánh giá hại hay không hại. Theo tiêu chuẩn của tôi thì mọt ẩm đủ hại rồi. Trong từ điển cũng có nói đấy. Dù theo từ điển, cái sự gây hại của chúng chỉ dừng ở mức xúc phạm về mặt thẩm mỹ thôi. Mọt ẩm tuy rất nhỏ nhưng lại di chuyển nhanh nhờ có rất nhiều chân. Một loài sinh vật như thế nhỡ chui vào tai trong lúc tôi đang ngủ chẳng phải là chuyện rất kinh khủng hay sao?’
‘Chúng hay chui vào tai anh à?’
Tôi vừa hỏi thì anh Yu Gon quay sang nhìn tôi chằm chằm, ‘Nhỡ đâu. Chuyện đó cũng có thể lắm chứ. Tôi không thể chịu đựng nổi. Mỗi lần nghĩ đến chuyện chúng chui vào tai mình ấy. Bởi vậy ai vào phòng tôi cũng bị cấm đụng tới quyển Kinh Thánh.’
‘Kinh Thánh?’
‘Tôi dùng nó để giết bọn mọt ẩm. Quyển Kinh Thánh có độ dày vừa phải, sẽ bay vừa khéo theo khoảng cách mình ngắm. Dù là tường hay trần nhà cũng không vấn đề. Chỉ cần mở ra thế này rồi ném là được.’ Vừa nói anh Yu Gon vừa xòe hai bàn tay trên mặt bàn như thể đang mở sách ra xem. ‘Việc này cứ lặp đi lặp lại khiến cả quyển Kinh Thánh lẫn tường nhà tôi đều nát tươm. Kinh Thánh nhiều trang nên không sao nhưng tường lại không được vậy, nên hằng tuần tôi đều phải dán lại tường.’
‘Ra là vậy.’
‘Cũng phiền phức không vừa đâu.’
Một nhóm người mặc Âu phục ồn ã đi vào quán rượu. Họ đứng ngoài cửa giũ ô, gập ô, bàn tán chỗ đằng này đẹp hơn chỗ đằng kia, huyên náo một hồi rồi mới ổn định vào chỗ. Lúc nhóm người toàn thân nồng mùi vải ẩm đó đi ngang qua, góc một chiếc túi xách may mũi đột rất chắc chắn đâm về phía tôi. Đương lúc tôi so một bên vai để tránh thì Mu Jae quay sang hỏi.
‘Eun Gyo, cái bóng dạo này thế nào?’
‘Cái bóng à… Cũng không có gì đặc biệt, cũng không có dấu hiệu gì là sẽ lại sống dậy, cứ vậy thôi.’
Nghe tôi trả lời, Mu Jae liền dặn, ‘Dù nó có dấu hiệu sống dậy thì cũng đừng đi theo.’
‘Tôi có đi theo đâu.’ Tôi nói, toan đưa cốc lên miệng thì bắt gặp ánh mắt anh Yu Gon đang trân trân nhìn mình.
‘Cái bóng của cô đã sống dậy à?’
‘Vầng, tự dưng nó sống dậy.’
‘Vậy ư? Của tôi thỉnh thoảng cũng thế,’ vừa nói anh Yu Gon vừa đẩy cái cốc hơi nhích về phía trước. Những tưởng anh Yu Gon muốn cụng ly, tôi đưa cốc mình ra chạm cốc anh, nhưng nghĩ lại thì hình như không hẳn vậy, vì anh ấy có vẻ giật mình. Anh Yu Gon hơi nhíu mày, mân mê cái cốc rồi kéo về như muốn giấu kín trong lòng bàn tay.
‘Nhưng mà,’ anh Yu Gon nói. ‘Hai người nghĩ rằng mọt ẩm thực sự không cắn sao, chúng có miệng mà, lẽ nào lại không cắn. Sở hữu một cái miệng chắc chắn là có ý nghĩa để cắn thứ gì đó.’
‘Đó là hồi tôi mười hai tuổi. Cha tôi mất. Do bị vật nặng đè. Ông đang làm việc ở công trường xây dựng một khu chung cư thì bị cục đối trọng trên cần cẩu tháp từ độ cao ba mươi mét rơi xuống đè trúng người. Vì quá ư hiển nhiên là ông đã chết, nên cục đối trọng bị bỏ nguyên ở vị trí đó suốt ba tiếng liền. Trước khi nhìn thấy thi thể cha tôi, mẹ tôi khăng khăng phủ nhận, một mực không tin, rốt cuộc đã xuống công trường để tận mắt chứng kiến hình ảnh cuối cùng của chồng mình. Tôi ngồi cạnh cô tôi đã mặc sẵn tang phục. Tuy hồi đó còn nhỏ nhưng đến giờ tôi vẫn nhớ như in mọi chi tiết tỉ mỉ về lễ tang. Sàn căn phòng rộng rãi là nơi tổ chức tang lễ lạnh đến ngỡ ngàng lúc tôi đặt chân lên; mẹ tôi, đang ngồi bình thản đến kỳ dị sau khi trở về lễ tang, bỗng túm lấy vạt áo tôi nói điều gì đó; vạt áo tôi lặng lẽ mặc tay mẹ giằng kéo; giọt mồ hôi nho nhỏ đọng trên cổ mẹ lúc bà cúi người về phía tôi; mùi hạnh nhân cháy phả ra từ bộ tang phục mẹ tôi mặc; một bên ngực mẹ lộ ra do dây buộc cố định váy bị tuột; và câu nói của mẹ tôi, Kia không phải cha con đâu, những kẻ căm ghét mẹ đã giấu ông ấy đi rồi tráo con lợn vào bảo nó là cha con đấy, khiến trong đầu tôi ngay lập tức hiện lên hình ảnh một con lợn đang nằm trên giường kim loại lạnh ngắt… những chi tiết kiểu như vậy.
‘Cái giường sắt mòn bóng sau bao lần sượt qua những xác người bọc vải, cái giường tôi chưa từng nhìn thấy. Đến bây giờ tôi vẫn lấy làm khó hiểu, tại sao đường nét và cảm giác về một thứ mình chưa bao giờ tận mắt nhìn lại có thể hiển hiện trong tâm trí rõ rệt đến thế.
‘Đã có rất nhiều khách đến viếng. Các tín đồ Cơ đốc giáo lui tới liên tục. Tôi còn nhớ, bài cầu nguyện họ ngâm cho người đã khuất, lúc nghe như luân khúc lúc lại nghe như tiếng niệm Phật. Ngày làm lễ nhập quan, mọi người cầm nến đi vào trong phòng cha tôi nằm. Cha tôi đã được mặc áo vải gai, tay chân mặt mũi cũng đã được buộc tròn lại bằng vải gai. Vì quá đông người nên tôi không thể từ đằng sau chen vào bên trong được. Tôi không tài nào nhận ra trong số những người đang đứng chắn trước mặt mình có ai đã từng quen biết cha tôi hồi còn sống. Hầu hết đều là những gương mặt xa lạ, tới mức tôi trộm nghĩ có lẽ giữa những người hăm hở xông vào trong kia chắc không ít người đứng đó thuần chỉ vì muốn được truyền chút cảm hứng từ thi thể bất hạnh của cha tôi. Từ chỗ đứng tôi chỉ nhìn được khuôn mặt nghiêng của mẹ qua khe cánh tay một bà cô mặc áo khoác đen nồng mùi mồ hôi. Được họ hàng dìu đỡ, mẹ tôi đứng nắm chặt cây nến bằng cả hai tay, cây nến nghiêng quá đỗi đến nỗi tôi cứ phải chăm chăm dõi theo, sợ rằng lửa sẽ rớt vào quan tài gỗ cha nằm, dù chuyện đó thật khó lòng xảy ra.
‘Sau lễ tang, mẹ tôi lưu lại bệnh viện một thời gian rồi mới về nhà, cõng theo cái bóng trên lưng. Cái bóng đã khá lớn rồi nên sậm màu đến khó tả. Mẹ tôi và cái bóng dính chặt lấy nhau đến độ không còn phân biệt nổi là cái bóng đang bám vào mẹ tôi hay mẹ tôi đang bám vào cái bóng nữa. Hồi đó, cô tôi có đến nhà tôi ở ít lâu để săn sóc hai mẹ con tôi. Cô tôi và tôi, hai cô cháu đã cố thử đủ mọi cách, lấy chổi quét lưng mẹ, la hét, rồi vãi đậu đỏ, nhưng cũng chẳng ích gì. Cái bóng kêu, Sợ quá, sợ quá, song trong giọng nó không nghe ra chút sợ hãi nào. Mẹ tôi chẳng tắm rửa cũng chẳng ăn uống tử tế, chỉ im lìm nằm lì trong phòng cùng cái bóng.
‘Một ngày nọ, cô tôi và tôi dọn nhà, những mong làm vậy có thể phần nào giúp vực dậy tâm trạng của cả nhà. Tôi phát hiện ra một cái hộp bằng kim loại to cỡ hộp đựng cơm ở trong góc tủ lạnh. Cái hộp lạnh buốt, không biết đã nằm đó bao lâu rồi. Tôi mở nắp hộp, thấy bên trong có mấy cây son. Những cây son màu cam, đỏ, hồng không chỉ đọng hơi nước mà còn phủ một màng mỏng trông như mốc, vì đã để quá lâu. Tôi đem cái hộp cho cô tôi xem, cô bảo vứt đi nên tôi cũng chẳng suy nghĩ gì nhiều, cứ thế vứt nó ra khỏi nhà. Ngày hôm sau, cả tôi lẫn cô đều quên luôn rằng từng tồn tại một cái hộp như thể.
‘Đến một ngày nọ, mẹ tôi sai mang cái hộp đó tới. Ban đầu, hai cô cháu tôi hoang mang không hiểu cái hộp đó là hộp nào. Nghe mẹ tôi giải thích một đôi câu, chúng tôi liền nhận ra đó chính là cái hộp đã bị vứt đi. Mẹ tôi hỏi ai vứt, tôi trả lời là mình vứt. “Mang về đây,” mẹ tôi nói, và từ ấy bà chỉ lặp lại đúng một câu đó. Dù cô tôi có nói đỡ rằng chính cô đã sai tôi vứt cái hộp đi, nhưng mẹ tôi vẫn không rời mắt khỏi tôi một khắc. Cõng cái bóng trên lưng, mắt sáng rực, mẹ tôi ra lệnh, “Mang về đây.”
‘“Mang về đây,” mẹ tôi nói, “Mang về đây,” cái bóng của mẹ tôi nói. “Mang về đây,” cái bóng của mẹ tôi nói. “Mang về đây,” mẹ tôi nói. “Mang về đây, Mang về đây,” giữa lúc cái bóng và mẹ tôi thay phiên nói, giọng mẹ yếu dần đến mức không nghe rõ nữa.
‘Giờ chỉ còn mình cái bóng, sau khi ngóc lên một khối tròn tròn tựa cái đầu gần chỗ vai phải mẹ tôi, liên tục nói, “Mang về đây, Mang về đây, Mang về đây.” Một lỗ hổng, chắc là cái miệng, lõm vào giữa khối tròn tròn đen ngòm ấy, hết mở ra lại đóng vào, nói, “Mang về đây, Mang về đây, Mang về đây,” rồi đột ngột nó bắt đầu cất tiếng khác. Đó không còn là lời nói có nghĩa nữa mà chỉ là những tiếng ma vi hay ma ve đơ được phát âm theo một kiểu kỳ lạ như thể cái bóng chỉ có mục đích phát ra âm thanh mà thôi. Cái hộp vứt từ mấy hôm trước thì đã mất từ mấy hôm trước rồi làm sao mang về được nữa, cô tôi cầu xin, tôi cầu xin, rốt cuộc cả hai cô cháu tôi rạp người xuống cùng cầu xin, nhưng sự tha thứ vẫn chẳng đến với chúng tôi. Từ sàn nhà, tôi ngước lên nhìn mẹ tôi và cái bóng của bà. Lúc ấy, cái bóng đã khom mình, phủ kín người mẹ tôi đen kịt, còn mẹ tôi như không biết hay cũng chẳng quan tâm, mặc kệ cái bóng, chỉ thỉnh thoảng mở miệng ma về đơ nhại lại theo nó. Tôi đã nhìn thấy cái miệng ấy. Cái miệng yếu ớt, cái miệng bị cái bóng nuốt chửng, tôi đã nhìn thấy cái miệng ấy của mẹ tôi, hé ra khép vào, hoàn toàn không hay lưỡi bên trong đã bị cái bóng thì thụt nhuộm cho đen thui. Tôi không biết mình đã dõi nhìn cái miệng ấy bao lâu. Cái bóng kìa, nghe tiếng cô gọi tôi quay đầu lại và thấy. Phần chóp cái bóng của tôi duỗi dài về phía lối vào nhà, đã từ sàn nhà ngóc lên và đang phơ phất tựa mép giấy gập.
‘Đó là lần đầu tiên cái bóng của tôi sống dậy.’
Lúc anh Yu Gon nói vậy, ở sâu trong quán, nhóm người nọ bắt đầu đập bàn. Một người trong nhóm năm người đứng dậy, ừng ực uống bia từ cốc vại. Nút thắt cà vạt nới lồng buông tới tận cúc áo thứ ba, sức nặng của cốc bia khiến cổ tay anh ta gồ rõ những đường gân. Tay trái ấn bụng, anh ta uống một hơi hết cốc bia. Các bạn đồng hành của anh ta, bằng năm nắm tay hay tám nắm tay gì đó, đập bàn dồn dập dần, cho đến tận khi anh ta đặt cái cốc còn đọng chút bia xuống mặt bàn. Mu Jae, anh Yu Gon và tôi lặng thinh dõi mắt về phía nhóm khách. Đám nhân viên đứng tì khuỷu tay lên quầy, nhìn họ với vẻ ngán ngẩm.
‘Tôi phải đi đây.’
Chúng tôi quay lại, thấy anh Yu Gon đã đứng dậy từ khi nào và đang ôm khư khư cái túi giấy.
‘Anh uống thêm chút nữa rồi hẵng đi.’
Mu Jae cản, nhưng anh Yu Gon từ chối, bảo, ‘Nhắc đến chuyện đó khiến nơi này như chật ních những cái bóng ấy,’ rồi rời khỏi quán rượu. Anh Yu Gon từ chối mượn ô, cứ thế lao vào màn mưa. Tiễn anh ấy đi rồi Mu Jae và tôi ngồi nán thêm một lúc lâu. Trong cốc rượu anh Yu Gon bỏ lại, đọng mẩu vây cá nóc ướt nhẹp.
Mu Jae lấy cớ rượu nguội bị tanh, chừa lại một chút rượu trong cốc. Mưa bây giờ rơi mảnh đến nỗi phải đứng gần cột đèn đường mới nhìn rõ. Dưới mái hiên, mỗi người chúng tôi mở ô riêng của mình rồi đi về phía ga tàu điện. Dường như bây giờ mới ngấm men say, tôi vừa gượng cánh tay đã mềm oặt cố cầm ô cho chắc vừa đỏ bừng mặt bước đi trên con đường ướt nước. Đón ánh đèn đường cùng ánh điện từ những cửa hàng mở khuya, bóng chúng tôi trải dài. Bóng tôi và bóng ô thoáng chồng lên nhau, nhưng đậm nhạt có chút khác nhau. Hóa ra cả trong đêm cái bóng cũng chẳng biến mất, vừa đi vừa nghĩ, mắt tôi dán xuống bàn chân mình. Mu Jae hỏi tôi đang nghĩ gì mà đăm chiêu
‘Cũng không có gì,’ tôi đáp. ‘Tôi chỉ đang hơi oải, vì muốn làm gì đó hay hay mà chẳng nghĩ ra gì cả.’
‘Vậy mình ra đằng kia ngồi tạm một lúc đi.’
Tôi nhìn theo hướng tay Mu Jae chỉ, thấy một cái chòi nghỉ dưới giàn tử đằng trước một tòa nhà lớn, có lẽ là chỗ nghỉ cho nhân viên tòa nhà.
‘Chắc ghế ướt cả rồi, liệu có ngồi được không?’ Tôi hỏi. Đang thầm nghĩ “hơn nữa ngồi đó có gì vui” thì nghe tiếng Mu Jae gọi, anh đã kịp chạy lại chỗ cái chòi xem xét một lượt băng ghế dài.
‘Bên này không sao!’ Tôi ngồi xuống theo chỉ dẫn của Mu Jae, cảm thấy chỗ mình ngồi cũng không ướt lắm. Mu Jae ngồi cạnh tôi, chừa ra một khoảng ở giữa. Dưới giàn tử đằng, hai chúng tôi giương ô che, ngồi sánh vai nhau. Những cánh hoa tử đằng ướt nhẹp rải khắp sàn lát đá đọng nước. Chốc chốc, từ giàn tử đằng tựa mái vòm của chòi nghỉ, lại có hạt mưa nhỏ xuống ô. Ngồi dưới tán ô lắng nghe tiếng mưa rỏ lộp độp, thú vị hay không thì không rõ, nhưng cảm giác uể oải chẳng mấy chốc như dịu hẳn.
‘Hát một bài nhé?’ Mu Jae gợi ý. Eun Gyo thích bài gì?’
‘Tôi thích bài “Thất giáp sơn”.’
‘Tôi không hát được bài đó.’
‘Anh Mu Jae không biết bài “Thất giáp sơn” à?’
‘Tôi biết nhưng không hát được.’
‘Tại sao?’
‘Từ đoạn “nương đậu” tôi đã nghẹn cả cổ lại rồi.’
‘Nghẹn cổ?’
‘Bài hát kể về một cô gái đang nhổ cỏ nương đậu, cô khóc ướt đẫm cả tay áo, vừa nhổ cỏ cô vừa gieo vào mỗi gốc đậu một hạt nước mắt, rồi bỏ lại mẹ già trên đỉnh núi chỉ vang vọng tiếng chim kêu, cô đi lấy chồng…’
‘Ra là vậy.’
Chúng tôi lặng thinh ngẩng đầu ngắm trời đêm. Những chiếc ô tô bật đèn pha lướt qua, rọi vàng những dải mưa.
‘Nghe nói, nếu đem luộc lá cây tử đằng,’ Mu Jae bỗng cất tiếng, ‘rồi uống nước luộc đó thì vợ chồng gương vỡ sẽ lại lành đấy.’
‘Vậy ư?’
‘Khi nào gương vỡ, chúng mình luộc lá tử đằng lên uống nhé?’
Sửng sốt trước câu Mu Jae nói, tôi lúng búng, ‘Tôi với anh có phải vợ chồng gì đâu chứ?’ Lọt thỏm trong tán ô, Mu Jae cười toe. ‘Hừm,’ tôi húng hắng ho. ‘Lành vỡ như nào tôi không biết, nhưng anh Mu Jae này, ngồi thế này thật thích, ấm bụng nữa.’
‘Ừ.’
‘Tự dưng thích thật đấy.’
Vừa nói tôi vừa ngồi ngước nhìn trời đêm.
Từ hôm đó suốt mấy tuần liền tôi không gặp riêng Mu Jae lần nào.
Độ quãng cuối mùa mưa, máy móc đổ về tiệm sửa chữa nhiều hơn. Trong vô vàn loại máy hỏng hóc hiếm có cái nào hư biến áp nên tôi cũng chẳng có việc gì cần xuống xưởng chú Gong. Mu Jae có mấy lần lên tiệm sửa chữa, nhưng hình như xưởng bên đó cũng bận nên anh thường chỉ làm xong việc rồi vội vàng xuống ngay. Thi thoảng tình cờ đi qua, tôi ngó vào xưởng thì chỉ thấy mình chú Gong đang cuốn dây đồng hoặc hút thuốc, còn Mu Jae vắng bóng.
Tôi bị cảm rồi.
Một hôm, anh Yu Gon tìm tới tiệm, thông báo vậy rồi kể lể hết chuyện nọ đến chuyện kia. Trước khi ra về anh đưa cho tôi năm thanh sô cô la, bảo thay cho tiền rượu hôm trước.