Một Trăm Cái Bóng

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Omusa

❊ ❊ ❊

Tôi từng có lần lạc ngay giữa trung tâm thương mại khi chạy việc vặt cho chú Yeo.

Trong vô thức tôi đã đi nhầm từ tòa B sang tòa A. Dù đã qua lại khu này lâu năm nhưng chỉ toàn đi những đường hay đi nên tôi hoàn toàn lạc lối giữa các tòa nhà vừa giống lại vừa khác nhau một cách quá đỗi tinh tế. Tôi leo lên tận tầng ba mươi để xác định lại phương hướng. Đứng trên sân thượng hóng gió, tôi cúi nhìn. Năm tòa nhà, bắt đầu từ tòa A rồi đến các tòa B, C, D, E kéo dài về phía con sông trung tâm thành phố. Trông tựa năm cỗ xe khách khổng lồ, không bánh xe, đang lê bụng nối nhau đi thì chợt đỗ khựng lại ở đó. Trừ tòa A cao nhất, các tòa khác đều chỉ có tám tầng. Trước nay tôi mới chỉ chạy việc cho chú Yeo đến tòa C, chưa từng đi tới các tòa sau. Tôi áp sát người vào rào chắn, nhìn xuống sân thượng tòa B. Một người đàn ông mặc chiếc quần rão lụng thụng đang vừa hút thuốc vừa từ sân thượng bên đó nhìn xuống thành phố.

Tôi ước lượng đại khái vị trí rồi phóng mắt tìm, nhưng thật khó mà xác định được nơi mình cần đến chỉ qua lời chỉ dẫn chung chung của chú Yeo. Tôi bất lực quay lại tòa B nhờ chú Yeo vẽ cho cái bản đồ. Chú Yeo dặn tôi dù bị lạc ở đâu, lạc kiểu gì cũng đừng đi sang tòa A mà phải xuống tầng một. Nhìn bản đồ chú Yeo vẽ bằng những đường cong mơ hồ lên mặt sau tờ giấy nhớ, tôi đã tìm được đến nơi.

Nơi tôi tìm đến chính là Omusa.

Omusa là một tiệm bán bóng đèn.

Omusa không phải nơi có thể tình cờ phát hiện khi đi lướt qua, Omusa chỉ có thể đến khi biết rõ rằng có một cửa tiệm như vậy tồn tại ở một nơi như vậy.

Cùng tôi làm chuyến đi tới Omusa nhé.

Dù bạn đi bằng tàu điện hay xe buýt, cũng hãy xuống ở bến đối diện rạp chiếu phim giữa trung tâm thành phố. Sau đó đi bộ về phía khu trung tâm thương mại bán các mặt hàng điện tử nằm cách đó khoảng một trăm mét, băng qua dãy các quầy hàng bày bán thằn lằn khô; đồng hồ báo thức, thắt lưng giả da, đồ cao su, pin, giày, mũ… đến góc phía Bắc tòa A. Len qua các quầy đèn điện có gương tựa vào các cột chống ngoài trời, vòng sang bên phải đi vào tầng một tòa nhà được dùng làm bãi đỗ xe, bạn sẽ bắt gặp những cụ ông cụ bà lấy thùng giấy thay bình phong quây thành những khoảng không gian hình tam giác vuông ở giữa cầu thang và nền đất. Ở đó có một bà cụ tóc bạc trắng cắt ngắn ngang vai, trừ những khi trời mưa, lúc nào cũng ngồi cách “nhà” mình độ hai mét nhìn ra ngoài đường lớn như thể đang chờ đợi ai. Một lần nọ, trên đường đi qua tôi thấy một người qua đường tới chìa cho bà cụ một ổ bánh mì. Bà cụ nhìn chằm chằm ổ bánh mì người ấy chìa ra, với vẻ hết sức sửng sốt bà nhận lấy ổ bánh, kẹp vào giữa ngực và đầu gối, rồi lại đưa mắt nhìn ra đường lớn. Đi qua nhà bà cụ; tiếp tục bước theo con đường giữa bên phải là bãi đỗ xe, bên trái là những quầy đèn điện và dụng cụ, tới khi xuất hiện con ngõ đầu tiên, bạn hãy đảo chân đi vào trong ngõ, tại đây bạn sẽ gặp một dì bán hàng mặt lạnh tanh đang hấp dồi lợn. Chỉ đặt đúng một cái thùng phuy chẳng cần đồ đoàn gì đặc biệt, dì đã bán hàng ở đó suốt hai mươi năm trời. Bước tiếp, bạn sẽ đi qua những người đàn ông đang gà gật sau khi bày biện vào trong tủ kính nào đồng hồ quả quýt, đồng hồ báo thức cổ; đồng hồ đeo tay cũ, thìa đũa bạc xỉn mầu; những ki ốt nhỏ bán thuốc lá, nước giải khát và trứng luộc; những tiệm sửa chữa radio đời cũ cùng những hàng bán linh kiện… hàng nào cũng như tiệm nào, chật chội đến nỗi không thể kê thêm dù chỉ một cái bàn.

Bước vào con ngõ đâm xuyên qua dãy hàng quán, hay đúng hơn chỉ là một cái ngách tối thui, tin hin tựa khoảng phân cách giữa hai tòa nhà, bạn sẽ thấy bên tay phải một quán ăn xập xệ không biển không bàn ghế, chỉ chuyên giao cơm trưa với duy nhất một thực đơn là cơm trắng với canh và đồ ăn kèm, đối diện quán ăn đó chính là Omusa. Tối om và lụp xụp như thể suốt từ những năm bảy mươi vẫn chưa từng một lần xây sửa. Tuy là tiệm bán bóng đèn nhưng soi sáng cả căn tiệm chỉ có độc một dây bóng đèn tròn ánh xanh vàng treo tường.

Sin sít.

Nếu soạn một cuốn từ điển bằng tranh thì minh họa cho từ “sin sít” chắc chắn sẽ là quang cảnh trong tiệm Omusa.

Chính thế, sin sít.

Sin sít đến độ sau khi nghĩ ra từ “sin sít” bạn không còn có thể nạy ra bất cứ từ nào khác để miêu tả khung cảnh trước mắt.

Hiện lên giữa khung cảnh ấy là ông cụ chủ tiệm tuổi đã vào độ cổ lai hy, mái tóc dày bạc phơ. Ông cụ ngồi trên ghế đẩu, trước mặt kê chiếc bàn gỗ, sau lưng là giá cất bóng đèn lèn chặt kín những hộp các tông to bằng viên gạch xây tường. Ngồi dưới bóng đèn tròn tỏa ra thứ ánh sáng tù mù, ông cụ lúc nào cũng chăm chú nhìn cái gì đó và đắm chìm trong suy nghĩ, phải đến khi có khách đến hỏi mua bóng đèn, ông mới lặng lẽ đẩy ghế đứng dậy, không đáp một lời.

Không vội vàng cũng không lưỡng lự, ông cụ run rẩy đi tới một điểm xác định trên giá, lôi ra một hộp, tựa như rút một viên gạch, giữa vô vàn những hộp các tông hay giấy bồi, không hộp nào mới hơn hộp nào. Đem cái hộp ra đặt lên mặt bàn, ông cụ mở nắp hộp đã mềm oặt để đó rồi đi đến một giá khác, lấy một túi ni lông to cỡ lòng bàn tay đem về bàn. Sau đó ông cụ thong thả mở hết cỡ miệng túi và bóp sao cho tròn, xong xuôi thì thò tay phải vào hộp bốc một vốc bóng đèn bé bằng móng tay rồi thả từng bóng từng bóng vào cái túi đang há miệng chờ trên tay trái. Trông chẳng khác nào mớm mồi cho bầy chim nhạn non - một so sánh thú vị tôi từng hóng được một hôm nào đó, trong lúc đứng giữa hàng khách đợi đến lượt mình.

Vì ở Omusa thời gian chỉ trôi theo nhịp độ riêng của ông cụ chủ tiệm nên dẫu có bận việc thì sau khi hối hả cuốc bộ đến tận Omusa và yêu cầu bán cho mình loại bóng này bóng kia, các vị khách vẫn thường đứng ngẩn ngoài cửa tiệm mà ngó vào trong hoặc vừa bóc trứng luộc ăn ở ki ốt gần đó vừa đợi tới lượt nhận hàng rồi ra về. Tuy chậm chạp nhưng ông cụ chủ tiệm Omusa tập trung trong từng động tác, mỗi động tác lại thấm đẫm phẩm cách, nên khách hàng dù sốt ruột đến đâu cũng không thể giục giã hay hối thúc. Cũng có vài người cực kỳ nóng vội buông lời phàn nàn, nhưng chưa một ai từng bỏ Omusa sang tiệm khác. Vì những giá bóng đèn ở Omusa đã được tích lại từ lâu nên ở đây có mọi loại bóng không thể tìm được ở bất cứ nơi nào khác. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy có những hộp được đánh dấu bút bi nhỏ xíu, nhưng những hộp không dấu má gì còn nhiều hơn gấp bội, và chỉ mình chủ nhân của chúng biết rõ có gì ở đâu. Thực sự, dù bạn có yêu cầu loại bóng đèn nào thì ông cụ chủ tiệm Omusa, tuy chậm chạp thật đấy, cũng sẽ không lạc lối mà đến thẳng giá lấy ra đúng loại bóng bạn cần.

Nếu ông cụ chết đi thì những bóng đèn kia sẽ thế nào? Nếu không còn ông cụ nữa thì ai sẽ biết được ở đâu cất những gì? Phải chăng tất cả những điều cổ quý đều sẽ bị coi là cũ kỹ lỗi thời mà vứt bỏ? Rời Omusa trở về tôi thường trở nên u sầu vì những suy nghĩ như vậy. Trong số những người năng lui tới tiệm sửa chữa cũng có vài người hay nói những lời tương tự về tiệm và chú Yeo, mỗi lần nghe được những lời ấy tôi lại ngẫm nghĩ về lịch sử tiệm mình.

Một ngày nọ tôi tìm đến Omusa mua bóng đèn thì không thấy ông cụ chủ tiệm cũng chẳng thấy những giá cất bóng đèn đâu.

Trống không, chỉ còn bức tường tối om ở lại.

“Ra vậy, ông cụ mất rồi.” Tôi nghĩ.

Tôi quay về tiệm sửa chữa báo tin cho chú Yeo, suốt một lúc thật lâu gương mặt chú lộ vẻ rối bời. Chúng tôi không thể sửa và phải trả lại những đơn hàng cần những loại bóng đèn này đã không còn mua được. Đúng lúc ấy những đơn hàng như thế lại ùn ùn đổ về tiệm. Lạ thật, có những người mà khi họ còn ta chưa biết quý, chỉ đến khi mất đi ta mới nhận ra họ quan trọng đến nhường nào, thật đáng tiếc, thỉnh thoảng tôi và chú Yeo lại bảo nhau như vậy.

Tôi trở lại tìm Omusa vào quãng qua hè chớm thu.

Trong số những người thường xuyên tới tiệm sửa chữa có một chú họ Kwak. Trạc tuổi chú Yeo lại cùng có thú chơi thiết bị âm thanh, chú Kwak từ lâu đã hay qua lại tiệm. Chú Kwak vốn là lính cứu hỏa, sau khi về hưu chú bảo chẳng còn chốn nào khiến mình cảm thấy gắn bó, và cũng kể từ đó chú bắt đầu năng lui tới tiệm sửa chữa của chú Yeo.

Ông xem hộ tôi cái này với, chú Kwak chui vào trong tiệm, cầm theo một bộ ăm li cũ của Đức.

Cái thứ cũ rích này còn xem xét gì nữa, nói vậy song chú Yeo vẫn thụp người xuống ngồi xổm cạnh chú Kwak, vừa hút thuốc vừa ngắm nghía bộ ăm li.

‘Nó làm sao?’

‘Bên trái bị tịt tiếng rồi.’

‘Sao ông lại thịt nó vậy?’

‘Nào biết tôi đã thịt hay làm gì nó, chỉ biết là nó xuất âm tệ hẳn đi.’

‘Nó vốn cứng lắm mà nhỉ?’

‘Hôm trước nó bị sét đánh trúng còn gì. Tôi đoán là từ hôm đó.’

‘Ông thông minh đấy.’

‘Thì tôi thông minh mà.’

‘Biết rồi.’

‘Tôi để nó cho ông đấy.’

‘Để tôi thư thư mấy bữa.’

‘Đèn tín hiệu cũng hỏng rồi, thay luôn cho tôi nhé.’

‘Lấy đâu ra đèn mà thay?’

‘Tôi mua đem đến rồi đây.’

Nói rồi chú Kwak lục túi lôi ra cái túi ni lông quen thuộc. Ông kiếm đâu ra thứ bóng hiếm có khó tìm này thế? Đáp lại câu hỏi của chú Yeo, chú Kwak bảo trên đường đến đây đã ghé Omusa mua. Chú Yeo và tôi sửng sốt ngó chú Kwak trân trân. Hoàn toàn không để ý đến vẻ ngạc nhiên của hai chú cháu tôi, chú Kwak chìa cái túi ni lông đựng bóng đèn tiệm Omusa ra.

‘Ông cụ chuyển đi rồi mà.’

Tôi tìm đến nơi chú Kwak chỉ thì quả có Omusa ở đó. Trong con ngách lùi sâu hơn một chút so với vị trí ban đầu. Ngoại trừ đã lắp bóng đèn huỳnh quang tử tế và trần nhà cao hơn so với trước đây thì Omusa vẫn vậy, vẫn tách biệt, vẫn treo tấm biển nhỏ viết chữ Omusa bằng bút lông và vẫn sin sít một cách khó diễn tả nên lời. Ông cụ chủ tiệm vẫn ngồi trên ghế đẩu sau bàn gỗ, quay lưng lại giá cất bóng đèn.

‘Bán cho cháu hai mươi bóng cầu chì.’

Tôi vừa dứt lời ông cụ liền từ tốn đẩy ghế đứng dậy. Và tôi đợi.

Ngay trước khi đông về, người ta ra quyết định giải tỏa tòa đầu tiên trong năm tòa nhà của trung tâm thương mại.

Lễ khởi công diễn ra vào thứ Hai. Đến dự là những nhà báo cùng quan chức nhà nước mà tôi mới chỉ thỉnh thoảng thấy trên mặt báo hay ti vi. Dàn xe tải quấn băng-rôn nhìn như đeo yếm đỗ cạnh sảnh lễ chờ tới lượt. Mỗi băng-rôn được cố định ngay chính giữa đầu xe bằng hai sợi dây thừng dày cộm. Tôi chằm chằm nhìn những tấm băng-rôn in cụt lủn hai chữ “Chúc Mừng”. Quan khách tham dự đứng một lúc ở phía sau rồi rời chỗ, di chuyển vào thang máy đi lên tòa B. Ngày hôm sau, trên đường đi làm tôi ghé qua sạp báo thì thấy báo nào báo nấy đều giật tít với những cụm từ na ná nhau kiểu “giải tỏa trung tâm thương mại bán đồ điện tử” hay “lùi vào dĩ vãng”. Tờ báo đặt giao tới tiệm sửa chữa cũng chẳng khác gì. Chú Yeo trải tờ báo lên thùng loa vẫn dùng làm bàn mỗi khi ăn cơm, rồi vừa húp canh vừa dọn đống chén đĩa đựng thức ăn sang một bên, chú chăm chú đọc báo. Tôi hỏi tại sao bên tòa A đồng ý giải tỏa nhanh thế thì chú Yeo đáp rằng do bên đó kinh doanh manh mún quá. Tại một tòa nhà mà quyền kinh doanh gần như đã không còn, các chủ kinh doanh chỉ lo kiếm bữa nay không biết đến bữa mai, cũng chẳng còn khoản phí quyền lợi nào để trông chờ thì hiển nhiên họ sẽ thấy khoản tiền hỗ trợ di dời đó là một món lớn và nhanh chóng nhận tiền mà dọn đi thôi, chú Yeo giải thích.

Dù mới chỉ có mình tòa A sắp bị giải tỏa nhưng báo nào báo nấy đều giật tít theo cùng một khuôn, khẳng định chắc nịch như thể toàn bộ trung tâm thương mại sắp bị san bằng và xóa sổ nay mai. Chú Yeo bảo họ làm vậy chính là để sớm thủ tiêu quyền kinh doanh ở các tòa còn lại, dễ dàng mưu đồ các bước tiếp theo. Gặp kẻ sắp chết không những không cứu còn ra sức rủa chết đi chết đi, chú Yeo nói, trông có vẻ ăn đã mất ngon. Quả nhiên, nhờ những bài báo ấy, suốt mấy ngày sau liên tục có điện thoại gọi đến tiệm sửa chữa, mỗi ngày vô số cú, hỏi tiệm có phải đã đóng cửa không hay đã chuyển đi đâu.

Bị rào bạt kín mít, đêm đêm, nhân lúc tối trời, tòa A âm thầm bị tháo dỡ. Một ngày nọ, giở tờ báo được giao tới tiệm ra đọc tôi mới biết đó là hình thức thi công không tiếng ồn áp dụng kỹ thuật tiên tiến. Phá dỡ một tòa nhà ba mươi tầng mà lại lặng lẽ đến thế, thực rất kỳ lạ và mờ ám, tôi đem chuyện hỏi chú Yeo, người vẫn hay lưu lại tiệm đến tận khuya, nhưng chú cũng trả lời rằng không nghe thấy tiếng động gì khác lạ. Mỗi sáng đi làm tôi lại thấy lớp rào chắn hạ xuống một chút vì mỗi đêm người ta lại phá một tầng của tòa nhà.

Cuối cùng tòa A cũng bị san phẳng, ở nơi từng là tòa A ngay lập tức được xây một công viên.

Cùng khoảng thời gian đó, Omusa lại biến mất lần nữa.

Khi trung tâm thương mại được quy hoạch lại xung quanh công viên mới thì đồng thời, nhiều cửa hàng lân cận cũng biến mất không dấu vết. Một cái bóng khẳng khiu, chẳng rõ có phải của ông cụ chủ tiệm Omusa, lang thang quanh khu này mấy hôm liền không biết đi đâu về đâu rồi một ngày nọ cũng biệt tăm biệt tích. Trong lòng nuối tiếc khôn nguôi, trên đường đi làm tôi cố tình rẽ sang bên đó thì thấy các hàng quán bị bỏ hoang vẫn còn chưa kịp tháo biển, con ngách bé tin hin mà mỗi bức tường lại có ai đó vẽ lên một dấu X bằng sơn màu trắng sữa, hoang phế đợi bước kế tiếp của đời mình.

Lần này tôi và chú Yeo tiếp tục đợi được báo rằng Omusa đã mở cửa lại ở đâu đó, nhưng mãi chẳng có tin tức gì.

Mùa xuân, các bước tỉa tót cuối cùng dần đi đến hoàn thiện.

Tất cả rào chắn đều không còn, công viên đầu tiên đã lộ diện.

Thảm cỏ đang nhú mình, sắc xanh rờn tươi mới.

Xinh đẹp như một sân quần vợt.

Tôi và Mu Jae ở lại trung tâm thương mại đến tận khuya rồi cùng nhau xuống công viên.

Chúng tôi rón rén đi bộ, tới băng ghế dài ở rìa công viên thì ngồi nghỉ. Băng ghế đủ cho bốn người ngồi nhưng lại có một thanh ngang cứng chắn ở giữa như tay vịn. Chia ra thế này làm gì nhỉ, tôi thắc mắc. Để cấm người ta nằm đấy, Mu Jae đáp và nở nụ cười khó hiểu. Tôi cũng cười. Đêm có sương giăng. Cứ cách bốn năm mét lại trồng một cột đèn đường nên cũng không tối lắm. Những cột đèn đỡ bóng đèn đội chao nho nhỏ vươn cao vút, trông vừa giống cây nấm lại vừa từa tựa võ sĩ đứng canh. Lớp sương đậu trên thảm cỏ đón ánh đèn lấp la lấp lánh. Hít phải sương, tôi hơi nghẹt thở.

Mu Jae cầm theo một túi đựng đồ ăn uống. Tôi chọn một miếng sandwich, nhận lấy một hộp sữa rồi mở ra uống. Vừa nhìn những biển báo cấm giẫm lên cỏ cắm lác đác trên bãi cỏ tôi vừa uống sữa. Quay đầu sang trái là đại lộ cắt thành phố thành hai nửa Đông-Tây, quay đầu sang phải là mặt tường ngoài của tòa B, phơi ra màu gạch đỏ nguyên thủy sau khi tòa A bị phá bỏ. Công viên nhìn thẳng về mặt tường phía Bắc ấy của tòa B nên dù đứng ở vị trí công viên hay tòa B thì cũng có cảm giác hai bên gần nhau đến đột ngột, như hai nửa của một khối thống nhất thình lình bị cắt đôi. Từng bị lạc trong tòa A nên lúc mới nghe chuyện quy hoạch lại thành công viên tôi đã nghĩ hẳn sẽ rộng lắm, nhưng ngồi ở đây thế này tôi mới thấy nó nhỏ hơn mình tưởng. Bé nhỉ, tôi thẫn thờ nói, Mu Jae gập đôi hộp sữa đã cạn, đáp rằng anh cũng ngạc nhiên vì công viên bé hơn tưởng tượng.

‘Ở đây từng có bao nhiêu người còn gì.’

‘Họ đi đâu cả rồi nhỉ?’

Vừa nói tôi vừa phóng mắt nhìn về phía bên kia bãi cỏ.

Ở nơi ánh mắt tôi và Mu Jae hướng tới, bóng một cây phong mới trồng duỗi dài. Bóng cây lẫn vào bóng đêm ở rìa công viên, tôi nhìn lớp lớp bóng tối chất chồng lên nhau ấy, ngẫm nghĩ xem đâu từng là chỗ dựng bình phong hộp giấy của bà cụ tóc ngắn. Tôi vừa nhắc tới bà cụ, Mu Jae liền kể mình cũng gặp bà cụ nhiều lần. Vậy ư, tôi hỏi lại, sau đó là im lặng kéo dài. Một con châu chấu trông hơi giống chuồn chuồn, nhưng nhỏ hơn chuồn chuồn và to hơn muỗi, lảo đảo bay quanh đầu gối rồi đậu xuống mu bàn tay tôi. Dường như cánh nặng vì sương nên nó bay không vững. Tôi ngồi yên nhìn con châu chấu bò trên mu bàn tay, leo lên cổ tay rồi lại tụt xuống, hết hơi bám lấy mu bàn tay mình. Mu Jae cất tiếng.

‘Eun Gyo biết slum nghĩa là gì không?’

‘… Có phải là nghèo không?’

‘Tôi đã thử tra từ điển rồi.’

‘Từ điển bảo sao?’

‘Khu ổ chuột của một thành phố, nơi những người nghèo tập trung sinh sống.’ Quay sang nhìn tôi, Mu Jae trả lời. ‘Người ta bảo khu này là slum đấy.’

‘Ai bảo cơ?’

‘Báo chí, mọi người.’

Slum.’

‘Kỳ cục nhỉ.’

‘Kỳ quá.’

Slum.’

Slum.’

Tôi ngồi lặng một thoáng rồi nói tiếp.

‘Tôi từng nghe từ Slum rồi nhưng chưa bao giờ nghĩ nơi này là cả.’

‘Tôi cũng vậy,’ Mu Jae hơi chỉnh lại tư thế ngồi và nói. ‘Bố tôi đã từng bán lò sưởi ở đây. Hồi còn bé, mỗi lần tới đây cùng mẹ hay các chị, từ xa tôi đã thấy dáng bố mang ghế ra ngồi trước cửa hàng. Thấy chúng tôi đến bố thường bỏ đi đâu một lát rồi quay về đưa cho một bọc dồi lợn gói giấy báo bảo chúng tôi ăn. Ngồi bên bố, tôi vừa ăn khúc dồi lợn thái dài vừa ngắm người qua lại. Cách bố cuộn giấy báo quanh đoạn cuối khúc dồi rồi mới đưa cho tôi để mỡ khỏi dây ra tay, cách bố dúi cho tôi mấy đồng xu lúc tôi chuẩn bị ra về vẫn còn sống động trong tâm trí như chỉ mới hôm qua. Giờ nghĩ lại, thật không hiểu một người vừa vụng ăn nói vừa thiếu sót đủ điều như bố tôi đã buôn bán kiểu gì. Đang ngồi ăn dồi cùng tôi mà có người đi ngang qua là bố tôi vùng đứng dậy hỏi họ tìm gì hay có cần gì không. Hồi ấy, tuy còn nhỏ nhưng tôi đã rất bàng hoàng khi thấy bố mình chào mời khách như vậy, chốc chốc tôi lại òa khóc vì ghét thấy mọi người đi lướt qua giả bộ không nghe thấy những lời mời chào của bố. Bố thì giận lắm, quát tôi hư vì khóc mà không chịu nói lý do, nhưng chỉ là tôi cảm thấy rất đau lòng mà thôi. Chẳng hề biết tôi đau lòng, bố lại càng quát, tôi lại càng đau lòng càng khóc tợn, bố lại càng quát dữ hơn, rốt cuộc bố quay đầu đi, không nói với tôi một lời nào nữa. Đến nước đó tôi cũng chẳng thể khóc thêm, đành cứ thế đứng bên cạnh bố. Bố tôi mất cũng đã lâu rồi, đáng lẽ những ký ức ấy phải phai mờ cả rồi chứ, vậy mà không, chúng cứ rõ mồn một khiến tôi không thể tách rời nơi này khỏi những tâm trạng ngày đó, thế nên nghe họ gọi khu này là slum tôi cảm thấy rất oan ức. Cứ bảo nghèo thôi có khi đã chẳng sao, gọi slum nghe chẳng công bằng chút nào, tôi đã nghĩ mãi như thế đấy.

‘Rồi một ngày, cả khu này sẽ bị san phẳng thôi. Có lẽ họ gọi slum cho đơn giản đấy, vì nếu nhắc đến kế sinh nhai của từng người cụ thể thì sẽ phải bận tâm đến rất nhiều điều khác nữa mài

‘Vậy ư?’

Slum,’ tôi nói.

Slum.’

Slum.’

Slum.’

‘Kỳ nhỉ.’

‘Đúng là kỳ thật.’

‘Hơi sợ nữa,’ tôi nói vậy rồi lặng thinh một lúc lâu.

Mặt tường ngoài của tòa B, suốt bao nhiêu năm nay, đến tận khi tòa A bị san bằng, vẫn còn được giấu kín, nay phẳng phiu và nhạt nhờ nhô lên trông thật tủn mủn. Tôi nhìn chằm chằm mặt tường ngoài tòa nhà thân quen, lạ lẫm trước dáng hình nguyên thủy của nó.

‘Dù tòa B bị phá tôi cũng không muốn sang tòa C đâu,’ Mu Jae nói.

‘Một khi đã sang tòa C nhất định sẽ phải sang tòa D, rồi tòa E, sau đó sẽ là gì nữa?’

‘Ăn nữa không?’ Mu Jae chìa túi về phía tôi. Vì trong túi không còn thứ gì mình muốn ăn, tôi lưỡng lự, cuối cùng nhón lấy một quả cam. Mu Jae thả cái túi xuống cạnh chỗ ngồi, đón lấy quả cam từ tay tôi và bắt đầu bóc vỏ. Khỏi cần đĩa nhé, Mu Jae dúi lại vào tay tôi quả cam đã được bóc tách rất khéo, xòe nở quanh núm như hình bông hoa. Rồi anh nói tiếp.

‘Thế nên dạo này tôi đang cố tìm một chỗ tốt tốt. Đằng nào cũng chuyển đi, dù ít dù nhiều, tôi cũng muốn chuyển tới nơi nào tốt hơn bây giờ. Chú Kong không rành mấy việc phức tạp này nên đã giao cả cho tôi, tôi tìm miệt mài lắm mà muốn chỗ ổn thì giá trên trời, muốn giá ổn thì lại toàn chỗ chẳng ra sao, không dễ tí nào.’

Tôi tách hai múi cam đưa cho Mu Jae, anh nhận lấy bỏ vào miệng.

Cũng chẳng rõ là kiếm một chỗ tương tự như xưởng chúng tôi bây giờ, không cần hơn, là việc khó thật hay là tôi chỉ đang luyến tiếc khi sắp phải rời khỏi nơi này để tìm thuê chỗ mới, dù đây cũng chỉ là một cái xưởng sáu bảy mét vuông. Công việc ở xưởng lại toàn liên quan tới kim loại nặng nên cũng khó có thể chuyển đi xa.

‘Rồi sẽ tìm được thôi.’

‘Thật không?’

‘Ai cũng tìm được mà.’

‘Đi đâu bây giờ nhỉ?’

‘Yên tĩnh quá. Ừ.’

‘Đẹp thật.’

‘Đẹp, nhưng tôi cứ cảm thấy thật kỳ.’ Mu Jae đăm đăm dõi mắt ngắm nhìn công viên.

HWANG JUNGEUN Hà Linh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.