“Mùi dầu mỏ” từ lâu đã đánh thức sự thèm muốn của những tên tư bản cá mập, nhất là bọn tư bản Mỹ. Vì khó có thể có thứ kinh doanh nào lãi hơn kinh doanh dầu mỏ. Người ta đã tính: cứ mỗi một đồng bạc lãi về dầu mỏ, rơi vào túi nhà tư bản tới 89 xu, chỉ còn phải chi phí 11 xu cho nước có chủ quyền. Giá thành khai thác một tấn dầu mỏ ở Trung Đông chỉ khoảng từ 1 đến 2 đồng, nhưng sau khi chế biến, những sản phẩm dầu mỏ được bán với giá từ 40 đến 100 đồng. Khó có thể tính được với mức lãi như vậy, hàng năm những công ty dầu mỏ đã bỏ túi được bao nhiêu!
Bởi vậy, Mỹ không ngừng tăng thêm vốn đầu tư ra nước ngoài vào ngành dầu mỏ. Những “vòi bạch tuộc” của các công ty tư bản khổng lồ Mỹ đã vươn tới Trung Đông, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, vịnh Péc-xích... và cả miền nam Việt Nam trước ngày giải phóng. Ở Trung Đông, độc quyền khai thác dầu mỏ nằm trong tay bảy công ty lớn, trong đó năm công ty là của Mỹ. Có những công ty khổng lồ, như công ty A-rập - Mỹ chiếm tới một nửa diện tích lãnh thổ nước A-rập Xê-u-đích, bằng mười lần diện tích miền bắc nước ta.
Đế quốc Mỹ đã thu được những món lợi khổng lồ do việc vơ vét nguồn dầu mỏ phong phú ở Trung Đông. Cho nên Mỹ chỉ muốn Trung Đông mãi mãi là một bể dầu rẻ mạt của chúng. Thế nhưng, những “vòi bạch tuộc” của chúng đâu có thể cứ tự do vùng vẫy mãi.
Từ những năm năm mươi trở lại đây, để dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc và khống chế của bọn tư bản dầu mỏ nước ngoài, giành độc lập về kinh tế và phát triển công nghiệp dầu mỏ của mình, các nước ở Trung Đông đã quyết định quốc hữu hóa nhiều công ty dầu mỏ của Mỹ và Tây Âu. Các tập đoàn tư bản Mỹ đã nhìn thấy trong sự phát triển và lớn mạnh của phong trào giải phóng các dân tộc A-rập, một sự đe dọa lớn đối với những quyền lợi hiện nay và sau này của chúng ở Trung Đông. Bởi vậy, chúng đã nuôi dưỡng và khuyến khích bọn hiếu chiến I-xra-en trong suốt mấy chục năm qua chính là để luôn luôn làm cho các nước A-rập bị suy yếu, chia rẽ và dùng I-xra-en làm một công cụ bảo vệ và bành trướng quyền lợi của Mỹ ở Trung Đông. Nhân dân các nước A-rập đã chống lại mạnh mẽ bằng nhiều biện pháp. Năm 1973, các nước A-rập đã dùng dầu mỏ làm vũ khí. Với các biện pháp tăng giá dầu mỏ, giảm mức sản xuất và khóa bớt các ống dẫn dầu, các nước A-rập đã đưa thế giới tư bản vào một “cơn sốt dầu mỏ” khủng khiếp. Cơn sốt ấy đã hoành hành và làm rung chuyển thế giới tư bản.
Nước đầu tiên bị “cơn sốt dầu mỏ” hành hạ là Mỹ. Nạn thiếu dầu mỏ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các ngành sử dụng động cơ phản lực, máy nổ và động cơ đi-ê-den. Chính phủ Mỹ đã bắt buộc phải áp dụng những biện pháp cắt giảm các chuyến xe, các cuộc bay tập, cắt giảm cả nhu cầu đốt sưởi, mà vẫn có nguy cơ thiếu dầu nghiêm trọng. Nhiều công ty chế biến dầu mỏ, nhiều xí nghiệp sản xuất các sản phẩm dầu mỏ bị đình đốn, phải sa thải nhân công. Nạn thất nghiệp càng trở nên nghiêm trọng.
Như một bệnh dịch, “cơn sốt dầu mỏ” lan sang hàng loạt các nước tư bản khác: Ca-na-đa, Anh, Pháp, I-ta-li-a, Hà Lan, Na-uy, Đan Mạch, Bỉ, Hy Lạp, Áo vv... Những nước này đã phải tăng giá và triệt để hạn chế sử dụng xăng dầu trong tiêu dùng cả các ngành công nghiệp, giảm hẳn các phương tiện giao thông vận tải, thực hiện “chính sách khắc khổ” trong việc tiêu dùng điện. Tình hình nghiêm trọng tới mức nhiều chính phủ đã phải cứu xét ngay tới những kế hoạch khai thác năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời hay năng lượng thủy triều, mà từ trước vẫn quan niệm như những vấn đề của tương lai!
Chúng ta có thể thấy “cơn sốt dầu mỏ” đã hành hạ các nước này như thế nào qua các dòng tin sau đây được đăng trên các báo chí vào thời gian đó. Chẳng hạn, ở Hà Lan chính phủ đã ra lệnh cấm nhân dân đi chơi bằng ô-tô trong ngày chủ nhật, kể cả nữ hoàng Hà Lan, để tiết kiệm xăng. Ở Đan Mạch, chính phủ yêu cầu các cửa hiệu không thắp đèn trang trí cho lễ Nô-en vì sợ thiếu chất đốt. Ở Ấn Độ, thủ tướng đã nêu gương tiết kiệm xăng bằng cách đi một chiếc xe ngựa về nhà để ăn cơm trưa. Ở Pháp, hãng hàng không báo tin sẽ phải bỏ sáu chuyến bay ghé qua Ca-na-đa do thiếu xăng. Ở Nhật Bản, khoảng 100 tàu buôn phải nằm bẹp gí ở các cảng vv...
Dưới sức mạnh của thứ vũ khí lợi hại đó, các nước tư bản Tây Âu và sau đó là Nhật Bản đã buộc phải thông qua nghị quyết ủng hộ yêu sách của các nước A-rập đòi I-xra-en phải rút quân khỏi các lãnh thổ A-Rập bị chúng chiếm đóng và quyền chính đáng của nhân dân Pa-le-xtin phải được khôi phục. Họ đã bỏ mặc Mỹ và quyết không chịu vì Mỹ mà bị vạ lây tày trời.
Như thế, dầu mỏ không những là nguồn chất đốt quý giá, nguồn nguyên liệu có một không hai cho công nghiệp hóa chất, mà còn là thứ vũ khí rất lợi hại mạnh mẽ không kém gì bom đạn. Nó thực sự đã là một bộ phận sức mạnh tổng hợp của phong trào giải phóng dân tộc ở Trung Đông chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới do Mỹ cầm đầu.