Ở Việt Nam, có dầu mỏ hay không? Đó là câu hỏi được đặt ra với các nhà địa chất và cũng là câu hỏi của tất cả những ai quan tâm tới nguồn tài nguyên của đất nước. Vậy câu hỏi đó đã được trả lời như thế nào?
Trước hết, phải nói rằng: nước ta có một vùng thềm lục địa rất rộng. Giá như mực nước đại dương rút xuống 200 mét, thì chúng ta có thể đi bộ trên quãng đường 1.000 ki-lô-mét từ Cà Mau sang đảo Ca-li-man-ta của In-đô-nê-xi-a cũng như như trên quãng đường 150 ki-lô-mét từ Hải Phòng sang đảo Hải Nam của Trung Quốc một cách dễ dàng. Thềm lục địa Việt Nam có triển vọng chứa nhiều dầu mỏ, đặc biệt là thềm lục địa dọc vịnh Bắc Bộ và dọc bờ biển Nam Bộ, bởi vì những nơi đó không những có các yếu tố cấu trúc kiến tạo mà còn có những điều kiện địa tầng thuận lợi cho quá trình tích tụ dầu mỏ. Nước ta lại có sông Hồng chở nặng phù sa, cuồn cuộn chảy ra vịnh Bắc Bộ và bồi đắp nên châu tam giác sông Hồng màu mỡ, có dòng Cửu Long mênh mông bốn mùa ăm ắp nước đã tạo thành Đồng Tháp Mười phì nhiêu là những nơi hy vọng có dầu mỏ, vì theo một hiện tượng có quy luật đã được các nhà khoa học thế giới phát hiện ra là dầu mỏ có xu hướng “định cư” tập trung ở các vùng ven biển trước cửa sông và ở các châu tam giác những dòng sông lớn.
Trong gần hai mươi năm qua, trên miền bắc xã hội chủ nghĩa, việc tìm kiếm dầu mỏ đã được tiến hành khẩn trương. Nhiều giàn khoan dựng lên ở nhiều nơi và đã khoan nhiều lỗ sâu từ 1.200 đến 5.000 mét. Đội ngũ cán bộ, công nhân dầu mỏ phát triển không ngừng: hàng nghìn công nhân chuyên nghiệp và kỹ thuật trung cấp, sơ cấp, hàng trăm kỹ sư, phó tiến sĩ đã được đào tạo ở trong nước và ngoài nước. Kết quả thật đáng mừng: ngày 20 tháng 7 năm 1976, dòng dầu mỏ đầu tiên từ lòng đất đã phụt lên tại một lỗ khoan ở vùng đồng bằng sông Hồng. Có thể nói lần đầu tiên trên bán đảo Đông Dương này, chúng ta mới tìm thấy mỏ dầu trong đất liền. Những kết quả thăm dò ở đảo Bạch Long Vĩ cũng làm chúng ta phấn khởi: trong đá gốc, thấy rất nhiều biểu hiện xâm tán với mật độ cao của bi-tum. Đó là sản phẩm thứ sinh của dầu mỏ từ dưới sâu đưa lên.
Ở phía nam, trên đất liền những phát hiện về khoáng sản chưa làm được bao nhiêu, nhưng ở ngoài khơi việc thăm dò dầu mỏ đã tỏ ra đầy triển vọng, tuy mới là bước đầu.
Ở phía nam Việt Nam, có một thềm lục địa rộng, nhất là từ Hàm Tân trở xuống. Ra quá bờ 200 ki-lô-mét, đáy biển vẫn chưa xuống sâu quá 100 mét. Lớp thủy tra thạch ở đấy rất dày, từ 4.000 đến 8.000 mét. Thủy tra thạch là loại đá xốp nằm trong địa tầng được cấu tạo thành những túi hoặc những bồn vĩ đại để có thể chứa dầu mỏ. Cho nên nó hầu như chắc chắn chứa những mỏ dầu lớn. Việc thăm dò dầu mỏ ở phía nam được thực sự tiến hành vào cuối những năm sáu mươi, sau khi một phái đoàn khảo sát của Liên Hiệp Quốc xác nhận khả năng trên.
Dưới sự hướng dẫn của cố vấn Mỹ, ngụy quyền Sài Gòn đã khoanh vùng một khu vực rộng khoảng 400.000 ki-lô-mét vuông, chia thành nhiều lô và mở đấu thầu bán một cách trái phép quyền thăm dò và khai thác dầu mỏ cho các công ty nước ngoài, chủ yếu là công ty Mỹ. Các công ty này đã ráo riết tiến hành thăm dò. Một số lỗ khoan đã được khoan sâu xuống quá 1.000 mét dưới đáy biển, cách đông nam Vũng Tàu 100 ki-lô-mét, và đã phát hiện được một lượng dầu đáng kể. Theo công bố của công ty Mỹ thì một mũi khoan, gọi là “Dừa IX”, đã gặp một lớp đá có khả năng cho 1.500 thùng dầu1* trong một ngày. Còn mũi khoan “Bạch hổ I” của một công ty khác đã gặp một lớp đá có khả năng cho 2.400 thùng dầu mỏ trong một ngày. Theo các công ty này, nếu tiếp tục thăm dò thêm vài ba năm nữa thì có thể chuyển sang giai đoạn khai thác thực sự.
Một thùng là 158,8 lít.
Những khảo sát, thăm dò ở phía nam còn cho biết những vùng có nhiều triển vọng có dầu mỏ nhất: đó là vùng bắt đầu từ Vũng Tàu đi lệch về hướng đông nam; vùng vịnh Thái Lan, ngay mũi Cà Mau, và vùng nằm ngay sát ranh giới thềm lục địa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a.
Ngày nay, đất nước đã thống nhất. Toàn bộ kho tàng quí giá về dầu mỏ đã thuộc về nhân dân ta. Chắc chắn bằng sức lao động và óc sáng tạo, chúng ta sẽ làm cho nước ta có một ngành công nghiệp dầu mỏ hiện đại chẳng những đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất đốt và nguyên liệu cho các ngành kinh tế nước nhà mà còn dư thừa để xuất khẩu.