“Này, cô Grey, cô nghĩ sao về phó mục sư mới?” Tiểu thư Murray hỏi, khi chúng tôi từ nhà thờ trở về vào ngày Chủ nhật sau khi tôi trở lại với nhiệm vụ của một gia sư.
“Tôi không thể nói được”, tôi đáp. “Tôi thậm chí chưa được nghe ông ấy giảng đạo.”
“Nhưng cô đã nhìn thấy ông ta rồi, đúng không?”
“Đúng, nhưng tôi không thể giả vờ đánh giá tính cách của một người đàn ông bằng cách liếc qua khuôn mặt của ông ta.”
“Nhưng ông ta xấu xí đúng không?”
“Tôi thấy ông ấy không xấu đến mức đó đâu. Tôi không ghét vẻ mặt nghiêm trang đó, nhưng điều duy nhất tôi đặc biệt chú ý về ông ấy là cách ông ấy đọc. Đối với tôi, ông ấy đọc rất hay − ít nhất, hay hơn hẳn cách đọc của ông Hatfield. Ông ấy đọc các bài Kinh như thể ông ấy cố gắng làm cho mỗi đoạn đều gây được ấn tượng tối đa, cứ như thể ngay cả người lơ đãng nhất cũng không thể không chú ý, người chậm hiểu nhất cũng có thể hiểu được, và những lời cầu nguyện mà tôi nghe cứ như thể không phải là những lời ông ấy đọc lên, mà là đang cầu nguyện một cách chân thành và tha thiết từ tận đáy lòng.”
“Đúng, điều đó thì ông ta làm tốt thật. Ông ta chủ trì buổi lễ rất tốt, nhưng ngoài việc đó ra ông ta chẳng biết gì hết.”
“Sao cô biết?”
“Ôi! Em biết rõ mà. Em là một người có khả năng đánh giá tuyệt vời trong những chuyện như thế. Cô có thấy ông ta đi ra khỏi nhà thờ như thế nào không? Bước lộp cộp, lộp cộp − như thể chẳng có ai ở đó ngoài ông ta − chẳng hề nhìn bên phải hoặc bên trái, và rõ ràng chẳng nghĩ gì, cứ thản nhiên bước, và có lẽ, bước thẳng về nhà ăn bữa chính. Cái đầu ngu si của ông ta chẳng chứa ý nghĩ nào khác.”
“Tôi nghĩ rằng nếu không, thì cô đã khiến ông ấy phải liếc hàng ghế nơi cô ngồi một cái”, tôi nói, và cười trước thái độ tức tối của cô.
“Vậy á! Nếu ông ta dám làm như vậy, thì em sẽ nổi cơn tam bành!” Cô đáp và hất đầu một cái với vẻ kênh kiệu. Sau một thoáng suy nghĩ, cô nói thêm: “Em nghĩ ông ta đủ tốt cho vị trí của ông ta, nhưng em mừng là em không cần ông ta làm mình vui − vậy thôi. Cô có thấy ông Hatfield vội vã bước tới để chào em, đúng lúc chúng ta lên xe không?”
“Có”, tôi trả lời, thầm nói thêm với chính mình, “và tôi nghĩ sự đứng đắn của một mục sư giảm đi ít nhiều qua hành động vội vã lao như bay từ bục giảng Kinh đến để bắt tay một địa chủ, đưa tay để đỡ vợ cùng các con gái của địa chủ ấy lên xe ngựa. Thêm vào đó, nhờ có ông ấy mà tôi suýt nữa bị đóng sập cửa không được lên xe”, bởi vì, quả thực, mặc dù tôi đứng trước mặt ông ấy, ngay bên cạnh bậc lên xuống xe, đợi để lên xe, ông ấy vẫn đóng sập cửa xe lại, cho đến khi một người trong gia đình ngăn lại bằng cách nói to rằng cô gia sư vẫn chưa lên xe. Ông ta quay gót bước đi mà không hề nói lời xin lỗi, cũng chẳng chào tạm biệt, cứ để mặc người hầu mở cửa xe.
Xin bạn đọc lưu ý điều này: Ông Hatfield chẳng bao giờ nói chuyện với tôi, cả ngài Hugh, phu nhân Meltham, ông Harry, tiểu thư Meltham, ông Green và các em gái của ông ấy, cũng như các quý ông, quý bà mà chúng tôi gặp thường xuyên ở nhà thờ. Thực ra, bất cứ ai đã làm khách Horton Lodge đều coi một gia sư là người vô hình.
Buổi chiều cô Murray lại gọi xe ngựa phục vụ hai chị em cô. Cô nói rằng trời quá lạnh nên họ không thể dạo chơi trong vườn được. Vả lại, cô tin rằng Harry Meltham sẽ có mặt ở nhà thờ. “Bởi vì”, cô nói, mỉm cười ranh mãnh trong khi ngắm mình trong gương, “trong những Chủ nhật gần đây, ông ta là tấm gương mẫu mực nhất của người chăm đi nhà thờ. Cô sẽ nghĩ ông ấy là một người ngoan đạo. Và cô có thể đi cùng chúng em, cô Grey ạ. Em muốn cô gặp ông ta. Harry đã khá hơn nhiều kể từ khi ông ta đi nước ngoài về − cô không thể tưởng tượng nổi đâu! Ngoài ra, cô sẽ có dịp gặp lại ông Weston đẹp trai và nghe ông ấy giảng đạo.”
Tôi đã nghe Weston giảng đạo, và thực sự hài lòng với chân lý Phúc âm trong bài giảng cũng như cung cách giản dị đứng đắn, cũng như sự rõ ràng, mạch lạc và sức mạnh trong phong cách của người đàn ông ấy. Thật thoải mái khi nghe một bài giảng đạo như thế, sau một thời gian dài quen với những bài thuyết giáo tẻ nhạt, khô khan của người phó mục sư tiền nhiệm, và những bài thuyết giảng nhạt nhạt, ít tính khai trí của ông mục sư. Ông Hatfield thường bước nhanh, hoặc di chuyển như một cơn gió lốc trên lối đi giữa nhà thờ, với vạt áo choàng lụa dày bay lật phật phía sau ông, quệt vào cánh cửa nghe loạt xoạt, bước lên bục giảng Kinh như một người chiến thắng bước lên cỗ xe khải hoàn của mình, sau đó ngồi lún sâu trên chiếc trường kỷ bọc vải nhung với vẻ kiểu cách có chủ ý, im lặng một lúc lâu như thể đã mệt lử. Sau đó ông lẩm bẩm đọc một lời cầu nguyện ngắn, đọc rõ nhanh bài cầu nguyện chung, rồi đứng lên, tháo một chiếc găng tay màu oải hương ra để cả giáo đoàn nhìn thấy những chiếc nhẫn lấp lánh của mình, đưa những ngón tay lên khẽ vuốt mái tóc được uốn xoăn một cách cầu kỳ, phất chiếc khăn mùi xoa bằng vải lanh, đọc một đoạn Kinh rất ngắn, hoặc chỉ đọc một cụm từ ngắn tựa như một phần mở đầu của bài thuyết giảng, và cuối cùng, đọc một bài luận có thể được coi là hay, nhưng đối với tôi không đủ tự nhiên để tôi thích. Những luận đề được trình bày khá tốt, những lý lẽ được đưa ra hợp lô-gíc, nhưng đôi khi thật khó để im lặng lắng nghe từ đầu đến cuối những gì ông ta đọc mà không để lộ dấu hiệu nào của sự bất tán thành hoặc sốt ruột.
Những chủ đề ưa thích của ông là kỷ luật của nhà thờ, các nghi lễ và nghi thức, sự kế tiếp của tông đồ, bổn phận sùng kính và phục tùng giới tăng lữ, tội không phục tùng nhà thờ chính thống, sự tối cần thiết của việc tôn trọng sự sùng đạo dưới mọi hình thức, sự ngạo mạn của các cá nhân cố nghĩ cho bản thân mình trong những vấn đề liên quan đến tôn giáo, hoặc những kẻ được dẫn dắt bởi cách hiểu Kinh thánh của riêng họ, và đôi khi để làm hài lòng những giáo dân giàu có, ông nhắc đến sự cần thiết của việc phục tùng một cách tôn kính của người nghèo đối với người giàu − những người hưởng ứng những châm ngôn và sự hô hào của ông với những lời trích dẫn từ các Cha: ông có vẻ gần gũi với những người giàu hơn là với các ông tổ truyền đạo tông đồ và coi họ có tầm quan trọng chẳng kém. Nhưng thỉnh thoảng ông mang đến cho chúng tôi một bài giảng đạo có một câu trúc khác lạ − một bài giảng đạo mà người ta có thể gọi là hay, nhưng u ám và dữ dội: miêu tả Chúa Trời như một đốc công ghê gớm hơn là một người cha nhân từ. Tuy nhiên, khi nghe ông giảng đạo, tôi cảm thấy người đàn ông này nghĩ sao nói vậy. Ông chắc hẳn đã thay đổi cách nhìn của mình, và trở nên mộ đạo một cách không thể phủ nhận, u sầu và khắc khổ, tuy nhiên vẫn nhiệt tình, sốt sắng. Nhưng những ảo tưởng đó của tôi thường tiêu tan ở bên ngoài nhà thờ, khi tôi nghe ông trò chuyện vui vẻ với những người nhà Meltham hoặc nhà Green, hoặc nhà Murray. Ông có thể cười trước bài giảng đạo của chính mình, và hy vọng rằng ông đã khiến những kẻ bất lương phải nghĩ ngợi, hoan hỉ khi nghĩ rằng, bà cụ Betty Holmes giờ đây đã vứt cái tẩu hút xì gà, vật được coi là niềm an ủi của bà trong ba mươi năm nay, rằng qua những buổi đi dạo vào buổi tối ngày Sa-bát George Higgins sẽ biết sợ, còn Thomas Jackson sẽ cắn rứt lương tâm một cách ghê gớm và sẽ thay đổi trong niềm hy vọng không gì lay chuyển nổi của ông về sự hồi sinh đầy hân hoan vào phút cuối.
Bởi vậy, tôi không thể không kết luận rằng ông Hatfield là một trong những người “chất gánh nặng lên vai người khác, còn bản thân mình không muốn động tay vào”, và là người “lấy lời truyền khẩu mình lập ra mà bỏ lời Đức Chúa Trời, giảng đạo theo lời răn của mình chứ không phải của Chúa”. Tôi sẵn sàng nhận xét rằng, như tôi thấy, về những điểm này, vị phó mục sư mới không giống ông chút nào.
“Cô Grey, cô nghĩ như thế nào về ông ta?” Tiểu thư Murray hỏi, khi chúng tôi đã yên vị trên xe sau buổi lễ.
“Vô hại”, tôi đáp.
“Vô hại!” Cô nhắc lại bằng giọng ngạc nhiên. “Cô nói thế nghĩa là thế nào?”
“Tôi muốn nói rằng, vẫn như trước, tôi không hề nghĩ tệ hơn về ông ấy.”
“Không tệ hơn! Thực ra em nghĩ − hoàn toàn khác trước! Chẳng phải ông ấy đã tiến bộ nhiều ư?”
“Đúng, đúng vậy”, tôi đáp, bởi vì bây giờ tôi mới hiểu tiểu thư Murray muốn nói đến Harry Meltham chứ không phải Weston. Quý ông đó đã sốt sắng đi tới nói chuyện với các tiểu thư, một điều mà ông ta hầu như không dám làm nếu có sự hiện diện của bà mẹ. Ông ta còn chìa tay một cách lịch sự để giúp các tiểu thư lên xe. Ông ta không cố ý đóng cửa xe trước mặt tôi như ông Hatfield, và tất nhiên chẳng giúp tôi lên xe (nếu ông ta làm vậy, tôi không nên nhận sự giúp đỡ đó), nhưng chừng nào cửa xe còn mở, thì chừng đó ông ta còn đứng cười ngớ ngẩn và tán chuyện với các tiểu thư, sau đó nhấc mũ lên chào và ra về. Tôi hầu như không chú ý đến ông ta. Tuy nhiên, những người đi cùng tôi thì khác. Khi xe của chúng tôi lăn bánh, họ không chỉ bắt đầu bình phẩm về hình thức, lời nói, hành động mà còn bàn về từng đường nét trên khuôn mặt của ông ta, mọi chi tiết về trang phục của ông ta.
“Chị Rosalie, chị không nên chiếm ông ấy cho riêng chị”, tiểu thư Matilda nói khi cuộc bàn tán kết thúc. “Em thích ông ấy. Em biết ông ấy vui khi nói chuyện với em.”
“Cứ tự nhiên, Matilda”, cô chị đáp bằng giọng thờ ơ đầy giả tạo.
“Và em chắc rằng”, cô em nói, “ông ấy ngưỡng mộ em chẳng kém gì ngưỡng mộ chị. Phải không nhỉ, cô Grey?”
“Tôi không biết. Tôi không biết ý kiến của ông ấy.”
“Nhưng sự thật đúng như vậy đấy.”
“Matilda yêu quý của chị ơi! Em còn giữ cái cung cách thô tục, vụng về của em thì chẳng ai ngưỡng mộ em đâu.”
“Vớ vẩn! Harry Meltham thích cung cách đó, và các bạn của cha cũng vậy.”
“Em có thể quyến rũ những ông già, và những gã choai choai, nhưng ngoài những người đó ra, chị tin chắc không ai thích em đâu.”
“Em cóc quan tâm. Không phải lúc nào em cũng hám tiền như chị và mẹ đâu. Nếu chồng em có thể nuôi vài con ngựa tốt và vài con chó khôn thì như thế cũng đủ để em hài lòng rồi. Những thứ khác em cóc quan tâm!”
“Nếu em cứ nói năng lỗ mãng như vậy, thì chị chắc chắn rằng không quý ông đích thực nào dám đến gần em đâu. Thật đấy, cô Grey ạ, cô không nên để nó nói năng kiểu đó.”
“Tôi không thể ngăn điều đó được, cô Murray ạ.”
“Và, Maltida ạ, em nhầm to khi nghĩ rằng Harry Meltham ngưỡng mộ em. Chị cam đoan với em rằng ông ta không thích em chút nào.”
Matilda chuẩn bị đáp trả bằng một câu nói đầy giận dữ, nhưng thật may, chúng tôi đã về đến nhà, và cuộc tranh cãi bị cắt đứt khi người hầu ra mở cửa, kê bục cho chúng tôi xuống xe.