Người Gia Sư, Agnes Grey

Lượt đọc: 218 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II
Những bài học đầu tiên trong nghề gia sư

❊ ❊ ❊

Trên đường đi, tôi lấy lại tinh thần và với sự phấn khởi, tôi hướng suy nghĩ của mình tới cuộc sống mới mà tôi sắp bước vào. Mặc dù vừa mới qua tháng Chín, những đám mây nặng trĩu và gió mùa đông bắc thổi mạnh đã kết hợp với nhau làm cho ngày trở nên giá buốt, u ám. Cuộc hành trình dường như rất dài, bởi, như ông Smith đã nói, đường sá “rất nặng nề”, và dĩ nhiên, con ngựa của ông cũng rất nặng nề. Nó di chuyển như bò lên những ngọn đồi, rồi trườn xuống, và chỉ chiếu cố chạy nước kiệu ở những đoạn đường bằng phẳng hoặc những con dốc nhẵn thín rất hiếm có ở những vùng địa hình không bằng phẳng này. Vậy nên gần một giờ chiều, chúng tôi mới đến đích. Tuy nhiên, sau tất cả, khi chúng tôi đi qua cánh cổng sắt đồ sộ, cho xe ngựa chạy chầm chậm dọc lối đi phẳng được viền quanh bởi bãi cỏ xanh ở hai bên, được điểm xuyết bởi những cây non, và đến một ngôi biệt thự sang trọng còn mới của Wellwood nằm dưới những tán cây dương xòe rộng như tán ô, trái tim tôi như ngừng đập, và tôi ước gì ngôi nhà đó ở cách xa một hoặc hai dặm nữa. Lần đầu tiên trong đời tôi phải đứng một mình: không có đường lui. Tôi sắp phải bước vào ngôi nhà đó, phải tự giới thiệu bản thân với những người lạ. Biết giới thiệu như thế nào đây? Quả thực tôi sắp mười chín tuổi rồi, nhưng vì cuộc sống ẩn dật và sự che chở của mẹ và chị gái, tôi biết rằng nhiều cô gái mười lăm tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn còn có cách nói năng thể hiện nữ tính, thoải mái và tự tin hơn tôi. Tuy nhiên, nếu bà Bloomfield là một phụ nữ tốt bụng và giàu lòng nhân ái của người mẹ, thì tôi sẽ xoay xở được, tất nhiên, tôi sẽ sớm cảm thấy dễ chịu với những đứa trẻ − và tôi hy vọng, tôi sẽ không phải tiếp xúc với ông Bloomfield mấy khi.

“Hãy bình tĩnh, bình tĩnh, dù bất cứ chuyện gì xảy ra”, tôi tự nhủ và thực sự quyết tâm tập trung giữ cho tinh thần thật bình tĩnh và giữ cho tim mình khỏi đập loạn đến nỗi khi tôi được mời vào sảnh và được dẫn tới gặp bà Bloomfield, tôi gần như quên không đáp lại lời chào lịch sự của bà. Về sau tôi hoảng hồn khi nhớ lại rằng mình đã nói vài từ ít ỏi bằng giọng của một người nghễnh ngãng hoặc đang ngái ngủ. Khi nhớ lại màn chào hỏi đó, tôi nhận thấy bà chủ cũng có thái độ hơi lạnh lùng. Bà là một phụ nữ nghiêm trang có vóc dáng cao gầy, mái tóc đen dày, đôi mắt xám toát lên vẻ lạnh lùng và nước da mai mái.

Tuy nhiên, bà lịch sự chỉ cho tôi phòng riêng dành cho tôi và để tôi vào phòng nghỉ ngơi một lát. Tôi hơi thất vọng trước vẻ bề ngoài của mình khi nhìn vào gương, gió lạnh đã khiến đôi tay tôi sưng đỏ, làm rối tung những lọn tóc quăn của tôi, làm da mặt tôi tím tái; thêm vào đó, cổ áo của tôi bị nhàu kinh khủng, áo choàng lấm tấm những vết bùn, đôi chân tôi mất hút trong đôi giày cao cổ to sụ, và vì những chiếc rương đựng tư trang của tôi chưa được mang lên phòng, nên tôi chẳng có sự cứu cánh nào cả. Tôi cố vuốt tóc cho thật mượt, và cố kéo cho cổ áo phẳng lại, rồi bước xuống hai dãy bậc cầu thang, vừa đi vừa suy đoán và với một chút khó khăn, tôi tìm được đường tới căn phòng nơi bà Bloomfield đang đợi.

Bà dẫn tôi vào phòng ăn, nơi bữa trưa của gia đình đã được dọn ra bàn. Một ít thịt bò hầm và món khoai tây nguội được đặt trước mặt tôi. Trong khi tôi ăn, bà ngồi ở ghế đối diện, quan sát tôi (tôi nghĩ vậy) và cố duy trì một cuộc trò chuyện − chủ yếu gồm một chuỗi những lời bình luận xã giao, được diễn đạt bằng sự khách sáo nhạt nhẽo, nhưng đó là lỗi ở tôi chứ không phải ở bà, bởi vì tôi thực sự không thể trò chuyện. Quả thực, toàn bộ sự chú ý của tôi hầu như được dồn vào bữa ăn: không phải vì tôi đói quá, mà vì món thịt hầm dai quá khiến việc ăn trở nên gian nan, vất vả trong khi tay tôi vẫn tê cóng và gần như run cầm cập sau năm tiếng đồng hồ phơi trong gió lạnh. Tôi muốn ăn hết chỗ khoai tây, bỏ thịt lại, nhưng trong đĩa của tôi vẫn còn một miếng thịt to, và tôi không thể bất lịch sự đến mức bỏ dở chỗ thịt; vậy nên sau nhiều lần cố gắng dùng dao cắt nhỏ hoặc xé và giật rời thành từng miếng nhỏ mà không thành công, trong khi biết rằng bà chủ nhà oai nghiêm đang quan sát toàn bộ quá trình xử lý ấy, cuối cùng tôi cầm dao và nĩa bằng hai nắm tay siết chặt như một đứa trẻ hai tuổi, tập trung vào việc với toàn bộ sức lực khiêm tốn mà mình có. Nhưng việc đó cần lời xin lỗi − cố gắng cười khe khẽ, tôi nói: “Tay tôi bị tê cóng vì lạnh đến mức tôi không thể cầm nổi dao, nĩa.”

“Tôi dám nói rằng cô cảm thấy món đó lạnh”, bà chủ đáp với vẻ nghiêm trang, lạnh lùng không thay đổi khiến tôi chắc chắn không an tâm.

Khi nghi thức đó kết thúc, bà dẫn tôi trở lại phòng khách và gọi các con mình đến.

“Cô sẽ thấy chúng cần phải được dạy dỗ nhiều”, bà nói, “bởi vì tôi có rất ít thời gian để tự mình dạy dỗ chúng, vả lại, trước đây chúng tôi nghĩ bọn trẻ còn quá nhỏ để cần có gia sư, nhưng tôi nghĩ chúng là những đứa trẻ thông minh, rất ham hiểu biết, đặc biệt là thằng nhỏ. Tôi nghĩ thằng bé, bông hoa trong bầy trẻ này − là một đứa trẻ có tinh thần quý tộc, hào phóng, một đứa trẻ để hướng dẫn chứ không phải để điều khiển, và đặc biệt, nó luôn nói sự thật. Nó dường như khinh bỉ sự gian dối.” (Một điều tốt lành đây, tôi nghĩ). “Em gái nó, Mary Ann, cần phải để mắt đến nhiều”, bà tiếp tục nói, “nhưng nhìn chung nó là một bé gái ngoan. Mặc dù vậy, tôi không muốn để nó ở phòng trẻ nhiều, vì bây giờ nó sắp sáu tuổi rồi, và có thể nhiễm các thói quen xấu của các vú em. Tôi đã cho đặt giường cũi của con bé trong phòng của cô, và nếu cô sẵn lòng lưu tâm đến việc tắm rửa và thay quần áo của con bé thì nó chẳng cần một người vú em nữa đâu.”

Tôi vừa mới trả lời rằng tôi sẵn sàng đảm nhận việc đó thì những học trò nhỏ của tôi bước vào phòng cùng với hai đứa em gái của chúng. Cậu chủ nhỏ Tom BloomField là một cậu bé bảy tuổi lớn phổng, với khung người rắn chắc, mái tóc màu nâu vàng, đôi mắt xanh, chiếc mũi nhỏ hơi hếch, và làn da trắng hồng. Mary Ann cũng là một cô bé có dáng người cao, da hơi đen giống mẹ, nhưng có khuôn mặt tròn đầy đặn và đôi má hồng hào. Cô em gái thứ hai tên là Fanny, một cô bé rất xinh xắn: bà Bloomfield quả quyết với tôi rằng đó là cô bé đặc biệt dịu dàng, và cần sự khích lệ. Cô bé chưa được dạy gì hết, nhưng vài ngày nữa bé tròn bốn tuổi, khi đó nó có thể bắt đầu học bảng chữ cái và có thể đến phòng học. Đứa nhỏ còn lại là Harriet, một đứa bé chắc mới chỉ hai tuổi, bụ bẫm, vui tươi mà tôi thích hơn tất cả những đứa còn lại − nhưng tôi không có việc gì liên quan đến đứa bé ấy.

Tôi nói chuyện với các học trò của mình một cách trìu mến hết mức có thể, và cố gắng thể hiện rằng mình dễ thương, nhưng tôi e là tôi không thành công cho lắm bởi vì sự có mặt của bà mẹ ở đó đã khiến tôi cảm thấy căng thẳng và không thoải mái. Tuy nhiên, bọn trẻ không hề nhút nhát. Chúng dường như đều là những đứa trẻ bạo dạn, giàu sức sống, và tôi hy vọng mình sẽ sớm trở nên thân thiết với chúng − đặc biệt là cậu bé, người mà tôi đã được bà mẹ cho biết sở hữu một tính cách đáng mến như thế. Cô bé Mary Ann có nụ cười điệu đà giả tạo, thích được chú ý và tôi rất tiếc phải nhận xét như thế. Nhưng anh của cô bé đã đòi chiếm toàn bộ sự chú ý của tôi. Cậu đứng thẳng người giữa tôi và lò sưởi, hai tay chắp sau lưng, nói như một nhà hùng biện, thỉnh thoảng ngừng lời để quở trách khá gay gắt mấy đứa em gái vì chúng gây ồn ào quá.

“Ôi, Tom, con đáng yêu quá!” Bà mẹ thốt lên. “Lại đây hôn mẹ đi nào, rồi đưa cô Grey đi thăm phòng học và những cuốn sách mới tuyệt vời của con nhé?”

“Con sẽ không hôn mẹ đâu, mẹ ạ, nhưng con sẽ dẫn cô Grey đến phòng học xem những cuốn sách mới của con.”

“Và phòng của em, sách mới của em, Tom ạ”, Mary Ann nói. “Đó cũng là phòng của em, sách của em.”

“Đó là của anh”, cậu cả đáp một cách dứt khoát. “Đi thôi, cô Grey − em sẽ dẫn cô đi.”

Khi tôi đến phòng học, ngắm những cuốn sách, giữa màn cãi cọ qua lại của anh trai và em gái mà tôi cố gắng hết sức để xoa dịu hoặc khuyên giải, Mary Ann mang cho tôi xem con búp bê của nó, và bắt đầu khoe khoang về váy áo đẹp, giường, ngăn tủ đựng váy áo và các phụ kiện khác của con búp bê, nhưng Tom bảo nó đừng làm ồn, rằng cô Grey phải đi xem con ngựa gỗ bập bênh của cậu, nói lớn tiếng để thu hút sự chú ý của tôi. Sau đó, cậu ra lệnh cho đứa em gái phải cầm dây cương để cậu trèo lên ngựa, bắt tôi đứng khoảng mười phút, xem cậu sử dụng roi và thúc ngựa dũng mãnh như thế nào. Tuy nhiên, trong khi đó, tôi thích con búp bê của Mary Ann và các phụ kiện của nó. Tôi nói với cậu chủ Tom rằng cậu là một kỵ sĩ cừ khôi nhưng tôi hy vọng cậu không sử dụng roi và không thúc ngựa quá nhiều khi cậu cưỡi một con ngựa đẹp như thế.

“Ồ, có chứ, em sẽ sử dụng roi!” Cậu nói, càng quất ngựa mạnh hơn. “Em sẽ quất nó nát bét ra như khói! Đúng thế đấy! Em nói thế đấy! Nó sẽ sợ chết khiếp.”

Lời cậu nói khiến tôi bị sốc, nhưng tôi hy vọng qua thời gian, tôi có thể tạo ra sự thay đổi.

“Bây giờ cô đội mũ, quàng khăn vào đi”, vị anh hùng nhỏ tuổi nói, “và em sẽ dẫn cô đi thăm khu vườn của em.”

“Của em chứ”, Mary Ann nói.

Tom giơ nắm đấm lên đe dọa. Em gái cậu kêu ré lên, chạy sang phía tôi, tức giận ra mặt với anh trai.

“Nào, Tom, em không được đánh em gái mình đâu! Cô hy vọng sẽ không bao giờ thấy em làm điều đó.”

“Thỉnh thoảng cô sẽ thấy em làm thế. Thỉnh thoảng em buộc phải làm điều đó để khiến nó trật tự.”

“Nhưng việc khiến em gái em trật tự không phải là việc của em, em biết mà − đó là việc −”

“Cô đội mũ vào ngay đi.”

“Cô không biết − trời rất u ám và lạnh, hình như đang mưa nữa − và em biết đấy, cô vừa phải vượt qua một chặng đường dài.”

“Không sao đâu − cô phải ra thăm vườn mới được. Không đi không được”, quý ông nhỏ tuổi kiêu căng nói. Còn tôi nghĩ bởi vì đó là ngày đầu tiên chúng tôi làm quen với nhau nên tôi có thể chiều cậu bé. Trời quá lạnh để Mary Ann ra ngoài, vậy nên cô bé ở trong nhà với mẹ, và trước sự dàn xếp đó, anh trai cô bé, người đang muốn chiếm trọn thời gian và sự chú ý của tôi, cảm thấy như thoát nợ.

Đó là một khu vườn rộng, được sắp xếp một cách có thẩm mỹ. Ngoài mấy khóm thược dược rực rỡ, có một số khóm hoa đẹp vẫn đang nở hoa, nhưng người dẫn tôi đi thăm vườn không cho tôi thời gian để ngắm nhìn chúng. Tôi phải đi với cậu qua bãi cỏ ướt, đến một góc khuất của khu vườn, nơi quan trọng nhất trong vườn bởi nó là vườn của cậu chủ. Có hai khoảnh đất hình tròn, được trồng nhiều loại cây khác nhau. Trên một khoảnh đất có một cây hoa hồng nhỏ rất đẹp. Tôi dừng lại để ngắm những bông hoa xinh xinh.

“Ồ, đừng để ý đến thứ đó!” Cậu nói bằng giọng khinh khỉnh. “Đó là vườn của Mary Ann đấy. Hãy ngắm vườn của em đây này.”

Sau khi đã ngắm nhìn mọi bông hoa, nghe một tràng diễn thuyết về từng cái cây, tôi được phép rời khỏi đó: trước hết, với sự long trọng rất kiểu cách, cậu ngắt một bông thủy tiên tặng tôi như tặng một người cậu vô cùng yêu mến. Nhìn thấy những thanh sắt và ngũ cốc trên cỏ quanh khu vườn của cậu, không kìm được, tôi liền hỏi đó là cái gì.

“Bẫy chim đấy.”

“Tại sao em lại đặt bẫy bắt chim?”

“Cha nói chúng gây hại.”

“Vậy em làm gì sau khi bắt được chúng?”

“Nhiều kiểu. Thỉnh thoảng em ném chúng cho mèo. Thỉnh thoảng em dùng dao nhíp cắt nhỏ chúng ra, nhưng còn một kiểu nữa, em muốn nướng sống chúng.”

“Tại sao em lại muốn làm điều khủng khiếp đó?”

“Vì hai lý do: thứ nhất, để xem chúng sống được bao lâu − và thứ hai, để xem mùi của chúng như thế nào.”

“Nhưng em không biết làm như thế là cực kỳ độc ác ư? Hãy nhớ rằng chim chóc cũng biết cảm nhận như em, và hãy thử nghĩ xem, em có thích mình bị như thế không?”

“Ồ, có gì đâu! Em không phải là chim, và em không thể cảm nhận những gì em làm với chúng.”

“Nhưng đến một lúc nào đó em sẽ phải trải qua cảm giác đó, Tom ạ. Em biết những kẻ độc ác khi chết sẽ bị đày xuống đâu rồi đấy. Nếu em không dừng ngay việc hành hạ những con chim vô tội đó, thì hãy nhớ, em sẽ phải xuống địa ngục và sẽ phải chịu những gì em đã bắt chúng phải chịu đựng.”

“Ôi dào! Em sẽ không phải chịu như thế đâu. Cha biết em làm gì với chúng và cha chẳng bao giờ mắng em vì chuyện đó cả. Cha nói hồi bé cha cũng làm y như thế. Hè năm ngoái cha cho em một tổ chim đầy những con chim sẻ non, và cha nhìn em xé chân, xé cánh, vặt đầu chúng mà chẳng nói gì. Cha chỉ nói rằng chúng trông tởm quá, và rằng em không được làm bẩn quần. Cậu Robson cũng ở đó, và cậu cười, nói rằng em là một thằng con trai rất cừ.”

“Thế còn mẹ em nói gì?”

“Ồ, mẹ không quan tâm! Mẹ nói thật tiếc khi giết những con chim hót hay, nhưng với những con chim sẻ xấu xí như chuột thì em có thể làm gì tùy thích. Vậy nên cô Grey ạ, việc đó chẳng có gì độc ác hết.”

“Tom ạ, cô vẫn nghĩ làm như thế là độc ác, và có lẽ cha mẹ em cũng nghĩ như vậy, nếu như họ suy nghĩ nhiều hơn về chuyện đó. Tuy nhiên”, tôi nhủ thầm, “họ có thể nói những gì họ muốn, nhưng tôi quyết định rằng chừng nào tôi còn có khả năng ngăn chặn việc đó thì chừng đó cậu sẽ không được làm nó nữa.”

Tom dẫn tôi đi sang phía bên kia bãi cỏ để xem những cái bẫy chuột của cậu rồi sau đó đi vào trong sân chứa cỏ khô để xem những cái bẫy chồn của cậu. Cậu vui hớn hở khi thấy trong một cái bẫy có một con chồn chết. Sau đó chúng tôi đi tới chuồng ngựa, không phải để xem những con ngựa kéo xe đẹp mã mà để xem một con ngựa non trông khá hung dữ mà cậu cho biết là được gây giống cho riêng cậu, và chẳng bao lâu nữa, khi con ngựa được nài một cách cẩn thận, cậu sẽ cưỡi nó. Tôi cố tỏ ra thích thú với người bạn nhỏ đó, và cố gắng nghe tất cả những gì cậu huyên thuyên một cách vui vẻ nhất có thể bởi vì tôi nghĩ nếu cậu có tình cảm, thì chắc chắn tôi sẽ cố gắng chiếm được tình cảm của cậu, và theo thời gian tôi sẽ có thể làm cậu nhận thức được những điều sai quấy trong cách hành xử của cậu. Tôi trông đợi một cách vô vọng tinh thần quý tộc, hào hiệp mà mẹ cậu đã nói tới mặc dù tôi có thể thấy rằng cậu không phải không nhanh và sắc sảo khi cậu muốn.

Khi chúng tôi quay trở vào nhà thì đã gần đến bữa trà. Cậu chủ Tom nói với tôi rằng, vì cha cậu không có nhà, cậu và tôi, cùng Mary Ann sẽ uống trà vói mẹ cậu, rằng như vậy thật thích bởi vì vào những dịp như thế mẹ cậu luôn dùng bữa chính vào buổi chiều cùng với bọn cậu, thay vì vào lúc sáu giờ tối. Chẳng bao lâu sau, Mary Ann đi ngủ, nhưng Tom muốn tôi nói chuyện với cậu đến tám giờ. Sau khi cậu rời khỏi phòng, bà Bloomfield cho tôi biết thêm về tính khí và khả năng của các con bà, những gì chúng sẽ học, chúng sẽ được dạy dỗ như thế nào, và dặn tôi không được đề cập đến những khuyết điểm của chúng với bất cứ ai ngoài bà. Trước đó mẹ tôi đã dặn tôi nên hạn chế đến mức tối đa việc nói về những thiếu sót của bọn trẻ với bà chủ, bởi vì người ta không thích nghe về các khiếm khuyết của con mình, vậy nên tôi kết luận rằng về chuyện đó tôi sẽ giữ im lặng. Khoảng chín rưỡi bà Bloomfield mời tôi cùng ăn một bữa ăn nhẹ gồm bánh mỳ và thịt nguội. Tôi mừng khi thấy bà chủ cầm giá nến lui về phòng ngủ ngay khi bữa ăn kết thúc bởi vì mặc dù tôi muốn nói chuyện vui vẻ với bà, nhưng sự có mặt của bà khiến tôi không được thoải mái cho lắm, và tôi không thể không cảm thấy bà lạnh lùng, trang nghiêm, và khó ưa − trái ngược hoàn toàn với một mệnh phụ phu nhân tốt bụng, giàu tình cảm mà tôi đã tưởng tượng ra trong niềm hy vọng.

THƯ VIỆN EBOOK (TVE-4U) Tác phẩm Người Gia Sư - Agnes Grey Tác giả Anne Brontë Người dịch Nguyễn Bích Lan Tủ sách Văn học nước ngoài Thể loại Kinh điển phương Tây Phát hành LimBooks NXB NXB Hà Nội 08/2017 —✥— EBOOK©VCTVEGROUP 20-05-2019
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.