Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 183 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII: Cuộc chiến chống du kích

❊ ❊ ❊

Mùa xuân năm 1943, khi những đơn vị du kích của Kovpak, một vị tướng du kích tài năng và thành công nhất, đến làng Tonezh vùng Polesye, họ chỉ còn thấy tro tàn tại khu nhà của dân làng. Những cư dân còn sống sót trú ngụ tại những hầm đất đào trong rừng; nghĩa trang ở ngoại vi làng lô nhô những nấm mộ, giữa ngôi làng cũ một nhà thờ cháy đen đơn độc nhô lên, trơ bộ khung xương trên nền đá và cây thánh giá bằng gỗ đơn sơ.

Đội quân tiễu phạt đã qua làng từ lâu, ngay từ hồi sau lễ đón năm mới. Chúng đã bao vây ngôi làng và ra lệnh cho tất cả dân làng nhanh chóng tập hợp tại nhà thờ để đăng ký lại hộ chiếu. Một giờ sau, khoảng 100 người tập trung tại nhà thờ. Ở đó họ bị bắn bằng súng máy. Số người còn lại bị lùa đến nhà thờ bằng báng súng. Trên đường đi, chúng cưỡng hiếp phụ nữ. Một phần dân chúng đã chạy trốn vào rừng. Tại nhà thờ, việc đánh đập và bắn giết được tiếp tục cho đến sáng. Sáng hôm sau quân Đức đã phóng hỏa nhà thờ, 379 người đã bị thiêu sống, phần lớn là phụ nữ và người già. Nhà quay phim Mikhail Glider đã ghi lại ấn tượng của mình trong nhật ký về một cư dân của ngôi làng từng trù phú một thời, còn sống sót như một phép màu. “Tatyana Andreevna Borovskaya, bị đạn bắn trúng cả hai tay, bò vào vườn rau. Tại đấy, cô được những người chạy trốn vào rừng khiêng theo, cô không thể đi được, ở nhà thờ, quân Đức đã bắn chết bốn đứa con của cô. Cô mới 33 tuổi mà trông như một bà lão ngoài 60. Cô nói bằng một giọng trống rỗng vô hồn, chậm rãi và hờ hững, như thể không phải về bản thân mình…”.[1]

Thảm kịch của làng Tonezh là câu chuyện quen thuộc vẫn diễn ra hằng ngày; vào những năm nước Nga, Ukraina và Belarus bị chiếm đóng, lực lượng tiễu phạt đã phá hủy hàng ngàn thôn làng. Bộ máy tuyên truyền của Đức Quốc xã đã khẳng định rằng việc làm này chỉ cốt để chống lại phong trào du kích đang lan rộng như đám cháy rừng; tuy nhiên, các đại diện giới chức quân sự và chính quyền dân sự đã không giấu giếm trong hồ sơ nội bộ của chúng rằng mục tiêu chính có phần khác biệt. Một số người đã viết một cách thờ ơ về mục tiêu này, một số khác tán thành, thậm chí có ai đó còn phẫn nộ; tuy nhiên, sự việc thật rõ ràng đối với bất kỳ sĩ quan Đức nào, ít nhiều đều được thông báo: các chiến dịch tiễu phạt được thực hiện nhằm mục đích thủ tiêu đám người hạ đẳng.

“Lúc này bọn Nga đã ra lệnh phát động chiến tranh du kích ở hậu phương quân ta”, Hitler nêu vấn đề vái các đồng sự. “Cuộc chiến tranh du kích ấy có những lợi thế của nó: nó cho chúng ta cơ hội để thủ tiêu tất cả những kẻ nào dám nổi dậy chống lại chúng ta. Vùng đất rộng lớn ấy cần phải được bình định càng nhanh càng tốt; điều này có thể đạt được tốt nhất bằng cách bắn hết những ai dám liếc nhìn người Đức”.[2]

Quân chiếm đóng đã hành động theo đúng chỉ thị này. Các ngôi làng đã bốc cháy từ mùa hè năm 1941, khi quân Đức hầu như còn chưa gặp phải sự kháng cự của lực lượng du kích – chúng phóng hỏa đơn giản là vì vùng đất chiếm đóng phía Đông phải được quét sạch khỏi đám người bản địa. Binh nhất sư đoàn 4 lục quân Le Kurt, người đã được thăng cấp trước thời hạn và được trao tặng huy chương “Mặt trận phía Đông” cho việc xử bắn tù binh, bấy giờ tham gia vào “cuộc chiến chống du kích”. Sau này bị quân đội Soviet bắt, trong các cuộc thẩm vấn hắn đã khai:

Tôi đã tham gia các chiến dịch tiễu phạt với nhiệm vụ đốt nhà. Tổng cộng tôi đã đốt hơn 30 ngôi nhà tại các thôn làng. Tôi ở trong thành phần lực lượng tiễu phạt, đến làng… đốt nhà, không ai được phép ra khỏi nhà, nếu cố chạy thoát, tôi sẽ đuổi theo bắt ngược trở lại hoặc bắn chết. Bằng cách đó tôi đã đốt hơn 30 ngôi nhà và 70 thường dân, chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em…[3]

…Chiến tranh du kích đã bùng lên ở hậu phương quân Đức vào mùa thu, là một đòn bất ngờ khó chịu cho quân chiếm đóng chỉ do quy mô của nó mà thôi. Còn lại thì cũng chẳng có gì bất ngờ. Khi một người sắp bị giết, người đó kháng cự; khi một dân tộc sắp bị giết, người ta kháng cự với sức mạnh gấp bội. Quân chiếm đóng hiểu rõ điều này; chúng đáp trả những cuộc tấn công của du kích bằng các chiến dịch tiễu phạt tàn bạo. Từ việc đốt cháy từng ngôi làng, các đơn vị cảnh sát và Wehrmacht chuyển sang tàn phá toàn bộ khu vực. “Cuộc chiến chống du kích mà chúng ta đang tiến hành rất giống cuộc chiến chống các bộ lạc da đỏ ở Bắc Mỹ”, Quốc trưởng lặp lại với toàn dân Đức. “Kẻ mạnh sẽ chiến thắng, và sức mạnh đang ở trong tay chúng ta. Bằng mọi giá, chúng ta sẽ thiết lập luật lệ vả trật tự ở đó”.[4]

“Quân du kích!” – những từ này thật kinh hoàng đối với binh lính của lực lượng chiếm đóng. “Dân Nga có thái độ thù địch với chúng tôi”, Hornug, một sĩ quan Đức đã ghi trong nhật ký. “Điều đáng sợ nhất là đám du kích ở trong rừng, trên đường, trong các khu dân cư. Chúng tấn công bất ngờ, tung ra những đòn khủng khiếp rồi biến mất chẳng còn dấu vết”.[5]

Các biện pháp trừng phạt quen thuộc, do lực lượng an ninh và các đơn vị Wehrmacht áp dụng, không đem lại hiệu quả cần thiết. Chúng gọi đó là chiến dịch “phản du kích”, mặc dù trong thực tế chi theo đuổi một mục tiêu – thủ tiêu càng nhiều càng tốt bọn hạ đẳng Soviet. Và chính vì thế mà phát sinh phong trào du kích.

Cuối năm 1941, quân Đức đã bao vây thôn Reimentarovka, nơi đóng quân của đội du kích. Trận giao tranh kéo dài khá lâu, cuối cùng quân du kích rút đi. Quân Đức vào làng, bắn chết phụ nữ và trẻ em bằng súng máy. Những trẻ còn bú mẹ bị giật ra và cắm trên cọc hàng rào. Bọn lính dùng đuốc đốt nhà. Ông lão Gregory Rastolnyi bị thiêu sống trong nhà. Quân Đức đã dẫn ông lão Apanas Kholmetsky ra đường, tưới xăng rồi châm lửa, ông lão bị cháy còn chạy trên đường. Polina Korobko, 24 tuổi, bị túm tóc treo trên cây, còn gia đình cô – bố Larion, mẹ và em trai Vanya 10 tuổi – đã bị thiêu sống trong nhà…

Fyodor Rastolnyi câm điếc đã chứng kiến toàn bộ chuyện này. Đêm đến, anh dùng dao cắt cổ một lính Đức. Sau đó, anh cắt dây đàn guitar, căng ngang đường. Lính liên lạc của Đức đi mô tô đã vướng dây và đâm vào hàng rào. Fyodor cũng kết liễu hắn… Sau đó, Fyodor trốn vào rừng. Trong rừng anh hoàn toàn sống một mình. Vào những đêm tối trời, anh trở về làng, lấy bừa rồi chôn trên đường, ô tô chạy qua cán vào răng bừa. Fyodor núp trong bụi cây. Nếu xảy ra tai nạn thật sự, không đơn thuần chỉ thủng lốp, anh chạy ra và giết bọn lính Đức. Anh không muốn gia nhập đội du kích, dùng tay ra dấu rằng mình chỉ là một người câm điếc, không phù hợp để gia nhập lực lượng du kích.[6]

Câu chuyện này đã được nhà quay phim Mikhail Glider, người đã chiến đấu tại đơn vị du kích của Kovpak, ghi lại và buồn bã kết thúc:

“Về sau, chúng tôi rời khỏi đó”, người kể chuyện kết thúc, “anh ấy vẫn tiếp tục chiến đấu một mình. Có lẽ lúc này vẫn còn chiến đấu. Hoặc có lẽ đã bị giết. Không nghe được, chỉ thấy thôi, khó lòng mà trốn mãi được”.[7]

…Chiến tranh du kích có những quy luật riêng. Vào mùa đông, rất dễ lần theo dấu vết quân du kích, việc kiếm thức ăn và vũ khí sẽ khó khăn hơn – và vì thế khi tuyết rơi, quân du kích hạn chế hoạt động của họ lại. Đó là một quy tắc bất di bất dịch.

Song vào mùa đông năm 1941 tại những vùng mênh mông tuyết trắng của nước Nga, cuộc chiến tranh du kích đột nhiên bùng lên với sức mạnh chưa từng thấy. “Sự phát triển của phong trào du kích trên toàn khu vực hậu phương đã đạt đến tỷ lệ đe dọa khiến tôi phải nghiêm túc lưu tâm đến nguy cơ này”, thống chế Gunther von Kluge, tư lệnh Tập đoàn quân “Trung tâm”, đã báo cáo. “Cần có những hành động tức thời bằng cách triển khai các lực lượng lớn để kịp thời dập tắt nguy cơ này”.[8]

Lòng căm thù đối với quân chiếm đóng hóa ra đã mạnh hơn luật bất thành văn của chiến tranh du kích, đã mạnh hơn cảm giác tự vệ. Lòng căm thù ấy đã khiến người ta sẵn sàng đối mặt với cái chết mười mươi – chỉ cần mạng đổi mạng với quân thù. Rất lâu sau, một cô gái trẻ lúc đó đã kể về cảm giác khủng khiếp ấy trong sức mạnh của mình:

Tôi đã học được căm thù… Lập tức… Lòng căm thù ấy! Lẽ nào bọn chúng có thể nghênh ngang trên đất chúng tôi! Lẽ nào bọn chúng… Từ tận đẩu tận đâu… Trong tim tôi chỉ có hận thù. Đến mức đầu nóng bừng. Máu nóng lên khi thấy những cành ấy… Chúng làm gì ở đây… Bao nhiêu là máu đổ và bao người bị giết trên đường. Biết bao nhiêu… Những người tù chúng tôi… Đoàn người đi qua, cả hàng trăm xác chết nằm lại trên đường. Họ đã đói, đã kiệt sức, rồi quỵ xuống… Bị bắn. Như bầy chó… Không còn tiếng than khóc cho người chết. Không ai khóc nữa. Nước mắt đã cạn khô…

Mọi người chúng tôi bỏ vào rừng: bố, các anh tôi và tôi. Vào du kích.[9]

“Đấy là một cuộc chiến rất nặng nề. Ông có hình dung nổi lòng căm thù mà phát xít Đức đã gieo vào lòng nhân dân chúng tôi đến mức nào không”, một sĩ quan Liên Xô đã giải thích với nhà báo người Anh. “Ông biết đấy, chúng tôi vốn vô tư và tốt bụng, nhưng tôi dám chắc với ông, chúng đã biến dân chúng tôi thành kẻ ác. Những kẻ ác – đấy, bây giờ chúng tôi là như thế trong Hồng quân; chúng tôi khao khát trả thù. Trước kia tôi chưa bao giờ trải nghiệm lòng căm thù như vậy. Có đủ mọi cơ sở cho điều này. Cứ nghĩ về tất cả những thành phố và làng mạc ấy… Nghĩ về nỗi đau khổ và tủi nhục mà nhân dân chúng tôi phải chịu…”. Một tia giận dữ khủng khiếp lóe lên trong mắt anh. “Tôi không thể nào không nghĩ về vợ và đứa con gái 10 tuổi của tôi ở Kharkov”. Anh im lặng, cố kiềm chế bản thân, những ngón tay cứ gõ gõ như nhịp trống trên đầu gối. “Tất nhiên”, cuối cùng anh nói tiếp, “có những du kích quân. Ít ra đó là lối thoát tốt nhất cho hàng ngàn người còn ở lại đó”.[10]

Quả thật là như thế.

“Người dân buộc phải bỏ vào khu đầm lầy và vào rừng để chiến đấu với chúng tôi”, sau này một quan chức của chính quyền chiếm đóng đã công nhận.[11] Đến khoảng tháng 11-12/1941, lòng căm thù đã tập trung vào quân Đức đến mức lính Đức được lệnh có thể giết bất cứ người dân nào lọt vào tầm mắt vì mục đích tự vệ.

Lệnh này đã được ban hành tại trung đoàn bộ binh cơ giới 101, thuộc Tập đoàn quân thiết giáp số 2 của tướng Guderian: “Phải thẳng tay khi hành động… Có thể nổ súng không cần cảnh báo vào tất cả đàn ông, phụ nữ xuất hiện trong khu vực của sư đoàn, đi bộ, đi xe trượt tuyết hoặc ván trượt tuyết”.[12]

Quân chiếm đóng đã lâm vào một tình thế không lường trước được; cuộc tấn công của Hồng quân đã buộc địch phải tung tất cả các đơn vị có trong tay ra mặt trận – và hậu phương hầu như khó thể phòng thủ trước lực lượng du kích ngày một lớn mạnh về số lượng.

Giải pháp cho vấn đề phát sinh là tiếp tục chính sách thủ tiêu người dân Soviet. Nếu thể hiện sự tàn bạo hơn nữa và tiếp tục thiêu rụi làng mạc, nếu dựng giá treo cổ trên khắp lãnh thổ chiếm đóng, nếu không thể hiện sự ủy mị, không xứng đáng với tinh thần chủng tộc Aryan – chẳng chóng thì chầy, sẽ chẳng còn ai để hỗ trợ lực lượng du kích. Bọn người hạ đẳng địa phương hoặc sẽ bị thủ tiêu, hoặc sẽ bị đe dọa để không bao giờ dám giơ tay chống lại các đại diện của chủng tộc cao quý. “Cần cứng rắn với người dân Soviet và không cần cân nhắc nên bắn hay không bắn khi có vấn đề với người Nga”, Wilhelm Kube, toàn quyền Quốc xã tại Belarus, đã giải thích với thiếu tướng SS Eberhard Gref. “Phải bắn, khi đó trật tự sẽ được thiết lập”.[13]

Quan điểm đó được duy trì trong quân đội. Ngày 08/12/1941, tư lệnh Tập đoàn quân “Nam”, thống chế Walter von Reichenau, người kế vị Karl von Rundstedt bị giáng chức vì thất trận gần Rostov, đã viết cho các chỉ huy quân đoàn:

Tại khu vực của quân đoàn 6, các hoạt động của du kích hầu như bị chấm dứt hoàn toàn. Thắng lợi này là kết quả của các biện pháp khắc nghiệt đã được chỉ huy quân đoàn áp dụng…

Trong quá trình chiến đấu với du kích tại khu vực các quân đoàn, vài ngàn người đã bị treo cổ và bị bắn công khai. Kinh nghiệm cho thấy việc hành quyết bằng cách treo cổ có tác dụng răn đe đặc biệt. Ngoài ra, đã thù tiêu nhiều “kẻ lang thang”, những người không có giấy tờ tùy thân và dưới vỏ bọc mà các đặc vụ và trinh sát của du kích thường che giấu. Từ thời điểm đó, hoạt động phá hoại đã bị ngăn chặn…

Tư lệnh Tập đoàn quân khuyến nghị trong trường hợp cần thiết nên áp dụng các biện pháp tương tự.[14]

Trên thực tế, không phải trong khu vực của quân đoàn 6, cũng như bất cứ nơi nào quân du kích đều thành công; tuy nhiên, suy nghĩ của bộ chỉ huy quân sự chắc chắn đi theo hướng của quân SS và chính quyền dân sự.

Tuy vậy, nếu trước đó các chiến dịch tiễu phạt “phản du kích” chủ yếu được các đơn vị Wehrmacht thực hiện, thì giờ đây tất cả lính Đức cho đến người cuối cùng đều được yêu cầu ra mặt trận. Đã đến lúc phải thành lập các đơn vị tiễu phạt đặc biệt, xa lạ với chủ nghĩa nhân văn và sẵn sàng thực hiện những tội ác ghê tởm nhất.

Quốc trưởng nhiều lần, trong tình huống không chính thức, đã chỉ thị rằng các đơn vị như thế nên được thành lập từ bọn tội phạm hình sự đang ngồi trong các trại tù. Cứ để những biệt tài của bọn giết người, cướp của, hiếp dâm phục vụ cho Đế chế! Hitler đã kiên trì lặp lại ý tưởng này trước các tướng lãnh quân đội bảo thủ: “Tất nhiên, cần phải chấm dứt nạn đạo tặc. Song, như tôi đã nói, chúng ta hãy làm cho hình phạt tương xứng với tội ác – hãy đưa chúng đi chiến đấu với bọn du kích, hãy biến chúng thành một quân đoàn bắn tỉa ưu tú!”[15]

Những nỗ lực của Quốc trưởng cuối cùng cũng đã có hiệu quả, cuối năm 1941 ở hậu phương Tập đoàn quân “Trung tâm”, một tiểu đoàn đặc nhiệm đã bắt đầu hoạt động chiến đấu với du kích. Đơn vị này chính thức trực thuộc Waffen-SS; tuy nhiên, thậm chí quân SS cũng kinh hoàng trước những hoạt động mang tính lưu manh hình sự được tập hợp dưới sự chỉ huy của Oscar Dirlewanger. Gã chỉ huy thật xứng đáng với lực lượng: trong các bức ảnh là một người đàn ông nhìn chúng tôi khẽ mỉm cười, như thể bước ra từ các trang sách của Cesare Lombroso[16]. Một thời gian dài, thống chế SS còn do dự, chưa dám chấp thuận tên tội phạm hai lần bị kết án lạm dụng trẻ em, có nhân cách thấp dưới mọi cấp độ.

Bất cứ nơi nào, hễ tiểu đoàn của Dirlewanger đi qua, là không thứ gì còn sống sót; chẳng mấy chốc y được thăng chức lên chỉ huy trung đoàn, rồi sau đó là lữ đoàn. Sau chiến tranh, tướng SS Erich von dem Bach-Zelewski trong các cuộc thẩm vấn đã mô tả nhiệm vụ của đơn vị ấy:

Công tố viên: ông hãy giải thích bằng cách nào bộ chỉ huy quân đội Đức lại hăng hái tăng cường và tăng quy mô của các đơn vị được hình thành từ những tội phạm hình sự, và hướng chúng vào cuộc chiến chống du kích?

Bach-Zelewski: Tôi cho rằng ở đây có mối liên hệ rất chặt chẽ với bài phát biểu của Heinrich Himmler đầu năm 1941 tại Weselsburg, ngay cả trước khi khởi động chiến dịch nước Nga. Khi đó Himmler nói rằng mục tiêu của chiến dịch nước Nga là giảm thiểu 30 triệu người Slav, chính vì vậy những đội quân thấp kém nên được sử dụng tại khu vực này.

Công tố viên: Liệu tôi có hiểu đúng lời ông không, rằng chính bản chất của số người mà bộ chỉ huy đã tung vào chiến đấu với du kích đã xác định trước một cách cố ý bản chất hành động của những đội quân này chống lại dân chúng và du kích quân? Ngụ ý của tôi là trực tiếp thủ tiêu người dân.

Bach-Zelewski: Phải. Tôi cho rằng mục tiêu ấy đã có sẵn khi chọn chỉ huy và thành phần nhất định của các đội…

Công tố viên: ông nói rằng cuộc chiến chống phong trào du kích thực chất nhằm mục đích thủ tiêu người dân Slav và Do Thái?

Bach-Zelewski: Phải… Tôi cho rằng quả thật những phương pháp ấy dẫn đến việc thủ tiêu 30 triệu dân, nếu chúng được tiếp tục áp dụng và nếu như tinh hình không thay đổi do sự phát triển của các sự kiện.[17]

Tuy nhiên, cho dù tiểu đoàn của Dirlewanger có tàn bạo đến mức nào, thì nó cũng quá nhỏ để đáp ứng phạm vi chiến dịch tiễu phạt cần thiết. Vì vậy, các đơn vị cảnh sát phụ trợ gồm bọn chủ nghĩa dân tộc người địa phương được hình thành, những kẻ được tuyển mộ đã chứng minh sự tàn bạo và khát máu của chúng bằng hành động.

Đức Quốc xã đã tuyệt đối không thể hiện bất cứ sự nhiệt tình nào cho ý tưởng trang bị vũ khí cho các đại diện của chủng tộc thấp kém hơn. “Không cho phép bất cứ ai khác ngoài người Đức được mang vũ khí!” Hitler đã nói. “Điều này đặc biệt quan trọng. Ngay cả trong tương lai gần, chúng ta có thể tuyển mộ những người chịu khuất phục để hỗ trợ lực lượng vũ trang một cách dễ dàng hơn, thì điều ấy cũng không đúng đắn. Vào một ngày đẹp trời nào đó, nhất định và chắc chắn chúng sẽ quay lưng chống lại chúng ta. Chỉ người Đức mới có quyền mang vũ khí, chứ không phải bọn Slav, bọn Czech, bọn Kozak hay bọn Ukraina!”[18]

Không thể phủ nhận được tính logic trong lý luận của Quốc trưởng; tuy nhiên, tình báo quân sự Đức từ lâu đã sử đụng rất hiệu quả các tổ chức của bọn dân tộc chủ nghĩa các nước Baltic và Ukraina cho mục đích riêng của mình. Trước cuộc chiến với Ba Lan, Abwehr được sự hỗ trợ của OUN, đã cố gắng tổ chức trên lãnh thổ Ba Lan “phong trào kháng chiến” để thủ tiêu giới trí thức và người Do Thái Ba Lan.[19]

Ngay trước cuộc xâm lăng Liên Xô, bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina và các nước Baltic, được thông báo trước về cuộc chiến sắp tới, đã tăng cường mạnh mẽ hoạt động khủng bố phá hoại; vì vậy, tình báo Đức hy vọng sẽ làm suy yếu sự ổn định của Hồng quân.[20] Quả thật, ở đấy, như các đặc vụ Đức thừa nhận sau này, không có thắng lợi nào đặc biệt: hoạt động của bọn “du kích” ấy chủ yếu là các vụ ám sát chủ tịch nông trường quốc doanh và nông trang tập thể, giáo viên trường trung học và nhân viên câu lạc bộ, đôi khi rất tàn bạo, nhưng không ảnh hưởng gì đến khả năng phòng thù của Liên Xô.[21] Trong khi đó, Tổng cục an ninh quốc gia Liên Xô đã hành động rất hiệu quả, và bọn dân tộc chủ nghĩa phải chuyển sang lãnh thổ của toàn quyền Đức, dưới sự che chở của các cơ quan tình báo Đức Quốc xã.[22]

Thời của bọn dân tộc chủ nghĩa đã đến sau khi chiếm đóng. Ngay khi quân Đức chiếm được một thành phố tiếp theo và hành quân tiếp về phía đông, bọn dân tộc chủ nghĩa đã chui ra từ hoạt động bí mật và tổ chức những vụ thảm sát tàn bạo nhất, thủ tiêu tất cả những ai mà chúng nhắm đến. Chính quyền Đức đã nhìn những hành động ấy qua kẽ ngón tay; khi một trật tự chiếm đóng tàn bạo được thiết lập, bọn dân tộc chủ nghĩa khát máu hóa ra lại là những tay sai đắc lực nhất của lực lượng tiễu phạt – đến mức thậm chí những thành viên của đội đặc nhiệm còn thấy ghê tởm.

Lực lượng tiễu phạt rất cần thiết cho Đức Quốc xã…

Ngày 25/8/1941, thống chế Wilhelm von Leeb, tư lệnh Tập đoàn quân “Bắc”, chính thức cho phép tuyển mộ người Litva, Latvia và Estonia vào Wehrmacht và lập ra các đội đặc nhiệm và các tiểu đoàn tình nguyện để tiến hành cuộc chiến “phản du kích”.[23]

Đấy là sự công nhận những công trạng đặc biệt của bọn dân tộc chủ nghĩa các nước Baltic trong việc thực hiện các hành động tiễu phạt. Báo cáo của đội đặc nhiệm “A” hoạt động tại các nước Baltic cho thấy lực lượng tiễu phạt người địa phương đã mang lại lợi ích rất lớn cho Đức Quốc xã:

Tổng quan tình hình cho thấy các nhân viên mật vụ an ninh quốc gia (Gestapo), cảnh sát hình sự (Kripo) và SD, gắn liền với các đội đặc nhiệm chủ yếu hoạt động tích cực tại Litva, Latvia, Estonia, Belarus và ở mức độ thấp hơn gần Leningrad… Những chiến dịch ở đó đơn giản hơn rất nhiều, vì các đội đặc nhiệm tại Litva, Latvia, Estonia đã có trong tay các đội cảnh sát địa phương, cũng vì lý do đó, 150 đội đặc nhiệm Latvia đã được gửi tới Belarus để bổ sung vào giai đoạn này.[24]

Lực lượng cảnh sát hỗ trợ Baltic đã trở thành các đơn vị tiễu phạt có chọn lọc, được sử dụng trên toàn lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng. Những năm 1941-1942, riêng tại Latvia 22 tiểu đoàn cảnh sát đã được thành lập. Trong đó chín tiểu đoàn đã thực hiện các chiến dịch tiễu phạt tại Ukraina, năm tiểu đoàn đã đốt làng mạc tại Belarus và tám tiểu đoàn “công tác” trên phạm vi tỉnh Leningrad và Latvia bị chiếm đóng.[25]

Đệ tam Quốc xã ngày càng cần nhiều đội quân tiễu phạt hơn. “Số lượng ‘quân phụ trợ nước ngoài’ đã nhanh chóng tăng lên”, một nhà nghiên cứu người Đức hiện đại đã viết. “Đấy là phương cách duy nhất không chỉ tránh cho quân Đức những biện pháp man rợ mà còn gia tăng hiệu quả của nó. Những kẻ hợp tác đã cung cấp mọi thứ cần thiết cho việc thù tiêu người hàng loạt”.[26]

Nhận thức được sự hữu ích của lực lượng tiễu phạt Baltic, Đức Quốc xã thậm chí sẵn sàng đồng ý công nhận các dân tộc Baltic là “những người hỗ trợ đáng giá” (tuy vậy, rốt cuộc số phận vẫn chờ đợi chúng giống như mọi giống người hạ đẳng khác). “Tại Liên Xô, không một dân tộc nào so sánh được với lính Đức”, các nhà tư tưởng Đức Quốc xã đã nêu ra. “Liên Xô là một tổ chức nhà nước hợp nhất nhiều dân tộc Slav, Kavkaz, châu Á, mà sự thống nhất được duy trì nhờ sức mạnh của những người Bolshevik nắm chính quyền”.[27]

Tại Berlin, người ta bắt đầu nói về sự cần thiết tiến đến hợp tác “ít nhất là với các nhóm dân tộc khác người Nga, có thể được đánh giá là những dân tộc phụ trợ có giá trị hơn về mặt chủng tộc và trong khuôn khổ chính sách chia rẽ chủng tộc-chính trị, rốt cuộc có thể hỗ trợ cho việc cai trị một đất nước Liên Xô đa sắc tộc”.[28]

Tuy nhiên, lực lượng cảnh sát phụ trợ được thành lập từ bọn dân tộc chủ nghĩa không đủ để trấn áp phong trào du kích; khi đó trong giới lãnh đạo Đệ tam Đế chế bắt đầu nghiêng vê một ý tưởng hoàn toàn không tầm thường. Điều gì sẽ xảy ra nếu các đơn vị tiễu phạt được thành lập không chỉ từ người các nước Baltic hay Ukraina, mà còn từ người Nga? – cứ để bọn hạ đẳng với bản chất tàn bạo cố hữu của chúng tự hủy diệt lẫn nhau.

Thống chế Wilhelm Keitel, chỉ huy trưởng Bộ tư lệnh tối cao, vô cùng hoài nghi về các kế hoạch như vậy, đã lưu ý rằng “các lực lượng dân cư địa phương không phù hợp cho các biện pháp bạo lực. Sự gia tăng các lực lượng này sẽ tạo ra mối đe dọa cao cho đội quân của chúng ta, vì vậy không nên hướng tới điều này”.[29]

Tuy nhiên, Bộ tư lệnh tôi cao bắt đầu quan tâm đến khả năng ấy và sau đó đã tiến hành một nghiên cứu nhân học chi tiết về người Nga. Giáo sư Abel, người đã thực hiện nghiên cứu này, vào mùa đông 1941-1942 đã đệ trình báo cáo cuối cùng. “Abel chỉ nhìn thấy các khả năng giải quyết vấn đề sau đây: hoặc là hủy diệt hoàn toàn dân Nga, hoặc là Đức hóa một phần người dân có những dấu hiệu rõ ràng thuộc về chủng tộc Bắc Âu. Những đề xuất rất nghiêm túc ấy của Abel đáng được lưu ý. Chuyện không chỉ về việc phá tan một nhà nước có trung tâm đặt ở Moskva. Việc đạt được mục tiêu lịch sử này không bao giờ có nghĩa là một giải pháp hoàn chỉnh cho vấn đề. Đúng hơn, vấn đề là ở chỗ để hủy hoại người Nga như một dân tộc, cần phải chia rẽ họ. Chỉ khi vấn đề ấy được xem xét từ quan điểm sinh học, đặc biệt là sinh học chủng tộc, và nếu chính sách của Đức được tiến hành tại các khu vực phía Đông phù hợp với điều này, thì mới có khả năng loại bỏ nguy cơ mà dân Nga gây ra cho chúng ta”.[30] Như ta thấy, giữa cơn mê sảng đội lốt khoa học, bản báo cáo còn chứa đựng một ý tưởng biện minh cho việc thành lập các đơn vị tiễu phạt người Nga: “Vấn đề là ở chỗ để hủy hoại người Nga như một dân tộc, cần phải chia rẽ họ”. Và điều gì có thể phục vụ tốt hơn cho mục tiêu này, nếu không phải là kích động một bộ phận này trong dân chống lại một bộ phận khác?”

Những lý do thực dụng hơn vì sao cần lập ra các đơn vị Nga sau này đã được lên tiếng tại cuộc hội nghị do Alfred Rosenberg tổ chức. “Hội nghị có sự tham gia của các chỉ huy những vùng chiến thuật ở hậu phương Mặt trận phía Đông và đại diện của các bộ phận điều hành quân sự trung ương chịu trách nhiệm tiến hành chính sách chiếm đóng và thực hiện các hoạt động kinh tế tại vùng lãnh thổ chiếm đóng ở Liên Xô. Khi thảo luận về các khả năng thu hút người dân Liên Xô hợp tác tích cực, các đại diện quân đội Đức đã bày tỏ ý kiến cho rằng Wehrmacht cần trực tiếp sử dụng cư dân của những khu vực chiếm đóng để tiến hành các hoạt động quân sự và bù đắp tổn thất về nhân sự cho quân đội, cũng như để chiến đấu thành công với phong trào du kích ngày càng lớn mạnh. Vì vậy, đã quyết định đi đến những nhượng bộ nhất định trong việc đối phó với dân chúng. Đồng thời, cũng tuyên bố công khai rằng vấn đề chỉ là các biện pháp mang tính chất tạm thời, ngay sau khi kết thúc chiến tranh, các biện pháp đó có thể và sẽ phải chịu sửa đổi bất kỳ lúc nào”.[31]

Những tuyên bố hoa mỹ và mang tính ngoại giao ấy không thể che đậy được ý đồ mà ai cũng hiểu. “Hiện nay chúng tôi vẫn cần tới sự giúp đỡ của những con lợn ấy; nhưng ngay khi hết nhu cầu, chúng tôi sẽ tiếp tục thủ tiêu chúng ngay lập tức.”

Ngày 09/01, tướng Paulus, tư lệnh thứ nhất của Bộ tổng tham mưu, đã có lệnh cho phép chỉ huy các Tập đoàn quân của Mặt trận phía Đông “thành lập các đơn vị an ninh phụ trợ với số lượng cần thiết (‘hàng trăm’) từ các tù binh và dân cư của các khu vực bị chiếm đóng có quan hệ thù địch với chính quyền Soviet”.[32] Tại khu vực của chính quyền dân sự, từ cuối tháng 11, các đội cảnh sát phụ trợ đã được tái tổ chức. Abwehr đã chuyển các đơn vị biệt kích của mình đến các tiểu đoàn của bọn dân tộc chủ nghĩa đã thành lập, còn Wehrmacht thì chuyển các sĩ quan từ đơn vị an ninh. Những đơn vị này trực thuộc các chỉ huy lực lượng SS địa phương và cảnh sát và cuối cùng là thống chế Himmler.[33] Chính lực lượng cảnh sát phụ trợ được tái tổ chức và “hàng trăm đơn vị an ninh” sau này đã được giao nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch tiễu phạt “phản du kích”.

Đương nhiên, không thể giao phó ngay những nhiệm vụ quan trọng như vậy cho các đơn vị mới thành lập; để bắt đầu, những cảnh sát mới được huấn luyện xử lý người Do Thái. “Việc thủ tiêu dân Do Thái đã được chọn, cũng như phương thức tuyển mộ những kẻ ủng hộ chủ nghĩa phát xít, để thực hiện các kế hoạch tội ác của chúng. Chính vì những lý lẽ ấy, quân Đức đã không bắn người Do Thái bừa bãi khắp nơi, mà thực hiện các chiến dịch hủy diệt trong suốt mùa đông chiến tranh đầu tiên, cố gắng thu hút dân chúng địa phương trên quy mô lớn”, G. M. Linkov, chỉ huy đội du kích Liên Xô đã viết. “Bằng cách đó chúng đã thực hiện tại làng Kashenko, quận Kholopnichesky, tỉnh Vitebsk. Chúng gọi người dân đến trường học và thông báo rằng họ được bổ nhiệm làm cảnh sát. Ngay sau đó chúng đề nghị những người được gọi nhận súng. Rồi uống rượu ăn mừng việc bổ nhiệm. Sau đó, những cảnh sát mới được đưa đến thị trấn Krasnoluki và được lệnh bắn chết một gia đình Do Thái. Khi “chiến dịch quân sự đầu tiên được hoàn thành thắng lợi, những rương hòm của người bị bắn được mở ra trước cảnh sát”.[34]

Thoạt tiên, các đơn vị cảnh sát phụ trợ bắn người Do Thái, rồi sau đó chúng bắt đầu thủ tiêu đồng bào mình. Một khi tay đã vấy máu, chúng không còn lựa chọn nào khác – bất kể lý lẽ nào đã buộc chúng nhận vũ khí từ tay quân chiếm đóng lúc đầu – chúng đã trở thành bọn đao phủ không hơn không kém. “Vì người dân địa phương tham gia vào cuộc chiến chống du kích không thể trông chờ sự thương xót, nếu như rơi vào tay du kích”, báo cáo của Gestapo đã lưu ý, “không có đường lui cho họ. Vì vậy, dễ hiểu vì sao họ hăng hái thực hiện các nhiệm vụ được giao…”.[35]

“Cuộc chiến chống thổ phỉ”, toàn quyền “Ostland”[36] phản đối, “áp dụng những hình thức rất thách thức ở mức độ cao, nếu như mục tiêu trong chính sách của chúng ta chỉ là bình định và cai trị những khu vực riêng lẻ. Thế nên, những kẻ bị tình nghi thuộc hàng ngũ thổ phỉ đáng bị giết… theo tôi nghĩ, với một vài ngoại lệ, chúng sẽ phù hợp để sử dụng cho việc lao động tại Đế chế… Nhốt đàn ông, phụ nữ và trẻ em trong nhà kho rồi phóng hỏa dường như không phải là biện pháp thích hợp để chiến đấu với thổ phỉ, thậm chí với mong muốn hủy diệt dân chúng”.[37]

“Vấn đề ở đây là xung đột Á – Âu”, Heinrich Himmler đã trả lời những công kích như thế. “Đã xảy ra đụng độ giữa Đế chế Đức và bọn quái thai hạ đẳng. Chúng ta phải thắng chúng, và chúng ta sẽ chiến thắng! Bao nhiêu nạn nhân sẽ phải trả giá trong từng trường hợp riêng lẻ – không thành vấn đề. Vấn đề là về tính mạng của cả dân tộc”.[38]

Thống chế SS hiểu rõ không kém bất cứ ai về tình hình hậu phương của Wehrmacht bấp bênh như thế nào, trong những ngày hè tấn công Stalingrad và Kavkaz. Dưới sự kiểm soát của Đế chế là những vùng lãnh thổ khổng lồ – phần rộng lớn và trù phú nhất nằm ở châu Âu của Liên Xô. Những thảo nguyên của Ukraina và những khu rừng của Belarus, những đồng bằng miền Trung nước Nga và vùng đất đầm lầy của Baltic và tỉnh Leningrad – tất cả hiện nay đều thuộc về Đức. Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn không thể nào kết thúc được và không đủ lực lượng để thiết lập quyền kiểm soát chặt chẽ trên các vùng chiếm đóng phía Đông.

Các đồn bốt của quân Đức đóng tại các thành phố, làng mạc bị biến thành pháo đài – dọc theo các tuyến đường sắt và đường bộ kéo dài từ thành phố này sang thành phố khác. Tại các kho thành phố tập trung vũ khí, đạn dược và quân trang quân dụng cần thiết cho Wehrmacht; được chuyển đến các đơn vị tham chiến theo các tuyến đường. Tại các thành phố và các làng ven đường, sự kiểm soát của quân Đức có vẻ chắc chắn; tuy nhiên, càng xa các thành phố, càng ít bắt gặp các đồn bốt Đức. Vài chục nhân viên cảnh sát “trật tự trị an” được quân Đức vũ trang, và những trưởng thôn – đó là toàn bộ chính quyền chiếm đóng không đáng tin cậy: trưởng thôn giấu giếm thực phẩm được dự định chuyển sang Đế chế, còn cảnh sát thì đôi khi chạy sang du kích.

Khi đội du kích của Kovpak tiếp cận một ngôi làng Belarus, họ ngạc nhiên khi phát hiện ở đó không có dân sống. Những ngôi nhà vẫn còn dấu vết của một cuộc tháo chạy vội vã; khoảng một tiếng rưỡi sau, những người nông dân trở về, một điều rất đặc trưng trở nên sáng tỏ. Người dân tưởng du kích là quân Đức, và chỉ sau khi chắc chắn rằng đó là người mình, người dân Soviet mới quay về. “Một trưởng thôn xuất hiện và lập tức bắt đầu nghĩ cách để cho chúng tôi ăn, thậm chí còn đề nghị nghỉ đêm trong nhà ông”, một du kích nhớ lại. “Trưởng thôn do quân Đức chỉ định đã chạy trốn rồi quay lại khi phát hiện trong làng là du kích!”[39] Lòng trung thành với quân chiếm đóng là như thế đấy; chỉ có quân đội Wehrmacht, đôi khi trên đường ra mặt trận ghé qua những nơi này, là điều nhắc nhở rằng: kể từ nay nơi này là đất Đức.

Tại khu vực tiền tuyến, quyền lực không còn thuộc về chính quyền dân sự, các chi huy SS và cảnh sát địa phương; ở đây các tư lệnh tập đoàn quân và các chỉ huy ở vùng hậu phương. Tuy vậy, đối với người dân, vùng chiếm đóng dân sự và quân sự không khác biệt gì lắm. Tại khu vực dân sự, các thành phố và làng mạc thường xảy ra những vụ bố ráp: bắt người để gửi sang Đế chế làm việc. Tại khu vực quân sự, việc lấy “các công nhân phía Đông” hầu như không xảy ra: các đội đặc nhiệm quân sự bắt những người có khả năng lao động. Tại mỗi sư đoàn quân Đức có một trại lao động chứa lực lượng lao động: đào hào, đắp đường, dọn mìn. Trại được đặt giữa đồng trống, chỉ rào lại bằng dây thép gai. Mọi người làm việc 12 giờ một ngày; ăn uống không đủ nên họ chết như rạ. Khi người trong trại ít hơn cần thiết, các đội đặc nhiệm lại bắt đầu đi săn.[40]

Những trại tương tự cũng có ở khu vực dân sự; quả thật, chúng không nằm trong tay quân đội, mà do Gestapo điều hành. “Mùa hè năm 1942, tại vùng hoạt động của Tập đoàn quân ‘Trung tâm’ và nói riêng tại khu vực Smolensk, Đức Quốc xã đã tổ chức những trại được gọi là ‘trại lao động’. Chúng nằm dưới sự điều hành của Gestapo và có mục đích kép. Thứ nhất, theo chỉ dẫn của quân Đức, là nơi giam giữ những người bị kết án vì ‘hoạt động chống Đức mà chưa bị án tử’. Thứ hai, ở đấy giam giữ và sử dụng cho công việc nặng nhọc những người can tội trốn tránh lao động”.[41]

Cả ở đây và ở đó người ta “bị hủy diệt bằng lao động”.

Tại khu vực dân sự, nông dân có nghĩa vụ giao nộp vụ mùa thu hoạch, nếu không, các đơn vị cảnh sát vào làng, thu sạch mọi thứ và đốt nhà những ai có ý định chống cự. Đó được gọi là “thu thuế”.

Tại khu vực quân sự, lính Đức đến làng, chở đi thức ăn và gia súc, bắn chết những ai kháng cự. Đó được gọi là “trưng dụng”. Sự khác biệt giữa thu thuế và trưng dụng chỉ ở chỗ người thi hành, còn bản chất là một. “Dân chúng khóc lóc van xin, còn phụ nữ và trẻ em ôm chân binh lính”, hạ sĩ Arno Schwager nhớ lại từ một chiến dịch. “Binh lính đùng báng súng đánh họ, đá họ. Chính mắt tôi đã nhìn thấy tại làng Volochanka, khi lính đánh một phụ nữ đến mức cô ấy bất tỉnh. Khi đó, không thèm để tâm đến cô ta nữa, hắn đã dắt đi con bò cuối cùng, mặc dù còn sáu đứa bé ở đấy, chúng đã bị chết đói”.[42]

Quả thật, tại khu vực dân sự, nơi thường xuyên thu thuế, kẻ trốn thuế không thể che giấu được: thủ phạm chắc chắn sẽ nếm hình phạt. “Năm 1943, tôi là một cảnh sát”, V. I. Stepanov thuật lại. “Tôi được gọi đến phòng chỉ huy của quân Đức và được hỏi ai là kẻ cố tình trốn thuế… Cả thảy 15 người, trong đó có phụ nữ. Sau đó, quân Đức đã bắn chết hết 15 người”.[43]

Mặt khác, việc “trưng dụng tùy tiện” thưởng xuyên xảy ra tại khu vực quân sự, nói một cách đơn giản – đó là các vụ cướp. Tướng Max von Schenckendorff, chỉ huy hậu phương quân đoàn 2 thiết giáp, đã báo cáo:

Việc trưng dụng tùy tiện của lính Đức gần Navley đang gia tăng. Từ Gremyachy (cách Karachevo 28 km về phía tây nam), binh lính từ thị trấn Karachevo đã tịch thu 76 con bò mà không có giấy chứng nhận, từ Plastovoi (cách Karachevo 32 km về phía tây nam) – 69 con bò. Tại cả hai nơi đều không còn đầu gia súc. Ngoài ra, tại Plastovoy đã giải giáp đội trị an người Nga; ngày hôm sau khu dân cư đã bị du kích chiếm. Tại thị trấn Sineozerko (25 km về phía tây Bryansk), lính trung đội do thiếu tá Sebastian chỉ huy đã trưng dụng gia súc một cách man rợ, và tại khu dân cư lân cận, họ đã bắn trưởng thôn và các trợ lý của ông ta.

…Các trường hợp tương tự được báo cáo ngày càng thường xuyên hơn.[44]

Hình ảnh một vụ trưng dụng như vậy đã được khắc họa trong hồi ký của Eugenio Corti, một người Ý thuộc một đơn vị chiến đấu tại miền Nam nước Nga.

Cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi thật khủng khiếp. Trên sàn nhà trong phòng lớn, một ông lão to cao với bộ râu dài bạc trắng nằm trên vũng máu đã đông lại. Trong phòng ngoài, mọi người sợ hãi nép sát vào tường. Trong số đó có ba hay bốn phụ nữ, theo tôi, có sáu đứa trẻ. Những khuôn mặt gầy gò, xanh xao của bọn trẻ người Nga hướng về phía tôi, trông nhợt nhạt như người chết. Sau bàn ăn có bày vài cái bát kích cỡ khác nhau, một người lính ngồi điềm nhiên ăn khoai tây luộc… Trong ngôi nhà tồi tàn này thật ấm áp lạ thường![45]

Ở hậu phương giáp ranh tiền tuyến, binh lính và sĩ quan Wehrmacht hành xử theo cách mà họ thường hành xử tại một đất nước bị chinh phục. Chúng vào làng cướp bóc và hãm hiếp phụ nữ, nếu chống cự – đã có vũ khí. Một đêm đông, hai tên lính vào một ngôi nhà ở miền Nam nước Nga: một lính Đức và một lính Ý. “Trong nhà toàn là phụ nữ nhiều lứa tuổi và trẻ em. Họ khiếp sợ trốn núp vào một góc. Gã lính Đức chọn cô gái xinh nhất giữ lại trong nhà, những người còn lại đuổi cả ra đường rồi bắn hết, kể cả trẻ em. Sau đó, y quay lại nhà, đè cô gái xuống giường rồi cưỡng hiếp… Tiếp đến, y bắt cô gái nấu cho y ăn, rồi buộc cô nằm cạnh y trên giường suốt đêm. Y còn hãm hiếp cô thêm ba lần nữa. Đến sáng, y dẫn cô ra ngoài tuyết lạnh và bắn chết”.[46]

Tại Kursk, hạ sĩ Arno Schwager đứng gác, thì từ nhà đối diện, nơi sĩ quan cao cấp Brener sống, vọng ra tiếng la hét và chửi rủa. Khi hạ sĩ lo lắng ôm súng bước vào nơi Brener ở, anh ta đã chứng kiến một cảnh tượng như thể từ những trang tiểu thuyết của de Sade.[47] “Tôi nhìn thấy”, Schwager thuật lại, “viên sĩ quan dùng roi ngựa quất một cô bé cỡ 13-14 tuổi, gần như trần truồng, bị trói vào một cái bàn”.[48]

Gần Smolensk, du kích đã bắt giữ một xe tải vận chuyển thư của lính Đức. Khi những bức thư này được dịch sang tiếng Nga, sự giận dữ không còn giới hạn nào kể xiết. “Sau khi vơ vét hết đồ trong các rương và dùng bữa tối ngon miệng, chúng tôi bắt đầu giải trí”, binh nhất Felix Capdels viết cho bạn mình. “Cô gái lúc đầu chống cự, nhưng chúng tôi cũng thu xếp được. Không vấn đề gì khi cả tiểu đội dùng chung…”. “Bọn con đã ở một thị trấn nhỏ trong ba ngày”, binh nhất Georg Pfaler viết cho mẹ mình. “Mẹ có thể tưởng tượng bọn đã ăn bao nhiêu thứ trong ba ngày. Đã khoắng hết bao nhiêu rương và tủ đã bị lục lọi, đã làm hư hỏng bao nhiêu tiểu thư nhỏ bé… Cuộc sống của bọn con bây giờ rất vui, không phải như ở dưới chiến hào…”.[49]

Mỗi người thư giãn theo cách của mình: tại khu định cư Kramatorsk, lính Đức khi trên đường Slavyanshaya đã giải trí bằng cách gọi cư dân từ căn hộ của họ ra rồi bắn chết ngay tại chỗ. “Cả thảy không dưới 50 người trong khu định cư đã bị giết theo cách này”, một linh mục giáo phận nhớ lại. “Xác người chết bị cấm đem đi trong vòng 15 ngày. Chỉ sau thòi hạn ấy tôi mới có thể làm lệ và chôn cất họ”.[50]

Không có động cơ nào ngoài chuyện khát máu, những vụ giết người được thực hiện ở mọi nơi trong khu vực chiếm đóng của quân đội. Tháng 9/1942, tại làng Berezovka, quận Bolshe-Polyansky, do nghi ngờ cậu bé chín tuổi Dekhanov ăn trộm một hộp thuốc lá và 10 viên kẹo, lính Đức đã đeo trước ngực cậu bé tấm biển với dòng chữ: “Tôi là kẻ trộm, đã ăn cắp của lính Đức kẹo và thuốc lá”, dẫn cậu đi quanh làng cả ngày, sau đó đánh đến bất tỉnh rồi bắn chết.[51]

Tại thành phố Rossosh, các học sinh trung học Nina Gladskaya và Arkady Sigaev đã bị bắn vì là đội viên thiếu niên tiền phong. Tại làng Shelyakino, quận Ladomirovsky, Antonina Sidorenko, 12 tuổi, bị bắn chỉ vì cô đeo khăn quàng đội thiếu niên tiền phong.[52]

Tại các thành phố thuộc khu vực dân sự tương đối trật tự hơn, nhưng ở đây quân Gestapo tràn lan. Đế chế có quá nhiều kẻ thù trên trái đất này; nhiệm vụ của lực lượng an ninh quốc gia ngầm là phát hiện và trừng trị. Vào những tháng đầu chiếm đóng, các nghi phạm đã bị tống vào tù với số lượng không đủ xe tải để chở; sau đó sự trấn áp có phần chọn lọc hơn; tuy nhiên, cũng không kém việc bắt bớ hàng loạt là mấy.

Khi phát xít Đức vào nông trang của chúng tôi, bọn trẻ chúng tôi coi chúng là kẻ thù. Chẳng phải vô cớ. Chẳng bao lâu, một buổi sáng đau khổ, khủng khiếp nhất đời tôi đã đến. Một biệt đội tiễu phạt Đức vây quanh làng. Chưa đầy một giờ sau chúng phá cửa vào nhà. Trong tay tên đội trưởng là một tờ danh sách họ tên. Chúng quát vào mặt mẹ: “Mày là con gái của thằng Bolshevik già, mày và nó đều là du kích!” Chúng bẻ tay mẹ và dùng súng máy đẩy ra khỏi nhà. Tôi chạy cùng họ ra đường. Mẹ hét lên: “Quay về nhà!” nhưng tôi không buông tay khỏi váy mẹ. Gã lính Đức quay lại và đá giày vào bụng tôi, tôi ngã xuống. Mẹ vùng ra, lao đến chỗ tôi, hôn vào má bên phải. Đó là tất cả những gì tôi còn nhớ về mẹ.

Ngày hôm sau mọi người bị bắn ở Gremyach. Lúc đó rất nhiều người bị bắn sau đó, hố chôn xác vẫn còn vọng tiếng rên của những người đang hấp hối.[53]

Đặc biệt lực lượng Gestapo phải lao động cật lực tại Minsk, thủ đô của Belarus. Ở đấy diễn ra phong trào hoạt động bí mật rộng lớn và phân nhánh khiến quân chiếm đóng rất bực bội. Càng ngày Gestapo càng phát hiện thêm nhiều ổ mới; tuy nhiên mạng lưới hoạt động ngầm lan tỏa rất rộng. Các nhà tù ở Minsk đặc nghẹt tù nhân; một số đã tìm cách trốn thoát, lúc đó những chi tiết khủng khiếp mới được biết đến…

Trong các xà lim, nơi khó lòng chứa được 15 người, bọn phát xít đã nhét đến 70 tù nhân. Người tù bị chết ngạt, một số đứng chết. Để nhanh chóng làm mất sức mạnh thể chất và tinh thần, nhiều tù nhân đã bị lột trần truồng và giam trên sàn xi măng ngập nước.

Nhà tù không được sưởi ấm vào mùa đông. Trong số các tù nhân có phụ nữ đang mang thai, trẻ sơ sinh và người già. Tù nhân được phát 100 gram bánh mì trộn với mùn cưa và nửa lít nước đun sôi mỗi ngày một lần. Các tù nhân không được phép sử dụng nhà tắm và tự tắm rửa. Bệnh thương hàn lan tràn trong các nhà tù. Bệnh nhân không được điều trị, mà bị thủ tiêu. Vì vậy, các tù nhân đã dùng đủ mọi biện pháp để giấu bệnh. Thần chết quơ lưỡi hái đến mọi người; cứ 10 người thì có một người chết mỗi ngày.[54]

Mùa xuân năm 1942, mật vụ Đức đã giáng một đòn mạnh vào lực lượng ngầm tại Minsk: 405 người hoạt động bí mật và du kích quân đã bị xử tử, trong đó gồm 28 lãnh đạo đứng đầu là bí thư thành ủy. Tuy nhiên, các vụ hành quyết càng tiếp tục gia tăng về quy mô. Quân chiếm đóng đã kỷ niệm ngày lễ Cách mạng Tháng Mười bằng những cuộc hành quyết hàng loạt. Thi thể những người bị treo cổ đung đưa tại quảng trường trung tâm Minsk, và tại nhà tù Minsk tổ chức một vụ xử bắn hàng loạt. “100 người được đưa ra ngoài. Những người có quần áo tốt bị lột trần truồng rồi tống vào xe. Quân Đức buộc chính các tù nhân đang chờ bị xử bắn chôn các xác chết”.[55]

Bất cứ ai cũng đều có thể rơi vào tay Gestapo, chỉ cần sự vu khống hoặc nghi ngờ nhỏ nhất. Mọi hành động của mật vụ tại các thành phố dường như là hình mẫu của việc thực thi pháp luật và trật tự so với hành động của các đội tiễu phạt tại nông thôn.

Một trong những chiến dịch “phản du kích” đầu tiên được mang mã hiệu chiến dịch “Cơn sốt đầm lầy”, được tiến hành vào tháng 02 và 3/1942. Theo dữ liệu của Đức, trong thời gian này 398 du kích quân và khoảng 9-500 đối tượng “tình nghi” và thành phần “bất hảo” đã bị thủ tiêu.[56] Trên thực tế, số du kích quân tử vong đã bị cường điệu hóa một cách có hệ thống, và số thường dân bị giết hại đã được xác định “bằng mắt”; tuy nhiên, ngay cả số liệu thống kê của Đức cũng thể hiện rõ ràng bản chất của “cuộc chiến chống du kích”. Cứ mỗi du kích bị thủ tiêu đều kèm theo 24 thường dân! – thế thì chiến dịch này được tiến hành để chống lại ai?

Theo tính toán của sử gia người Đức Erich Hesse, từ đầu năm 1942 đến cuối mùa xuân 1944, quân chiếm đóng đã thực hiện cả thảy 49 chiến dịch tiễu phạt lớn với quy mô ngày càng gia tăng[57]. Hesse tỏ ra đồng cảm với “cuộc chiến chống du kích” và cố không nhắc tới các phương pháp thực hiện. Tuy nhiên, thậm chí ông ta cũng buộc phải thừa nhận rằng những báo cáo về các chiến dịch tiễu phạt “đã biến thành con số tính toán vô liêm sỉ của sự khủng khiếp và tàn bạo công khai, trong đó một nỗi đau cá nhân giữa hàng ngàn nỗi đau mất hết mọi ý nghĩa về mặt trí tuệ”.[58]

Quân chiếm đóng đã tiến hành không chỉ các chiến dịch quy mô tương tự “Cơn sốt đầm lầy”; không một ai được đảm bảo thoát khỏi các chiến dịch tiễu phạt thường xuyên thực hiện tại các vùng nông thôn. Hai ba chục cảnh sát Đức, 50 nhân viên “lực lượng cảnh sát phụ trợ” địa phương là quá đủ đối bất cứ ngôi làng nào.

Ở Mặt trận phía Tây, đối mặt với phong trào kháng chiến, chính quyền Đức đã áp dụng đến một hệ thống con tin. Con tin được chọn ra từ số các tù nhân hoặc người Do Thải, sau đó chúng tuyên bố với dân chúng trong những trường hợp nào các con tin sẽ bị bắn.[59] Tại vùng đất Liên Xô, theo lời khai của Erich von dem Bach-Zelewski, hệ thống tương tự không được áp dụng ở đây.[60] Ở đây mỗi người đều là một con tin.

Nữ giao liên của một đội du kích đã vào làng đến chỗ vợ của một giáo viên địa phương đang chiến đấu trong rừng. Và vô tình lọt vào cuộc bố ráp. Cuộc bố ráp có tính chất phòng ngừa. “Hai ô tô chở đội tiễu phạt vào làng”, sau đó người phụ nữ thuật lại. “Mọi người dân bị đuổi ra đường, kê cả tôi. xếp thành một hàng, quân Đức đêm cứ 10 người thì giết một người. Hàng chục người đã bị giết, không những người lớn mà cả trẻ em… Tôi là người ở vị trí thứ sáu”.[61]

Tháng 9/1942, tại một ngôi làng thuộc tỉnh Leningrad, chủ tịch nông trang “Lao động mới” E. Alexeyev và vợ của ông, người đang trốn tránh quân chiếm đóng đã bị bắt. Vụ hành quyết họ đã biến thành một bài học trực quan cho dân làng: đầu tiên, cảnh sát Đức chặt hai tay, kế đến là hai chân, sau đó móc mắt họ, rồi cuối cùng mới bắn chết.[62]

Cũng vào những ngày này, một đội tiễu phạt đã vào khu định cư Pogorelyi, quận Mikhailovsky, gồm vài chục cảnh sát Đức và chừng ấy cành sát địa phương. Đội tiễu phạt bao vây khu định cư và dồn phụ nữ trẻ em vào một ngôi nhà, còn đàn ông và thanh thiếu niên vào một tầng hầm chắc chắn hơn. Sau khi tiến hành lựa chọn, đội tiễu phạt đã đưa phụ nữ và trẻ em ra rìa làng và bắn bằng súng máy. Nữ nông dân Kapustina chỉ bị thương và bất tỉnh, nằm giữa những xác chết cho đến tối, rồi bò vào rừng. Ngoài bìa làng còn xác bốn đứa con của cô đã bị giết. Ngôi làng phảng phất mùi thịt cháy: quân Đức đã đốt ngôi nhà, dưới tầng hầm nhốt đàn ông và thanh thiếu niên, ở đó, với những người cùng làng khác, chồng của Kapustina là Afanasyi và hai con trai, Dmitry và Stepan, đã bị thiêu sống.

Trong khu định cư không còn một người sống sót khi đội trừng phạt tiếp tục đi đến các làng Veretino, Zvezda, Razvetye để đốt nhà và bắn dân làng.[63]

Tháng 01/1943, tại các thôn Slobodka, Krivitsa và Punichi, quận Lepelsky của Belarus, đội tiễu phạt đã ném những em bé sơ sinh ra giá rét khắc nghiệt, những đứa trẻ lớn hơn và mẹ của chúng bị đẩy xuống hố băng.[64]

Quân chiếm đóng thậm chí còn không tha cho đồng bọn của chúng: khi tiến hành giết chóc tại các ngôi làng, bọn cảnh sát địa phương cũng bị thủ tiêu cùng với những dân làng còn sót lại. “Cảnh sát đã gom và đưa gia đình của họ đến trường học”, một người dân còn sống sót ở làng Borki của Belarus như một phép mầu đã nhớ lại. “Khi đó quân Đức nhốt họ vào nhà kho của trường rồi phóng hỏa. Họ bị thiêu sống. Chúng tôi bị đốt khi đã chết, đã bị giết, còn họ bị thiêu sống…”.[65]

Sau những chiến dịch như vậy, trên đường xuất hiện nhiều người điên: bộ não con người khó lòng chịu nổi mức độ kinh hoàng của diễn biến. Một nhóm nhỏ du kích đã bắt gặp một người bất hạnh trong số đó.

Chúng tôi bắt gặp một phụ nữ trên đường, cô ấy bị bất tỉnh. Cô không thể đi, chỉ bò lết và nghĩ rằng mình đã chết. Còn cảm giác: bị chảy máu, nhưng cả quyết rằng cô đang ở cõi nào chứ không phải thế gian này. Khi chúng tôi lay cô ấy, cô tỉnh lại một chút, và chúng tôi nghe thấy… Cô ấy kể với chúng tôi chúng đưa cô ấy cùng năm đứa con đi bắn… Khi đưa đến nhà kho, chúng đã giết bọn trẻ. Bắn súng và lấy làm vui… như thể đi săn… Chỉ còn một đứa cuối, còn tuổi bú mẹ. Tên phát xít ra hiệu: quăng nó lên, ta sẽ bắn. Người mẹ đã ném đứa con để tự tay mình giết con mình, để bọn Đức không kịp bắn… Cô ấy nói mình không muốn sống… Sau mọi chuyện cô không thể sống ở thế gian này, mà ở cõi khác…[66]

Đội tiễu phạt cũng khó lòng chịu đựng nổi sự căng thẳng của việc giết chóc liên tục. Vodka trở thành phương thuốc duy nhất để khỏi phát diễn. “Mọi người đều nốc rượu cho đến khi cảm thấy phấn chấn”, Petras Zelenka, người Latvia từng phục vụ tại một đơn vị cảnh sát nhớ lại. “Họ đã cho chúng tôi rượu Schnapps chừng nào linh hồn còn tiếp nhận được. Và khi rượu bắt đầu hành động, mọi người trở nên gan dạ và bắt đầu chiến dịch”.[67]

Các biện pháp tiễu phạt của phát xít Đức đã tạo ra một hiện tượng rất đặc trưng trong cuộc sống: lãnh thổ đóng quân của lực lượng du kích được đặt ở những khu vực rất khó tiếp cận đối với quân chiếm đóng.

Ở đó, trên những nóc nhà Soviet nông thôn, cờ Liên Xô màu đỏ tung bay. Ở đó những đơn vị lớn đóng quân, số lượng đến vài ngàn người, từ đó họ tấn công vào hậu phương quân Đức. Nhưng lãnh thổ của du kích trông có vẻ thuận lợi khi mới thoạt nhìn. Nhu cầu bảo vệ một khu vực khá rộng lớn làm giảm thiểu tính cơ động của du kích, buộc họ phải chấp nhận trận giao tranh trực tiếp bất lợi nhất. Tất nhiên, cùng với lực lượng tự vệ nông dân có vũ trang, du kích có khả năng đầy lui cuộc tấn công, chỉ khi được tiến hành bằng những lực lượng không đáng kể. Hậu phương quân Đức giống như một chiếc áo giật gấu vá vai, lực lượng an ninh và các tiểu đoàn “cảnh sát phụ trợ” không đủ ở khắp mọi nơi, và để xóa bỏ lãnh thổ của du kích, cần phải đề nghị bộ chỉ huy quân sự: tạm thời chuyển đến một sư đoàn từ mặt trận. Yêu cầu về người, pháo binh và xe tăng, nếu có thể, vì lực lượng du kích đã chuẩn bị trước cho việc phòng thủ, và phải thật sự chiến đấu với họ. Nhưng sớm muộn gì, tư lệnh của các tập đoàn quân cũng đồng ý những chiến dịch quy mô lớn – khi đó lãnh thổ của du kích sẽ bị thủ tiêu mà không gặp phải vấn đề gì đặc biệt.

Đối với lực lượng du kích, căn cứ nhỏ thì có lợi hơn, dựa vào đó có thể tiến hành một cuộc chiến cơ động: hôm nay đánh kẻ thù ở một nơi, còn ngày mai ở một nơi khác, như một bầy ong vò vẽ bay từ nơi này sang nơi khác: thử bắt chúng xem! Tại mọi thời điểm và mọi quốc gia, tính di động là chìa khóa thắng lợi của quân du kích; tuy nhiên, du kích Liên Xô đã buộc phải hy sinh để cứu người.

Tại lãnh thổ của du kích, hàng vạn người đã tìm được nơi ẩn náu. Những công nhân phía Đông trốn khỏi bị bắt sang Đức, những nông dân sống sót sau các chiến dịch tiễu phạt của quân chiếm đóng, những người Do Thái trốn thoát khỏi các trại tử thần như một phép mầu – tất cả đều trông mong sự cứu rỗi từ du kích quân, và ném mọi người vào sự may rủi của số phận là điều không thể.

Du kích Liên Xô là lực lượng có tổ chức duy nhất tại lãnh thổ bị chiếm đóng đã cứu người Do Thái khỏi nạn diệt chủng. Ngày nay, thậm chí chúng ta thật khó hình dung được cảm xúc của các tù nhân ghetto, rốt cuộc đã đến được chỗ của du kích quân. “Trước mặt chúng tôi xuất hiện một nhóm du kích quân cưỡi ngựa mặc đồ dân sự, chỉ trên mũ của họ có dài ruy băng đỏ gắn những ngôi sao”, Aron Plotkin nhớ lại. “Chúng tôi chạy ra đường. Những con ngựa dừng lại, chúng tôi lao đến hôn chân những du kích quân, ôm lấy ngựa, vừa khóc vừa cười. Chúng tôi đã tìm được quân du kích, chúng tôi đã được cứu!”[68]

Trong nhật ký của Mikhail Glider, ta tìm thấy một cảnh không kém phần đẹp mắt. Khi đơn vị du kích của tướng Oleksiy Fedorov đưa thường dân đến hậu phương của Liên Xô dưới sự bảo vệ của du kích, trong số những người sơ tán có cả người Do Thái.

Chúng tôi tiến lại gần những chiếc xe ngựa kéo trên đó những người Do Thái được đơn vị giải cứu đang ngồi. Một ông lão cao lớn đứng thẳng trên xe.

“Nhà tiên tri đã phán”, ông nói bằng một giọng lớn, run rẩy như tụng kinh, “một người cao lớn với đôi mắt sáng ngời và nụ cười nhân hậu sẽ đến. Đó sẽ là sứ giả của ta. Và người ấy sẽ truyền tin tốt lành của ta và mang đến cho mọi người sự cứu rỗi…”.

Đột nhiên ông lão ngắt ngang giai điệu cầu kinh, mở mắt ra, chỉ vào Fedorov và la lớn:

“Đây rồi! Người ấy là đây!”

Những tiếng khóc cất lên. Các ông lão bà lão lớn tiếng cầu xin Thượng đế ban phước lành cho Fedorov, người mà quả tình chẳng hiểu một từ nào trong đó.[69]

Tuy nhiên, những nông dân Nga, Ukraina và Belarus cũng vui mừng không kém khi nhìn thấy du kích quân. Thậm chí ở nơi không có căn cứ của du kích, nơi dường như chỉ có chính quyền của quân chiếm đóng, không còn nghi ngờ gì về cảm tình của dân chúng dành cho phe nào. “Người Nga không ưa người Đức và người Hungary, ít nhất có sự giữ kẽ, nhưng rất thân thiện với du kích”, chỉ huy tiểu đoàn an ninh 703 Đức viết trong một báo cáo ghi ngày 07/7/1942. “Phần lớn bọn họ đều gia nhập du kích; kể từ thời điểm giao tranh năm 1941, ngay cả phụ nữ và trẻ em cũng ủng hộ du kích, thường xuyên cung cấp thực phẩm cho họ một cách tự nguyện, như thường lệ; cung cấp cho họ thông tin, chạy trốn khi quân Đức và quân Hungary đến, sau đó ẩn nấp một thời gian dài trong rừng, liên tục được sử dụng làm trinh sát, tạo thuận lợi cho việc chiến đấu. Vào mùa đông, tại những nơi đặt căn cứ của du kích, các lễ hội cho dân chúng – khiêu vũ, âm nhạc và giải trí” – đã được tổ chức.[70]

Không có sự cường điệu nào trong lời lẽ của chỉ huy tiểu đoàn an ninh. Sĩ quan Đức hoàn toàn hình dung được tâm trạng của dân chúng. Mặc cho trong chỉ dẫn do Berlin ban hành nói rằng chính quyền vô thần của Liên Xô xa lạ đối với dân Nga có tín ngưỡng,[71] những ai đã từng trong quân đội ở các vùng lãnh thổ phía Đông đều biết tình hình tốt hơn nhiều so với thời người dân di cư chạy trốn khỏi Nga từ rất lâu rồi. Tình cảm tôn giáo không phải là một trở ngại đối với chủ nghĩa yêu nước Soviet; du kích ăn mừng lễ Phục sinh, và các linh mục nông thôn truyền cảm hứng cho người dân hoàn thành nghĩa vụ công dân không kém gì các chính ủy.

Đầu năm 1943, một đội quân vào làng Studenok gần Putivl của Ukraina: 50 “cảnh sát phụ trợ” dưới sự chỉ huy của một đại úy SS. Đội quân ngụy trang thành du kích; chính quyền chiếm đóng muốn biết dân chúng ủng hộ đu kích đến mức nào. Một báo cáo về cuộc thử nghiệm này đã được đưa ra trong cuốn sách của sử gia Đức Erich Hesse.

Vừa mới vào làng, một cảnh tượng khác thường xuất hiện: thông thường những con đường trống trải khi quân Đức vào giờ chật kín người. Phụ nữ và các cô gái trẻ đứng trước cổng và hô vang chào mừng đội “người của ta!” Người dân lập tức mời họ vodka, sữa và bánh mì; đề nghị mang theo một lượng lớn thực phẩm và dắt ra những con ngựa tốt nhất.

Một phụ nữ lớn tiếng tiếc rẻ rằng chồng mình đã trốn khỏi làng, tưởng nhầm là đội quân Hungary, và anh ta rất muốn gia nhập du kích. Cô ấy đã tặng cho đội một con ngựa, một cô gái 23 tuổi nhập vào “nhóm du kích”… Sau đó, cô tuyên bố rằng mình rất tự hào về việc thật sự cảm thấy là một du kích quân trong vòng hai tiếng đồng hồ. Những phụ nữ khác than phiền rằng du kích chỉ lấy những cô gái trẻ và xinh đẹp, còn họ cũng muốn gia nhập du kích, chí ít là làm nhiệm vụ chị nuôi.

Một ông 58 tuổi, người đứng đầu tổ chức đàng cộng sản địa phương, rạng rỡ vì vui mừng… Một người dân khác bày tỏ mong muốn dùng rìu chém quân Đức, vì chúng làm khổ anh ta bằng cách thu thuế. Từ khắp mọi hướng đều vang lên những lời chúc mong Hồng quân sớm quay lại.[72]

Tâm trạng của dân chúng hoàn toàn rõ ràng; sau khi đội du kích ngụy trang đi khỏi, đội quân tiễu phạt đã đến làng.

“Không còn ngờ gì, ở Mặt trận phía Đông, chúng tôi đã gặp phải sự chống đối vô cùng ngoan cố”, Alfred Rosenberg, bộ trưởng vùng chiếm đóng phía Đông, đã viết. “Điều này khó có thể được xem xét khác hơn là tính bướng bỉnh của người Slav cổ, liên quan đến một thế giới quan cuồng tín. Thế giới quan ấy… thâm nhập vào dân Nga khá đều từ trên xuống dưới, mà đảng Bolshevik là kim chỉ nam dẫn đường. Những người này thật sự tin rằng họ có thể mang lại sự cứu rỗi cho thế giới, rằng họ là những người tiên tiến nhất và có hệ thống tiến bộ nhất châu Âu… Có thể nghĩ về điều này và đánh giá tùy ý, trong mọi trường hợp, chúng tôi phản đối quyền lực”.[73]

…Cách nơi đóng quân của tiểu đoàn an ninh 703 vài chục km, đơn vị du kích của tướng Fedorov và Begma đã vào một ngôi làng lớn nằm trên lãnh thổ do quân chiếm đóng kiểm soát. Căn cứ du kích ở rất xa; tuy nhiên người dân ở đây chào mừng du kích với bánh mì và muối. Trong nhật ký của Mikhail Glider mà ta đã biết có một bản phác thảo về cuộc gặp này.

Đón chúng tôi là những người già, phụ nữ và trẻ em. Những bô lão mang khay bánh mì và muối phủ chiếc khăn ăn trắng.

Fedorov, Begma, Druzhinin và chính ủy của Begma là Kizya xuống ngựa, đến chỗ những bô lão, nhấc chiếc khăn ăn ra và cám ơn vì đã đón tiếp. Sau đó đã diễn ra một cuộc mít tinh.

Linh mục Mikhail Gribinka nói lời khai mạc. Tôi ghi lại vắn tắt vài lời của ông.

“Thật phấn khích và vui lòng khi thấy những công việc chiến đấu của những người báo thù cho nhân dân. Không phải quân Đức truy lùng du kích, mà là du kích truy lùng quân Đức. Với chúng tôi, các anh là chính quyền Soviet. Với chúng tôi, các anh là đội quân chính thống. Với chúng tôi, các anh là nước Nga. Các anh là những người bảo vệ, là những đứa con ưu tú nhất của chúng tôi. Vinh quang thay các anh, những anh hùng của Tổ quốc, vinh quang thay chỉ huy của các anh, vinh quang thay vị cha già dân tộc – Stalin. Hãy nhận lấy sự cúi mình trần thế của chúng tôi vì [các anh] đã không để Tổ quốc phải chịu tủi nhục, vì đã sớm giải thoát chúng tôi khỏi cảnh nô lệ…”. Khi chúng tôi định đi tiếp thì đường đã bị chặn lại: bằng những chiếc bàn. Các bà nội trợ đã bày bàn, phủ những tấm trải màu trắng, và mọi người đều cố bày bàn của mình sao cho đẹp và phong phú nhất.

Các bô lão mời tất cả chúng tôi dùng bữa.

…Chẳng mấy chốc mọi thứ đều xáo trộn. Những nam du kích ngồi cùng các cô gái địa phương, những thanh niên địa phương vây quanh các nữ du kích. Chỉ các bô lão và linh mục trịnh trọng nói chuyện với các chỉ huy.

Sau bữa ăn, buổi khiêu vũ được bắt đầu. Các nam du kích chỉ nhảy với những cô gái địa phương, còn các nữ du kích với những chàng trai địa phương. Tôi đã thấy Fedorov phải khó khăn đến mức nào mới kiềm chế được để khỏi nhảy điệu polka cực kỳ ưa thích của anh. Nếu không có linh mục, có lẽ vị tướng của chúng tôi sẽ không kìm nén như thế. Song anh tiếp tục cuộc trò chuyện mà một mắt vẫn liếc nhìn các cặp nhảy.[74]

Những dịp lễ hội như thế tất nhiên là rất hiếm. Các du kích quân phải tiến hành một chặng đường dài, tránh xa các đơn vị quân Đức được tập hợp lại để khỏi bị thủ tiêu, đột kích các đồn bốt quân thù và thoát khỏi vòng vây. Phía trước là những tháng ngày vô cùng căng thẳng, giao tranh liên tục và cái đói – nhưng lẽ nào có thể bỏ lỡ cơ hội ăn mừng ngày lễ như thòi trước chiến tranh? Những người nông dân đã bày bàn ăn phủ khăn trắng với những món ăn chẳng cần suy tính, đều biết rằng chẳng bao lâu nữa quân Đức sẽ đến làng và tịch thu bằng sạch vụ mùa. Ai dám chống cự sẽ bị thiều sống cùng với những căn nhà. Đến mùa đông mọi người sẽ đói. Nhưng làm sao có thể không thết đãi những người bào vệ họ được chứ?

Thậm chí vào những thời điểm khó khăn nhất người dân đều hỗ trợ du kích: chia sẻ thức ăn, mạo hiểm tính mạng để che giấu thương bệnh binh. Sau chiến tranh, những người từng chiến đấu trong lực lượng du kích luôn nhớ lại điều này với lòng biết ơn.

Nhân dân đã giúp chúng tôi. Bằng không, phong trào du kích không thể nào tồn tại. Nhân dân đã chiến đấu cùng chúng tôi. Đôi khi rơi nước mắt, nhưng rốt cuộc vẫn cho:

“Các con ơi, chúng ta sẽ đồng cam cộng khổ. Chờ ngày chiến thắng”. Ổ bánh mì vụn cuối cùng vẫn trút ra cho. Họ đi gom những bao thực phẩm để chuyển vào rừng. Một người nói: “Tôi góp chừng này”, người khác nói “Tôi bấy nhiêu”. “Còn anh, Ivan?” “Còn cô, Maria?” “Ai sao tôi vậy, nhưng tôi còn con nhỏ”.

Chúng tôi đã ra sao nếu không có dân? Cả một đội quân trong rừng, không có dân chúng tôi chết chắc, họ gieo trồng, cày bừa, chăm sóc bọn trẻ và cả chúng tôi, lo ăn lo mặc suốt cả cuộc chiến.[75]

Tất nhiên, lực lượng du kích Liên Xô đã nhận được sự hỗ trợ đặc biệt của dân chúng tại Nga, Belarus và các tỉnh miền Đông Ukraina. “Người dân địa phương căm hận quân thù và giúp đỡ chúng tôi mọi chuyện”, các du kích hoạt động tại những khu vực đó nhớ lại, “và chúng tôi không có cảm giác mình đang ở hậu phương quân thù, mà như đang ở nhà”.[76]

Tuy nhiên, tại “các vùng lãnh thổ miền Tây”, được hợp nhất vào Liên bang không bao lâu trước chiến tranh, nhiều cư dân vẫn nhiệt liệt chào đón du kích quân. Một trường hợp thú vị đã xảy ra tại Litva: các phóng viên của tờ báo hợp tác với địch Karie, đã lợi dụng thực tế là chế độ chiếm đóng tại các nước cộng hòa Baltic cho phép một số quyền tự do, đã quyết định tìm hiểu thái độ của người dân đối với du kích vào tháng 3/1943. Một điều phiền toái đã xảy ra khi các phóng viên đã thành thật viết: người dân im lặng một cách bướng bỉnh về du kích, “còn thái độ thù địch của họ có thể nhanh chóng hiểu rằng đối với họ đại diện báo giới là những vị khách không mời mà đến”.[77]

“Hiện nay, dân chúng có thiện cảm với du kích”, trong một báo cáo của những người hoạt động bí mật tại Latvia gửi đi Moskva có ghi. “Dân chúng kể với du kích mọi chuyện họ biết được về quân địch, chi điểm ai là kẻ phản bội và sẵn sàng cung cấp lương thực… Khi “những kẻ tình nguyện” tấn công chúng tôi, không thể kiếm được thực phẩm, thông qua các phái viên chúng tôi đã liên lạc với dân chúng và đề nghị họ chôn lương thực cho du kích. Bấy giờ chúng tôi mới rõ, tại Latgale nông dân có những kho lương thực nhỏ. Thực tế là tình hình tại những khu vực khác cũng không tệ đôi với chúng tôi, cho thấy rằng ở đó người dân biết về chúng tôi, và vui mừng vì những hoạt động của chúng tôi, từ đó người dân đang tìm cách để liên lạc với chúng tôi”.[78]

Người dân là chỗ dựa tốt nhất của du kích, khiến họ trở nên bất khả chiến bại. Chính quyền chiếm đóng hiểu rất rõ điều này. “Chính tại Nga, chủ nghĩa cộng sản đã thể hiện bộ mặt thật của nó”, Hitler lý luận. “Cần phải tiến hành một chiến dịch thanh trừng, đến từng m² một, và điều này sẽ buộc chúng ta phải áp dụng thủ tục tư pháp đơn giản hóa. Điều quan trọng nhất trong cuộc chiến chống du kích – và điều này cần được thông báo đến từng người – là mọi phương tiện đều tốt cả”.[79]

Ngày 11/11/1942, Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang Đức đã ban hành một hướng dẫn về việc đấu tranh chống du kích:

Trong việc đối phó với thổ phì và đồng bọn tự nguyện của chúng, cần thể hiện sự cứng rắn triệt để. Sự ủy mị trong vấn để quan trọng này là vô trách nhiệm. Chính sự cứng rắn của các biện pháp và sự sợ hãi trước những hình phạt áp dụng sẽ ngăn cản dân chúng giúp đỡ và phối hợp hành động với bọn thổ phỉ…

Những tên thổ phỉ bị bắt, ngoại trừ những kẻ, theo mục 11 như một trường hợp ngoại lệ, đi theo các đội chống băng đảng du kích của chúng ta, sẽ bị treo cổ hoặc xử bắn. Đối với những kẻ chiêu hồi, tùy từng hoàn cảnh cụ thể, phải được đối xử như tù binh chiến tranh ngoài mặt trận.

Theo quy định, các tù nhân sau một cuộc thẩm vấn ngắn sẽ bị bắn tại chỗ. Chỉ trong những trường hợp ngoại lệ, một số tù nhân và những kẻ chiêu hồi riêng biệt có quan tâm nhất định mới được chuyển đến để thẩm vấn bổ sung và quyết định tiếp theo về số phận của chúng thuộc về lực lượng hiến binh hoặc an ninh chiến trường bí mật. Mỗi chỉ huy đơn vị có trách nhiệm sao cho bọn thổ phỉ và thường dân bị bắt (bao gồm cả phụ nữ) trong thời gian diễn ra các hoạt động chiến sự đều bị bắn, hoặc tốt nhất là bị treo cổ. Chỉ trong những trường hợp ngoại lệ có đẩy đủ cơ sở, mới có quyền tránh việc thực hiện quy tắc trên, sau khi báo cáo lý do về quyết định của mình.[80]

Chưa đầy một tháng sau, ngày 16/12/1942, thống chế Wilhelm Keitel, người đứng đầu Bộ tư lệnh tối cao quân đội Đức, thực hiện chỉ thị của Quốc trưởng, đã ban hành một mệnh lệnh về đấu tranh chống du kích. Bằng một mục đặc biệt, lệnh ấy đã miễn trừ cho lực lượng tiễu phạt mọi trách nhiệm đối với bất cứ tội ác nào.

Nếu cuộc chiến chống thổ phỉ ở Mặt trận phía Đông cũng như ở Balkan không được tiến hành bằng các biện pháp cứng rắn nhất, thì trong tương lai gần, các lực lượng sẵn có sẽ không đủ sức đối phó với loại bệnh dịch này.

Vì vậy, quân đội có quyền và có nghĩa vụ sử dụng bất cứ phương tiện nào không hạn chế trong cuộc chiến này, kể cả đối với phụ nữ và trẻ em, nếu như điều này dẫn đến thắng lợi.

Bất cứ biểu hiện ủy mị nào cũng là tội ác đối với nhân dân Đức và người lính ở mặt trận, những người phải chịu hậu quả của những vụ tấn công do bọn thổ phỉ gây ra và không hiểu làm thế nào có thể tha thứ cho thổ phỉ và đồng bọn của chúng…

Không một người Đức nào tham gia hoạt động chiến sự chống thổ phỉ có thể bị quy trách nhiệm kỷ luật hoặc tư pháp về hành vi của mình trong cuộc chiến chống thổ phỉ và đồng bọn của chúng.[81]

Lệnh mới của Wilhelm Keitel nổi bật thậm chí so với bối cảnh chung của “các chỉ thị hình sự” xác định các quy tắc chiến tranh ở Mặt trận phía Đông, sắc lệnh về “thủ tục tố tụng quân sự”, được ban hành vào tháng 6/1941, ít nhất còn quy định hình phạt đối với những tội ác “chứng tỏ sự man rợ của quân đội”; giờ đây thậm chí sự hạn chế mờ ảo như thế cũng được gỡ bỏ. Tướng Max von Schenckendorff, chỉ huy lực lượng an ninh thuộc Tập đoàn quân “Trung tâm”, đã chưa hiểu ngay ý nghĩa của mệnh lệnh từ Bộ tư lệnh tối cao. Vị tướng cho rằng, suy cho cùng không phải giết hết tất cả, và vì thế sau một thời gian, ông ta đã ban hành một chỉ thị trong đó cố tách biệt những khái niệm “chiến dịch thanh trừng và bình định” và “các biện pháp tiễu phạt”. Max von Schenckendorff đã viết:

Thời gian gần đây đã xảy ra những trường hợp, khi tiến hành các chiến dịch thanh trừng và bình định, thứ được gọi là các biện pháp tiễu phạt lại được áp dụng, điều này mâu thuẫn với quan điểm của tôi về tầm quan trọng của việc thu phục dân chúng về phía ta và đảm bảo sự yên ổn và trật tự trong việc hợp tác với họ. Các hành động khủng bố, chẳng hạn như đốt nhà và bắn giết dân chúng, nhất là phụ nữ và trẻ em, gây ra tác dụng ngược. Các biện pháp tiễu phạt đã ảnh hưởng đến quá lớn đến dân chúng, những người không theo và cũng không ủng hộ du kích…

Vì vậy, được sự chấp thuận của Thống chế SS và cảnh sát, tôi ban hành chỉ thị sau cho cảnh sát an ninh và trật tự:

  1. Các biện pháp tiễu phạt hàng loạt, bao gốm bắn giết dân chúng và đốt các khu định cư, chủ yếu phải được thực hiện theo lệnh của sĩ quan ở vị trí không thấp hơn chỉ huy tiểu đoàn, và chỉ khi có sự hỗ trợ rõ ràng cho du kích của dân chúng hoặc những cá nhân riêng lẻ…
  2. Nghiêm cấm bắn phụ nữ và trẻ em, ngoại trừ phụ nữ có vũ khí trong tay. Trong trường hợp các biện pháp tiễu phạt do cảnh sát trật tự và an ninh đề xuất đối với phụ nữ và trẻ em, tôi ra lệnh phải báo cáo tôi thông qua thống chế SS và cành sát để tôi quyết định.
  3. Việc vi phạm lệnh này tại các mục 1 và 2 sẽ bị truy tố.[82]

Tuy nhiên, những mệnh lệnh như vậy rõ ràng quá mâu thuẫn với khái niệm chung về chiến tranh với Liên Xô. Nhận được một cây gậy cho sự tùy tiện, 10 ngày sau đó Max von Schenckendorff đã buộc phải thêm một mục mới vào lệnh, đã phá vỡ toàn bộ những mục trước đó: “Như vậy, theo chỉ thị bởi Bộ tư lệnh tối cao Wehrmacht, các lực lượng hoặc các đội đặc nhiệm có quyền thực hiện các biện pháp thi hành án đôi với dân chúng trong khuôn khổ nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, không bị ảnh hưởng bởi lệnh này.”[83]

Tên của tướng Max von Schenckendorff còn liên quan đến một nỗ lực khác nhằm cải thiện cuộc chiến với du kích, mà không phải dùng đến biện pháp thủ tiêu hàng loạt thường dân.

Các đại diện không khoan nhượng nhất của Wehrmacht và SS cho rằng việc thi hành triệt để chính sách hủy diệt đã gặt hái thành công hồi đầu năm 1941, sớm muộn gì cũng dẫn đến việc không ai dám ủng hộ du kích: phần lớn bọn hạ đẳng sẽ bị thủ tiêu. Vì những biện pháp như vậy hoàn toàn phù hợp với chiến lược tổng thể cai trị của các vùng đất phía Đông, họ đã nhận được sự hỗ trợ toàn diện từ Berlin và tổng hành dinh của Quốc trưởng. Để thực hiện, các đơn vị tiễu phạt được chọn lọc nhất đã tham gia – bọn tội phạm hình sự của Dirlewanger và lực lượng cảnh sát Baltic.

Chính quyền dân sự và một số đại diện của Wehrmacht đã nghiêng về chính sách ôn hòa hơn, khi cho rằng có thể tránh những chiến dịch thủ tiêu hàng loạt thậm chí ở một số nơi để chuyển chức năng chiến đấu chống du kích cho các đơn vị người địa phương và tù binh được tuyển mộ từ các trại tử thần. Những người ủng hộ phương pháp này đã lưu ý rằng bằng cách này, quân đội Đức sẽ được rảnh tay để tập trung cho mặt trận. Sau khi chiến thắng Liên Xô, khi đã tập hợp được lực lượng, có thể quay lại với các chiến dịch tiễu phạt hàng loạt…

Tướng Max von Schenckendorff chắc chắn là người ủng hộ cách tiếp cận thứ hai, cũng như đại tướng Rudolf Schmidt, chỉ huy của quân đoàn 2 thiết giáp. Trong khu vực do Max von Schenckendorff chỉ huy, phong trào du kích đặc biệt mạnh mẽ – những khu rừng Bryansk nổi tiếng. Thậm chí đôi khi, các đơn vị tập kích của Ukraina và Belarus còn rút lui về căn cứ du kích, ẩn náu trong những khu rừng rậm nguyên sinh; nói rằng sự lân cận khu vực như thế vô cùng gây phiền hà cho chỉ huy quân đoàn 2 thiết giáp – chẳng khác nào không nói gì.

Bấy giờ Rudolf Schmidt và Max von Schenckendorff đã quyết định làm một thử nghiệm đầy rủi ro. Tại khu định cư nhỏ Lokot, thuộc tỉnh Oryol, cũng như trong tất cả các khu định cư bị chiếm đóng khác, tồn tại chính quyền địa phương được tuyển dụng từ những kẻ thù ghét chế độ Soviet, và một tiểu đoàn “cảnh sát nhân dân” có nhiệm vụ duy trì trật tự và chống lại du kích. Các thành phố và khu định cư còn lại của Lokot chi được phân biệt bằng hoạt động gia tăng của thị trưởng Konstantin Voskoboinik và phó của ông ta Bronislav Kaminsky, người đã khôn khéo tuyên bố thành lập Đảng Xã hội Nhân dân Nga “Viking”, được thành lập theo mô hình Đảng Quốc xã của Hitler. Được biết về “người láng giềng” như vậy, ngày 08/01/1942 du kích Bryansk vào đã tổ chức một cuộc tấn công vào doanh trại của “cảnh sát nhân dân” Lokot và tư dinh thị trưởng. Chiến dịch đã thành công: những kẻ hợp tác với địch bị đánh bật. Thật vậy, ngay cả các bác sĩ Đức được gọi từ Oryol cũng không thể cứu mạng Voskoboinik bị thương, và Kaminsky trở thành thị trưởng mới của khu.

Suốt mùa xuân, Kaminsky đã chiến đấu với lực lượng du kích xung quanh; những thành công không đặc biệt đáng kể, nhưng đáng chú ý nhất khi cho rằng cuộc đấu tranh chống du kích thuần túy do các lực lượng “cảnh sát nhân dân” tiến hành. Mùa hè năm 1942, tư lệnh quân đoàn 2 thiết giáp đã chuyển tám quận cho Kaminsky kiểm soát.

Đến năm 1943, lữ đoàn Kaminsky (với sự phấn khích được gọi là “Quân đội giải phóng Nga”) có khoảng 8.000 quân, phần lớn đều được tuyển mộ, 12 xe tăng, hai xe tăng nhỏ và ba xe bọc thép. Con số này cho phép chúng hỗ trợ các đơn vị quân Đức và Hungary để tiến hành các trận chiến ác liệt với du kích.

Giờ đây Rudolf Schmidt và Max von Schenckendorff đã có những thứ để trình bày với cấp trên của họ; quả thật, các thanh tra Đức từ lữ đoàn Kaminsky về đã cảm nhận một nỗi kinh hoàng thầm lặng. “Decker đã có cơ hội kiểm tra tất cả các tiểu đoàn”, Alfred Rosenberg đã viết. “Bốn tiểu đoàn mặc quân phục cũ của Đức. Các tiểu đoàn còn lại trông giống như bọn thổ phỉ man rợ…”.[84]

Dần dần, bản chất của lữ đoàn Kaminsky bắt đầu tương xứng với ngoại hình. Một người đàng hoàng sa vào đơn vị này sớm muộn gì cũng sẽ bỏ đi theo đu kích; bắn bỏ là phương cách duy nhất để duy trì việc “làm trong sạch đội ngũ” – và được thực hiện thường xuyên. Việc trù tính của tướng Max von Schenckendorff khi dùng các đơn vị địa phương chiến đấu với du kích để không phải thủ tiêu hàng loạt thường dân đã không thành hiện thực. Quân của Kaminsky đã đốt cháy những ngôi làng ủng hộ du kích không thua kém gì quân Đức – cũng với bản chất tàn bạo cố hữu tương xứng.[85]

Đặc điểm nổi bật nhất của lữ đoàn là ở chỗ, khi quân Đức bắt đầu tuyển dụng “những công nhân miền Đông” tại vùng Lokot, các đơn vị của Kaminsky đã tham gia tích cực vào việc bắt nông dân.[86] Việc “tuyển mộ những tình nguyện viên” được thực hiện một cách đê tiện đến mức thậm chí những kẻ hợp tác với địch tại vùng Baltic còn tìm mọi cách để chống lại những biện pháp ấy nhằm cứu đồng bào của chúng.[87]

Tuy nhiên, sự ủy mị như thế thật xa lạ với đội quân tiễu phạt có chọn lọc của Kaminsky. Chúng đã thực hiện mệnh lệnh của các quan thầy Đức xuất sắc đến mức vào mùa hè 1943, quân đội Liên Xô đã bắt đầu cuộc tấn công thắng lợi ở phía tây, giải phóng ngày càng nhiều thành phố và làng mạc, bộ chỉ huy Đức coi lữ đoàn Kaminsky là một đơn vị tiễu phạt vô cùng quý giá để có thể ném nó cho sự mặc tình của số phận. Trong điều kiện khó khăn nhất, quân Đức đã tìm cách phân bổ một số đoàn tàu để chuyển lữ đoàn đến Vitebsk – để đốt cháy các ngôi làng Belarus ở hậu phương quân đoàn 3 thiết giáp.

Thành công của Kaminsky trong lĩnh vực này vang dội đến mức y được đích thân thống chế Himmler tiếp đón. Lữ đoàn Kaminsky trở thành một bộ phận của lực lượng SS, và chỉ huy của nó được phong cấp thiếu tướng lữ đoàn trưởng.

Sau đó là Warsaw nổi dậy. Ngoài các đội quân thông thường, các lữ đoàn SS Kaminsky và Dirlewanger được điều động đến để đàn áp cuộc nổi dậy. Những gì bọn côn đồ được chọn lọc ấy thực hiện tại Warsaw đã làm kinh ngạc ngay cả lực lượng SS. “Ban đầu, chính quyền Đức dung túng cho ‘những vụ cướp bóc thông thường đối với người Nga’ như là tội ác không thể tránh khỏi và cố không lưu tâm đến những vụ hãm hiếp hàng loạt phụ nữ Ba Lan, cướp bóc, tra tấn và giết người. Nhưng khi các y tá người Đức bị hãm hiếp và giết chết tại một bệnh viện, thì những trò quá lố này thậm chí khiến lực lượng SS phải khó chịu. Thiếu tướng SS Fegelein, liên lạc viên của Himmler tại tổng hành dinh Hitler, theo chất vấn của Hitler đã phải thừa nhận: “Vâng, thưa Quốc trưởng, đó quả là những tên cướp bất trị”.[88]

Theo thông tin của các nhà nghiên cứu Ba Lan, chỉ nội ngày 05/8, 15.000 cư dân Warsaw đã bị thủ tiêu.[89] Bọn SS người Nga của Kaminsky đã hành động giống như chúng từng quen làm tại Nga và Belarus.

Câu chuyện “lữ đoàn Kaminsky” rõ ràng đã chứng tỏ rằng thậm chí từ những kẻ được tuyển mộ, ít nhiều thời gian được sử dụng cho các chiến dịch “phản du kích”, được chọn lọc thành lực lượng tiễu phạt, có thể khiến bất kỳ ai cũng đều phải kinh hoàng vì hành động của chúng. Vua Midas đã biến mọi thứ ông chạm vào thành vàng; tất cả những kẻ chiến đấu bên cạnh phát xít Đức sớm muộn gì cũng sẽ biến thành bọn quái thú.

…Khác với tướng Max von Schenckendorff, đồng nghiệp của ông ta tại khu vực chiếm đóng dân sự, thiếu tướng Curt von Gottberg, chỉ huy SS và cảnh sát Belarus, không thấy đồng cảm với bọn hạ đẳng địa phương. Đích thân ông ta đã chỉ huy các chiến dịch tiễu phạt. Một chiến dịch được thực hiện từ ngày 22/6 đến ngày 03/7/1943, mang mã hiệu “Cottbus”. Dưới sự chỉ huy của Curt von Gottberg, quân SS, cảnh sát phụ trợ và các đơn vị Wehrmacht, với tổng số gần 17.000 lính, đã phá vỡ tuyến phòng thủ của du kích đến tận Berezina. Phương pháp cải tiến đã mang đến thắng lợi, được chính Curt von Gottberg thuật lại trong báo cáo: “Sự thâm nhập vào vùng đầm lầy chỉ có thể xảy ra khi lùa những người dân địa phương bị tình nghi có liên hệ với du kích đi trước quân đội qua các khu vực được gài mìn dày đặc”.[90]

Theo những tính toán khiêm tốn nhất, hơn 3.000 phụ nữ và người già đã bị nổ mìn. Tuy nhiên, sự việc chưa kết thúc ở đó. Đột nhập vào căn cứ du kích, đội tiễu phạt đã thực hiện một vụ thảm sát thực sự. Khoảng 500 du kích bị sát hại, khoảng 10.000 thường dân bị thủ tiêu. Cộng thêm 2.500 người đã bị bắt sang Đức để làm việc. Chính quyền dân sự đã kinh ngạc vì sự tàn bạo mà chiến dịch đã thực hiện, điều này được ghi rõ trong bản ghi chép báo cáo gửi tới bộ trưởng Alfred Rosenberg.

Đặc biệt được biết đến về việc thủ tiêu nhiều mạng người của tiểu đoàn Dirlewanger. Trong số các đối tượng tình nghi có liên quan đến thổ phỉ đã bị bắn có nhiều phụ nữ và trẻ em… Tác động chính trị của chiến dịch quy mô lớn này đối với thường dân do hậu quả của việc bắn chết nhiều phụ nữ và trẻ em thật đáng sợ…[91]

Thiếu tướng SS Curt von Gottberg đã không quan tâm đến những lời phàn nàn như vậy. “Nhiệm vụ của các đơn vị được giao cho tôi”, ông ta nói, “là tấn công và thủ tiêu thổ phỉ. Mỗi tên thổ phỉ, Do Thái, Digan và tất cả những kẻ tình nghi có liên quan đến thổ phỉ đều bị coi là kẻ thù”.[92] Tất nhiên, quan điểm ấy hoàn toàn phù hợp với mệnh lệnh ban hành hồi tháng 12 của Wilhelm Keitel. Điều này rất quan trọng vì các mệnh lệnh của Bộ tư lệnh tối cao có hiệu lực thi hành không chỉ với Wehrmacht, mà còn với Waffen-SS. Vào thời điểm đó, Thiếu tướng Ernst Rode, chỉ huy bộ tham mưu của thống chế SS, tiếp theo đã chỉ thị: “Những mệnh lệnh đã được thông báo thông qua Bộ tư lệnh tối cao Wehrmacht và Bộ tư lệnh tối cao lục quân, tất nhiên có hiệu lực thi hành cả trong quân đội và lực lượng SS. Một người lính trong quân đội đã căm hận kẻ thù cũng như một lính SS hay một cảnh sát… Bằng chứng là có thể đề cập đến mệnh lệnh của OKW và OKH, trong đó tuyên bố rằng tất cả bọn thổ phỉ bị bắt, cũng như người Do Thái, đặc vụ và chính ủy, phải lập tức được chuyển cho SS để ‘xử lý đặc biệt’. Lệnh này còn chỉ thị rằng trong cuộc chiến chống thổ phỉ, không cần bắt giữ tù binh, ngoại trừ những điều trên… Bây giờ tôi đã rõ rằng cuộc chiến chống lại thổ phỉ dần dần trở thành tấm bình phong cho sự thủ tiêu có hệ thống người Do Thái và người Slav”.[93]

Từ hồi tháng 9/1942, cư dân của các vùng lãnh thổ Soviet đã chính thức bị đánh đồng với người Do Thái và Digan (có quyền thủ tiêu hoàn toàn). Theo thỏa thuận của thống chế SS và Tirak, bộ trưởng Tư pháp của Đê chế, người Do Thái, người Digan, người Nga và người Ukraina “không cần phải đưa ra tòa án thông thường, vì điều này có liên quan đến việc trừng phạt các tội ác và sẽ được chuyển cho thống chế SS”.[94]

Vài tháng sau, tại Smolensk đã tổ chức một chiến dịch đặc biệt nhằm vào các đứa trẻ sinh ra từ những cuộc hôn nhân dị chủng với người Do Thái. Đức Quốc xã đã thủ tiêu các bà mẹ Nga cùng với con cái của họ, giải thích với dân chúng rằng dòng máu hỗn hợp Slav và Do Thái mang lại “những mầm độc hại và nguy hiểm nhất”.[95]

Từ những tuyên bố của giới lãnh đạo Đế chế thật rõ ràng là: cuộc chiến chống du kích phải được thực hiện theo cùng phương cách như “giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái”. Cả điều này và điều kia – đều là biểu hiện không thể tránh khỏi của cuộc chiến chủng tộc: chủng Aryan cao quý chống lại bọn hạ đẳng. “Nếu tại một ngôi làng nào đó phát sinh vấn đề cần thiết phải hành động chống lại du kích và chống lại các chính ủy Do Thái”, Himler chỉ thị cho các sĩ quan SS cao cấp, “tôi sẽ ra lệnh giết luôn vợ con của những du kích và chính ủy ấy. Tôi sẽ là một kẻ yếu đuối và một tội phạm trong mắt con cháu chúng ta, nếu như tôi cho phép con cái của bọn khốn ấy lớn lên cùng lòng căm thù chất chứa, bọn khốn bị giết trong cuộc chiến của con người chống lại bọn hạ đẳng… Chúng ta phải luôn ý thức ngày càng cao hơn rằng ta đang ở trong một cuộc chiến tự nhiên, sơ khai, nguyên thủy như thế nào”.[96]

Không chỉ các đơn vị Waffen-SS và cảnh sát tiến hành cuộc chiến chủng tộc này; bọn họ quá ít, vì thế các đơn vị Wehrmacht đã tham gia tích cực vào những chiến dịch tiễu phạt.[97] Chúng thể hiện sự tàn bạo không kém gì SS.

Đây là tài liệu được tập hợp theo những dấu vết mới của một trong những chiến dịch tiễu phạt như vậy. Hãy đọc những dòng ít ỏi ấy; về mặt tinh thần thì rất nặng nề nhưng hết sức cần thiết. Có hàng trăm hàng ngàn những tài liệu như thế trong kho lưu trữ của Nga.

Sau khi vào làng, phát xít Đức đã thiêu rụi mọi thứ, giết chết người già, phụ nữ và trẻ em, hãm hiếp phụ nữ và thiếu nữ vị thành niên, gây ra vụ thảm sát tàn bạo và đẫm máu. Xúc phạm những nhà thờ Chính thống giáo và các tu sĩ. Trong rừng người ta bị săn đuổi như bấy thú hoang. Gia súc bị bắt và bị giết, mùa màng bị phá hủy để dân chúng (trốn trong rừng) không còn thức ăn. Trong số 62 khu định cư bị thiêu rụi, 22 khu định cư (bao gồm khu định cư thị trấn Lelchitsy) đã bị thiêu đến hai lần. Số người đã bị tra tấn và bị giết – 103 nam, 105 nữ, 105 trẻ em. Cả thảy 313 người. 535 người đã bị bắt đi…

Thôn Zaberezhnitsa thuộc hội đồng xã Sinitsko-Polsky: 1) Doroshuk Evdokia Ivanovna 60 tuổi, bị tra tấn dã man: bị xẻo vú, móc mắt, cắt tai. 2) Levkovskaya Antonina Ivanovna 34 tuổi, bi, tra tấn dã man: bẻ gãy tay chân, rồi bị giết. 3) Baranovskaya Malanya, 72 tuổi, bị xẻo vú, móc mắt, bẻ gãy tay, đập bể sọ. 4) Levkovskaya Elena, bà lão 75 tuổi, được tìm thấy trong giếng nước, mắt bị bịt chặt.

Làng Buinovichi thuộc cùng một hội đồng xã: Malets Anna Ivanovna, cô gái 17 tuổi, bị một nhóm phát xít cưỡng hiếp, sau đó bị cắt thành từng mảnh khi còn sống. Malets Miron Alekseevich, 32 tuổi, bị chôn còn chừa đầu trên mặt đất, xung quanh đốt đống lửa, sau khi tóc và da cháy hết đã bị giết. Tại Buinovichi, một nhà thờ bị xúc phạm: cửa sổ bị đập vỡ, vật dụng bị phá hỏng, sàn nhà bị nổ tung, bị biến thành phòng vệ sinh. Tất cả kinh sách và tài liệu lưu trữ của nhà thờ bị ném tung và xé rách.

Thôn Krupka thuộc hội đồng xã Buinovichi. Mishura Ivan, ông láo 83 tuổi, bị thiêu sống trong đám lửa của ngôi nhà đang cháy. Korbut Maria Stepanovna, 32 tuổi, bị một nhóm phát xít cưỡng hiếp trước mặt mẹ cô. Obykhod Maria Markovna – bị một nhóm phát xít cưỡng hiếp, sau đó bị bẻ gãy tay, bị đánh đến bất tỉnh rồi bị giết. Mishura Maria, bà lão 83 tuổi, bị phát xít hãm hiếp.

Thôn Berestyany Zavod thuộc hội đồng xã Buinovichi. Akulich Joseph Antonovich, ông lão 82 tuổi. Tay chân bị bẻ gãy, móc mắt, bẻ ràng, sọ bị đập bể, sau khi hành hạ khá lâu ông lão đã chết. Akulich Antonina Grigoryevna, cô gái 20 tuổi, bị phát xít hãm hiếp, chết sau khi bị hành hạ kéo dài, bị xẻo vú, bẻ gây chân tay.

Thôn Zarubany thuộc hội đồng xã Buinovichi. Sherbachenya Mikhail Samuilovich. Ba đứa con của anh bị sát hại dã man: bị chặt đầu, bẻ gãy tay. Savanovich Grigory. Con trai anh bị tra tấn dã man: bẻ gãy tay, mổ bụng.

Thôn Voronov thuộc hội đồng xã Grebenevsky. Navmerzhitskaya Serafima Grigoryevna cùng đứa con Ulyana bị ném vào lửa. Navmerzhitskaya Ulyana Grigoryevna 32 tuổi bị ném vào lửa cùng các con Dunya, Marfa và Ivan.

Thôn Olkhovaya thuộc hội đồng xã Grebenevsky. Bezsen Vladimir Makarovich 28 tuổi bị tra tấn dã man: bị treo tay lên trong nhiều giờ, bị đâm kim vào móng chân, tay chân bị bẻ gãy. Trò tra tấn kéo dài một ngày rưỡi. Quân Đức đã cố moi thông tin về du kích từ anh, nhưng không khai thác được gì. Việc tra tấn được thực hiện trước mặt dân làng. Sự kiên trì và tự chủ của anh trong khi bị tra tấn đã khiến những người đồng hương cảm phục và làm bọn phát xít nổi điên. Cuối cùng, anh ta nói rằng “nhân dân Soviet sẽ tính sổ với chúng bay (phát xít)” sau đó anh ta bị giết…

Thôn Dubrova thuộc hội đồng xã Lelchitsy. Kolos Maria Vasilyevna, 47 tuổi, và hai con gái Praskovia và Anastasia, 12 tuổi (song sinh), con gái Olga, tám tuổi và con trai Adam, hai tuổi, bị đâm bằng lưỡi lê và cho lên xe bò, họ chết từ từ trên đó. Con gái Anna năm tuổi bị thương cũng cho lên xe bên người thân đang hấp hối, cũng chết bên xác của người thân. Kolos Afanasy Stepanovich 35 tuổi, vợ Varia 32 tuổi, mẹ Varvara 75 tuổi và các con – Evdokia chín tuổi, Olga bảy tuổi, Pavel ba tuổi và cháu gái Lida 12 tuổi bị ném vào lửa, thiêu sống. Shukolovich Sylvester Nikitich 87 tuổi và Ostapovich Evdokia Ivanovna 80 tuổi bị tra tấn dã man.

Thôn Liplyany thuộc hội đồng xã Lelchitsy. Khlyava Vasily Vasilyevich 52 tuổi và cô gái Los Olga Evseevna 20 tuổi bị phát xít rạch người, lột da, rồi thiêu sống trên lửa. Pavlechko Mitrofan Feodosyevich 75 tuổi, bị phát xít đánh bằng báng súng cho đến chết. Tại thôn này, một tên phát xít đồi bại đội mũ, điếu thuốc ngậm trên miệng, bước vào nhà thờ. Y tìm được chiếc áo choàng linh mục và bắt những ông già đến đó để cầu nguyện cho y sống lâu. Người già không chịu. Kẻ man rợ say rượu bắt đầu bắn vào những người già, rồi đóng cửa lại và đốt nhà thờ và người bị nhốt bên trong.

Khu định cư thị trấn Lelchitsy. Zhurovich Maxim Alexandrovich, 40 tuổi, vợ và sáu đứa con bị tra tấn dã man và bị ném vào lửa. Podolsky Semyon Alexandrovich, 43 tuổi, vợ và sáu đứa con; Sapozhnikov Vasily, 43 tuổi, vợ và năm đứa con; Zhurovich Dunya Larionovna 36 tuổi và con trai ba tuổi bị nhốt vào nhà kho và thiêu sống. Voronovich Afanasy Filippovich 73 tuổi và Voronovich Christian 78 tuổi bị mổ bụng rồi khâu bụng sống, lột da đầu, rồi mới giết chết…

Thôn Glushkovichi thuộc hội đồng xã Lelchitsy. Shved Grigory Efremovich, 45 tuổi, bị cắt tai, ngón tay và bàn chân, bị dao rạch trên người và lưng, bị cắt lưỡi và thiêu sống trên lửa. Radilovets Moyse Stepanovich, 52 tuổi, bị rạch dao trên người, sau đó bị treo cổ. Akulich Makar Ivanovich, 45 tuổi, bị cắt mũi, tai, bộ phận sinh dục, người bị rạch dao, sau khi bị hành hạ rất lâu đã bị thiêu sống.

Burim Vasily Mikhailovich, 39 tuổi, bị lột tóc và da đầu, bẻ gãy tay chân, bắn vào người, chết trong lúc tra tấn. Gapanovich Feodosya Grigoryevna, 45 tuổi, bị rạch dao trên người, bị đập bằng đá và chôn sống. Burim Yesenia Andreevna, 52 tuổi, bị rạch dao trên người, bị đánh bằng đá và gậy, chôn sống. Burim Praskovya Makarovna, 22 tuổi và Burim Teklya Evdokimovna, 22 tuổi bị phát xít Đức hăm hiếp, sau đó bị trói vào cọc hàng rào và bắn chết.

Thôn Kartynichi thuộc cùng một hội đồng xã. German Maria Petrovna 20 tuổi và đứa con hai tuổi bị phát xít Đức chôn sống. Gần thôn Kartynichi, 28 người bị chôn sống…

Làng Stodolichi thuộc hội đồng xã Kartynichy. Krupnik Praskovya đã bị bọn phát xít gồm tám tên hãm hiếp trước sự chứng kiến của con cái cô và dân làng. Zhoglo Feodosya Ivanovna, một cô gái 13 tuổi, bị bọn phát xít (7 tên) hãm hiếp trước sự chứng kiến của người bà. Zhoglo Anna, một cô gái 13 tuổi, bị bọn phát xít hãm hiếp trước sự chứng kiến của mẹ em. Shur Dmitry Fomich, 59 tuổi, bị tra tấn dã man, bắn vào tay, đánh đập, bị buộc phải tự đào một cái hố. Shur Alexandra Dmitrievna 17 tuổi bị đánh nguyên một tuần, phát xít yêu cầu cung cấp thông tin về ba người anh là du kích, nhưng không moi được gì.

Ghi chú: trong biên bản nêu rõ tội ác của một cuộc hành quân. Ngoài ra, tại quận Lelchitsky khoảng 7.500 thường dân đã bị bắn chết kể từ khi bắt đầu ách chiếm đóng của quân Đức.[98]

Những cuộc hành quân tiễu phạt tàn phá toàn bộ nhiều khu vực. Mùa đông năm 1943 ở ngoại ô Polotsk có thể quan sát một cảnh tượng kinh hoàng. “Mọi ngôi làng trong khu vực đều bị thiêu rụi, dân chúng còn sống sót trú ẩn trong các khu rừng và các hầm đất đào xung quanh. Người dân ăn những gì họ đã kịp lấy được từ những ngôi nhà bị đốt cháy. Ai đó, có lẽ một trong số 20 gia đình, thậm chí còn giữ được một ít gia súc, phần lớn là bò. Gia súc cũng ở trong các hầm đất đào, cách biệt với người bằng một vách ngăn bằng cây. Những tấm phản được ghép từ cây và lót rơm. Người lớn và trẻ em rúc vào ổ rơm cả ngày lẫn đêm. Người dân sống thật cơ cực”.[99]

Sự tàn phá thôn làng đã ảnh hưởng đến cư dân các thành phố. Mất nguồn cung cấp lương thực, những thị dân đã chết vì đói và bệnh thương hàn. Mùa đông năm 1943, tại một số thành phố tiếp giáp tiền tuyến, việc cấp phát bánh mì đã hoàn toàn bị chấm dứt. “Đến nay một số cư dân vẫn còn nuôi bò và gà, đôi khi họ có thể trao đổi sữa và trứng với lính Đức để lấy bánh mì. Vào năm chiếm đóng thứ hai đã không còn gia súc hay gia cầm. Nhiều người đã phải ăn thức ăn thừa nhặt được gần các bếp ăn của quân Đức, vỏ gỗ, lá cây. Chết đói đã trở thành hiện tượng bình thường”.[100] Tại các thành phố nằm sâu ở hậu phương chưa xảy ra đến mức này; tuy nhiên, ở đó chết đói vẫn là một thực tế, không hề thua kém một bước nào.

(Quân chiếm đóng đã chiến đấu với dịch bệnh tại các thành phố bằng một cách không thể nào bắt chước được. Ngày 28/2/1943 ở ngoại ô Rzhev, cảnh sát đã dồn những bệnh nhân thương hàn tại Sychevka đến nhà số 57 đường Naberezhnaya với lý do để chăm sóc y tế, sau đó nhốt họ bên trong rồi đốt nhà).[101]

Nhưng sự tàn ác của đội quân tiễu phạt cũng không thể ngăn cản được các cuộc tấn công của du kích. Nó chỉ nung nấu thêm lòng căm thù mãnh liệt đối với quân chiếm đóng. “Lòng căm thù của tôi!”, một nữ du kích kể lại. “Đến tận bây giờ bên tai tôi vẫn còn văng vẳng tiếng thét của đứa bé bị ném xuống giếng. Bà đã bao giờ nghe thấy tiếng thét ấy chưa? Đứa trẻ rơi xuống và thét, thét lên, như thể từ một nơi nào đó dưới lòng đất, từ thế giới bên kia. Đấy không phải là tiếng thét của trẻ thơ, của con người… Còn thấy một thanh niên trẻ bị cưa… Như cưa khúc gỗ… Đấy là một du kích quân của ta…”.[102] Phát xít Đức không được sống – đó là biểu tượng của niềm tin, được lặp đi lặp lại trên khắp vùng đất Liên Xô bị chiếm đóng.

Các đội du kích hoạt động khắp mọi nơi. Các đoàn tàu bị trật bánh trên những tuyến đường sắt, không chỉ những xe đơn lẻ mà cả những đoàn xe lớn cũng bị phục kích trên đường cao tốc. Du kích tấn công vào các ngôi làng nơi quần Đức đóng đồn bốt, tấn công và chiếm các nhà ga, phá hủy nhà kho – rồi biến mất không dấu vết. Các đội lớn ra khỏi căn cứ du kích tiến vào những cuộc đột kích sâu. Nguyên một sư đoàn kỵ binh Liên Xô thọc sâu vào hậu phương quân Đức cũng không thể gây nhiều thiệt hại cho kẻ thù nhiều bằng các đơn vị du kích của Kovpak, Fedorov, Saburov.

Tên tuổi của những chỉ huy lực lượng du kích đã đến tai quân Đức và cả dân chúng. Họ được mời đến Moskva; đích thân Iosif Vissarionovich Stalin đã gặp gỡ những người báo thù của nhân dân, phong hàm cấp tướng và tặng bằng khen cho họ. Trở về đơn vị, các tướng lĩnh du kích tiếp tục chiến đấu với quân Đức. Moskva không quên về “mặt trận thứ hai” của mình: tại những sân bay dã chiến của lực lượng du kích đã xuất hiện những máy bay ADD vận chuyển vũ khí, chất nổ, thuốc men, đạn dược. Đội biệt động gồm những chiến sĩ do đại tá Starinov đào tạo để cho nổ các đoàn tàu và cầu của lính Đức, được điều đến để hỗ trợ lực lượng du kích, và tại Berlin xa xôi, thống chế Wilhelm Keitel, chỉ huy Bộ tư lệnh tối cao quân đội Đức, đã viết: “Năm 1942 tình hình các tuyến đường sắt không thể mô tả gì khác hơn là thảm họa… Quân du kích liên tục phá hủy các tuyến đường sắt, nhiều lần đến cả 100 vụ nổ một đêm”.[103]

Do các cuộc tấn công của du kích, phát xít Đức thậm chí không còn cơ hội để tiến hành công việc ưa chuộng của chúng: thủ tiêu người Do Thái. “Tôi rất biết ơn”, Kobe, toàn quyền tại Belarus đã viết, “nêu như ngài thống đốc cho rằng có thể đình chỉ dòng vận chuyển mới những người Do Thái tới Minsk, ít nhất là cho đến khi mối đe dọa của các cuộc nổi dậy của du kích được tháo gỡ triệt để. Tôi cần 100% quân SD để chiến đấu với du kích”.[104] Nhưng thậm chí tất cả các lực lượng an ninh cũng không thể đối phó được với phong trào du kích đang phát triển.

Tại các thành phố đều có những lực lượng du kích; người Nga gọi họ là “những người hoạt động bí mật”. Những truyền đơn kích động xuất hiện trên bức tường của các ngôi nhà, đó đây phát hiện xác của lính Đức bị giết. Rất dễ tìm ra kẻ giết người; nhưng có những người không hành động ngược lại lòng căm thù của mình, có những người cần mẫn làm việc tại các nhà ga hoặc cơ quan hành chính của chính quyền chiếm đóng và thu thập thông tin tình báo. Thông tin đến tay lực lượng du kích qua các luồng chảy li ti, rồi từ đó tập hợp thành một dòng lớn chuyển đến Moskva; bộ tổng tham mưu Liên Xô nắm bắt được hầu hết mọi hoạt động chuyển quân của quân Đức.

Không thể thoát khỏi quân du kích! – thậm chí họ xuất hiện trong chiếc áo khoác lính: “bọn du kích ti tiện” – quân Đức đã gọi bọn chấy rận làm chúng bực mình là như thế.

Ngày 06/01/1943, Himmler đã ban hành một lệnh mới về việc cuộc chiến chống du kích: “Khi thực hiện các hành động để chống bọn thổ phỉ, tất cả các đối tượng bị tình nghi có quan hệ với thổ phỉ: đàn ông, phụ nữ và trẻ em phải được tập hợp lại và đưa đến các trại Lublin hoặc Auschwitz bằng các đoàn tàu chuyên biệt”.[105]

Thế nên, đối với cư dân của những vùng bị chiếm đóng, một trang mới đầy kinh hoàng được mở ra: giờ đây những ai còn sống sót sau hành động bạo tàn của đội quần tiễu phạt được đưa thẳng đến các trại tử thần. Những hồi ức của một đứa trẻ bị bắt vào một trong các trại này và còn sống sót như một phép mầu:

Một lần chúng tôi thấy các đơn vị quân đội tiến đến. Mọi người đều có chung một ý tưởng: ắt hẳn phải là quân SS, điều mà mọi người rất sợ. Những nông dân vội vã chạy trốn, mang theo gia súc và tất cả những gì có thể mang theo, nhưng quân Đức bắt đầu đuổi theo chúng tôi, bắt đầu nổ súng. Trên một chiếc xe bò có một phụ nữ với đứa trẻ, cô ấy đã bị bắn; cô ngã từ trên xe xuống, nhưng thậm chí chẳng ai buồn để ý đến cô.

Quân Đức bao vây và dẫn chúng tôi ngược về làng dưới họng súng. Người chết và bị thương vẫn nằm la liệt ở đó. Khi đến gần ngôi làng, chúng tôi không thể tin vào mắt mình, ở đó thật khủng khiếp: quân Đức đã đốt mọi căn nhà, chỉ chừa một căn. Mọi thứ xung quanh bốc cháy, những con ngựa lồng lên như phát điên, tàn lửa bay khắp nơi. Chúng tôi được dẫn đến một căn nhà còn nguyên vẹn, quân Đức ngồi trong đó. Chúng tôi được lệnh xếp thành ba hàng và xuất trình giấy tờ. Hàng đầu chỉ có phụ nữ và trẻ em, hàng thứ hai – người già, hàng thứ ba – người Do Thái. Sau khi kiểm tra giấy tờ, nhóm người già bị ở lại trong nhà; chúng khóa chặt cửa và phóng hỏa tức thì. Nhóm của chúng tôi dưới họng súng được dẫn sang một bên, từ đó chúng tôi có thể thấy ngôi nhà ấy cháy. Nhóm đầu tiên, trong đó có trẻ em, bị buộc phải đào một cái hố. Mặt đất đóng băng, chỉ đào được một hố nông. Những người Do Thái được lệnh xếp hàng trước hố và mỗi người đều nhận được một viên đạn. Họ rơi xuống hố, la hét khóc lóc. Thậm chí sau khi bọn lính hất đất xuống hố, chúng tôi còn nghe những tiếng rên khủng khiếp ấy một lúc lâu. Còn những người già bị thiêu sống trong căn nhà bị khóa trái cửa. Không sao quên được điều này.[106]

Khi phụ nữ và trẻ em bị dồn vào trại, đấy là một cảnh tượng hãi hùng. Những người lính Đức lớn tuổi, được nuôi dạy tại một đất nước bình thường, chứ không phải Đệ tam Đế chế, tại những trạm dừng chân ngắn, thường lén lút các sĩ quan, dúi cho bọn trẻ thứ gì ăn được và khuyến khích chúng: đừng tụt lại, nếu không họ sẽ giết. “Tôi đã thấy”, một cô gái bị lùa vào trại nhớ lại, “những người lính ấy, khi có thể, họ len lén vuốt đầu và những đôi vai gầy guộc của bọn trẻ đoàn chúng tôi, mặc dù có thể trả giá vì lòng thương hại. Khi chúng tôi bị lùa đến Lepel, một người Đức già biết nói tiếng Nga bảo tôi phải thừa dịp mà chạy trốn. Tôi đã làm được điều này”.[107]

Nhưng ít ai chạy thoát được. Và những trại tập trung hiếu khách chào đón các tù nhân mới. “Xe đã dừng lại, và chúng tôi, khoảng 20 người, không thể leo xuống xe, vì quá kiệt sức. Chúng tôi, tựa như bầy chó chết, bị ném xuống đất, gã chỉ huy ra lệnh cho chúng tôi bò đến các lán. Lùa bằng roi da… Một phụ nữ đứng gần lán và đang cho con bú. Bằng cách nào đó, bà biết không… Cả bầy chó ở đây, cả đội bảo vệ, tất cả đều chết lặng, đứng như trời trồng. Gã chỉ huy thấy cảnh tượng đó… Y chồm lên. Kéo đứa bé ra khỏi tay người mẹ… Bà biết không, ở đó có một cột, cột bơm nước, y đập đầu đứa bé vào cột sắt ấy. óc phọt ra… Sữa nữa… Rồi tôi thấy: người mẹ quỵ xuống, tôi thấy, tôi hiểu, tôi là bác sĩ mà… Tôi hiểu rằng tim cô ấy đã vỡ…”.[108]

Đàn ông và thiếu niên đang bị đưa đến các trại tù binh. Wilhelm Keitel, chỉ huy bộ tư lệnh tối cao OKW đã có chỉ thị đặc biệt về điều này: “Nam từ 16 đến 55 tuổi, bị bắt trong cuộc chiến chống thổ phỉ tại vùng chiến sự, hậu phương tiền tiêu, ủy ban các tinh phía Đông, vùng toàn quyền và vùng Balkan, từ nay được coi là tù binh chiến tranh”.[109] Và họ sẽ chết trong địa ngục của các trại tập trung tương ứng.

Thống chế SS định hướng các thuộc cấp: “Quốc trưởng ra lệnh các khu vực của bọn thổ phỉ miền Bắc Ukraina và miền Trung nước Nga phải được khử sạch triệt để không còn một bóng dân”.[110]

Lực lượng tiễu phạt được kích hoạt. Lệnh của sư đoàn 293 bộ binh đã mô tả chi tiết cách phá hủy những ngôi làng cùng dân cư ở đó:

Việc chuẩn bị phá hủy các khu dân cư phải được thực hiện sao cho:

a) trước khi tuyên bố điều này, trong dân chúng không hề có bất cứ sự nghi ngờ nào;

b) việc phá hủy phải được bắt đầu ngay lập tức, bằng một đòn duy nhất, vào đúng thời điểm quy định, vào ngày thích hợp;

c) tại các khu dân cư phải theo dõi để không một ai trong số người dân rời khỏi vị trí, nhất là kề từ thời điểm tuyên bố phá hủy.[111]

Thôn Solobodka gần Polotsk là một trong hàng trăm ngôi làng bị quân chiếm đóng phá hủy vào mùa đông 1943. “Khi bước vào thôn, những hình ảnh kinh dị bắt đầu thay đổi càng lúc càng khiếp đảm hơn”, một du kích quân nhớ lại. “Một phụ nữ nằm giữa đường, trên ngực là đứa bé bị đâm xuyên bằng lưỡi lê cùng mẹ. Bên cạnh họ một cây harmonica màu đỏ tan nát nằm lăn lóc. Lẽ nào ai đó trong đội quân tiễu phạt còn bày trò trong cảnh đổ nát này? Gần đó là hai người, một ông già và một cậu bé, mặt vùi xuống tuyết, cả hai bị bỏng nặng, rõ ràng là chạy ra khỏi ngôi nhà đang cháy và bị giết. Quân Đức nhốt dân trong nhà rồi phóng hỏa, người nào chạy ra sẽ bị bắn. Chúng tôi đi tiếp và thấy những xác không đầu của các cụ già gần một nhà kho, đầu họ nằm lăn lóc ngay đó. Chúng đặt những ông già nằm kê đầu trên khúc gỗ bạch dương bình thường rồi dùng rìu chặt đầu như chẻ củi. Xa hơn nữa, tại cột hàng rào cháy sém, là xác trần truồng của một thanh niên, toàn thân màu xanh đen vì vết bỏng. Mùi khét, những vệt muội than nhuốm màu tang tóc bay lên không trung và rơi xuống tuyết còn khiến cảnh tượng càng thêm rùng rợn”.[112]

Nhưng phong trào du kích không biến mất; mà ngược lại, càng mở rộng. Những người được quân Đức trang bị vũ khí bỗng trở thành nguồn bổ sung chủ yếu: cảnh sát địa phương và binh lính của các “tiểu đoàn phía Đông”, được thành lập từ các tù binh chiến tranh, đang ồ ạt chuyển sang phe du kích. Tháng 4/1943, gần Bryansk đại đội thuộc tiểu đoàn quân tình nguyện “Pripyat” cùng tất cả vũ khí của họ đã chạy về phía du kích; ngày hôm sau, quân Đức đã bắn những người còn lại và giải giáp cảnh sát thành phố Mglin.[113] Gần Polotsk, lữ đoàn 1 SS quốc gia Nga dưới sự chỉ huy của trung tá Gil Rodionov chạy sang phe du kích: vài ngàn binh lính (các nhà sử học khác nhau đưa ra con số từ 2.000 đến 7.000) cùng 10 vũ khí hạng nặng, 23 súng cối, 77 súng máy. Đơn vị đã vào rừng sau khi bộ chỉ huy Đức ra lệnh đốt cháy một làng lớn và thủ tiêu toàn bộ dân làng từ nhỏ đến lớn. Từ bấy giờ, đấy trở thành lữ đoàn 1 du kích chống phát xít đầu tiên chiến đấu thắng lợi với lực lượng tiễu phạt và thậm chí gây ra một thất bại nghiêm trọng cho các đơn vị của Dirlewanger.[114]

Những người, vì lý do này hay lý do khác, vẫn trung thành với bọn chiếm đóng, không có tinh thần lạc quan. “Chúng tôi biết là nhân dân căm ghét chúng tôi, họ đang chờ Hồng quân tới”, phó cảnh sát trưởng của một huyện thuộc Bryansk bất ngờ đã phát biểu trong một bữa tiệc lễ hội. “Thế nên, hãy sống gấp, ăn uống, dạo chơi, tận hưởng cuộc sống hôm nay, bởi vì ngày mai thì đằng nào chúng ta cũng sẽ bị đập nát đầu”.[115]

Một mệnh lệnh đầy đe dọa từ bộ tư lệnh tối cao quân đội Đức:

Các trường hợp đào thoát, chuyển hàng loạt sang phe địch, các cuộc tấn công phản bội vào những điểm hành quân, kêu gọi chống lại chỉ huy, v.v. xảy ra tại các đơn vị dân tộc chủ nghĩa phía Đông của các tình nguyện viên buộc chúng ta phải áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt và khẩn cấp để dập tắt những hiện tượng đó và lập lại trật tự tại các đơn vị nơi vấn đề phát sinh.

Các trường hợp kích động dưới mọi hình thức phải được lập tức dập tắt bằng vũ lực và ngăn chặn triệt để… Các đơn vị, nếu phát hiện ở đó hiện tượng phân hóa và không đáng tin cậy, phải lập tức thẳng tay giải tán, còn thành phần nhân sự phải được đưa đến trại tù để lao động nặng, hoặc phải làm việc tại Đức, hoặc bổ sung cho các đơn vị đáng tin cậy khác.[116]

Vô ích! Những người lính được huy động ào ạt từ các “tiểu đoàn phía Đông” nhập vào hàng ngũ du kích, thậm chí hàng trăm binh lính từ lữ đoàn Kaminsky, khi được chuyển đến Belarus đều vào rừng. Du kích quân không để cho kẻ thù yên ổn. Lính biệt động của đơn vị Fedorov chặn ở nút đường sắt Kovel tung những đòn được tính toán chính xác. Đại tá Starinov đích thân lên kế hoạch cho chiến dịch này; từ đó, quân Đức mất cơ hội cơ động chuyển quân từ Belarus sang Ukraina. Đơn vị của Kovpak vượt ra khỏi biên giới Liên Xô – tại dinh toàn quyền[117] các quan chức Đức kinh hoàng khi đọc các thông báo về sự xuất hiện của du kích Liên Xô. Trên toàn lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng, cuộc chiến tranh du kích ngày càng trở nên sôi sục mạnh mẽ, và để đáp trả bọn xâm lược tăng cường trấn áp.

“Tôi cho rằng các biện pháp của cảnh sát an ninh, gần đây được thực hiện với quy mô lớn”, đại diện của đội đặc nhiệm ‘C’ hoạt động tại Ukraina đã viết, “là cần thiết vì những lý do sau:

  1. Tình hình mặt trận tại khu vực do tôi phụ trách đã trở nên rất nghiêm trọng, vì dân chúng, phần nào chịu ảnh hưởng của người Hungary và người Ý, những người nổi loạn, công khai chống lại chúng tôi.
  2. Các đợt tập kích của quân du kích, đặc biệt đến từ vùng rừng Bryansk, được tăng cường. Ngoài ra, các nhóm du kích khác được hình thành từ dân chúng đột nhiên xuất hiện tại tất cả các khu vực. Việc cung cấp vũ khí, rõ ràng, không gặp khó khăn gì. Thật bất hợp lý khi chúng ta thụ động quan sát hoạt động này mà không áp dụng bất cứ biện pháp nào. Rõ ràng, các biện pháp như vậy sẽ kèm theo sự cứng rắn.

Tôi muốn để xuất một số biện pháp cứng rắn như sau:

  1. Bắn bỏ những người Do Thái Hungary.
  2. Bắn bỏ các nhà nông học.
  3. Bắn bỏ trẻ em.
  4. Đốt tất cả các ngôi làng.
  5. Bắn bỏ các tù nhân “có ý định chạy trốn”, do cảnh sát an ninh và lực lượng SD thực hiện.

Đội trưởng đội đặc nhiệm “C” một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của các biện pháp được thực hiện và bày tỏ ý kiến ủng hộ những hành động mạnh mẽ cứng rắn”.[118]

Những hành động mạnh mẽ đã không phải trì hoãn lâu. Gần thành phố Sumy của Ukraina, tân binh mới tuyển dụng của Wehrmacht, Johann Schmidt, đã trở thành nhân chứng của một chiến dịch chống du kích kế tiếp. “Tôi đã thấy sư đoàn SS hành động chống đu kích”, anh ta nhớ lại. “Tôi thấy họ bao vây khu dân cư, xả súng điên cuồng vào tất cả những ai sống trong khu dân cư, rồi cuối cùng, họ phóng hỏa, một phần dân chúng chết trong ngọn lửa. Tôi nghe thấy tiếng gầm rú của những con vật bị cháy, cũng như tiếng gào khóc của những con người bất hạnh…”.615

Chỉ cần tập trung những lực lượng đáng kể, đội quân tiễu phạt đã chiếm được thôn Pyshno ở ngoại ô Polotsk. Du kích quân bào vệ ngôi làng đã hy sinh khi che chắn cho dân làng sơ tán; tuy nhiên, không phải ai cũng có thể rời đi. Khi trở về người ta chi còn thấy tro tàn.

“Chúng tôi đến giữa làng”, một người trong bọn nhớ lại, “mọi thứ đều yên tĩnh. Chúng tôi định uống nước. Đến gần giếng nước, một mùi hôi thối nồng nặc xộc lên, nhưng chúng tôi không nghĩ đó là từ ngôi nhà gỗ, chúng tôi ngó vào giếng, và ở đó gần như lên đến mặt đất, thi thể một phụ nữ trẻ bị tra tân dã man rồi ném xuống giếng, đè lên những thi thể khác. Đấy là quân Đức, khi chúng chiếm Pyshno, tất cả những ai còn trong làng đều bị bắt và giết chết.

Chúng tôi đi dọc con đường, đen vì tro đám cháy, đầy ổ gà vì những cơn mưa và ra chỗ trống. Thật im lìm, chỉ có tiếng bánh xe của chúng tôi kẽo kẹt. Chúng tôi dừng lại chỗ có cây, trên đó những đầu dây còn lủng lẳng. Tại đây các tù binh đã bị treo trong trận chiến. Quân Đức không treo cổ du kích quân mà xỏ sợi dây lớn xuyên qua má và người bị treo vẫn còn sống khá lâu”.616

Tại Belarus, không chỉ các đơn vị quân Đức, mà còn có các đơn vị tiễu phạt được chọn lọc – các đơn vị SS người Baltic. Trung úy V Baltinsh, sĩ quan hậu cần của ‘Quân đội giải phóng Nga’ do quân Đức thành lập, người có cơ hội quan sát hành động của những đồng hương, đã vô cùng kinh hoàng, thể hiện rõ qua các dòng báo cáo.

Giữa tháng 12/1943, do nhu cầu công vụ, tôi (cùng một số nhân viên) đã có mặt tại khu vực Belarus (huyện Vitebsk cũ), ở các thôn Knyazevo (Krasnoye), Barsuki, Rosalino… Các đơn vị quân Đức đã chiếm những thôn này và đối xử với dân chúng còn có chừng mực, nhưng khi các đơn vị SS của Latvia đến thay thế chúng, nạn khủng bố đáng sợ vô cớ lập tức bắt đầu. Người dân buộc phải chạy trốn vào rừng ban đêm, quấn những tấm trải giường (như ngụy trang trong tuyết trong trận đánh). Quanh những thôn này có nhiều xác chết của phụ nữ và người già. Qua dân chúng tôi được biết những hành động tàn bạo này do bọn SS người Latvia thực hiện.

Ngày 23/4/1944 tôi phải đến thôn Morochkovo. Toàn bộ thôn đã bị đốt cháy. Quân SS sống trong hầm. Tôi hỏi một người trong bọn chúng tại sao quanh làng lại đầy thi thể của những phụ nữ, người già và trẻ em bị giết, hàng trăm xác không được chôn cất, cũng như những xác ngựa chết. Mùi tử khí nồng nặc trong không trung. Câu trả lời là: “Chúng tôi đã giết họ để thủ tiêu càng nhiều người Nga càng tốt”. Sau đó, một trung sĩ dẫn tôi đến một căn nhà bị cháy. Có một số xác cháy chưa hết. “Còn những người khác”, hắn nói, “chúng tôi đã thiêu sống”. Khi đơn vị người Latvia này rút đi, chúng bắt theo một số phụ nữ và thiếu nữ Nga làm con tin.

…Đầu tháng 5, tại khu vực thôn Kobylniki chúng tôi đã thấy khoảng 3.000 xác nông dân bị bắn chết trong một mương rãnh, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Những người dân còn sống sót cho biết, vụ hành quyết do “những người hiểu tiếng Nga, đội mũ có hình đầu lâu và cờ sọc đỏ-trắng-đỏ trên tay áo bên trái” thực hiện – bọn SS người Latvia. Tôi không nhớ tên ngôi làng mà ở đó một đàn ruổi lượn quanh cái thùng gỗ đã thu hút sự chú ý của tôi. Nhìn vào thùng, tôi thấy những cái đầu đàn ông bị cắt đứt. Một số người có ria mép và râu. Quanh làng, chúng tôi tìm thấy nhiều xác nông dân bị bắn chết. Sau khi trò chuyện với những cư dân còn sống sót, chúng tôi chẳng còn nghi ngờ gi về việc bọn SS người Latvia cũng hành động ở đây, cho thấy sự tàn bạo của chúng khi trấn áp những người dân không có khả năng phòng vệ. Mọi thứ chúng làm dường như không có gì đáng kể so với cái thùng khủng khiếp đó và những phụ nữ bị thiêu sống trong nhà.617

…Con số chính xác các thường dân bị thủ tiêu trong khuôn khổ “cuộc chiến chông du kích” mãi mãi còn là một ẩn số. Theo số liệu ước tính, có khoảng 4-5 triệu người thiệt mạng, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người già. Kể từ sau nạn đói do bọn chiếm đóng hoạch định từ mùa xuân năm 1942, hơn ba triệu người đã chết.618

Những tiếng nói chân thực (6): “Tất cả đều là nạn nhân vô tội của bọn kẻ cướp đầy thú tính…”.

Thị trấn Ponary là một Babi Yar tại Litva. Ở đấy, Đức Quốc xã và đồng phạm của chúng, bọn dân tộc chủ nghĩa địa phương, đã thủ tiêu hàng chục ngàn thường dân vô tội. Trước khi rút quân, Đức Quốc xã đã cố phi tang dấu vết tội ác của chúng; tại Ponary chúng đã đốt những đống lửa để thiêu xác chết. “Vụ đốt xác kéo dài từ cuối năm 1943 đến tháng 6/1944”, báo cáo của ủy ban nhà nước đặc biệt Liên Xô ghi nhận. “Vào thời gian này, từ chín hố với tổng thể tích 21.179 m³, hơn 100.000 xác đã được đào lên và thiêu hủy trên những đống lửa”. Các công nhân bị gom tù nhũng trại tập trung gần đó để làm công việc bẩn thỉu này. Cái chết cũng đang chờ đợi họ, tuy nhiên, một trong những tù nhân, Yuly Farber, đã chạy trốn được đến chỗ quân du kích. Hồi ức của ông về Ponary được lưu tại Cục lưu trữ trung tâm của Tổng cục an ninh Liên bang Nga; vào cuối tháng 4/2006, một số trích đoạn đã được đăng tải trên báo Tin tức thời sự.

…Mé trái đường cái, bên hàng rào dây thép gai là trạm gác. Trên cổng có một tấm biển: “Cấm đến gần. Nguy hiểm chết người. Có mìn”. Ở chính giữa, sau hàng rào dây thép gai đôi, là một hố tròn đường kính 24 m, sâu 4 m. Những viên đá lớn tạo thành những tường chắn thẳng đứng. Dưới đáy hố là một lán gỗ nơi chúng tôi sẽ sống. Chúng tôi bị xiềng vào một sợi xích siết chặt hai chân ngay dưới đầu gối, không cho phép chúng tôi bước đi dài hơn 0,5 m. Sau đó, gã thiếu úy SS bắt đầu diễn thuyết: “Các người sê làm công việc đặc biệt có tầm cỡ quốc gia, vì vậy sẽ bị xiểng để khỏi chạy trốn. Đừng cố chạy trốn, bởi vì chưa từng có ai trốn thoát khỏi Ponary và sẽ không bao giờ có. Mọi nỗ lực tháo xiềng sẽ bị xử bắn. Hãy làm việc thật tốt. Bằng không sẽ bị bắn vì tội phá hoại. Mọi mệnh lệnh đều phải được thực hiện vô điều kiện, nếu không sẽ bị bắn…”. Tiếp đó là một danh sách dài liệt kê tất cả các vi phạm có thể xảy ra – đều bị xử tội chết. Vô tình nảy sinh ý nghĩ: “Liệu có thể sống sót ra khỏi đây không nhì?” Câu trà lời thật rõ ràng. Nếu như có thể, thì trong mọi trường hợp, đừng làm theo chỉ thị của gã thiếu úy, mà ngược lại, cứ vi phạm những điều chủ yếu.

Chúng tôi đi làm việc. Hố có đường kính đến 100 m được phủ cát. Nếu xúc một vài xẻng cát, thì lộ ra… xác người đã bị phân hủy; thuật ngữ tiếng Đức gọi đó là những ‘hình hài’. Một lò đốt được xây cạnh hố. Đó là một cái bục gỗ mỗi chiều 7 m (7 X 7) có một ống khói ở giữa. Cần làm sạch cát khỏi ‘hình hài’. Từ một khối ‘hình hài’ nằm ép chặt vào nhau, phải dùng móc sắt moi từng ‘hình hài’ ra. Dùng cáng mang ‘hình hài’ đến lò đốt, nơi chúng được xếp lên củi thông, cái này sát với cái kia. Khi một lớp đã đầy, dùng những cành thông, củi khô phủ lên trên và tưới bằng dầu dễ cháy. Những lớp sau tiếp tục được đặt lên trên. Khi lò đốt được chất khoảng 3.500 ‘hình hài’, nó được quấn quanh bên hông bằng các quả nhôm gia nhiệt rồi châm lửa đốt. Các ‘hình hài’ cháy trong hơn ba ngày – cho đến khi chỉ còn một đống tro lẫn với xương cháy dở. xương này được giã nhỏ bằng chày cho đến khi thành bột. Bột được xúc bằng xẻng, rây qua lưới sắt mắt nhỏ để tro không còn bất kỳ hạt lớn nào. Tro đã sàng được trộn với một lượng lớn cát để cát không đổi màu rồi được đổ vào hố, từ hố đó là tất cả các ‘hình hài’ được moi lên.

Ý nghĩa của “công việc đặc biệt có tầm cỡ quốc gia” thật rõ ràng. Bọn giết người đang cố phi tang dấu vết tội ác của chúng. Gã thiếu úy không che giấu điều này. Y nói: “Bộ phận tuyên truyền của kẻ thù đang lan truyền tin đồn có 80.000 người bị bắn chết tại Ponary. Thật vớ vẩn. Sau vài tháng nữa ai muốn tìm và muốn bằng bất cứ cách nào, cũng sẽ không tìm thấy một con số nào ở đây hết”. Chẳng có gì để phản đối y cả. Khả năng chứa của các hố tại Ponary là bao nhiêu, không thể nói chính xác. Quân Đức gọi ra con số 80.000. Trong đó, 55.000 người Do Thái. Vài ngàn (lên đến 10.000) người Nga, người Litva và những người thuộc dân tộc khác nhau. Còn lại là người Ba Lan.

Có một hố chứa 250 xác phụ nữ hoàn toàn trần truồng. Tại nhà ga Ponary, tất cả đàn ông được đưa ra khỏi toa tàu. Những phụ nữ còn lại được lệnh cởi hết quần áo, chỉ còn đồ lót. Những người phụ nữ đã từ chối. Lúc đó bọn đao phủ bước lên toa và bắt đầu đánh những con người bất hạnh cho đến khi họ buộc phải tuân theo yêu cầu quái gở của lũ quái vật. Toa tàu được mở ra, và đám phụ nữ trần truồng bị bọn Gestapo đứng thành hai hàng vừa quát tháo vừa lùa đi từ tuyến đường sắt cho đến hố (khoảng cách hơn 400 m). Trước hố có một con mương, trong đó vứt áo lót và những trang phục phụ nữ cuối cùng… Mọi thứ trôi trong máu. Khoảng 50 cây gậy lớn nằm lăn lóc ở đó. Từ thân gậy cho đến tay cầm đều dính máu, tóc, da, thậm chí cả thịt người.

Trong một hố khác có hàng trăm xác người tu hành mặc áo thụng, áo lễ, với thánh giá với tượng Đức Mẹ trong tay. Có hàng trăm tù binh Soviet, phần lớn trong thành phần chỉ huy. Giữa đống tử thi chúng tôi bắt gặp xác người mẹ với đứa trẻ còn bú mẹ trên tay. Nạng, chân giả… Ở xác những trẻ nhỏ, hộp sọ thường bị vỡ nát. Đề tiết kiệm đạn, bọn giết người đã túm chân trẻ con rồi đập đầu vào cây.

Khởi đầu từ năm 1941, ngay sau khi quân Đức đến, vụ thảm sát Ponary cũng được tiến hành vào năm 1944. “Execution” (thi hành án), theo ngôn ngữ của gã thiếu úy, vẫn tiếp tục đối với chúng tôi. Một nhóm người không vũ trang, hai tay thường bị trói sau lưng, bị đẩy ra mép hố rồi bị bắn bằng súng máy. Những người còn sống sót được bổi tiếp ‘một phát ân huệ’ bằng súng lục. Bằng cách ấy, vào tuần cuối tháng 3/1944 chúng đã thủ tiêu: 450 người Do Thái (cả nam lẫn nữ), 50 người Digan (5 nam, còn lại là phụ nữ và trẻ em), 15 người Ba Lan (cả nam lẫn nữ).

Tháng 12/1942 và tháng 01/1944, cả thảy có 18.000 ‘hình hài’ bị thiêu hủy. Trong khoảng thời gian đến ngày 15/4/1944, với sự tham gia của tác già những dòng này, 38.000 ‘hình hài’ đã bị thiêu hủy, vẫn chưa biết còn bao nhiêu nữa, chỉ biết chính xác một điều rằng tất cả đều là những nạn nhân vô tội của bọn kẻ cướp đầy thú tính. Tổng cộng có 80 người gần đây đã làm việc tại lò thiêu xác Ponary… Mùi hôi thối của hàng ngàn ‘hình hài’ đang phân hủy thật sự vượt quá sức chịu đựng. Các ‘hình hài’ từ năm 1941 đã bị phân hủy thành một dạng như cháo đặc. Sờ vào đầu – hộp sọ rơi ra và não người dính đẩy tay. Sờ vào tay, nó mềm như thạch và rời ra khỏi thân. Phần chân đến gần đầu gối mủn ra thành một khối thối rữa.

Nhiều ‘hình hài’ chỉ còn nhặt được xương, thường thì sẽ chất một đống trên cáng chứ không thể xác định là bao nhiêu ‘hình hài’. Những ‘hình hài’ mới của năm 1943 không bị phân hủy đến mức ấy. Một công nhân người Vilnius nhờ áo váy, tóc mà nhận ra được người quen hay người thân của mình. Một trong những người tham gia tích cực vào vụ vượt ngục, công nhân Dogim người Vilnius, hiện đang ở trong đội du kích Nevsky, lữ đoàn Voroshilov, chính tay mình đã moi ra khỏi lòng đất và đưa vào lò thiêu thi thể của vợ, mẹ và hai em gái. Nhiều người đã tìm thấy xác vợ, con, cha mẹ mình.

Công việc đặc biệt căng thẳng khi thiếu úy đến. Gã quý tộc này lúc nào cũng bảnh bao, quần áo không một nếp nhăn. Găng tay trắng đến gân khuỷu tay, ủng bóng loáng. Xịt nước hoa nhiều đến mức mùi nước hoa át cả mùi hôi thối của những hố xác. Y đứng bên trên và theo dõi từng người chúng tôi, chọn các ứng viên cho ‘bệnh xá’. Khi một người bị bệnh và không thể làm việc được, anh ta được gửi đến ‘bệnh xá’. Thông thường vào ngày Chủ nhật, người ấy được tháo xiểng, từ dưới hố được đưa lên trên, và dẫn đi không xa, chúng tôi nghe thấy tiếng súng vọng lại và… bệnh nhân ‘được chữa khỏi’.

Nhưng thiếu úy vẫn chưa hài lòng. Để giữ người lao động trong tình trạng khiếp sợ cần thiết và biết vâng lời, đích thân y bắt đầu phân loại “bệnh nhân” và “chuyển sang công việc khác”. Một “bệnh nhân” vào ngày thứ Bảy được tuyên bố: “Ngày mai mày sẽ đi bệnh xá”. Kẻ dược tuyên án đã ở với chúng tôi suốt buổi tối. vẫn binh tĩnh. Chúc chúng tôi sống sót đến ngày tự do, chờ quân Soviet tới. Sáng Chủ nhật chúng tôi xếp hàng. Chúng đi dọc theo hàng và chọn thêm một, hai bệnh nhân nữa – “chuyển sang công việc khác”. Họ được tháo xiểng và dẫn lên trên. Bốn phát súng đã chấm dứt nỗi đau khổ của họ.

Bọn Đức đặc biệt ghét giới trí thức. Trong nhóm tù binh có Yuri Gudkin, một kỹ sư Soviet trẻ tuổi, có năng lực. Thật không may, trong trại tù khi điều Gudkin đến Ponary, người ta có đề cập đến việc này. Gã thiếu úy đã vô cùng hài lòng. “A ha! Có một kỹ sư ở đây cơ!? Ai là kỹ sư? Bước lên phía trước! Mày biết đấy, công việc ở đây không phải dành cho mày! Công việc của chúng tao rất bẩn thỉu, không hợp với một người có văn hóa. Chúng tao sẽ cho mày làm việc đúng chuyên môn!” Gudkin đã được tháo xiềng và đưa lên trên. Bõm. Thế thôi. Cùng chung số phận còn có hai sinh viên trong số các tù binh. Gã thiếu úy còn có ‘thiện cảm’ đặc biệt với Moskva. Trong mọi trường hợp, khi có những quan sát viên bất kể loại nào đến, hắn luôn dẫn họ đến trước tác già của những dòng này và giới thiệu: “Vị khách này đến chỗ chúng ta từ thành phố Moskva de luxe”.

Đi vòng quanh những hàng người, hắn niềm nở hỏi: “Các bạn sống tốt không? Mọi người hài lòng chứ? Mọi người khỏe chứ? Có ai thấy chán công việc không?” Mọi người đều phải lảm nhảm những bài ca biết ơn… Bọn canh gác đơn giản hơn, bất chấp việc cấm được trao đổi trò chuyện với chúng tôi, thỉnh thoảng chúng cũng nói chuyện và công khai gọi chúng tôi là những ‘hình hài’. Khiêng cáng với ‘hình hài’ đi qua đám lính canh, chúng khích lệ: “Mang đi, mang đi, sắp tới chúng tao cũng mang mày đi như thế”.

Ngay từ hổi tháng 2, gã thiếu úy SS đã đặt nhiệm vụ moi được 800 ‘hình hài’ mỗi ngày. Bọn giám thị đã nỗ lực hết sức để tăng tốc quá trình làm việc và tăng năng suất. Công nhân bị kiệt sức vì làm việc liên tục. Chúng kéo dài thời gian làm việc mỗi ngày thêm nửa giờ, rồi thêm một giờ, cho đến khi tối mịt… Nhưng một ngày nọ, ‘vận may’ đã mỉm cười với gã thiếu úy. Cát trên những ‘hình hài’ trở nên ít hơn bình thường. Những ‘hình hài’ – hầu như liên tiếp – toàn là trẻ nhỏ, nhỏ đến mức có thể đặt được cả hai lên một cáng. Bọn giám thị thúc giục không thương tiếc. Chẳng bao lâu sau bữa tối, rõ ràng là con số mong đợi đã đạt được. Gã thiếu úy bước đi như trong khúc khải hoàn.

Nói chung, các giới chức Gestapo và SS đều ưa chuông công việc của chúng tôi. Hình ảnh hàng ngàn thây người đang phân hủy trong lòng đất và cháy trên đống lửa rõ ràng là hợp nhãn chúng. Mùi hôi thối kinh hoàng của những cái hố khiến chúng hài lòng. Trong mọi trường hợp, đủ các loại bình luận viên, quan sát viên, khách tham quan đã đến thăm chúng tôi… Chúng tôi được xếp thành hai hàng. Gã thiếu úy SS đọc bài phát biểu. Cái chính, hóa ra, nhờ sự tồ chức công việc tuyệt vời, mỗi ngày con số 800 ‘hình hài’ đã hoàn thành, là thành tựu tốt nhất đối với vô số các điểm làm việc trên khắp Litva. Nghĩa là, giới chức trách cao nhất tình đích thân phụ trách việc đốt xác, phi tang dấu vết tội ác của phát xít Đức. Nghĩa là, không chỉ tại Ponary, mà khắp Litva (lẽ nào chỉ tại Litva?!) các điểm làm việc tương tự đang hoạt động đồng thời. Vô số các điềm!!!

Sau hai tháng trời, hết ngày này sang ngày khác, lội trong đống xác người ngập đến đầu gối – ta sẽ không còn sợ chết nữa. Khi chúng tôi đốt xác còn ấm máu của những người mà tiếng kêu của họ chúng tôi vừa nghe thấy hôm qua, sự chuyển biến từ sự sống sang cái chết dường như là một chuyện quá nhỏ. Nhưng nhìn vào hình dạng bảnh bao của gã thiếu úy SS, tự nhiên lòng căm thù sôi sục trong tim. Chết – đã đành một nỗi. Nhưng không phải chết như một con cừu, không phải trong một cái hố với hai tay bị trói. “Không một ai sê biến mất bao giờ”. Biến mất. Hãy kể với người đầu tiên bắt gặp, gào lên với cả thế giới về những .gì chúng tôi đã chứng kiến tại Ponary. Để phơi bày trước toàn nhân loại sự mục ruỗng thối tha của tất cả bọn thiếu úy SS ấy…

[1] Glider M. M. Với máy quay phim ở hậu phương địch. M.: Nxb Điện Ảnh Quốc Gia, 1946. Trang 33.

[2] MNP. Var. 2. Tập 2. Trang 582; OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 609; Mục tiêu tội ác… Trang 52; Tiết lộ và thú nhận. Trang 275-279; “Tuyệt mật! Chỉ dành cho cấp chỉ huy!” Chiến lược của phát xít Đức trong cuộc chiến chống Liên Xô: Hồ sơ và tư liệu. M.: Khoa học, 1967. Trang 105; Semiryaga M. I. Hợp tác với địch.Trang 585.

[3] MNP. Van 1. Tập 5. Trang 99.

[4] ZRG. Var. 2. Trang 569.

[5] Phong trào du kích… Trang 90.

[6] Glider M. M. Với máy quay phim ở hậu phương địch. Trang 47.

[7] Như trên.

[8] Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 576.

[9] Alexievich S. Chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 62.

[10] Vert A. Nước Nga trong chiến tranh… Trang 95.

[11] Breuninger V. Những đối thủ của Hitler. Trang 277.

[12] MNP. Var. I. Tập 5. Trang 312; Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 33.

[13] Sokolov B. V. Ách chiếm đóng. Trang 82; Chiến tranh chống du kích 1941-1945 / Tập hợp A. E. Taras. M.: AST; Misnk: Harvest, 2005. Trang 10.

[14] Dickson C. O., Heilbrunn O. Phong trào du kích cộng sản.Trang 183-184.

[15] ZRG. Var. 2. Trang 125,181, 586, 622.

[16] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 267-270.

[17] Mục tiêu tội ác… Trang 48-49.

[18] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 181.

[19] Như trên. Tập 3. Trang 426, 530-531; OGB. Tập 1. Quyển 1. Trang 409, 412; Quyển 2. Trang 80, 85-86, 163.

[20] OGB. Tập 1. Quyển 2. Trang 242.

[21] Tham khảo OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 613; Quyển 2. Trang 563; Buchhait G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Đế chế. Trang 254.

[22] Kovalev B. N. Sự chiếm đóng của Đức Quốc xã… Trang 87; Drobyazko S. I. Dưới ngọn cờ của quân thù: Các đơn vị chống Soviet trong thành phần lực lượng vũ trang Đức, 1941-1945. M.: Eksmo, 2004. Trang 42.

[23] MNP. Van 1. Tập 7. Trang 183.

[24] Vào những năm 1941-1942 đã thành lập các tiểu đoàn có số hiệu từ 16 đến 28, từ 266 đến 274. Các tiểu đoàn 17, 22,23, 25, 27, 28,268, 270, 272 hoạt động tại Ukraina; các tiểu đoàn 18,24,26,271,274 – tại Belarus; các tiểu đoàn 16,19-21, 266, 267, 269, 273 – trong phạm vi Latvia và tỉnh Leningrad. Về hoạt động của các đơn vị tiễu phạt Litva tại Ukraina, tham khảo thêm: Vinokurova F. Bọn hợp tác với địch người Litva tại Ukraina trong thời kỳ phát xít chiếm đóng (1941-1944): Căn cứ phân tích các nguồn tài liệu của Cục lưu trữ quốc gia tỉnh Vilnius // Holocaust và hiện đại (Kiev). 2003. 1. Trang 11-13.

[25] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 135.

[26] OGB. Tập 1. Quyển 2. Trang 348.

[27] Wette V Hình mẫu kẻ thù… Trang 113-114.

[28] Dashichev V. I. Chiến lược của Hitler… Tập 3. Trang 575.

[29] Như trên. Trang 34-35.

[30] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của phát xít… Trang 96-97.

[31] Drobyazko S. I. Dưới ngọn cờ của quân thù. Trang 46.

[32] Như trên. Trang 47.

[33] Linkov G. M. Cuộc chiến ở hậu phương quấn thù: Bản thảo.

[34] Sokolov B. V. Ách chiếm đóng. Trang 82; Cuộc chiến chống du kích… Trang 11.

[35] MNP Var. 1. Tập 5. Trang 321.

[36] Tiết lộ và thú nhận. Trang 284.

[37] Glider M. M. Với máy quay phim ở hậu phương địch. Trang 69-70. Tham khảo thêm: Vaupshasov S. A. Biên niên lực lượng du kích. Trang 22, 24-25.

[38] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 245.

[39] Kovalev B. N. Sự chiếm đóng của phát xít… Trang 65.

[40] Cuộc chiến hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 46-47.

[41] Kovalev B. N. Sự chiếm đóng của phất xít… Trang 225.

[42] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 63.

[43] Corti E. Rất ít người đã trở về… Trang 92-93.

[44] Như trên. Trang 143-144.

[45] Cuộc chiến tranh hủy diệt ở Mặt trận phía Đông. Trang 47.

[46] Ortenberg D. I. Năm 1942. Trang 308.

[47] Melnikov D. E.) Chyornaya L. B. Bàng chuyên tử thẩn. Trang 407.

[48] ”Vòng cung lửa”. Trang 249.

[49] Filonenko N. V. Chế độ phát xít Đức tại lãnh thổ chiếm đóng tạm thời tỉnh Voronezh và sự sụp đổ của nó, tháng 7/1942 – tháng 02/1943: Luận văn thạc sĩ sử học. Voronezh, 2003. Trang 17.

[50] Tôi đã thấy điêu này… Trang 216.

[51] Vaupshasov S. A. Biên niên du kích quân. Trang 268.

[52] Như trên. Trang 268-269.

[53] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 182.

[54] Cuộc chiến chống du kích… Trang 97-102. Con số này rõ ràng được giảm thiểu: các nhà nghiên cứu Soviet cho rằng có 132 chiến dịch tiễu phạt lớn được thực hiện riêng tại Belarus từ mùa hè năm 1941 đến tháng 6/1944. Tham khảo thêm: chính sách diệt chủng của Đức Quốc xã…Trang 241-258.

[55] Cuộc chiến chống du kích… Trang 78.

[56] Ngày 21/8/1941 chỉ huy quân đội chiếm đóng tại Pháp, tướng von Stulnpnagel đã ban hành lệnh, theo đó khái niệm “con tin” bao gồm “tất cả người Pháp bị chính quyền Đức bắt giữ hoặc vì lợi ích của chính quyền Đức”. Tham khảo: Buchhait G. Abwehr – thanh kiếm và lá chắn của Đệ tam Đế chế. Trang 263.

[57] MNP. Var 1. Tập 5. Trang 203, 269; Tập 8. Trang 143. Tham khảo chỉ thị đặc biệt của Bộ tư lệnh tối cao Đức: OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 641-642.

[58] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Tập 1. Trang 112.

[59] Tổng quan các biện pháp của chính quyền Đức… Trang 46; Kovalev B. N. Ách chiếm đóng của phát xít… Trang 68.

[60] “Vòng cung lửa” Trang 344.

[61] Tổng quan các biện pháp của chính quyền Đức… Trang 46.

[62] Adamovich A., Bryl Ya.) Kolesnik V. Từ xóm thôn khói lửa…Trang 410.

[63] Alexievich S. Chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 253.

[64] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 136.

[65] Plotkin A. S. Không hoàn thành chiến công… (Ghi chép của một du kích quân). M.: Quỹ “Holocaust”, 2000. Trang 54. Những tình tiết tương tự có thể dễ dàng tìm thấy trong các hồi ký. Tham khảo thêm: Dolinko A. Những cộng đồng Pinsk và Karlin đã chết như thế… / Dịch từ tiếng Do Thái M. A. Veksler; Lời tựa G. Gorbovitsky z. Livne; chú thích G. Gorbovitsky. M.: Phục Sinh, 2005. Trang 116.

[66] Glider M. M. Với máy quay phim ở hậu phương địch. Trang 103.

[67] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 150.

[68] OGB. Tập 1. Quyển 2. Trang 348.

[69] Chiến tranh chống du kích… Trang 81-82.

[70] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 663.

[71] Glider M. M. Với máy quay phim ở hậu phương địch. Trang 55-56.

[72] Alexievich S. Chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 254.

[73] Simonov K. M. Những ngày chiến tranh khác. Tập 1. Trang 112.

[74] Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 264.

[75] Latvia dưới ách phát xít. Trang 291-292.

[76] ZPG. Var. 2. Trang 617; Varlimont V. Tại tổng hành dinh của Hitler. Trang 315.

[77] Tội ác của quân chiếm đóng phát xít Đức tại Belarus. Trang 43.

[78] Mục tiêu tội ác… Trang 132-133; VDGE. Trang 134-135.

[79] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 132-133.

[80] Như trên. Trang 134.

[81] Chuev S. G. Bọn lính đáng nguyền rủa. M.: Eksmo, Yauza, 2004. Trang 122.

[82] Chiến tranh chống du kích… Trang 148.

[83] Mục tiêu tội ác… Trang 246-247.

[84] Như trên. Trang 254-259.

[85] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 220.

[86] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng phát xít… Trang 105.

[87] Sokolov B. V. Ách chiếm đóng. Trang 113-114; Chiến tranh chống du kích… Trang 34.

[88] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 322-323; Tập 7. Trang 184-185.

[89] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 137.

[90] Như trên. Trang 135-136.

[91] MNP. Var. 1. Tập 4. Trang 582. Trong thỏa thuận có đề cập rằng người Ba Lan cũng cần được chuyển giao cho SS, nhưng không phải tất cả: những ai mà “họ tên đã được công bố hoặc nhập vào danh sách chủng tộc của Đức”, có thể không phải lo lắng. Sự hạn chế quan trọng này cho thấy, khác với bọn hạ đẳng được liệt kê ở trên, người Ba Lan được hưởng một quy chế có giá trị chủng tộc cao hơn. Vì vậy, cho đến nay họ không bị thủ tiêu hoàn toàn. Theo các sử gia Ba Lan hiện đại, “trong thời kỳ chiếm đóng, khoảng 2,8 triệu công dân Ba Lan nằm trong danh sách được gọi là công dân Đế chế, trong đó người Đức là thiểu số, còn đại đa số là người Ba Lan”. – Zycie Warszawy. 12/01/2001. Trích từ bản dịch của InoSMI.ru.

[92] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng phát xít… Trang 248.

[93] Tiết lộ và thú nhận. Trang 280.

[94] MNP Var. 1. Tập 5. Trang 264.

[95] Sokolov B. V. Ách chiếm đống. Trang 152-156.

[96] Utekhin G. M. Ghi chép của một du kích quân. St. Petersburg: Nxb VCEGEY, 2001. Trang 50.

[97] Kovalev B. N. Ách chiếm đóng phát xít… Trang 193. Tham khảo thêm: RAVO. Tập 15 (4). Quyển 3. Trang 39.

[98] Melnikov D. E.) Chyornaya L. B. Băng chuyên tử thẩn. Trang 405.

[99] Alexievich S. Chiến tranh không mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 249.

[100] Tiết lộ và thú nhận. Trang 376.

[101] Mục tiêu tội ác… Trang 119.

[102] Tiết lộ và thú nhận. Trang 294; Muller N. Wehrmacht và sự chiếm đóng… Trang 228-229.

[103] Jolly T. S. Từ vùng du kích tại Belarus // Dưới ách chiếm đóng 1941-1944: Các bài báo và hồi ký. M.: Posev, 2004. Trang 90.

[104] Tôi đã thấy điều này… Trang 201.

[105] Alexievich S. Chiến tranh khống mang khuôn mặt phụ nữ.Trang 283.

[106] Mục tiêu tội ác… Trang 112-114.

[107] Adamovich A., Kolesnik V. Từ xóm thôn khói lửa… Trang 455. Với đường dẫn đến tài liệu Glowenej komisji badania zbrodni hitlerowskih W Polsce. Ghi ngày 20/7/1943.

[108] Như trên. Trang 434. Với đường dẫn đến kho lưu trữ Viện lịch sử đảng tại Trung ương ĐCSLX. E 4. op. 33-a. D. 222. L. 12.

[109] Obrynba N. Số phận một dân quân. Trang 426.

[110] ”Vòng cung lửa”. Trang 253-254.

[111] Latvia dưới ách phát xít. Trang 230; Chuev S. G. Bọn lính đáng nguyền rủa. Trang 240-241.

[112] Như trên. Trang 102.

[113] ”Vòng cung lửa”. Trang 377-378.

[114] MNP. Var. 1. Tập 7. Trang 209-210.

[115] Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Băng chuyền tử thần. Trang 404-405.

[116] Obrynba N. Số phận một dân quân. Trang 496-497.

[117] ”Thủ tiêu người Nga càng nhiều càng tốt” / Xã luận của S. Kudryashov // Nguồn tư liệu. 1998. Số 2. Trang 74-75; Chernov V. E., Shlyakhtunov A. G. Waffen-SS của các nước Baltic… trang 81-82; Krysin M. Yu. Đạo quân SS người Baltic. Trang 135-136.

[118] Nga và Liên Xô trong các cuộc chiến tranh thế kỷ XX. Trang 233: Dân số nước Nga thế kỷ XX. Tập 2. Trang 58-59.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.