Rồi đến một ngày: những người lính Hồng quân tiến vào vùng đất của Đế chế.
Họ đã đi qua vùng đất cháy thành than, gần như là đất chết.
Suốt những năm tháng ấy, họ đã chiến đấu và sống sót chỉ với một ý nghĩ – để trả thù cho những đồng đội đã hy sinh, cho những người vợ bị làm nhục, cho những đứa trẻ bị tước mất tuổi thơ, cho những giấc mơ bị tan vỡ, cho những hy vọng bị xéo xuống bùn đen dưới gót giày phát xít Đức.
Phải giết con dã thú phát xít ngay tại hang ổ của nó.
Trong những năm chiến tranh, những từ “kẻ thù” và “quân Đức” đồng nghĩa với nhau; chúng là những mầm mống đáng nguyền rủa: bọn ăn thịt người, bọn đốt phá, bọn đao phủ, bọn căm thù loài người, bọn sói điên cuồng; bọn “fritz” giống đực là lũ chó rừng bờm xòm; bọn “gretchen” giống cái với lũ linh cẩu vây quanh, còn nước Đức là “đất nước của Hitler”, nơi sản sinh ra những kẻ giết người hàng loạt. Đất nước với đạo đức suy đồi này sẽ được nêm mọi thước đo của đau khổ.
Đó là một bộ tộc man rợ đáng bị căm thù.
Đó là vết ô nhục của lịch sử của loài người, đáng bị xóa bỏ.
Niềm tín vững chắc của những người lính Hồng quân là như thế. Họ có đủ mọi cơ sở cho niềm tin ấy.
* * *
Lòng căm thù phát xít đã không nảy sinh một sớm một chiều. Vào đầu cuộc chiến, trong hàng ngũ những người lính Hồng quân vẫn có sự tôn trọng đối với quân Đức – một biểu hiện đặc trưng sự ngưỡng mộ bất diệt của Nga trước văn hóa châu Âu. Được giáo dục theo truyền thống tinh thần chủ nghĩa quốc tế Soviet, binh sĩ Hồng quân đã trông mong vào sự đoàn kết giai cấp. “Không thể chỉ làm mỗi một việc là nã đạn từ xa… cần để quân Đức đến gần hơn, cố giải thích với họ rằng đến lúc nên nghĩ lại, nổi dậy chống Hitler, và chúng ta sẽ giúp họ việc này”, họ đã nói thế vào mùa hè năm 1941.[1]
Tuy nhiên, những ảo tưởng như thế đã sớm kết thúc. Ngay trong những tháng đầu của cuộc chiến, đã trở nên rõ ràng là quân đội Đức Quốc xã đang tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt nhân dân Soviet – đã bỏ qua mọi luật lệ thiêng liêng và nhân bản, không nương tay với cả đàn ông lẫn phụ nữ, trẻ em lẫn người già. Đến lúc ấy lòng căm thù đã thay cho tinh thần đoàn kết giai cấp.
Nhà văn Ilya Erenburg đã trở thành nghệ sĩ truyền cảm hứng cho lòng căm thù này; ngày nay, đọc những bài báo về chiến tranh của ông vẫn không thể không cảm thấy xúc động. “Chúng tôi sẽ không quên bất cứ điều gì”, Erenburg đã viết. “Chúng tôi đi dọc Pomerania, và trước mắt chúng tôi là một Belarus hoang tàn, đẫm máu. Chúng tôi sẽ mang đến Berlin mùi khét không tài nào rũ bỏ, đã ngấm vào áo khoác của chúng tôi tại Smolensk và Oryol. Trước Königsberg, trước Breslau, trước Schneidemũlle chúng tôi thấy những tàn tích của Voronezh và Stalingrad. Chúng tôi đã nói nhiều về việc phá vỡ trận phong tỏa Leningrad. Đồng thời, chúng tôi nghĩ về việc phong tỏa, về con cái của chúng tôi, những đứa trẻ đã chết, khi hấp hối vẫn van vỉ mẹ chúng: cho con một mẩu bánh mì! Những người lính đang tiến quân như vũ bão vào các thành phố Đức sẽ không quên hình ảnh các bà mẹ dùng xe trượt tuyết kéo xác những đứa con mình. Vì sự dũng cảm của mình, thành phố Leningrad đã được khen thưởng. Berlin còn phải trả lời về những đau khổ của Leningrad… Bấy giờ Berlin sẽ sớm phải trả lời – về tất cả mọi chuyện. Sẽ chịu trách nhiệm về việc quân Đức ném trẻ em lên không trung rồi nhắm bắn và gằn giọng: “Một môn thể thao mới…”. Sẽ chịu trách nhiệm về việc thiêu sống phụ nữ Nga tại tỉnh Leningrad và khoác lác: “Bọn Nga cháy như rơm, chứ không phải như thịt nướng”. Sẽ chịu trách nhiệm về việc quân Đức đã chôn sống những ông già Do Thái, chừa mỗi đầu họ nhô lên khỏi mặt đất và viết: “Đấy là những khóm hoa rất đẹp”. Berlin sẽ phải trả lời về mọi chuyện. Và Berlin lúc này không còn bao xa nữa”.[2]
…Những người lính Hồng quân đã đi trên đường phố của các thành phố và làng mạc Đức. Mọi thứ đều xa lạ, đáng ghét: những ngôi nhà xây bằng đá gọn gàng, những vỉa hè lát gạch màu, những căn hộ giàu có với máy hút bụi và máy giặt.[3] Còn sau lưng những người lính Soviet là vùng đất quê hương với những thị trấn sạch sẽ bị những kẻ tháo chạy đốt sạch, nơi thường xuyên bắt gặp tro tàn nhiều hơn nhà ở, người chết còn nhiều hơn người sống. Không có gì đáng ngạc nhiên khi khung cảnh bình yên xung quanh đã gây ra lòng căm thù, đau đớn và oán hận. “Họ chưa hề trải qua cuộc chiến! Mọi thứ của họ vẫn còn nguyên vẹn!” Vài chục năm sau, sĩ quan nhảy dù Vasily Tyukhtyaev chiến đấu ở mặt trận Ào đã thốt lên. “Còn ở chỗ chúng ta – cuộc chiến đã lấy đi tất cả! Cần phải hình dung vị thế của quân đội ta, nhân dân ta. Hãy hình dung: những vùng lãnh thổ đến tận Moskva, Ukraina, Belarus đều bị chiếm đóng. Chúng tôi đã đến Volga! Mọi thứ đều đổ nát! Mọi thứ đều bị phá hủy! Và sao chứ – chúng tôi đã đi qua vùng lãnh thổ này, đã giải phóng nó: tất cả đều phải khôi phục lại từ đầu! Còn ở chỗ họ: họ đã chiến đấu, thế mà như chưa từng có chiến tranh trên lãnh thổ của họ!”[4]
Không kiềm chế được, những người lính đã phá hủy nhà cửa và đồ đạc. Vasily Tyukhtyaev nhớ lại: “Chúng tôi vào một khu định cư, trên xe tăng. Đi với tôi là Vasya Napasnikov nay đã quá cố. Chúng tôi là lính dù. Chúng tôi có dao găm, dao để cắt dây dù. Anh ấy rút dao ra rồi bắt đầu cắt, chặt cây đàn piano trong nhà! Tôi bảo: ‘Cậu làm gì thế?!’ ‘Họ đã phá hủy ở chỗ tôi, gia đình tôi đã chết hết, còn ở đây đàn piano và tủ đẹp thế này!’ Chuyện là như vậy!”[5]
Tại thị trấn Rastenburg ở Đông Phổ, một người lính Hồng quân đã giận dữ đâm lê vào một con mannequin làm bằng papier-mâché[6] đứng trong tủ kính của một cửa hiệu bị đập phá. “Con búp bê đỏng đảnh mỉm cười, còn anh ta cứ đâm, đâm mãi. Tôi bảo: “Thôi đi! Người Đức họ nhìn kìa…”. Anh trả lời: “Đồ khốn! Chúng đã tra tấn vợ tôi…”. Anh là người Belarus.[7]
Nói chung, có thể hiểu tâm trạng của những người lính Soviet theo một ghi chép duy nhất từ nhật ký của nữ y tá Vera Vyatkina: “Giờ đây thật khó khăn để chiến đấu. Mọi thứ đều xa lạ, thù địch, mọi thứ đều đang rình rập. Nếu như giết vì lòng căm thù, thì hàng ngàn con dã thú ấy mới đủ cho mỗi một người trong chúng ta”.[8]
Cư dân của Đế chế không có thông tin đầy đủ về việc các lực lượng Wehrmacht và SS đã ở trên đất Liên Xô suốt ba năm dài. Tuy nhiên, những điều ít ỏi mà họ biết được không cho phép họ hy vọng về một sự thương xót. Rất nhiều người đã nhận thức được rõ ràng khoảnh khắc này. Trong nhật ký của một thanh niên người Đức có một ghi chép đặc trưng. “Buổi trưa, chúng tôi đi trên một chuyến tàu thành phố đầy người từ nhà ga Ankhtalsky. Đi cùng với chúng tôi trên tàu có nhiều phụ nữ di tản từ các vùng phía Đông Berlin bị Nga chiếm đóng. Họ mang theo toàn bộ tài sản của mình: một chiếc ba lô nhét chật cứng. Không có gì hơn. Nỗi hoảng sợ đông cứng trên mặt họ, sự giận dữ và tuyệt vọng tràn ngập mọi người! Tôi chưa bao giờ nghe thấy những lời chửi rủa như thế trước đây… Rồi có ai đó hét lớn, át cả tiếng ồn: “Im lặng!” Chúng tôi thấy một người lính xộc xệch, bẩn thỉu, trên đồng phục có đính hai cây thập tự sắt và một thập tự vàng của lính Đức. Trên tay áo anh ta cỗ một phù hiệu với bốn chiếc xe tăng nhỏ bằng kim loại, điều đó có nghĩa là anh ta đã hạ bốn xe tăng trong trận chiến gần đây. “Tôi muốn nói với các bạn một điều”, anh ta hét lên, và trên toa dần im lặng. “Kể cả trường hợp các bạn không muốn nghe! Đừng than vãn nữa! Chúng ta phải thắng cuộc chiến này, chúng ta không được đánh mất lòng can đảm. Nếu bọn họ chiến thắng – người Nga, người Ba Lan, người Pháp, người Tiệp và chỉ cần họ đối xử với người dân chúng ta bằng một phần trăm những gì ta đã gây ra cho họ trong sáu năm liền, thì chỉ trong vài tuần nữa, sẽ không còn một người Đức nào sống sót. Người nói điều này với các bạn là một người đã ở các quốc gia bị chiếm đóng trong sáu năm!” Trên tàu trở nên im phăng phắc đến mức có thể nghe thấy tiếng một chiếc trâm cài tóc rơi xuống”.[9]
Tiếng kêu tuyệt vọng ấy – “chúng ta không được phép thua cuộc chiến này” – đã được mỗi người Đức hiểu rất rõ. Bộ máy tuyên truyền của Goebbels đã làm mọi thứ để kích động dân cư Đế chế: không được bỏ cuộc. Từ những áp phích nhà hát tại các thành phố người ta đã thấy những tranh cổ động, trên đó in hình một nông dân Nga râu rậm trông như loài thú hoang, đeo súng máy sau lưng, xé một đứa trẻ Đức ra thành từng mảnh;[10] đất nước tràn ngập những cuốn sách kể về sự tàn bạo của giống loài hạ đẳng phía Đông.[11]
Các khuôn sáo tuyên truyền của thế kỷ trước cũng được áp dụng; bộ máy tuyên truyền của Goebbels đã nhắc nhở rằng cũng như trước đây, bọn Cozak hoang dã và tàn bạo đang đe dọa nước Đức. Theo các thuyết lịch sử giả tạo, người Cozak, vốn là hậu duệ của người Goth mà thực tế là người Aryan, may thay đã bị lãng quên. Bấy giờ người Cozak được mô tả như là những kẻ tệ hại nhất trong số những chủng loài hạ đẳng, bọn quỷ sứ từ địa ngục. “Bọn Cozak! Bọn Cozak! Bọn Cozak! – luận điệu tuyên truyền của Goebbels là đầu chúng tôi có sừng và họa có mới quỷ biết được!” Sau này Ivan Melnikov, binh nhì thuộc trung đoàn kỵ binh cận vệ, nhớ lại.[12] Nói chung, bộ phận tuyên truyền đã nhắc nhở, hầu như trong hàng ngũ Hồng quân không có người Nga nào: cũng như hàng trăm năm trước đây, lũ người Kalmykia và Trung Hoa đang tràn sang phương Tây, sẽ cho toàn châu Âu tắm máu, sẽ giết chóc và hãm hiếp. Nêu rơi vào tay chúng, các bạn sẽ không thể sống sót”.[13]
“Những kế hoạch trả thù và hủy diệt của người Bolshevik đối với nước Đức đã được biết từ lâu”, tờ báo Der Zig đã viết. “Rất lâu trước cuộc chiến này, những người Do Thái ở điện Kremlin đã vạch những kế hoạch tấn công nước Đức Quốc xã và tất cả người Đức. Bộ máy tuyên truyền Bolshevik đã nhồi vào sọ và tim binh lính của mình một cách có hệ thống những gì đã được chuẩn bị với một khoái cảm háo hức tàn bạo của những bộ não Do Thái. Sự khát máu, khao khát trả thù, dục vọng – đó là những động cơ cốt lõi mà họ cử binh lính quân đội Soviet chống lại chúng ta và đang tăng tốc cuộc hành quân trên đất Đức.
Gã Do Thái Erenburg đã xoáy sâu vào tất cả những bản năng thấp hèn đến mức điều ấy chi có thể có ở chủng tộc này. Sự quái gở ghê tởm mà quân đội Soviet đã thực hiện tại nhiều thành phố và làng mạc ở Đông Đức thật là khủng khiếp đến nỗi chỉ có thể rùng mình khi nói làm thế nào mà tinh thần Do Thái lại có thể giết chết mọi cảm xúc của con người như thế chứ”.[14]
Bộ máy tuyên truyền Đức Quốc xã đã gán cho binh lính Soviet và bộ chỉ huy Liên Xô lối suy nghĩ đặc trưng của binh sĩ và tướng lĩnh Wehrmacht Đức Quốc xã; có vẻ hợp logic là những người Nga đang phẫn nộ sẽ làm với nhân dân Đức những gì mà Đức Quốc xã đã ngoan cô muốn làm với họ – sẽ tiêu diệt đến người cuối cùng.
Quan điểm này đã được trình bày một cách rõ ràng nhất trong bài phát biểu cuối cùng của Quốc trưởng với nước Đức. “Hỡi các chiến sĩ ở Mặt trận phía Đông!” Hitler kêu gọi. “Lần cuối cùng kẻ thù chí tử trong hình hài của bọn Bolshevik và Do Thái đang chuyển sang phản công. Chúng đang cố gắng tiêu diệt nước Đức và sát hại nhân dân ta. Các chiến sĩ ở Mặt trận phía Đông, phần lớn các bạn đều biết định mệnh nào đang đón chờ đàn bà, thiếu nữ và trẻ em Đức trước tiên. Trong khi người già và và trẻ em bị giết, đàn bà và thiếu nữ sẽ bị đưa xuống làm gái điếm cho trại lính. Những thành phần còn lại sẽ bị đày đi Siberia”.[15]
Những người lính ở Mặt trận phía Đông quả thật đã biết: chính bọn chúng đã làm những điều này trên vùng đất Soviet bị chiếm đóng. Chúng giết trẻ em và người già, lùa phụ nữ vào các nhà thổ quân đội, rạch bụng những cô gái bị hãm hiếp. Chính vì vậy mà lời lẽ của Quốc trưởng và bộ máy tuyên truyền của Goebbels nghe có vẻ rất thuyết phục.
Do nỗi khiếp sợ ấy, người Đức đã cô chạy trốn càng xa càng tốt, bỏ lại nhà cửa. Khi những người lính Hồng quân tiến vào thị trấn kế tiếp của Đức, lúc đầu đường phố dường như của một thành phố chết. Những ai không kịp chạy trốn đều ẩn nấp, chờ đợi một cái chết không thể tránh khỏi.
Người Đức chờ đợi một cuộc xâm lược man rợ; những người lính Liên Xô tiến vào hang ổ của dã thú.
Dường như vùng đất của Đế chế sắp chìm trong biển máu.
* * *
Ngày nay, khi suy ngẫm về những sự kiện của hơn 60 năm trước, không thể tách khỏi ấn tượng là một phép lạ đã xảy ra vào mùa xuân năm 1945. Bất chấp những tiếng gào thét tuyên truyền của những kẻ xét lại hiện nay, một sự thật không thể nghi ngờ vẫn còn mãi: người Đức đã không phải chịu đến 1% nỗi kinh hoàng mà những người lính của họ đã thực hiện ở Mặt trận phía Đông. Không kể những sự cố rối loạn riêng lẻ, đã bị Bộ chỉ huy nghiêm khắc chặn đứng, nói chung Hồng quân đã đối xử với dân cư Đế chế một cách đúng mực đáng ngạc nhiên. Một người lính Liên Xô đã cứu một cô gái người Đức tại công viên Treptower không phải là sự cường điệu tuyên truyền, đó là một sự thật được khắc trên đá.
“Chúng tôi đã chiến đấu giành từng hành lang, từng căn phòng”, I. D. Perfilyev, người đã tham gia cuộc tấn công Berlin, nhớ lại. “Quân Đức thường biến một tòa nhà thành pháo đài, vì thế phải xông vào. Tôi nhớ, vào một trong những cuộc tấn công ấy, khi trận chiến đang diễn ra ầm ầm ở những tầng trên, tôi và một số binh sĩ khác cùng tiểu đoàn đã phải lội trong bóng tối đen như mực, gần như bơi, để đưa trẻ em, phụ nữ, người già Đức ra khỏi tầng hầm bị phát xít làm ngập nước. Chúng tôi, những người Soviet, không thể nào đứng nhìn trẻ em chết trước mắt mình được…”.[16]
Để hiểu được điều đó có thể xảy ra như thế nào, những người sống trong hận thù nhiều năm ròng, đã kiềm chế việc trả thù ra sao, nên quay lại đầu năm 1945, khi những binh đoàn Soviet vừa mới tiến vào đất địch.
Trong hồi ký của thượng sĩ pháo binh Vsevolod Olympyev có một tình tiết thú vị. “Một buổi sáng tháng 2 ảm đạm, trung đoàn đã vượt qua biên giới Đức. Đứng bên vệ đường, tướng sư đoàn trưởng kỵ binh chào mừng những đoàn quân đi qua và kêu gọi trả thù cho những thành phố và làng mạc bị phá hủy của ta, vì sự đau khổ của nhân dân. Trong ba năm nay chúng tôi đã chuẩn bị để trả thù phát xít. Bấy giờ câu hỏi được đặt ra: cụ thể là trả thù ai và như thế nào?”[17]
Câu hỏi này quả thật không thể không khiến những người lính Soviet lo lắng. Trong thời gian chiến tranh đang xảy ra trên lãnh thổ của mình, mọi thứ đều rõ ràng: bất kỳ người Đức nào – không quan trọng trong trang phục quân sự hay dân sự – đều là kẻ thù vô điều kiện. Nhưng giờ đây, rốt cuộc khi dưới chân là vùng đất Đức đáng ghét. Phải trả thù ai? Tất tần tật? Hay chỉ một số?
“Lòng căm thù hãy còn sôi sục, chưa kịp nguôi ngoai. Trời ạ, nếu như trước mặt chúng tôi là Hitler hay Himmler, các bộ trưởng, lực lượng Gestapo, bọn đao phủ!” Ilya Erenburg đã viết trong hồi ký sau chiến tranh. “Nhưng trên đường là những cỗ xe thồ kẽo kẹt một cách đáng thương, những người Đức già cuống cuồng vô ích, trẻ con mất mẹ khóc lóc inh ỏi, trong tim tôi dâng trào một niềm thương xót. Tất nhiên, tôi còn nhớ quân Đức đã không thương hại chúng tôi, tôi còn nhớ mọi chuyện, nhưng chủ nghĩa phát xít, Đế chế, nước Đức là một chuyện, còn ông lão ấy, đầu đội chiếc mũ Tyrolean kỳ quặc gắn một chiếc lông vũ, chạy trên con đường ngoằn ngoèo, tay vẫy một mảnh tấm trải giường”.[18]
Thay vì binh sĩ Wehrmacht hay SS đáng ghét thường thấy, thay vì cụm từ trừu tượng “bọn fritz”, những người lính Soviet đã nhìn thấy những con người bình thường. Xa lạ, đôi khi không hiểu được, nhưng vẫn là người.
“Tôi nhớ tại Phổ, ở một thị trấn, một trường hợp như thế đã xảy ra với tôi. Tôi lái xe tải đến một tòa nhà để lấy nước. Ở lôi vào tầng hầm có một lính gác. Từ tầng hầm vọng lên một số giọng nói. Tôi hỏi người lính gác: ‘Ai đang ở đó?’ ‘Bọn fritz. Chưa kịp bỏ chạy. Những gia đình đang ở đó. Đàn bà, đàn ông, trẻ nhỏ. Chúng tôi nhốt bọn họ vào đây’. ‘Giữ họ ở đây để làm gì?’ ‘Ai biết họ là ai, lỡ họ trốn mất, rồi lại đi tìm. Anh muốn thì xuống xem’. Tôi xuống tầng hầm. Lúc đầu tôi quá, tôi không thấy gì cả. Khi mắt đã hơi quen, tôi thấy những người Đức này ngồi ở một chỗ rộng, có tiếng xôn xao, bọn trẻ đang khóc. Khi nhìn thấy tôi, mọi người đều im lặng và nhìn với vẻ khiếp đảm – con dã thú Bolshevik đã tới, bây giờ nó sẽ hiếp, bắn, giết. Tôi cảm thấy tình hình rất căng thẳng; nên nói vái họ vài câu bằng tiếng Đức. Họ mừng rỡ vô cùng! Họ níu lấy tôi, chìa ra nào là đồng hồ đeo tay, quà tặng. Tôi thầm nghĩ: ‘Những con người bất hạnh, các người đã đến mức này rồi ư? Một nước Đức tự hào đã nói lên sự vượt trội của mình, mà giờ đây đột nhiên lại hèn hạ như vậy ư’. Một cảm giác xen lẫn giữa lòng thương hại và ác cảm xuất hiện”.[19]
Thiếu úy Pyotr Kirichenko mang theo ký ức này suốt cuộc đời. Những người Đức bại trận đã không còn gây ra lòng căm hận, mà là lòng thương hại.
“Vấn đề trả thù phát xít tự thân nó đã biến mất bằng một cách nào đó”, Vsevolod Olympyev tổng kết. “Chế nhạo phụ nữ và trẻ em, các ông già bà lão thì không hợp với truyền thống của nhân dân ta. Và tôi đã không gặp những người đàn ông Đức không vũ trang, thích hợp để phục vụ quân đội, tại các thành phố Silesia, hoặc sau đó vào tháng 4 tại Sachsen. Thái độ của những người lính Soviet đối với người dân Đức nơi họ vẫn còn ở lại, có thể được gọi là trung lập thờ ơ. Không một ai, ít nhất là ở trung đoàn chúng tôi, đã đuổi theo và động chạm vào họ. Hơn nữa, khi gặp một gia đình người Đức đông con rõ ràng đang đói khát, chúng tôi đã chia sẻ thức ăn cho họ mà chẳng cần phải nói một lời thừa”.[20]
Thấu hiểu nghĩa là tha thứ, minh triết dân gian nói thế. Những người lính Hồng quân chưa sẵn sàng tha thứ, nhưng họ không thể trả thù những kẻ không có khả năng phòng vệ.
Tất nhiên, không phải tất cả mọi người. Rất nhiều người sau chiến tranh bị mất mọi thứ: nhà cửa, vợ con, cha mẹ, bạn bè. Và họ, những người chỉ sống trong sự nung nấu ý chí trả thù, không thể từ bỏ nó một sớm một chiều.
Những ai đã chịu đau khổ vì quân Đức, người thân của họ bị bắn chết, bị bắt đi, nhà cửa bị phá hủy, ban đầu họ cho rằng mình có quyền đối xử với người Đức theo cách tương tự: “Sao chứ?! Nhà cửa tôi bị phá, người thân tôi bị giết! Tôi sẽ nghiền nát bọn khốn ấy!” Pyotr Kirichenko nhớ lại.[21]
Tuy nhiên, những tâm trạng như thế đã bị Bộ chỉ huy quân sự dập tắt một cách cứng rắn. Giới lãnh đạo Liên Xô đã đưa ra câu trả lời cho câu hỏi “trả thù ai” ngay từ hồi tháng 2/1942. Khi đó, theo công lệnh ngày 23/02, Stalin đã chỉ thị: “Đôi khi báo chí nước ngoài ba hoa rằng mục tiêu của Hồng quân là hủy diệt nhân dân Đức và tiêu diệt nhà nước Đức. Tất nhiên, điều ấy là lời dối trá ngớ ngẩn và vu khống ngu xuẩn cho Hồng quân. Hồng quân không có và cũng không thể có những mục tiêu ngu ngốc như vậy… Kinh nghiệm lịch sử cho biết rằng những người như Hitler đến rồi đi, nhưng nhân dân Đức, nhà nước Đức vẫn còn tồn tại mãi”.[22]
Những lời này vẫn còn hiệu lực ba năm sau đó; ngay khi Hồng quân vừa tiến vào vùng đất địch, một mệnh lệnh đã được ban hành về hình phạt nghiêm khắc đối với tội ác chống thường dân vô tội. Năm 1944, các đại diện của tổ chức đoàn thanh niên Komsomol trong quân đội được triệu tập đến Moskva để nghe “anh cả” của toàn liên bang Kalinin[23] cảnh báo: “Hãy cư xử như cần thiết để giữ gìn, bảo vệ danh dự của Liên Xô – nhà nước công nông đầu tiên, ứng xử có văn hóa, lịch sự với người dân. Hãy chứng tỏ rằng chúng ta thật sự không phải là những kẻ xâm lược”.[24]
Lính kỵ binh Nikolai Kovalenko thuật lại:
“Vào thời điểm đó, khi chuẩn bị qua biên giới, chúng tôi còn nói: ‘Ờ đấy chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì chúng ta muốn!’ Khi đã qua biên giới nước Áo, chúng tôi, cả tôi nữa, lại nói: ‘Ở đấy chúng ta sẽ làm những gì anh muốn!’ Phải, tất cả chúng tôi, các chỉ huy của chúng tôi: ‘Phải, ở đấy! (dứ nắm đấm lên) Phải, chúng ta sẽ…’.
“Rồi đúng như thế chứ?”
“Không hề, bị ngăn chặn ngay lập tức. Họ ngăn cấm ngay: bất cứ trường hợp nào cũng không được”.[25]
Bộ chỉ huy hành động rất quyết liệt. “Ngay sau khi tiến vào Đông Phổ, chúng tôi được thông báo một mệnh lệnh lên án hành vi bạo lực đối với thường dân, đặc biệt đối với phụ nữ và hành động cướp bóc. Trong lệnh nói rõ những hình phạt nghiêm khắc (kể cả xử bắn) sẽ được áp dụng với những kẻ vi phạm”, trung úy cận vệ Isaac Kobylyansky hồi tưởng, còn Anatoly Muzhikov thuật lại: “Tại các cửa ngõ vào Berlin, bộ chỉ huy cấp cao đã ban hành những chỉ thị và mệnh lệnh cho các binh đoàn. Trong đó yêu cầu phải cư xử đúng mực với thường dân Đức, nghiêm cấm cướp bóc và hãm hiếp. Những yêu cầu này đã được quân đội tuân thủ”.[26]
Các biện pháp được thực hiện nghiêm ngặt đến mức nửa thế kỳ sau những người lính vẫn nhớ lại mà không khỏi không khiếp sợ. “Cứ thử lấy một thứ gì ở đó mà không xin phép xem”, chiến sĩ xe tăng Vladimir Daudov thuật lại, “tiêu đời ngay! Bòm!”[27]
Những kẻ vi phạm không chỉ bị bắn hay bị đưa đến nơi cải tạo; để biết được thái độ đối với sự sống, cái chết và danh dự của người lính được hình thành trong chiến tranh: “Không ai chết hai lần, nhưng cũng không tránh khỏi một lần”, tòa án binh chiến trường đã chọn một hình phạt nặng nề nhất cho một người lính vi phạm. Một hình phạt mà người ấy sẽ nhớ mãi suốt quãng đời còn lại. Một hình phạt sẽ xóa sạch quá khứ huy hoàng của anh ta.
“Ta không nhớ gì hết, cháu gái à, không nhớ gì hết”, ông tôi lặp lại với tôi… Ông đã đến Berlin. Tòa án binh đã xem xét trường hợp của ông khá lâu: xả hết băng đạn vào một tù binh Đức. Ông đã nhận tội, nhưng không đồng ý với phán quyết của tòa: “Tốt hơn hết là bắn tôi đi, xin đừng tước huân chương!” Mọi huy chương và huân chương đều bị tước hết. Kể từ đó, ông tôi “không còn nhớ gì” về cuộc chiến. Ngày 09/5 ông đóng cửa ở nhà một mình tưởng niệm các đồng đội cũ. Người ta đã phục hồi các huy chương cho ông, nhưng ông không bao giờ đeo chúng nữa. Ông không bao giờ nói gì về chiến tranh”, Indira Kvyatkovskaya, cháu gái của một cựu chiến binh, đã viết.[28]
Tất nhiên, không chỉ mỗi trấn áp mà còn giáo dục: tại các giờ học chính trị, binh lính đã được giải thích rõ ràng dễ hiểu lý do vì sao họ không được động chạm đến thường dân. “Trung tá Nefedov đã cảnh báo chúng tôi: Máu đã đổ quá nhiều trong cuộc chiến này. Nhưng chúng ta vào lãnh thổ nước Đức không phải để trả thù người dân Đức, mà là để tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và quân đội của chúng”, Vladimir Vishnevsky nhớ lại.[29]
Trên các trang báo quân đội, Ilya Erenburg đã kêu gọi lòng nhân từ cao cả:
“Có những con người, và có bọn ăn thịt người. Quân Đức đã bắt trẻ em và treo chúng lên cây để đánh. Đối với chiến sĩ Hồng quân, trẻ em là trẻ em. Tôi đã thấy những người lính Nga cứu mạng trẻ em Đức và chúng ta không xấu hổ về điều ấy, chúng ta tự hào vì điều ấy.
Quân Đức đốt nhà có người dân bên trong, trói các bà lão vào đuôi ngựa kéo lê, bạo lực, hành hạ những người không có khả năng phòng vệ, hãm hiếp. Không, chúng tôi sẽ không đáp trả chúng bằng cùng một hành động! Lòng căm thù của chúng tôi là một cảm giác cao độ, nó đòi hỏi sự phán xét, chứ không phải trừng trị hay hình phạt, không phải bạo lực. Chiến sĩ Hồng quân là một hiệp sĩ. Anh ta giải thoát các cô gái Ukraina và tù nhân Pháp. Anh ta giải phóng người Ba Lan và người Serbia. Anh ta giết lính của Hitler, chứ không nhạo báng các bà lão người Đức. Anh ta không phải là đao phủ hay kẻ hiếp dâm. Trên đất Đức, chúng tôi vẫn là những người Soviet”.[30]
Đấy không chỉ đơn thuần là những lời hay ý đẹp; mà nói chung, đó là tất cả. Sự căm thù phát xít không biến mất; song ít ra nó đã không trút vào thường dân.
Tại Rastenburg, thiếu tá Rosenfeld được bổ nhiệm làm chỉ huy thành phố. Đức Quốc xã đã giết hết gia đình ông. Và ông đã làm mọi thứ để bảo vệ dân cư thành phố Đức… Một cô bé được đưa đến chỗ chỉ huy lúc đó có mặt tôi – bố mẹ cô bé đã chết. Thiếu tá nhìn cô bé trìu mến và buồn bã, có lẽ ông nhớ tới đứa con gái mình. Có lẽ đã bao lần ông đã tự nhắc nhở bản thân những lời về “sự báo thù thiêng liêng”, nhưng ở Rastenburg ông nhận ra rằng đó chỉ là điều trừu tượng và vết thương trong tim ông sẽ không thể nào lành được”.[31]
* * *
Việc người Đức nhìn thấy được chất người trong binh lính Liên Xô cũng khó khăn không kém việc xóa bỏ hận thù của nhau. Suốt bốn năm trời Đế chế Đức đã tiến hành cuộc chiến tranh với bọn hạ đẳng kinh tởm, do lũ Bolshevik say máu cầm đầu; hình ảnh kẻ thù đã quá quen thuộc để có thể sớm từ bỏ nó.
“Nửa ngày đã trôi qua kể từ khi người Nga đến, và tôi vẫn còn sống”.[32] Câu này, được một bà lão người Đức nói ra với sự ngạc nhiên không giấu giếm, đã là sự kết tinh nỗi khiếp sợ của người Đức. Bộ máy tuyên truyền của tiến sĩ Goebbels đã đạt được những thành công đáng kể: thậm chí dân chúng sợ việc người Nga đến còn hơn là cái chết.
Các sĩ quan Wehrmacht và cảnh sát, biết đủ rõ về tội ác của Đức Quốc xã ở Mặt trận phía Đông, đã tự tay bắn chết gia đình và tự sát. Trong hồi ký của các binh lính Liên Xô có một loạt bằng chứng về những thảm kịch như vậy.
“Chúng tôi chạy vào một tòa nhà. Hóa ra là một bưu điện. Một người đàn ông đứng tuổi khoảng độ 60 trong trang phục nhân viên bưu điện. “Chuyện gì ở đây vậy?” Trong lúc nói chuyện, tôi nghe thấy tiếng súng bên trong ở một góc xa… Hóa ra một sĩ quan cảnh sát Đức cùng gia đình đang trú tạm ở bưu điện. Chúng tôi vào đó, súng máy trên tay. Chúng tôi mở cửa, ào vào và nhìn thấy một người Đức ngồi trên ghế tựa, tay thõng xuống, máu tuôn ra từ thái dương. Trên giường có một người phụ nữ và hai đứa trẻ, ông ta bắn họ, rồi ngồi xuống ghế và tự sát, chúng tôi cảm thấy bất ngờ. Khẩu súng lục của ông ta rơi xuống bên cạnh”.[33]
Trong chiến tranh, người ta nhanh chóng quen với cái chết; tuy nhiên, không thể quen được với cái chết của trẻ thơ vô tội. Và những người lính Soviet đã làm mọi cách có thể để ngăn chặn những thảm kịch như vậy.
“Đột nhiên, sát gần bên – một phát súng từ ngồi nhà nơi chiếc xe đầu tiên của chúng tôi dừng lại… Một sĩ quan Đức tự bắn mình bằng khẩu Parabellum[34], còn ở phòng bên cạnh một phụ nữ và hai em bé nằm sõng soài, sùi bọt mép. Quân y sĩ Korolev xông vào nhà. Anh ra lệnh cho người lấy sữa từ chuồng bò. Hai ngày sau, những đứa trẻ bắt đầu hồi phục. Người phụ nữ thuật lại những gì chồng bà đã nói đêm qua: “Mọi chuyện kết thúc. Em và bọn trẻ không thể lọt vào tay chúng được”. Khi nghe thấy tiếng xe đến gần, người chồng bắt đầu vội vã cho đứa con trai và con gái uống cạn nước trong ly. Dưới họng súng, người vợ cũng uống hết thuốc độc, sau đó cô ta bất tỉnh”.[35]
Đối với người Đức, điều ấy là một cú sốc và một phát hiện mới: thay vì xé xác những đứa trẻ ra thành từng mảnh, đám người hạ đẳng phía Đông đã cứu chúng khỏi cái chết sắp xảy tới.
Những người lính Nga đáng sợ mỉm cười y hệt như những con người bình thường; thậm chí họ còn biết các nhà soạn nhạc người Đức – ai có thể nghĩ nổi điều ấy là khả dĩ! Câu chuyện, như thể xuất phát từ tấm áp phích tuyên truyền, nhưng lại hoàn toàn có thật: ở thành phố Vienna mới được giải phóng, khi dừng lại nghỉ chân, những người lính Soviet bắt gặp cây đàn piano trong một ngôi nhà. “Không thờ ơ với âm nhạc, tôi đề nghị trung sĩ của mình, Anatoly Shats, một nghệ sĩ dương cầm, chơi thử nhạc cụ xem anh ấy có quên hay không”, Boris Gavrilov nhớ lại. “Vừa chạm nhẹ vào phím đàn, đột nhiên anh ấy bắt đầu chơi với nhịp nhanh mà không cần dạo thử. Những người lính im phăng phắc. Đó là một thời khắc thanh bình đã bị lãng quên từ lâu, mà thảng hoặc chỉ được nhắc nhớ trong những giấc mơ. Từ những ngôi nhà xung quanh dân địa phương bắt đầu tiến lại gần. Điệu Waltz tiếp nối điệu Waltz – đó là Strauss! – thu hút mọi người, tâm hồn mở rộng cho những nụ cười, cho cuộc sống. Những người lính mỉm cười, những vòng hoa mỉm cười…”.[36]
Thực tại nhanh chóng làm sụp đổ những định kiến do tuyên truyền của Đức Quốc xã ngụy tạo, và ngay khi cư dân của Đế chế bắt đầu ý thức được rằng không có gì đe dọa cuộc sống của mình, họ đã trở về nhà. Khi Hồng quân chiếm làng Ilnau vào sáng ngày 02/01, họ thấy ở đó chi còn hai ông lão và một bà lão; đến tối ngày hôm sau đã có hơn 200 người trong làng. Tại thị trấn Klesterfeld, khi quân đội Liên Xô tiến vào chỉ còn 10 người ở lại; đến tối đã có 2.638 người từ trong rừng trở về. Ngày hôm sau, cuộc sống yên bình bắt đầu trở lại ở thị trấn. Dân địa phương rất ngạc nhiên khi nói với nhau: “Người Nga không những không làm hại chúng tôi mà còn quan tâm đến việc để chúng tôi không bị đói”.[37]
Năm 1941, khi lính Đức tiến vào các thành phố của Liên Xô, chẳng bao lâu sau ở đó bắt đầu xảy ra nạn đói: thực phẩm được sử dụng cho nhu cầu của Wehrmacht và được chở về Đế chế, người dân thành thị chuyển sang chế độ khẩu phần. Năm 1945, mọi thứ đúng hệt như thê nhưng ngược lại: ngay khi chiếm đóng các thành phố ở Đức, Liên Xô bắt đầu tổ chức chính quyền tại vùng chiếm đóng, cư dân địa phương bắt đầu được nhận khẩu phần lương thực, thậm chí còn nhiều hơn họ đã được phát trước kia.
Sự kinh ngạc của người Đức khi nhận ra sự việc này được thể hiện rõ qua lời kể của Elizabeth Schmeer, một người dân Berlin: “Đức Quốc xã đã nói với chúng tôi rằng nếu như người Nga đến đây, họ sẽ ‘cho chúng tôi tắm máu’. Hóa ra hoàn toàn khác: những người thua cuộc, mà quân đội của họ đã gây nhiều đau khổ cho nước Nga, lại được những người chiến thắng cho thực phẩm còn nhiều hơn chính phủ của họ đã cho trước kia. Chúng tôi cảm thấy khó hiểu. Rõ ràng, chỉ người Nga mới có khả năng thể hiện chủ nghĩa nhân văn như vậy”.[38]
Những hành động của chính quyền chiếm đóng Soviet, tất nhiên, được ước định không chỉ do chủ nghĩa nhân văn, mà còn do những cân nhắc mang tính thực dụng. Tuy nhiên, việc những người lính Hồng quân tự nguyện chia sẻ thức ăn của họ cho người dân địa phương thì không thể giải thích được bằng chủ nghĩa thực dụng nào cả – đó là sự rung động của tâm hồn.
“Và chúng tôi ngồi xuống bên bánh xích xe tăng ngay trên mặt đường nhựa vẫn còn vết máu. Lần dừng đầu tiên để tưởng nhớ những ai không còn sống sót. Đột nhiên đám trẻ con xuất hiện nhiều như nấm. Chúng tôi trao đổi với chúng bằng tay và nụ cười, cho chúng ăn và một vài thứ mà chúng tôi có”.[39]
Ngay khi người Đức bắt đầu nhận ra rằng những người Nga đến đây cũng không đến nỗi đáng sợ lắm, chính họ đã vui vẻ chủ động giao tiếp. I. N. Melnikov nhớ lại: “Tôi đang đi trên đường. Một ông già bước ra: ‘Gutten Tag’, ông nói. Tôi biết câu này từ hồi đi học, tôi cũng nói: ‘Gutten Tag’. Tôi xuống ngựa, đi về phía nhà ông: một bà già và một cô gái. Họ nói với nhau gì đó. Rồi dọn bàn ngay. Mời vào bàn. Bằng cách nào đó bà ấy nói: ‘Nào, xin mời ăn’. Rồi họ ngồi vào bàn. Tôi cùng ăn với họ, mọi thứ đều ổn. Nói chung, họ đón tiếp chúng tôi rất tốt”.[40]
Những người lính Soviet cũng không còn nợ nần gì nữa; người dân địa phương vẫn nhớ rõ lòng tốt và thiện chí của họ.
“Tên anh là Nikolai Semyonovich Silnev”, Irmgard Dietz đã thuật lại vài chục năm sau đó. “Chúng tôi gặp nhau tại Berlin vào tháng 5 /1945, khi đó tôi 20 tuổi và sống với mẹ, em gái và bạn gái. Khu định cư của chúng tôi có rừng sồi bao quanh, nơi đơn vị của Nikolai đóng quân. Chúng tôi ít khi tiếp xúc với người Nga, vì chiến tranh vừa kết thúc.
Có lần Nikolai đến khu định cư với một “khẩu nồi hầm” – chúng tôi gọi thứ bếp nấu ăn dã chiến như vậy, anh đang tìm người để làm sạch nồi lò. Chúng tôi đang ở trong vườn, anh ấy nói chuyện với chúng tôi. Tuy rất sợ, nhưng chúng tôi đã giúp anh và còn cho ngựa uống nước. Để cảm ơn, chúng tôi được cho súp. Anh cố nói chuyện với chúng tôi một cách thân thiện, nhưng nỗi sợ của chúng tôi vẫn chưa qua được.
Sau đó, anh đến mỗi ngày – ngồi với chúng tôi trong vườn và rất vui. Anh thích tôi, nhưng không bao giờ tiếp xúc gần gũi với tôi, chỉ bắt tay chào hỏi. Anh dành hết thời gian rảnh cho tôi khi tôi bị viêm phổi. Anh hay cười, tiếng cười của anh làm chúng tôi hết sợ hãi. Sự cởi mở và đầy tình người của anh đã khiến chúng tôi trở thành bạn bè, bất kể rào cản ngôn ngữ, điều kiện khó khăn của cuộc sống, nguồn gốc khác nhau. Anh đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự hồi phục tinh thần của tôi và chắc chắn, bằng một cách nào đó đã tác động đến tương lai của tôi. Anh để lại địa chỉ, nhưng vì lý do nào đó mà thư từ không đến được.
Tôi đã nghĩ nhiều về anh và muốn nói với anh một lần nữa rằng tôi mãi mãi biết ơn số phận về cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của chúng tôi”.724
Nỗi sợ hãi đã nhanh chóng qua đi. Trong khu rừng Vienna nổi tiếng, những người lính Soviet đã dừng lại nghỉ chân. Chiến tranh vẫn đang diễn ra; tuy nhiên, đã sắp đến hồi kết thúc, và tinh thần của người lính đã không còn là tâm trạng chiến tranh. “Tôi xuống ngựa, trải một tấm chăn, lấy yên ngựa thay cho gối, nhìn lên bầu trời và những vì sao”, I. A. Tyaflya hồi tưởng. “Bỗng có ai hét lớn với tôi: ‘Trung úy, đi hái dâu ăn!’ Những người lính đã tìm thấy một loại dâu có hương vị tuyệt vời, tôi không biết tên gọi chính xác là gì. Ngọt lịm. Chúng tôi đã ăn loại dâu này. Tất nhiên, tôi đã thiếp đi, rồi lại ngắm sao trời. Sáng ra tôi thức dậy, và đấy là điều khiến tôi sửng sốt. Một người Áo trạc 40 tuổi đi vào rừng buổi sáng, Ở đây là những người lính, đang chiến tranh, thế mà ông ta đi hái nấm hương. Cứ như thế không có gì xảy ra. Tôi rất đỗi ngạc nhiên…”.725
Ngày dài chờ đợi và nếm trải nhiều đau khổ ấy đã cận kề khi người ta vui sướng ôm nhau trên đường phố, khi những người lính đi qua một nửa châu Âu mà không phải ẩn nấp, khóc òa vì vui sướng, khi Chiến thắng được mong chờ bấy lâu nay đã khiến chúng ta quên đi hận thù và sợ hãi.
* * *
Hơn 60 năm đã trôi qua kể từ thời điểm chiếm được Berlin; Đệ tam Quốc xã bị sụp đổ, và nước Đức hiện đại là một trong những đôi tác của nước Nga. Theo các nghiên cứu xã hội học, người Đức từ lâu đã không còn được coi là kẻ thù; mối hận thù và nỗi đau đã lui vào quá khứ. Tuy nhiên, không được phép lãng quên về cuộc chiến đó.
Thế chiến thứ hai đã mang lại quá nhiều đau thương cho tất cả các dân tộc đã tham chiến, khiến người ta đơn giản muốn quên đi những ký ức đau thương ấy. Chúng ta biết rằng thường dân Đức cũng phải chịu nhiều đau khổ do những hoạt động chiến sự diễn ra trên đất họ – và chúng ta thật sự lấy làm tiếc về chuyện đó. Nhưng chúng ta cũng biết rằng nhân dân ta đã phải chịu đau khổ gấp trăm lần, khi đó vận mệnh dân tộc được đặt trên lằn ranh sống chết.
Và hơn thế nữa, chúng ta không được phép quên rằng những người lính Soviet, sau khi chiến thắng kẻ thù, đã tìm thấy sức mạnh đạo đức trong bản thân để từ bỏ việc trả thù.
Khi quân Đức, u mê trước ý thức hệ Đức Quốc xã, đến đất của chúng ta, bộ chỉ huy của chúng đã chính thức miễn hình phạt cho những tội ác mà chúng gây ra ở Mặt trận phía Đông: cướp, hiếp, giết! Những gì chúng đã làm.
Khi Hồng quân, chứng kiến vùng đất quê hương bị thiêu rụi sau ách cai trị của phát xít, tiến vào lãnh thổ Đức, Bộ chỉ huy Liên Xô đã nghiêm cấm bạo lực, cướp bóc, và xử bắn những kẻ vi phạm.
Khi Đức Quốc xã chiếm đất của Nga, chúng tuyên bố thẳng không quan tâm có bao nhiêu triệu công dân Soviet sẽ bị chết đói. Và hàng triệu người đã chết.
Khi quân Nga tiến vào nước Đức, ngay sau khi kết thúc chiến trận, người Nga đã phát bánh mì cho thường dân và sữa cho trẻ em.
Và điều ấy có một giá trị nào đó.
[1] Chương này viết chung với D. S. Gorchakova.
[2] ErenburgL G. Con người, những năm tháng, cuộc đời. Tập 2. Trang 300.
[3] Erenburgl. G. Chiến tranh, 1941-1945. Trang 711-712.
[4] Viện lưu trữ lịch sử Đại học Nhân văn Nga. Tuyển tập. KAA. L. 154, 215, 251, 308, 407.
[5] Như trên. L. 517.
[6] Như trên.
[7] Erenburg I. G. Con người, những năm tháng, cuộc đời. Tập 2. Trang 453.
[8] Tôi đã thấy điều này… Trang 167.
[9] Cuộc chiến tranh Đức chống Liên Xô. Trang 255.
[10] Viện lưu trữ lịch sử Đại học Nhân văn Nga. Tuyển tập KAA. L. 19.
[11] Như trên. L. 463.
[12] Như trên. L. 244.
[13] Như trên. L. 167, 166,48. Chẳng hạn, bài xã luận “volkscher Beobachter” ngày 10/04/1945 đã nêu rõ: “Die bolschewichtich Orden gehen nach Wien”.
[14] Lavrenov S. Ya., Popov 1. M. Sự sụp đổ của Đệ tam Đế chế. M. AST, 2000. Trang 68-69.
[15] Như trên. Trang 50.
[16] Senyavskaya E. S. ”Hơi thở của Chiến thắng”: Tâm trạng của Hồng quân mùa xuân 1945 II Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, 1941r1945: Kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy. M. Đại học Nhân văn Nga, 2005. Trang 191.
[17] Nguồn tài liệu internet “Tôi nhớ” (www.iremember.ru, viết tắt là IR). Phỏng vấn olympyev V. I.
[18] ErenburgL G. Con người, những năm tháng, cuộc đời. Tập 2. Trang 453.
[19] Drabkin A. Ya. Tôi đã chiến đấu trên chiếc T-34: Qua lò lửa chiến tranh / Bài báo đi kèm A. Isaev, G. Pernavsky. M.: Eksmo; Yauza, 2005. Trang 175-176.
[20] IR. Phỏng vấn Olympyev V. I.
[21] Drabkin A. Ya. Tôi đã chiến đấu trên chiếc T-34. Trang 175-176.
[22] Stalin I. V. về cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại… Trang 43.
[23] Viện lưu trữ lịch sử Đại học Nhân văn Nga. Tuyển tập KAA. L. 507.
[24] Như trên. L. 237-239.
[25] IR. Phỏng vấn Kobylyansky I. G.
[26] IR. Phỏng vấn Muzhikov A. N.
[27] Tôi đã thấy điều này… Trang 233-234.
[28] Như trên. Trang 45.
[29] Erenburg I. G. Chiến tranh, 1941-1945. Trang 721. Như ta thấy, những câu chuyện phổ biến nói rằng tuyên truyền của Liên Xô năm 1945 do Erenburg kêu gọi trả thù chẳng có gì khác hơn lời dối trá tầm thường chống Liên Xô do bộ máy tuyên truyền của tiến sĩ Goebbels bịa ra và được những người theo chủ nghĩa xét lại hiện đại ủng hộ.
[30] Erenburg I. G. Con người, những năm tháng, cuộc đời. Tập 2. Trang 453.
[31] Lavrenov S. Ya., Popov I. M. Sự sụp đổ của Đệ tam Đê chế.Trang 370.
[32] IR. Phỏng vấn Larin P. I.
[33] Tôi đã thấy điều này… Trang 205.
[34] Như trên. Trang 70.
[35] Lavrenov S. Ya., Popov I. M. Sự sụp đổ của Đệ tam Đế chế.Trang 370.
[36] Như trên. Trang 308.
[37] Tôi đã thấy điêu này. Trang. 231.
[38] Viện lưu trữ lịch sử Đại học Nhân văn Nga. Tuyển tập KAA. L. 242.
[39] Tôi đã thấy điều này… Trang 204.
[40] Viện lưu trữ lịch sử Đại học Nhân văn Nga. Tuyển tập KAA. L. 172.