Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương IV: Giải pháp cho vấn đề Do Thái

❊ ❊ ❊

Vào những ngày cuối tháng 9/1941, trên tất cả các hàng rào thành phố Kiev đều treo các biển thông báo nhỏ bằng ba thứ tiếng Nga, Ukraina và Đức. Mệnh lệnh của chính quyền chiếm đóng nghe có vẻ khác nhau, nhưng ý nghĩa thì như nhau.

Saemtliche Yuden der stadt Kiew…[1]

…Наказуеться всім жидам міста Киева…[2]

…Tất cả người Do Thái của thành phố Kiev và những vùng phụ cận phải trình diện vào thứ Hai ngày 29/9/1941 lúc 8 giờ sáng tại góc đường Melnikovskaya và Dokhturovskaya (bên cạnh nghĩa trang).

Mang theo người tất cả giấy tờ, tiến bạc, vật dụng quý giá, quần áo ấm, đồ lót, v.v…

Người Do Thái nào không thực hiện chỉ thị này mà bị phát hiện ở nơi khác sẽ bị bắn.

Công dân đột nhập vào những căn hộ mà người Do Thái để lại và chiếm đoạt đồ đạc cũng sẽ bị bắn.[3]

Các thông báo tràn ngập thành phố xuất hiện 10 ngày sau khi quân Đức chiếm thủ đô Ukraina. Cho đến lúc đó, người Kiev đã cảm nhận được thế nào là sống dưới ách chiếm đóng. Từ sau 7 giờ tối, cư dân không được xuất hiện trẽn đường phố, nếu không sẽ bị hành hình. Lời nói đi đôi với việc làm: trên thi thể của những người bị treo cổ thường xuất hiện tấm biển: “Tôi đã ra ngoài vào lúc 8 giờ kém 10”.[4]

Thế nhưng biện pháp mới của quân chiếm đóng đã gây kinh ngạc vì quy mô của nó: làm sao có thể đưa ra khỏi một thành phố lớn hàng chục ngàn người chỉ vì sắc tộc của họ? Và để làm gì?

Không ai mảy may nghi ngờ gì về việc trục xuất khỏi thành phố.

Sáng ngày 29/9 từ khắp ngõ ngách của thành phố những đám đông dân chúng kéo về điểm tập trung.

“Họ ra khỏi nhà khi trời còn nhá nhem để sớm có mặt trên tàu hòng kiếm được chỗ”, nhiều năm sau Anatoli Kuznetsov nhớ lại. “Với trẻ con gào khóc, với những ông bà già và người bệnh, khóc lóc và cãi nhau, dân Do Thái tràn ra phố… Những tay nải buộc dây chằng chịt, những chiếc vali bằng gỗ dán sờn rách, những chiếc túi cũ mòn, những hòm đồ nghề thợ mộc… Đám đông đặc nghẹt đi dọc đường Glubochitsa để lên Lukyanovka, một biển đầu người, cả một Podol[5] Do Thái đang đi… Đầu tôi muốn vỡ tung vì sự ồn ào huyên náo. Chuyện trò không ngớt; chúng sẽ chở đi đâu, chở đi như thế nào?”[6]

Người Do Thái ở thành phố Kiev đa sắc tộc từ lâu đã pha trộn với người Nga và người Ukraina. Làm sao có thể chia tách gia đình?

“Những người chồng Nga đưa các bà vợ Do Thái của mình đi. Những người vợ Nga tiễn các ông chồng Do Thái của họ”, Dina Pronicheva, nữ nghệ sĩ của Sân khấu khán giả trẻ Kiev nhớ lại.[7] Là người Do Thái, bà lấy chồng Nga; và cuộc họp gia đình đã ra quyết định bà sẽ tiễn cha mẹ mình lên tàu. Còn bản thân bà cùng con cái sẽ ở lại, muốn ra sao thì ra. Hơn thế nữa có nhiều người đi tiễn: láng giềng, bạn bè, họ hàng – người Nga và người Ukraina – họ giúp mang đồ đạc, dìu đỡ người bệnh.

Nhưng càng gần tối điểm tập trung, chung quanh càng đông lính Đức hơn. Tập trung và vũ trang, chúng biết việc mà người Kiev đã không đoán ra được, thậm chí còn không dám nghĩ tới, – đó là chúng sẽ không trục xuất người Do Thái.

Họ sẽ bị bắn.

Con đường tại điểm tập trung được rào chặn bằng hàng rào chống tăng và dây kẽm gai, chỉ chừa lối đi ở chính giữa, lính Đức và cảnh sát Ukraina đứng thành các hàng nối đuôi nhau. Chúng cho từng nhóm người Do Thái đi qua về phía đó, đợi một lúc rồi cho những người mới vào.

Chỉ tới lúc ấy người ta mới hiểu, điều gì đó thật đáng sợ đang chờ đợi họ.

“Chúng tôi nghe thấy một loạt súng và những tiếng kêu thét không ra con người”. Dina Pronichera kể lại. “Tôi bắt đầu hiểu chuyện gì đang xảy ra ở đây, nhưng không nói gì với mẹ.

Khi chúng tôi đi qua cổng, chúng ra lệnh cho chúng tôi trình giấy tờ cùng những đồ vật quý và cởi đồ ra. Một tên lính Đức đi tới chỗ mẹ và giật chiếc nhẫn vàng khỏi ngón tay bà.

Tôi thấy phụ nữ, người già và trẻ em hết nhóm này đến nhóm khác cởi đồ ra. Chúng giải tất cả tới một cái hố đã đào và bắn họ bằng súng máy. Sau đó chúng dẫn nhóm khác đến…

Tôi đã tận mắt chứng kiến điều kinh hoàng đó. Tuy không đứng gần cái hố, nhưng tôi vẫn nghe những tiếng thét hãi hùng của những con người đã hóa điên và những tiếng nấc nghẹn của trẻ con gọi: “Mẹ, mẹ ơi…”.[8]

Mương xói rộng lớn, trải dài giữa ba quận của Kiev là Lukyanovka, Kurenovka và Syrets; được gọi là Babi Yar. Những sườn dốc dựng đứng khiến nó trông như khe núi, dưới đáy có con suối chày qua. Trước chiến tranh đây là điểm chơi đùa yêu thích của bọn trẻ trai trong vùng[9]; chiếm được Kiev, quân xâm lược cho rằng địa điểm này rất tiện dụng.

Tiêu chí tiện dụng ấy thật đơn giản: Babi Yar có thể chứa được rất nhiều xác người.

Chúng bắn người Do Thái tại Babi Yar cho đến tối muộn ngày 29/9/1941; theo báo cáo của đội trừng giới số 4, chỉ sau một ngày đã thủ tiêu được 33.771 người[10]. Những vụ bắn giết tiếp tục sang cả ngày hôm sau, hai ngày sau, một tuần sau, và một năm sau đó. Ngoài người Do Thái, trong mương xói được rào bằng dây kẽm gai chúng còn bắn tù binh, đảng viên cộng sản, người Nga và người Ukraina. Khi quân Đức bắt đầu tháo chạy khỏi đất Liên Xô, Đức Quốc xã đã cố phi tang dấu vết tội ác của chúng. Suốt ba tuần khói đen lượn lờ trên Babi Yar: chúng thiêu các tử thi. Để cuối cùng khi Hồng quân giải phóng Kiev, họ tìm thấy trong mương lớp tro và cốt dày tới l,5 m. Đến nay, vẫn không rõ bao nhiêu người đã bị sát hại ở đó; các nhà nghiên cứu hiện đại nói chỉ riêng người Do Thái đã là 150.000 người.[11]

Babi Yar đã trở thành một trong những biểu tượng cho “giải pháp cuối cùng về vấn đề Do Thái” – có nghĩa là cuộc hủy diệt tàn bạo hàng loạt người Do Thái trên toàn lãnh thổ châu Âu.

Khó mà tranh cãi với các biểu tượng, thế nhưng để hiểu được quá khứ, điều quan trọng là không nên nhầm lẫn nguyên nhân với hậu quả.

Babi Yar không phải là hậu quả của nạn diệt chủng Do Thái của Đức Quốc xã; mà ngược lại, “giải pháp cuối cùng về vấn đề Do Thái” - endlosung, như chính Đức Quốc xã gọi thế, – chỉ trở nên khả thi sau khi xảy ra vụ Babi Yar.

Còn Babi Yar, tới lượt mình, có thể đã xảy ra như là hậu quả cuộc chiến tranh hủy diệt của phát xít đối vối Liên Xô.

* * *

Ngay từ đầu, mối đe dọa Do Thái là ý tưởng ám ảnh của Đức Quốc xã. Sau khi Hitler lên nắm quyền, dân Do Thái ở Đức bắt đầu bị săn đuổi. Hết luật mới này đến luật mới khác ra đời nhằm hạn chế quyền của người Do Thái. Người Do Thái không được phép có quốc tịch Đức.

Người Do Thái bị cấm kết hôn với người có quốc tịch Đức. Người Do Thái bị tước quyền bầu cử. Người Do Thái không được làm việc trong công sở nhà nước. Người Do Thái bị áp thuế cao, tài sản của họ bị trưng thu.[12]

Những hạn chế kiểu này càng về sau càng nhiều hơn; người Do Thái buộc phải di cư khỏi đất nước. Đức Quốc xã đã thấy giải pháp cho “vấn đề Do Thái” chính trong việc lưu vong này: nước Đức phải là một quốc gia thuần khiết về mặt chủng tộc. Nhưng các nước châu Âu chỉ tiếp nhận người di cư khi họ có đủ tiền; để giải quyết vấn đề này, ban “Do Thái” Phòng IV của RSHA (Gestapo) lên kế hoạch phối hợp tinh vi, mà hậu quả của nó là những người Do Thái giàu có sẽ chi trả cho việc di cư của người nghèo, còn Đế chế sẽ thoát khỏi cả đám giàu lẫn đám nghèo mà chẳng tốn một xu.[13]

Có vẻ như giải pháp cho “vấn đề Do Thái” đã được tìm ra; tuy nhiên sau khi bắt đầu thế chiến mới, các kênh di cư của người Do Thái bị chặn lại. Khi phần lớn châu Âu đã nằm dưới sự kiểm soát của Berlin, vấn đề Do Thái lại một lần nữa được đặt ra trước giới lãnh đạo Đức Quốc xã. Ban “Do Thái” của Gestapo, được đổi tên thành “Ban đấu tranh với kẻ thù thế giới quan” đã xây dựng các kế hoạch sao cho việc trục xuất tất cả người Do Thái trên những lãnh thổ chịu sự kiểm soát của Đế chế đi đâu đó xa hơn, chẳng hạn như Madagascar.[14] Thực dụng hơn, thống chế SS Himmler đã ra lệnh cách ly tất cả người Do Thái trong các ghetto trên lãnh thổ Ba Lan; từ Đế chế, người Do Thái bắt đầu được đưa về đấy. “Chủ nghĩa bài Do Thái – cũng y hệt như việc khử trùng”, Himmler giải thích cho các thuộc cấp của mình. “Thoát khỏi chấy rận không phải là vấn đề tư tưởng, mà là vấn đề vệ sinh. Chẳng bao lâu chúng ta sẽ thoát khỏi “chấy rận”. Chúng ta chỉ còn lại khoảng 20.000 con “rận”, và sau đó vấn đề này sẽ được loại bỏ trên toàn nước Đức”.[15]

Khi lên kế hoạch chiến tranh hủy diệt Liên Xô, phương cách hiệu quả được phát hiện của “giải pháp cho vấn đề Do Thái” đã được quyết định đem sử dụng trên những lãnh thổ chiếm đóng Soviet. Trong một chỉ thị đặc biệt được ban hành ngay trước khi xâm lăng Liên Xô, Alfred Rosenberg, một trong những kẻ bài Do Thái trong hàng ngũ lãnh đạo Đức Quốc xã, đã viết:

Sau khi bọn Do Thái bị loại khỏi công việc tại tất cả các cơ quan dân sự, vấn để Do Thái sẽ được giải quyết bằng việc thành lập các khu ghetto.[16]

Đề cập đầu tiên tới người Do Thái trong các “chỉ thị tội ác” trước chiến tranh, ta có thể thấy trong những “Chỉ thị về hành xử của quân đội Đức ở Nga” ban hành tháng 4/1941, nơi người Do Thái cùng với du kích và “bọn cộng sản kích động” dự kiến sẽ bị thủ tiêu. Cách tiếp cận này cũng là nền tảng cho một chỉ thị đặc biệt của người đứng đầu OKW ban hành ngày 19/5/1941, trong đó đánh đồng người Do Thái với “du kích và những kẻ phá hoại”.[17]

Cùng thời gian này, người đứng đầu RSHA Heydrich đã ra lệnh miệng cho chỉ huy các nhóm trừng giới thanh toán tất cả người Do Thái, trong số đó có cả những người không nằm trong đảng, bởi “Do Thái giáo đã trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa Bolshevik và vì vậy, phải bị thủ tiêu”.[18]

Tuy nhiên, không lâu sau Heydrich đã đi bước lùi. Chỉ thị đặc biệt được ông ta ban hành ngày 02/7 đã nêu rằng không phải tất cả người Do Thái đều bị thủ tiêu, mà chỉ “những đảng viên và những người làm cho các cơ quan nhà nước, cùng các phần tử cực đoan khác (biệt kích, phá hoại, tuyên truyền viên, lính bắn tỉa, bọn giết người, phóng hỏa, v.v.)”[19]

Lời giải thích này là độc nhất vô nhị, bởi không mở rộng, mà chỉ giới hạn nhóm người Do Thái phải bị thủ tiêu là các đảng viên và quân kháng chiến Soviet.

Như thế, quân đội Wehrmacht tiến vào lãnh thổ Liên Xô, được chỉ đạo bằng các chỉ thị, theo đó tất cả những người Do Thái đều là quân du kích và kẻ phá hoại và vì thế cần phải thủ tiêu. Trong khi đó, theo chỉ thị hướng dẫn các nhóm trừng giới SD, chỉ một phần nào đó dân Do Thái phải bị thủ tiêu, những người còn lại đã có ghetto.[20]

…Đầu tiên quân đội Đức băng qua thành phố chiếm đóng. Binh lính Wehrmacht được luật pháp cho phép giết bất cứ ai vì bất cứ lý do gì; tuy nhiên, nạn nhân đầu tiên của chúng, trên nguyên tắc, là người Do Thái.

Việc giết người Do Thái ngay từ những ngày đầu tiên đã trở thành trò giải khuây yêu thích của quân đội Đức, cũng như bạo lực và giết hại phụ nữ, thủ tiêu những thương binh Hồng quân.

Sau đó quân đội tiến xa hơn, và theo sau chúng là chính quyền chiếm đóng.

Thời vui chơi của những cá nhân đã kết thúc; bắt đầu một trật tự mới.

Đầu tiên các nhóm trừng giới SD bắt tay vào việc.

Chúng bị thúc đẩy không phải vì lòng căm thù, không phải niềm khao khát vui chơi, mà là sự tính toán rạch ròi. Mặc dù các hành động chống người Do Thái đã được quy định nghiêm ngặt: chỉ những đảng viên và những phần tử cực đoan mới bị thủ tiêu, nguyên tắc chính làm nền tảng cho hoạt động của các nhóm trừng giới là khả năng thủ tiêu bất cứ ai mà chúng thấy nghi ngờ, – đã khiến cho bất cứ hạn chế nào cũng trở thành hư cấu.

Chỉ cần tuyên bố những người Do Thái nào đó là các phần tử phá hoại là đã có thể thủ tiêu. Một trong những thí nghiệm đầu tiên đã được tiến hành vào ngày 04/7 ở gần Liepaja; ở đó 47 người Do Thái và năm đảng viên cộng sản người Latvia đã bị bắn. Ba ngày sau chỉ huy đã tăng số người bị bắn lên tồi 100 người.[21]

Chẳng bao lâu sau, việc bắn đàn ông Do Thái trở thành chuyện bình thường. “Dưới tiếng nhạc đầy cảm xúc tôi viết lá thư đầu cho Truda của tôi”, một lính SS ghi trong nhật ký. “Và khi tôi viết, vang lên mệnh lệnh: “Bước ra xếp hàng!” Súng carbine, mũ sắt, băng đạn 30 viên… Chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ quay lại. Ở đó 500 người Do Thái đang xếp hàng, sẵn sàng để bị xử bắn”.[22]

Khi làn sóng khủng bố đầu tiên của quân chiếm đóng qua đi, bắt đầu cái mà Đức Quốc xã gọi một cách tao nhã là “cách ly người Do Thái”, tức là điều đã xảy ra ở Ba Lan.

…Những đám đông người chảy về ghetto; kẻ nào bị bắt ở ngoài ghetto ngay lập tức bị bắn. “Đó là một cảnh tượng buồn thảm”, sau này Sydney Evens nhớ lại, “những đám đông đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già và người khuyết tật. Người ta mang theo những gì có thể mang – ai đó chất trên xe đẩy, ai đó thậm chí còn để trên xe nôi của trẻ em”.[23]

Ghetto, được lập trong những thành phố lớn và trung bình, là những khu phố được rào chắn bằng dây thép gai đặt dưới sự bảo vệ kép, do “ban trật tự” Do Thái của quân chiếm đóng kiểm soát bên trong và cảnh sát địa phương bên ngoài. Điều hành những người bị lùa vào ghetto là những “cơ quan tự quản” – Judenrats được tổ chức từ những người trong số họ.

Tại mỗi thành phố, một chủ tịch lâm thời của hội đồng Do Thái được chỉ định, người được giao thành lập một hội đồng Do Thái với số lượng từ ba đến tám người – thông báo của cảnh sát an ninh và SD nêu rõ – Hội đồng Do Thái chịu hoàn toàn trách nhiệm cho hành vi của dân Do Thái. Ngoài ra, nó phải bất đầu đăng ký ngay lập tức tất cả những người Do Thái sinh sống trong khu dân cư…[24]

Judentrats chịu trách nhiệm cho việc đăng ký, thống kê và tái định cư trong ghetto, thu các khoản phí cùng tất cả những vấn đề có thể nảy sinh khi nhiều con người bị buộc phải sống trong một nơi tách biệt khỏi phần thế giới còn lại.

Đồng thời, để cung ứng lực lượng lao động cần thiết cho chính quyền chiếm đóng:

“Người Do Thái cả hai giới, tuổi từ tròn 14 đến 60, sống tại những lãnh thổ phía Đông vừa bị chiếm đóng, có bổn phận làm việc”, bộ trưởng Alfred Rosenberg chỉ thị. “Họ phải được tập trung vào bộ phận làm những công việc cưỡng bức”.[25]

Trong ghetto con người phải tồn tại trong những điều kiện vô cùng tù túng và thiếu thốn thức ăn; nhận được công việc có nghĩa là trở thành “người Do Thái hữu ích”. “Người Do Thái hữu ích” được cấp thức ăn, được đưa đi làm và thậm chí còn được phép sống ngoài khu ghetto – trong những lán trại nào đó bên cạnh chỗ làm. “Người Do Thái hữu ích” có thể tự an ủi mình bằng hy vọng sẽ không bị bắn chỉ để mua vui.

Tuy nhiên, từ ghetto vẫn có thể bị đưa đi làm việc tại những trại lao động mà điều kiện của nó cũng khắc nghiệt như trong các trại tù binh Soviet, và cơ hội sống sót cũng hão huyền như thế. Thế nhưng vào năm 1941 những trại như vậy vẫn chưa nhiều.[26]

Việc thủ tiêu không chừa một ai vẫn chưa được đề cập. Bởi Đế chế đang giao chiến cần những đôi tay lao động, mà người Do Thái làm việc chẳng thua gì người Nga hay người Ba Lan.

Tuy nhiên, Đức Quốc xã vẫn cho rằng việc giảm đáng kể số lượng người Do Thái sẽ có ích.

Để thực hiện việc này, một cách tiếp cận trái với thói thường đã được chọn.

Đức Quốc xã đã thể hiện sự cẩn trọng đến lạ lùng. Tắm máu những lãnh thổ xâm chiếm, để lại sau lưng các tử thi biến dạng của những phụ nữ bị hãm hiếp và Hồng quân bị tra tấn, ấy vậy mà chúng lại thích giao việc thủ tiêu người Do Thái cho bọn dân tộc chủ nghĩa địa phương vừa ló mặt ra khỏi hoạt động bí mật.

Đặc vụ Đức có những mối liên hệ lâu đời và mật thiết với bọn dân tộc chủ nghĩa chống Soviet hoạt động bí mật. RSHA vững tin ở hai điều: tính dễ kiểm soát của bọn dân tộc chủ nghĩa và lòng căm thù của chúng đôi với “bọn Bolshevik Do Thái”, nghĩa là đối với người Nga và người Do Thái. Ngày 29/6 người đứng đầu RSHA Heydrich trong một mệnh lệnh tác chiến đã đặc biệt chỉ ra cho các thuộc cấp:

Không nên gây bất cứ trở ngại nào cho mong muốn tự thanh lọc của những nhóm chống Cộng hay bài Do Thái tại những tỉnh mới chiếm đóng. Ngược lại, cần phải kích động, tăng cường, dĩ nhiên là một cách kín đáo, và nếu cần thiết, điều khiển theo cách thức đúng đắn, nhưng sao cho những “nhóm tự vệ” địa phương sau này không thể đổ lỗi cho các chỉ thị hay những bảo đảm chính trị được trao cho họ. Vì những lý do dễ hiểu, những hành động như vậy chỉ có thể xảy ra vào thời gian đầu chiếm đóng”.[27]

Kinh nghiệm đầu tiên được đưa ra ở các nước Baltic. Thiếu tướng SS Stäläcker, chỉ huy nhóm trừng giới “A” hoạt động tại Tập đoàn quân “Bắc” sau này nhớ lại, một trong những nhiệm vụ của các đơn vị mình là “kích thích mong muốn ‘tự thanh lọc’ của người dân, uốn nắn mong muốn ấy đi theo hướng đi cần thiết để đạt được mục tiêu thanh lọc càng nhanh càng tốt. Điều không kém quan trọng là thu thập các sự kiện và bằng chứng cho việc dân chúng tự mình áp dụng các biện pháp tàn nhẫn nhất chống lại những người Bolshevik và Do Thái”.[28]

Và thiếu tướng đã làm được trọn vẹn tất cả những điều này.

Quân Đức vừa tiến vào lãnh thổ các nước cộng hòa Baltic là ở đó đã bắt đầu những cuộc săn lùng người Do Thái. Đa số những người chết không phải do quân SS giết, mà do bọn dân tộc chủ nghĩa người địa phương, chúng đã thể hiện sự tàn ác đặc biệt, không nương tay cả với phụ nữ lẫn trẻ em.

Chỉ trong một đêm qua sáng ngày 26/6 tại Kaunas, những “du kích quân dân tộc” Litva đã giết hơn 1.500 người. Các con đường thành phố đẫm máu; sau vài đêm số người Do Thái bị giết đã lên tới 4.000.[29] Tại Riga vào đầu tháng 7, như được biết từ báo cáo của cảnh sát trưởng an ninh và SD, “tất cả các giáo đường bị phá hủy, đến nay 400 người Do Thái đã bị bắn”.[30] về việc thủ tiêu người Do Thái trên lãnh thổ Latvia thời gian đầu chỉ đạt được những kết quả khiêm tốn, thiếu tướng Stahlacker đã giải thích một cách dễ hiểu:

Điều này chủ yếu là do quyền lãnh đạo quốc gia đã bị các Soviet cưỡng đoạt. Tuy nhiên, bằng cách tác động lên cành sát phụ trợ Latvia, đã tổ chức thành công cuộc triệt hạ Do Thái[31].

Người Latvia, trong đó có cả những người đang giữ các chức vụ lãnh đạo, cư xử hoàn toàn thụ động đối với người Do Thái và không dám lên tiếng chống lại họ”, như được ghi nhận trong một tài liệu khác của SD. “Một tình huống đã làm sụt giảm đáng kể sự tích cực của dân Latvia là hai tuần trước chiến tranh, người Nga đã đưa gần 500 gia đình Latvia được cho là thuộc giới trí thức, lánh sâu vào trong đất nước.[32]

Quân SS thẳng thắn thừa nhận điều đã khiến bọn tay sai hiện tại của chúng phẫn nộ là do những hoạt động của các cơ quan NKVD[33], trước chiến tranh đã kịp trục xuất khỏi các nước Baltic một bộ phận bọn dân tộc chủ nghĩa cực đoan người địa phương, nên quân chiếm đóng không thể triển khai ngay việc thủ tiêu người Do Thái ở Baltic.

Tuy nhiên, sự trục trặc này không kéo dài.

“Ngày 04/7 các thành viên của ‘Perkonkrusts’[34] đã đốt một giáo đường hợp xướng tại Riga với 500 người Do Thái chạy nạn từ thành phố Siauliai của Litva tới. Cùng ngày hôm đó bọn dân tộc chủ nghĩa địa phương tại đã đốt và tiêu hủy hơn 20 giáo đường và nhà nguyện. Mùa hè và mùa thu năm 1941, các thành viên của đội Arays thường xuyên đi tuần các tỉnh trên những chiếc xe buýt đặc biệt sơn màu xanh dương… Chúng lùng giết những người Do Thái và cộng sản tại Abren, Kuldiga, Krustpils, Valka, Jelgava, Balvi, Bauska, Tukums, Talsi, Jekabpils, Vilani, Rezekne.

Riêng tại Vilani ngày 04/8 chúng đã giết hại gần 400 người Do Thái.[35] Sự tàn bạo thể hiện trong tiến trình hoạt động ấy đã gây chấn động.

Người Do Thái bị thiêu chết trong các giáo đường, bị đánh bằng xà beng đến chết, bị dìm chết đuối, bị hãm hiếp và sát hại trong căn hộ của mình. Chúng thủ tiêu tất thảy, kể cả phụ nữ và trẻ em. Karl-Heinz Drossel, binh nhất thuộc trung đoàn 415 bộ binh, kinh hoàng nhớ lại cảnh tượng mà anh ta từng là nhân chứng: “Tôi thấy một cậu bé, tuổi chừng lên 6, ráng sức đi về phía bên phải. Tôi nghĩ cha cậu bé đang đứng đó. Lúc ấy một người đứng sau lưng cậu bé đã bắn vào gáy em rồi đá em xuống hố. Tôi không sao chịu nổi việc đó. Hình ảnh cậu bé đó vẫn không để tôi yên đến tận hôm nay”.[36]

Chính quyền chiếm đóng nhanh chóng thành lập các đơn vị cảnh sát phụ trợ từ bọn dân tộc chủ nghĩa Baltic đã thể hiện được bản thân. Những đơn vị tiễu phạt ấy có nhiều việc để làm trên đất Baltic, và còn nhiều việc để làm hơn trên những vùng lãnh thổ bị Đức chiếm đóng tại Nga, Ukraina, Belarus.

…Cuối tháng 10, tiểu đoàn 12 cảnh sát Litva từ Kaunas đã tới Slutsk của Belarus. Gã tiểu đoàn trưởng tuyên bố với sĩ quan chỉ huy Đức của thành phố rằng đã nhận lệnh trong vòng hai tuần phải thanh toán toàn bộ dân Do Thái của thành phố và tiểu đoàn của hắn ta sẽ lập tức bắt tay vào việc.

Ủy viên người Đức phần nào ngạc nhiên trước cách đặt vấn đề như vậy và bắt đầu phản đối: thứ nhất, việc tiến hành một chiến dịch “di động” như vậy là không thể; thứ hai, thành phố cần người Do Thái cho việc sản xuất, chưa kể thật vô ích khi gây ra một cuộc thảm sát như thế trước mắt dân chúng. Tuy nhiên, tất cả những lời phản đối đều bị lực lượng tiễu phạt Litva bỏ ngoài tai. “Hành động của chúng”, ủy viên Đức báo cáo, “gần như thú bạo dâm”.[37]

Người Do Thái bị đuổi ra khỏi nhà; khắp thành phố đều vang tiếng súng. Ở vài con đường xuất hiện những núi xác người bị bắn. Trước khi đem đi bắn, người Do Thái bị đánh đập tàn nhẫn bằng mọi kiểu có thể – gậy gộc, dùi cui cao su, bàng súng, không nương tay dù là phụ nữ hay trẻ em. Dọc đường cảnh sát Litva còn cướp bóc bất cứ ngôi nhà nào chúng thấy. Bất kể ai sống trong những ngôi nhà đó – người Do Thái, Nga hay Belarus, quân tiễu phạt tịch thu tất cả những gì dùng được – giày dép, đồ da, vải vóc, vàng bạc và những thứ giá trị khác. Theo lời kể của các binh lính Wehrmacht, quân Litva đã tuốt cả nhẫn lẫn da ra khỏi tay những nạn nhân của chúng theo đúng nghĩa đen. Thậm chí những nhà kho, trong đó chứa tài sản của các tổ chức dần sự Đức, cũng bị cướp. Đám tiễu phạt đã xông vào nhà cửa lẫn xí nghiệp, nơi người Do Thái làm việc, và sĩ quan chỉ huy người Đức buộc phải cầm vũ khí trong tay để “cứu những gì có thể cứu”. Những người Do Thái không bị giết ngay, đã bị chở ra khỏi thành phố, buộc đào huyệt rồi mới bị bắn. Vài ngày sau, từ những huyệt này những người bị thương còn bò ra.[38]

Hành động của bọn dân tộc chủ nghĩa Baltic rất nhanh đã vượt qua bất cứ khuôn khổ nào; ở đây không chỉ là việc thủ tiêu một bộ phận người Do Thái, mà là giết bằng sạch. Bọn dân tộc chủ nghĩa Baltic lần đầu tiên đã chứng tỏ cho Đức Quốc xã rằng có thể đạt được “giải pháp cho vấn đề Do Thái” mà không cần phải trục xuất người Do Thái khỏi đất nước hoặc nhốt họ trong ghetto, mà bằng cách hủy diệt.

Thêm một kết luận nữa mà Đức Quốc xã đúc kết từ kinh nghiệm của bọn Baltic là “cuộc chiến chống người Do Thái” sẽ huy động được bọn dân tộc chủ nghĩa người địa phương, ràng buộc chúng bằng máu. Từ bọn tiễu phạt được tôi luyện trên người Do Thái có thể lập ra những đơn vị “cảnh sát phụ trợ” rất có ích. Thứ nhất, “cảnh sát phụ trợ” hỗ trợ việc bình định lãnh thổ chiếm đóng. Thứ hai, chúng dễ dàng thực hiện các hoạt động tuy cần thiết, nhưng rất nặng nề với người Đức là thủ tiêu hàng loạt bọn hạ đẳng Soviet. Thứ ba, mỗi tiểu đoàn cảnh sát phụ trợ sẽ tạo điều kiện giải phóng những đơn vị quân Đức cần thiết cho mặt trận: bởi lẽ quân Nga vẫn tiếp tục kháng cự quyết liệt!

…Các nhóm trừng giới dần dà bắt đầu chuyển sang thủ tiêu toàn bộ người Do Thái.

Thành phố Nhà thờ Trắng gần Kiev đã nếm mùi ách xâm lược của quân Đức tiến công với những vụ bắn giết tất yếu, bạo lực và cướp bóc; thế nhưng vào tháng 8, lực lượng tiễu phạt đã tới thành phố – biệt đội 4a của đại tá Paul Blombel. Mục tiêu của quân tiễu phạt là người Do Thái. Cư dân của Nhà thờ Trắng kinh hoàng nhớ lại những gì đã xảy ra: “Chúng dồn tất cả những cư dân Do Thái của thành phố theo từng gia đình… vào sân trại tập trung. Sau đó, bắt họ cởi hết quần áo, lùa họ ra con mương, bắt quỳ gối xuống rồi bắn. Tiếng gào khóc xé lòng. Người ta từ biệt nhau, giấu con cái đi, cố trốn chạy, nhưng vẫn bị bắn. Chúng tôi bất lực, không cách nào giúp được”.[39]

Nhiều năm sau Kurt Werner, binh nhì thuộc biệt đội trừng giới 4a, đã nhớ lại những sự kiện ấy: “Không thể tưởng tượng nổi tất cả những chuyện đó làm thần kinh căng thẳng đến mức nào, khi cấp dưới phải thực hiện công việc bẩn thỉu này. Thật kinh hoàng… Tôi phải ở dưới khe núi suốt nửa ngày. Và ở đó lúc nào tôi cũng phải bắn không ngơi tay…”.[40]

Cách đó không lâu, hồi tháng 7, quân tiễu phạt chỉ bắn nam giới; giờ đây chúng thủ tiêu sạch những gia đình Do Thái. Đúng lúc đó sư đoàn 295 bộ binh tiến vào thành phố. Nghe tiếng súng nổ, điện đài viên sư đoàn Franz Kohler đi xem chuyện gì xảy ra. Anh ta không hiểu ngay rằng mình đang là nhân chứng của một vụ bắn giết hàng loạt; sau này anh ta gọi những gì mình thấy là nỗi “kinh hoàng”. Hàng trăm xác đàn ông và đàn bà nằm chết dưới mương; đập vào mắt Franz Kohler là quân SS và cảnh sát đang bắn nốt những người cuối cùng. Trả lời câu hỏi, chuyện gì xảy ra với con cái những người này, một trong những tên SS đáp: “Không liên quan tới chúng tôi. Chúng tôi chỉ bắn những ai từ 14 tuổi trở lên, kể cả người già. Còn trẻ em không phải việc của chúng tôi”.[41]

Tuy nhiên chỉ huy biệt đội lại có ý kiến khác; sau một lúc suy nghĩ chúng quyết định giết luôn những đứa trẻ còn lại. Đầu tiên chúng bắn bọn trẻ trên bảy tuổi. Những trẻ em còn lại bị nhốt trong một căn nhà ở ngoại ô, không thức ăn, không nước uống; tiếng khóc của chúng vang động cả vùng.

Linh mục của sư đoàn 295 bộ binh, bác sĩ Reuss ghé vào nhà xem có chuyện gì. “Chúng tôi vào nhà không gặp trở ngại gì và phát hiện trong hai căn phòng gần 90 trẻ em (tôi không có thời gian để đếm) từ vài tháng tuổi đến năm, sáu hay bảy tuổi gì đó”, ông đã viết trong báo cáo cho ban chỉ huy sư đoàn. “Cả hai căn phòng nhốt trẻ em này, tiếp giáp với một căn phòng trống thứ ba, đều trong tình trạng rất bẩn thỉu. Trẻ em nằm hoặc ngồi trên sàn nhà, đầy chất thải của chúng. Ruồi bâu phần lớn trên chân tay và bụng của những đứa trẻ cởi trần. Vài đứa lớn hơn (hai, ba hoặc bốn tuổi) đang cào và ăn vôi từ các bức tường”.[42]

Tham mưu trưởng sư đoàn 295 trung tá Groskurt đi làm sáng tỏ mọi việc với các đại diện của SD. Thậm chí ông còn gửi chất vấn cho bộ chỉ huy quân đội. Thế nhưng thống chế Walter von Reichenau đã khẳng định sự cần thiết phải bắn luôn cả trẻ nhỏ khi tuyên bố: “Thật sự tôi đã quyết định một khi đã bắt đầu hành động thì phải kết thúc tới nơi tới chốn”.[43]

Nhận được mệnh lệnh tối hậu là phải hoàn tất công việc đã bắt đầu, đại tá SS Paul Blombel triệu trung úy August Hafner đến để ra lệnh tổ chức việc bắn trẻ em. Bàn tay Hafner và thuộc cấp đã vấy máu hàng ngàn nạn nhân, thế nhưng chúng vẫn chưa từng giết trẻ em.

“Cụ thể ai sẽ làm chuyện này?” Hafner hỏi.

“Lính SS”, Blombel rầu rĩ đáp.

“Nhưng đó chỉ là bọn trẻ con, và chúng ta không được quyền giao cho họ làm việc đó”.

“Vậy thì hãy để người của anh làm”.

“Làm sao họ có thể làm nổi chứ, khi chính họ cũng có con nhỏ?”

Các sĩ quan của biệt đội đôi co chừng mươi phút, cho đến khi một ý tưởng hay ho nảy ra trong đầu Hafner về việc lôi kéo lực lượng cảnh sát phụ trợ Ukraina vào vụ bắn giết này.[44]

Đề nghị ấy đã được chấp thuận mà không có phản đối, rốt cuộc bọn hạ đẳng địa phương được vũ trang chính là để với một khoản thù lao vừa phải chúng sẽ thủ tiêu đồng loại của mình.

Đích thân Hafner đi kiểm tra đám cảnh sát Ukraina. “Tôi đi vào rừng”, gã trung úy nhớ lại. “Lính Wehrmacht đã đào sẵn huyệt. Trẻ em được chở tới bằng xe máy kéo. Khía cạnh kỹ thuật của vụ việc không liên quan tới tôi. Người Ukraina đứng xung quanh và run rẩy. Trẻ em được đưa xuống từ xe máy kéo. Chúng được đặt đứng bên rìa hố – và khi người Ukraina bắt đầu bắn, trẻ em ngã xuống đó. Những đứa bị thương cũng rơi xuống hố. Cảnh tượng đó tới cuối đời tôi cũng không thể nào quên. Lúc nào nó cũng lảng vảng trước mắt tôi. Tôi nhớ nhất một bé gái tóc vàng nắm tay tôi. Sau đó em cũng bị bắn”.[45]

Không thể biện luận bằng bất cứ lý do hợp lẽ nào cho việc thủ tiêu những đứa bé 4 tuổi; để hình dung ra được ở lứa tuổi nhỏ như thế trẻ em Do Thái có thể là những “phần tử phá hoại” đe dọa quân đội Đức và toàn bộ Đế chế, cần phải có một bộ óc tưởng tượng siêu đẳng.

Thật ra mọi việc đơn giản hơn: đến thời điểm đó Đức Quốc xã đã chấp nhận giải pháp thủ tiêu toàn bộ người Do Thái ở Liên Xô.

Việc thông qua quyết định này đã được minh chứng bằng hành động của bộ chi huy Wehrmacht và ban lãnh đạo RSHA – những lực lượng đóng vai trò then chốt trong việc triển khai khủng bố trên toàn lãnh thổ Soviet bị chiếm đóng.

Ngày 12/9, thống chế Keitel, người đứng đầu OKW đã ban hành lệnh: “Cuộc chiến chống chủ nghĩa Bolshevik đòi hỏi phải có những hành động tàn nhẫn và mạnh mẽ, trước tiên là chống lại người Do Thái”.[46] Như ta thấy, quan điểm của bộ chỉ huy quân sự là hoàn toàn rõ ràng.

Cơ quan của Himmler cũng suy ngẫm về chuyện này. Vào một ngày đẹp trời, sếp RSHA Heydrich cho gọi trung tá Adolf Eichmann, trưởng “ban Do Thái” của Gestapo, lên gặp.

“Tôi có mặt”, Eichmann nhớ lại. “ông ta nói với tôi: “Quốc trưởng ra lệnh thủ tiêu người Do Thái về thực thể”, ông ta đã nói với tôi cụm từ đó. Và trái với thói quen của mình ông ta im lặng, dường như muôn kiểm tra hiệu lực lời nói của mình. Tôi nhớ điều đó tới tận bây giờ”.[47]

Thậm chí Eichmann vẫn chưa hiểu ngay đang nói về việc gì; trước đó không lâu bộ phận của ông ta còn ấp ủ các kế hoạch trục xuất người Do Thái sang Madagascar, còn giờ đây đang lo việc cô lập họ trong các ghetto. Nhưng không ai nghĩ tới việc hủy diệt người Do Thái. Heydrich nhìn trưởng “ban Do Thái” đang ngây người ra và khuyên ông ta nên thực hiện một chuyến công tác sang Mặt trận phía Đông để xem ở đó trừng trị người Do Thái ra sao. ở Lublin, Eichmann đã tham quan những ngôi nhà nhỏ được xây dựng, mà trong đó người Do Thái bị thù tiêu bằng khí thải của động cơ tàu ngầm, ở Helm chúng thao diễn cho ông ta xem hoạt động của những buồng hơi ngạt cơ động. Tất cả những thứ này giống như sự ứng biến và không thể nào bảo đảm được việc hủy diệt hàng loạt con người. Khi đó Eichmann được đưa đến nơi mà con người bị sát hại hàng loạt thật sự.

Tới những vùng lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng.

Tại Minsk, trung tá được đề nghị xem một vụ bắn người hàng loạt kế tiếp. Nhân vật Gestapo này sốc thật sự vì những gì nhìn thấy; thậm chí 20 năm sau trong chuyện kể của ông ta vẫn còn văng vẳng sự rúng động.

Tôi đến nơi, nhưng hóa ra đã muộn. Ngày hôm ấy trước bữa ăn trưa chuyện đó đã được làm xong, gần như đã kết thúc… Khi tới, tôi chỉ thấy những người lính trẻ đang bắn vào cái hố… Tôi… tôi ở đó… biết nói gì bây giờ… bởi tôi chỉ thấy, thậm chí tôi còn không nghĩ, tôi không lường trước điều đó. Tôi đã thấy, ngoài ra chẳng có gì cả! Từ trên họ bắn xuống, tôi còn thấy một phụ nữ với đôi tay bị trói sau lưng, và chân tôi bỗng run lên, tôi thấy khó ở. Cái hố đầy xác chết. Nó đã đầy! Tôi rời đó ra chỗ ô tô, lên xe và chạy đi. Tới Lvov. Giờ đây tôi nhớ lại – tôi không được lệnh đi Lvov. Nhưng bằng cách nào đó tôi đã tới Lvov, đến gặp chỉ huy Gestapo và nói với ông ta: “Thật kinh khủng, những gì đang được thực hiện ở đó… Làm sao có thể cứ thế mà bắn vào phụ nữ và trẻ em? Sao lại có thể? Không thể làm thế… Mọi người hoặc sẽ phát điên, hoặc sẽ trở thành bọn bạo dâm, người của chúng ta ấy”. Còn ông ta nói với tôi: “Ở đây mọi người cũng làm y như vậy, cũng bắn. Ông có muốn xem không?” Tôi nói: “Không, tôi không muốn xem gì nữa”. Nhưng ông ta bảo: “Đằng nào chúng ta cũng chạy ngang qua đó”, ở đó cũng có cái hố, nhưng đã được lấp đất, và máu từ nó, cứ như… – biết nói thế nào? Máu từ đó tuôn ra. Tôi chưa từng thấy điều gì như thế. Phát nôn vì nhiệm vụ này!

…Tôi đến Berlin và báo cáo với trung tướng Muller… Tôi đề nghị trung tướng: “Xin ông, đừng cử tôi đến đó. Hãy cử người khác, ai đó cứng rắn hơn… Có đủ những người có thể xem những thứ đó mà không ngất đi. Còn tôi không thể nhìn chuyện đó được, ban đêm tôi mất ngủ, tôi nằm mơ thấy nó. Tôi không thể, thưa trung tướng”. Nhưng họ không thèm nghe tôi.[48]

Trên thực tế, người đứng đầu RSHA đã phần nào làm cấp dưới của mình mất phương hướng; bởi quyết định về việc thủ tiêu toàn bộ người Do Thái vẫn chưa được thông qua. Thậm chí một tháng sau, trong một cuộc trò chuyện với Himmler và Heydrich, Hitler cũng chỉ đi vào lý luận chung:

Từ diễn đàn nghị viện tôi tiên đoán về cộng đồng Do Thái, rằng nếu chiến tranh là tất yếu thì người Do Thái buộc phải biến mất khỏi châu Âu. Chủng tộc tội phạm này chịu trách nhiệm cho 2 triệu người chết trong Thế chiến thứ nhất, còn bây giờ là thêm vài trăm ngàn. Đừng ai nói với tôi rằng chúng ta không thể định cư họ ở những vùng đầm lầy của nước Nga! Ai sẽ lo cho quân đội chúng ta? Và nói chung, cũng chẳng tệ khi những lời đồn đại gán cho chúng ta ý định thủ tiêu người Do Thái. Khủng bố là một chuyện hữu ích.[49]

Như trước kia, người Do Thái châu Âu chỉ bị trục xuất; vẫn chưa nói về “giải pháp cuối cùng”.

Chỉ người Do Thái Liên Xô mới phải bị thủ tiêu.

Thành phố Nhà thờ Trắng đã trở thành vật thí nghiệm cho loại hoạt động này; chính nhà tổ chức nó, đại tá SS Paul Blombel một thời gian sau đã khét tiếng tại Kiev, ở Babi Yar. Thống chế Walter von Reichenau, người phê chuẩn việc giết trẻ em, cũng không đứng ngoài lề: ông ta ra lệnh cho binh lính lùa người Do Thái Kiev tới các điểm tập trung.[50]

Những vụ hành hình không trừ một ai đã diễn ra hằng ngày.

Không nương tay cả với phụ nữ và trẻ em; những gia đình lai Do Thái cũng bị giết sạch.

Cư dân Belgorod sau khi giải phóng đã kể lại câu chuyện mà trong đó thể hiện rõ như ban ngày thảm kịch liên dân tộc trong “giải pháp cuối cùng” của Đức Quốc xã. Tại thành phố có một gia đình: vợ tên Savitskaya người Nga, chồng tên Lifshitz người Do Thái và các con của họ. Quân Đức tới và sau một thời gian chúng bắt đầu thủ tiêu người Do Thái. Việc xảy đến với gia đình Savitskaya. “Gã chỉ huy Đức ra lệnh cho bà mẹ giao con của mình để đưa đi thiêu. Bà mẹ không chịu làm theo lệnh và đã bị thiêu cùng với đứa bé”.[51]

Nằm ở hậu phương Đức, Odessa đã được bảo vệ đến giữa mùa thu. Ngày 16/10 bộ chỉ huy Soviet ra quyết định sơ tán quân đội; phản kháng quà thật là vô nghĩa. Các đơn vị Đức và Romania đã tiên vào thành phố; và khi quân chiếm đóng đã củng cô trật tự, bắt đầu những cuộc bắt bớ người Do Thái và lai Do Thái không chừa một ai.

“Chúng nhốt những người bị bắt vào những hầm thuốc nổ trên cánh đồng Strelbishensky”, cô gái Rosa Antipina may mắn thoát khỏi vụ bắt giữ nhớ lại. “Không ai có thể tưởng tượng rằng mọi thứ trở nên bi thảm như thế. Tôi nhớ bác hàng xóm người Do Thái của chúng tôi bước ra khỏi nhà còn nói rằng, tuy quân Đức là kẻ thù của chúng ta, nhưng vẫn là “những người có văn hóa”. Mọi thứ lại biến thành tấn thảm kịch mà cả đời không sao quên được. Ký ức ấy đã ăn sâu vào máu, vào tâm hồn tôi.”

Ngày 23/10/1941, chúng đốt hầm nhốt người Do Thái. Từ cánh đồng Strelbichshensky đến ngõ Trushevsky, nơi chúng tôi từng sống – chỉ cách một bến tàu điện. Chúng tra tấn và thiêu sống người suốt một tuần lễ. Chúng tôi thấy hết mọi chuyện. Khói lan ra khắp khu vực, và chúng tôi biết cha mình đã chết ở đó”.[52]

Cách đó hàng chục km về phía bắc, tại các đơn vị lính đóng ở Nevel lan truyền tin đồn rằng gần đó đang có vụ xử bắn hàng loạt người Do Thái. “Họ nói, dường như đàn ông bị bắn vào sáng sớm hôm đó và giờ là đến lượt đàn bà”, binh nhất G. Kilgorn nhớ lại. Cùng đồng đội của mình, y đi xem cảnh này. Dọc đường đi những nhóm lính mới đạp xe vượt qua họ; những vụ hành quyết vẫn chưa trở thành chuyện bình thường và mọi người đều muốn xem họ thủ tiêu bọn hạ đẳng thế nào. Tại hiện trường Kilgorn thấy một đám đông gồm phụ nữ và trẻ em dưới sự canh gác của quân SS, ít nhất gồm 600 người.

“Từ đám đông này chúng giải ra cứ mỗi lượt năm phụ nữ và cho đứng cách con hào chống tăng khoảng 200 m”, binh nhất kể. “Vừa đi tới đó, họ bị buộc cởi đồ… Rồi vài tên SS xô họ xuống mương, từ trên cao bắn xuống. Khi những người phụ nữ nghe lệnh cởi đồ, họ bắt đầu la hét vì hiểu rằng sẽ bị bắn… Bắn xong nhóm phụ nữ này, nhóm tiếp theo lại bị đẩy ra ngay gần con mương, đúng chỗ những người trước vừa bị bắn. Việc hành hình trẻ em tôi không tận mắt chứng kiến, nhưng có một số lớn trẻ em trong đám đông ấy”.[53]

Kilgorn mới xem vụ xử bắn chưa được bao lâu; hắn còn bận đi công việc.

Cần phải thực hiện công vụ, thế còn cuộc hành hình… Thì đã sao nào!

Sẽ còn nhiều cuộc như thế nữa.

Một số đơn vị Wehrmacht ở hậu phương cũng đảm nhận chức năng tiễu phạt. “Việc thủ tiêu hàng loạt người Do Thái Liên Xô do quân đội thực hiện, mà cụ thể là sư đoàn 4 bộ binh của chúng tôi, theo chỉ thị trực tiếp của bộ chỉ huy Đức”, binh nhì Kurt Lei bị bắt làm tù binh đã khai với các điều tra viên. “Toàn bộ nhân sự của sư đoàn 4 bộ binh đã học được từ các chỉ huy của họ sự tàn bạo man rợ nhất, được thực hiện trong các chuyến biệt phái tiễu phạt đối với người Do Thái. Tư lệnh sư đoàn là thiếu tướng Falk”.[54]

Sư đoàn 4 bộ binh hoạt động trong khu vực Tập đoàn quân “Trung tâm”; nhóm trừng giới “B” cũng hoạt động ở đó dưới sự chỉ huy của thiếu tướng SS Arthur Nebe.

Nebe là một người khét tiếng. Trước khi tấn công Liên Xô người đứng đầu RSHA đã tập trung tất cả các thuộc cấp và tuyên bố, các nhóm trừng giới sẽ phải “củng cố và bình định vùng đất Nga rộng lớn”. Heydrich đã nói, để làm điều đó, cần những người đàn ông mạnh mẽ.

Nebe bước lên phía trước một bước và dập gót:

“Thưa trung tướng, ngài có thể trông cậy ở tôi!”[55]

Ông ta đã dốc lòng phục vụ; nhóm trừng giới “B” đã không ngơi tay thủ tiêu tù binh, đảng viên cộng sản và người Do Thái. Khi thống chế SS đích thân kinh lý Mặt trận phía Đông để thanh tra hoạt động trừng giới, Nebe đã tổ chức những cuộc hành hình hàng loạt dành riêng cho lãnh đạo cao cấp thưởng ngoạn.[56]

Nhưng dù sao thì Nebe cũng không thể vượt qua thành tích của các đồng đội mình ở vùng Baltic và Ukraina; tháng 11/1941 khi đến Minsk lần này, thống chế đã thẳng thừng đặt câu hỏi.

“Thiếu tướng, ông hãy nói xem mỗi ngày có bao nhiêu người Do Thái bị bắn?”

Nebe nêu ra con số, khi đó Himmler đã giận dữ hét lên:

“Thật hèn hạ! Hãy xem gương đồng đội của ông ở Tập đoàn quân “Bắc” kìa, họ bắn bọn Do Thái nhiều hơn ông gấp năm lần!”[57]

Thật ra mà nói thì lời chỉ trích là không công bằng: thành tựu của nhóm trừng giới “A” trong việc thủ tiêu người Do Thái đa phần được tạo điều kiện bởi hoạt động của bọn dân tộc chủ nghĩa Baltic từ lực lượng “cảnh sát phụ trợ”, chuyên tổ chức những đợt endlösung ngoài kế hoạch. Nebe không có lỗi gì khi tại Belarus không tìm ra nhiều kẻ sô vanh man rợ như thế.

Nebe quyết định minh oan; vào lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, quân SS và “cảnh sát phụ trợ” (trong số đó có những đơn vị được biệt phái từ Baltic) tổ chức một cuộc thảm sát trong khu ghetto của Minsk.

Ghetto Minsk là một trong những khu tập trung người Do Thái lớn nhất trên lãnh thổ Soviet bị chiếm đóng. Ở phần phía tây thành phố, một khu vực rộng gần 2 km² với những ngôi nhà gỗ một tầng được rào chắn; hơn 80.000 tù nhân bị dồn vào đây.

Trong ghetto có một mạng lưới ngầm hoạt động khá hữu hiệu, kết nối với các tổ chức ngầm ở Minsk và du kích Soviet. Nhờ đường dây liên lạc này mà tấn thảm kịch đã được biết đến.

“Ngày 07/11 quân phát xít tổ chức một cuộc thảm sát ở ghetto Minsk và thủ tiêu hàng loạt dân Do Thái”, tình báo du kích đưa tin. “15.000 đàn ông, đàn bà, người già và trẻ em đã bị lùa vào quận Tuchinky rồi bắn bỏ. Những vụ hành quyết kéo dài vài ngày”.[58]

Ernst Goebel, binh nhì của một nhóm trừng giới, đã kể về chỉ huy đơn vị mình: “Ông ta trở nên tàn bạo khi giết trẻ em. Một số trẻ bị ông ta túm tóc, nhấc lên khỏi mặt đất rồi ném xuống hố. Tôi không thể nhìn cảnh tượng ấy được nữa và nói để ông ta ngưng lại… Tôi không chống, cứ bắn đi, nhưng phải đàng hoàng hơn một chút…”.[59]

…Vài ngày sau chiến địch tại Minsk, Nebe được phong cấp bậc mơ ước từ lâu là trung tướng SS và trung tướng cảnh sát.

Wehrmacht cũng không đứng ngoài lề; hoạt động của nó trải rộng trên vùng lãnh thổ vừa chiếm đóng.

“Không thể tiến hành chiến tranh ở Mặt trận phía Đông dưới những hình thức thông thường”, tướng Erich von Manstein, tư lệnh quân đoàn 11 đã viết trong một mệnh lệnh. “Chiến tranh diễn ra không chỉ ngoài mặt trận, những đối tượng dân sự với vũ khí trong tay đã tấn công lính Đức ở hậu phương. Dân Do Thái là mắt xích trung gian giữa kẻ thù ở hậu phương chúng ta và Hồng quân. Cộng đồng Do Thái nắm quyền ở Liên Xô mạnh hơn ở phương Tây, vì vậy hệ thống Bolshevik – Do Thái tại Liên Xô phải bị thủ tiêu vĩnh viễn. Nó sẽ không bao giờ còn đe dọa châu Âu trong tương lai… Mỗi người lính phải thấm nhuần yêu cầu trả thù không khoan nhượng dân Do Thái”.[60]

Manstein là một trong những chỉ huy quân sự Đức tài ba nhất; lúc đó quân đoàn 11 của ông ta đang giao chiến tại Crimea, và không lâu sau toàn bộ bán đào đã rơi vào tay quân Đức, ngoại trừ thành phố Sevastopol được quân Liên Xô bảo vệ kiên cường. Tại Kerch đã bị chiếm, quân chiếm đóng đã bắt tay vào việc thủ tiêu dân Do Thái.

Tổng cộng có hơn 7-000 người Do Thái đã bị giết[61]; khi quân Đức bị đánh bật ra khỏi thành phố vài tháng sau đó, các chiến sĩ Hồng quân đã tìm thấy những điểm giết người hàng loạt. Đây là mô tà của một trong số đó.

Khi kiểm tra mương xói Bagerovsky đã phát hiện con mương dài 1 km, rộng 4 m và sâu 2 m đầy xác phụ nữ, trẻ em, người già và thiếu niên… Ngoài rìa là một phụ nữ trẻ bị tra tấn. Trong vòng tay của cô có một trẻ sơ sinh được cuốn gọn gàng trong tấm chăn trắng viền ren. Cạnh người phụ nữ là một bé gái tám tuổi và một bé trai năm tuổi bị đạn bắn xuyên người. Những cánh tay nhỏ bé của chúng còn nắm chặt váy mẹ.[62]

Lệnh do Erich von Manstein ký ngày 20/11 đã không vô ích.

Tuy vậy, sự tàn bạo do quân đội của Manstein thể hiện đối với người Do Thái chưa phải là điều độc đáo. Hôm sau, ngày 21/11, cách đó hàng chục km về phía đông, chiến hữu của ông ta, tướng Edwald von Kleist, tư lệnh quân đoàn một thiết giáp, đã đột kích vào Rostov trên sông Đông.

Quân Đức không lưu lại lâu trong thành phố, chỉ vài tuần sau quân đội Soviet đã giành lại được điều mà các chuyên gia quân sự Anh sau này gọi là “một chiến thắng thực sự của quân Nga”. Cùng lúc những đòn tấn công của quân đội nguyên soái Timoshenko từ phía Voroshilovgrad và sông Đông đã khiến quân Đức không kịp trở tay. Chịu tổn thất nặng về nhân sự và xe bọc thép, Ewald von Kleist buộc phải lui quân về sau con sông Mius. Các đơn vị của quân đoàn tăng số 1 rời khỏi Rostov; thế nhưng cư dân thành phố còn nhớ rất lâu những ‘chiến công’ của chúng.

Vừa mới vào Rostov, lập tức chúng bắt đầu cướp bóc, nhạo báng dân cư địa phương, nhất là người Do Thái. Họ bị giết cửi vì là người Do Thái. Chúng lùng sục họ khắp các nhà, dưới các tầng hầm, ngoài đường phố. Chỉ trong một tòa nhà ở tuyến đường 36 gần nhà trẻ chúng đã giết 60 ngươi Do Thái, tổng cộng trong quận chúng tôi, chúng giết vài trăm người, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em, người già.

Trước mỗi vụ hành hình chúng đều giễu cợt, đánh đập, nhổ răng, nhiều người bị giết bằng báng súng, bị đập vỡ đầu. Những mẩu sọ người vương vãi ngay trên phố…[63]

…”Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái” là hậu quả trực tiếp của cuộc chiến tranh hủy diệt chống Liên Xô. Ngay từ đầu Đức Quốc xã không hề có ý định thủ tiêu sạch dân Do Thái. Việc thủ tiêu dân Do Thái được giả định, cũng giống như đại diện các dân tộc Soviet khác, nghĩa là nhiều, nhưng không phải tất cả. Khác biệt chủ yếu trong cách giải quyết người Do Thái so với người Nga, Belarus hay Ukraina là cách ly họ trong các ghetto; ở đó người Do Thái phải chết trong điều kiện tù hãm và đói khát. Bên ngoài khu ghetto, những người không thuộc chủng tộc Aryan sẽ chết dần.

Thế nhưng logic của cuộc chiến hủy diệt thì không sao hiểu được. Khắp nơi người Do Thái trở thành nạn nhân đầu tiên của chính quyền chiếm đóng; dần dà Berlin hiểu rằng “vấn đề Do Thái” mà từ khi nắm được chính quyền họ vật vã mãi không xong, có thể được giải quyết không phải bằng con đường trục xuất người Do Thái sang các nước láng giềng, tới Madagascar hay lên Mặt trăng, mà đơn giản hơn nhiều.

Đơn giản là có thể thủ tiêu bằng sạch người Do Thái, không còn một ai.

Ý tưởng “giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái” này sinh từ bên dưới. Đầu tiên bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraina và Baltic đã qua mặt các ông chủ của chúng ở các nhóm trừng giới về mức độ nhiệt tình của bọn đao phủ; tiếp đó các nhóm trừng giới bắt đầu thủ tiêu người Do Thái dưới chiêu bài cuộc chiến chống du kích, sau này thì chẳng cần chỉ thị rõ ràng từ trên xuống. Đến đầu mùa thu năm 1941, việc thủ tiêu toàn bộ người Do Thái Soviet đã được nói đến; Berlin chăm chú theo dõi quá trình này và suy nghĩ: có nên phổ biến các phương pháp của “giải pháp cho vấn đề Do Thái” đã được thực hành ở Mặt trận phía Đông lên toàn bộ người Do Thái nói chung hay không?

Đến cuối năm 1941, quyết định đã được thông qua.

Ngày 29/11, người đứng đầu RSHA Heydrich đã mời các đại diện SS cùng tất cả các bộ phận liên quan dự một cuộc gặp đặc biệt để thảo luận các vướng mắc về “giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái”. Cuộc họp lẽ ra được tổ chức vào ngày 09/12; nhưng vì những thất bại ở ngoại ô Moskva nên bị dời lại. Trong một thời gian giới lãnh đạo Quốc xã không còn tâm trí đâu để nghĩ đến người Do Thái; cần phải cứu vãn tất cả những gì có thể ở Mặt trận phía Đông.

Họ chỉ quay lại “vấn đề Do Thái” vào ngày 20/01/1942, khi ở ngoại ô thủ đô của Đế chế cuối cùng cũng diễn ra cuộc họp do Heydrich chuẩn bị bên bờ hồ Wannsee đẹp như tranh vẽ, kể cả vào mùa đông.

Người đứng đầu RSHA khá thận trọng trong cách đặt vấn đề. Việc thủ tiêu công dân Soviet và hơn thế nữa, người Do Thái Soviet với số lượng lớn bao nhiêu tùy thích không gây ra sự bất bình nào ở bất kỳ ai có mặt. Còn việc thủ tiêu hàng loạt người Do Thái châu Âu – đó là vấn đề mới còn khá hoài nghi.

Heydrich trình bày quan điểm mới endlosung như sau.

Khả năng tiếp theo của giải pháp hiện nay, khi có sự đồng ý trước của Quốc trưởng, không nằm ở việc di CƯ, mà là việc sơ tán người Do Thái về phía Đông. Những giải pháp này cần được xem xét chỉ như một trong những khà năng từ quan điểm một kình nghiệm thực tế quan trọng, hình dung nó như giải pháp cuối cùng sắp tới…

Trong tiến trình giải pháp cuối cùng cần sử dụng người Do Thái để hoàn thành các công việc ở phía Đông, dưới sự chỉ huy thích hợp. Được phân thành từng nhóm lớn, riêng biệt theo giới tính, những người Do Thái có khả năng lao động phải làm đường sá ở những vùng này; trong quá trình đó, lẽ đương nhiên, đa số họ sẽ bị loại ra khỏi hàng ngũ vì sự đào thải tự nhiên.

Với số còn lại khả dĩ, mà đương nhiên sẽ là những kẻ kiên cường hơn, cần có hành động tương ứng, bởi nếu lớp tinh hoa ấy được giải phóng, sẽ trở thành phôi thai của một sự phục hưng Do Thái mới.[64]

Các phương pháp do Heydrich đề xuất đã trải qua thử nghiệm: chúng được áp dụng rộng rãi để chống lại người Do Thái Soviet, tù binh và thường dân. Điểm mới duy nhất là việc áp dụng những phương pháp tương tự chống lại người Do Thái ở châu Âu.

Vào thời điểm đó những đoàn tàu đầu tiên chở người Do Thái bị trục xuất khỏi Đức đã tới Minsk. Wilhelm Kube (được nhớ đến do cách đối xử tàn bạo với người Soviet), khi biết cần đối xử với người Do Thái Đức giống như người Soviet, đã bị sốc theo nghĩa đen.

“Hendrich thân mến!” Y viết cho Lohse, toàn quyền “Ostland”, cấp trên trực tiếp của mình. “Tôi đề nghị ông ra chỉ thị chính thức về quan điểm của nhà cầm quyền chính thức liên quan đến người Do Thái từ Đức bị trục xuất sang Belarus”. Trong số những người mới đến, Kube nhận xét, có những anh hùng Thế chiến thứ nhất và thậm chí có những người “3/4 là Aryan”, làm sao có thể hành xử với họ như với bọn Do Thái Soviet được!

Trong một vài chuyến thăm chính thức ghetto, tôi nhận thấy những người Do Thái này khác với bọn Do Thái Nga ở tính sạch sẽ, có những thợ lành nghề, có khả năng làm việc năng suất cao hơn năm lần bọn Do Thái Nga…

Dĩ nhiên là tôi kiên định quan điểm của mình và muốn thúc đẩy giải pháp về vấn đề Do Thái, nhưng những người này thuộc về văn hóa của chúng ta, khác với lũ ngu ngốc bàn địa.[65]

Sự phản đối của Kube mà không thể nghi ngờ là lòng nhân từ thừa thãi, trong chừng mực có thể hiểu được, mang tính tiêu biểu. Song Hitler vốn mang trong lòng nỗi căm ghét bệnh hoạn đôi với người Do Thái (mặc dù không bằng so với Liên Xô) đã trả lời cho những nghi ngờ như vậy một cách rất đặc trưng như sau:

Nếu chúng [người Do Thái] không chịu tự nguyện ra đi, tôi không thấy giải pháp nào khác ngoài việc thủ tiêu chúng. Tại sao tôi buộc phải thấy người Do Thái có gì khác so với tù binh Nga? Trong các trại tù binh nhiều người đang chết. Đó không phải lỗi tại tôi. Tại sao bọn Do Thái lại kích động cuộc chiến tranh này?338

Sự so sánh giữa tù binh Soviet với người Do Thái được chọn lựa không phải tình cờ. “Các trại tập trung tử thần Auschwitz-Birkenau và Majdanek thoạt tiên được xây dựng để giam giữ tù binh Soviet”, sử gia Đức Christian Streit nhận xét. “Nhưng vì tại Auschwitz, trong số 10.000 tù binh Soviet lúc đầu vào tháng 01/1942 chỉ còn vài trăm (những người khác đã bị giết hại dã man hoặc chết đói), sau cuộc họp tại Wannsee một tuần, Himmler đã ra lệnh trục xuất khỏi nước Đức 150.000 người Do Thái, đưa đến trại tập trung. Như thế, với việc tái cấu trúc các trại tập trung dành cho tù binh của SS, một phần cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc tiến hành diệt chủng đã được thành lập. Các phương pháp thủ tiêu con người, được áp dụng để diệt chủng người Do Thái, đã được thử nghiệm qua việc “đối xử đặc biệt” với tù binh Soviet.339

…Quyết định đưa ra tại hội nghị Wannsee khá dễ đoán. Với lực lượng SS, nó tạo điều kiện để hợp thức hóa theo kiểu “hồi tố” việc những người Do Thái không phải Soviet bị sát hại. Vài ngày sau, Eichmann, người đứng đầu ban “Do Thái” của Gestapo, nhận được chỉ thị của Heydrich về việc soạn thảo lệnh cho lãnh đạo SS và cảnh sát quận Lyublin Otto Globochnik. “Tôi ủy quyền cho ông”, mệnh lệnh nêu rõ, “thực hiện giải pháp cuối cùng cho thêm 150.000 người Do Thái”. Eichmann đã biết rõ, trên thực tế những người Do Thái này đã bị thủ tiêu.340

Đối với người Do Thái Soviet, giải pháp endlosung chỉ có nghĩa là từ đây họ sẽ bị thủ tiêu có tổ chức hơn – trong bối cảnh “giải pháp cuối cùng” về vấn đề Do Thái ở chính nước Đức và nói chung trên toàn cõi châu Âu.

Thế nhưng vào mùa thu năm 1941, khả năng thủ tiêu người Do Thái như một dân tộc chỉ mới được thảo luận. Vào thời điểm đó, tại thị trấn Klintsy ngập tuyết thuộc tỉnh Bryansk, Đức Quốc xã đã bắn chết người Do Thái. Cư dân địa phương bị lùa đi đào một hố chôn chung; một trong số họ rất lâu về sau kể lại: “Một cậu bé còn sống. Tôi đổ đất lên người em, nhưng em đã cào đất ra bằng đôi tay nhỏ xíu của mình và mỉm cười. Mắt tôi tối sầm, tôi loạng choạng rồi ngã xuống”.341

Theo tính toán của các nhà nghiên cứu, chỉ trong vòng 6 tháng năm 1941 trên lãnh thổ Liên Xô bị chiếm đóng, gần 1,2 triệu người Do Thái đã bị thủ tiêu.342 Thêm một triệu rưỡi người Do Thái Soviet bị giết chết sau đó, trong những năm 1942-1944.

Đàn ông, đàn bà, người già, trẻ em.

Những tiếng nói chân thực (2) “Toàn bộ dân Do Thái đã bị giết”.

Vào những năm 1943-1944 các đơn vị tiến công của Hồng quân đã bắt gặp các dấu vết tội ác của quân chiếm đóng Đức ở khắp mọi nơi. Họ đã lập biên bản về những điều nhìn thấy, được dân cư địa phương xác nhận. Dưới đây là một số trích đoạn của các biên bản này, liên quan đến việc thủ tiêu dân Do Thái. Lần đầu tiên các tư liệu này được xuất bản trong tuyển tập: Holocaust: những bằng chứng của Hồng quân đã được giáo su F. D. Sverdlov tập hợp.

Quân phát xít chiếm đóng thị trấn Gory ngày 12/7/1941. Chúng xông vào nhà của Kochelis Iosif Abramovich, thư ký hội đồng xã, 28 tuổi, lột trần anh ta rồi bắn. Chúng bắn các công dân Gurevich Mirra 35 tuổi, Oltshuller Abram 60 tuổi.

Tháng 10/1941 quân Đức đã dồn gần 200 người Do Thái – toàn bộ dân Do Thái của thị trấn – vào nhà máy, buộc họ cởi quần áo, nằm úp mặt xuống đất và nã hàng loạt súng máy vào mọi người. Chúng còn nện bằng báng súng để giết người. Chúng chôn tử thi trong những cái hố. Nhiều người còn sống khi bị ném xuống hố.

Biên bản về tội ác của quân Đức tại thị trấn Gory, 16/03/1944.

Hai tuần sau khi chiếm được thị trấn, quân Đức lùa tất cả 60 người đàn ông Do Thái, tựa như đi làm việc. Chúng đưa họ đến cánh rừng Revukha cách đó 2 km, bắt họ đào hố rồi bắn chết hết. Một lúc sau chúng dồn tất cả phụ nữ và trẻ em Do Thái, kiểu như để đi sơ tán, rồi cũng bắn ở đúng nơi đó. Chúng giải cứ bốn người tới trước hố rồi bắn bằng súng lục. Trẻ sơ sinh bị chúng ném xuống hố lúc còn sống.

Biên bản, thị trấn Stavishe, tỉnh Kiev, 14/01/1944.

Tháng 7/1941 sau khi chiếm thị trấn Khislavichi, quân Đức đã tồ chức ở đây một trại tập trung cho tất cả dân Do Thái chiếm hết ba con đường. Hết thảy người Do Thái từ già đến trẻ đều phải mang một dải băng vàng với sọc đen ở giữa. Dân Do Thái bị cấm rời khỏi trại. Ngay lập tức bắt đầu trò nhạo báng, cướp bóc, bạo hành người Do Thái.

Biên bản về tội ác của chính quyền phát xít tại thị trấn Khislavichi tình Smolensk, ngày 02/10/1943.

Ngày 30/7/1941, quân Đức chiếm thành phố Golovanevsk thuộc tỉnh Odessa. Bắt đầu cuộc đàn áp man rợ dân Do Thái. Gần 100 người Do Thái bị bắn tại chỗ, ngay trong thành phố. Sau đó chúng gom 800 người, dưới sự canh gác nghiêm ngặt chở trên xe ô tô đi vào rừng cách thành phố 1 km rồi bắn sạch. Trong số họ có rất nhiều phụ nữ, trẻ em. Quân phát xít đã hãm hiếp các bé gái 12-15 tuổi trước khi bắn. Ở ngoại ô thành phố, quân Đức đã giật những trẻ sơ sinh khỏi tay các bà mẹ rồi ném chúng còn sống xuống giếng, đẩy gần tới miệng rồi lấp đất.

Biên bàn về tội ác của quân chiếm đóng phát xít Đức, 22/3/1944.

Chúng tôi, cư dân thôn Dmitrovka (chín gia đình) thuộc huyện Bogodukhov tỉnh Kharkov đã chứng kiến sự việc, khi chiếm đóng làng năm 1941, trong vòng ba bốn ngày quân Đức đã tập hợp tất cả dân Do Thái từ những thôn lân cận, dồn họ vào kho chứa trên sân nông trang, đánh đập, nhạo báng, mỗi ngày đưa họ đi làm công việc đắp đường nặng nhọc, rồi sau vài ngày bắn hết không chừa một ai, kể cả trẻ em. Các cô gái bị hàng nhóm lính hãm hiếp. Quanh vùng là tiếng thét hoang dại và tiếng khóc. Tổng cộng không dưới 40 người Do Thái đã bị bắn.

Tờ trình của phòng chính trị quăn đoàn thiết giáp cận vệ số 5.

Tôi kể câu chuyện của người dân thành phố Velizh tỉnh Smolensk được giải phóng.

“Ngày 13/7/1941, quân Đức tiến vào thành phố Velizh. Bắt đầu chuỗi ngày khổ nhục, nhất là với dân Do Thái – cướp phá, giết chóc. Cuộc sống của người Do Thái ngày càng tệ hại. Ngày 09/8 chúng ra lệnh tất cả người Do Thái phải mang dải băng vàng trên tay áo trái và trên lưng. Từ hôm đó chúng cấm họ gặp và trò chuyện với người Nga. Chúng gom người Do Thái đi làm những công việc nặng nhọc nhất: dọn các tảng đá, các súc gỗ, lau chùi nhà vệ sinh. Quân Đức thường giải các cô gái Do Thái đi đâu không rõ. Chỉ biết là họ không trở về… Ngày 07/11/1941 chúng lùa hết người Do Thái vào ghetto trên con đường nhỏ Zhgutovskaya. Ở đó có cả thảy 27 căn nhà nhỏ và một chuồng heo, có lúc chứa được 300 con heo. Chúng giam trong đó 500 người. Tổng cộng trong ghetto có 1.400 người. Đói, rét. Người ta chết mỗi ngày…

Ngày 28/1/1942, khi Hồng quân đã tiến đến gần, lúc 4 giờ chiều quân Đức và cảnh sát vào ghetto. Chúng khóa kín tất cả cửa chuồng heo rồi phóng hỏa. Đốt trụi toàn bộ ghetto. Có khoảng gần 100 người chạy thoát. Những người còn lại bị chết cháy”.

Tờ trình của phòng 7 cục chính trị mặt trận Kalinin, 28/02/1942.

Tìm thấy cuốn nhật ký của tù binh Heinrich Mel, thuộc đại đội 3, trung đoàn 96, sư đoàn 32 bộ binh, bị bắt ngày 20/9/1941 ở Mặt trận Tây Bắc. Trong đó đặc biệt có ghi:

“27/8. Vilno. Tại nhà ga chỉ có người Do Thái làm việc, họ được đánh dấu bằng hai ngôi sao vàng. Bắt gặp một số bị giết. Binh lính nói đó chỉ là một số ít những người bị bắn vài ngày qua tại thành phố Vilno, và những người này cũng sắp bị bắn.

08/9. Tại một thôn tôi thấy binh lính lạnh lùng bắn 12 người Do Thái, trong đó có sáu phụ nữ và ba trẻ em. Chúng giết trẻ em bằng cách đập đầu vào gốc cây”.

Chuyển cho bộ phận nhân sự.

Trưởng ban chính trị Mặt trận Tây Bắc, Ryabchi,

chính ủy sư đoàn, ngày 08/10/1941.

Đầu tháng 10/1941, theo lệnh của chỉ huy đội tiễu phạt, tất cả người Do Thái bị dồn ra khu chợ. Nam nữ tách riêng. Đầu tiên chúng chọn ra 30 ông già, dùng ô tô chở họ tới con mương Leshinsky và bắn chết ở đó. Trong số phụ nữ Do Thái, quân phát xít chọn ra những cô gái trẻ, lùa họ vào cửa hàng bách hóa quận, ở đó lột truồng họ, hãm hiếp, tra tấn, rồi bắn chết. Ngày 15/10 tất cả những người Do Thái còn lại bị tập trung tại sân trường trung học sư phạm. Chúng đọc họ nghe bản án. Sau đó giải họ ra đường, bắt xếp 10 người một hàng rồi lùa đến con mương Kogalnyi, nơi đêm trước cư dân địa phương theo lệnh quân Đức đã đào những cái hố. Đầu tiên chúng chọn ra 50 người đàn ông. Ra lệnh cho họ đào sâu thêm những cái hố, rồi bắn họ. Tiếp đó chúng đưa đến các hố từng nhóm 10 người Do Thái rồi bắn. Chúng giết hết đàn ông trước, rồi đến đàn bà và trẻ lớn. Những trẻ nhỏ chúng ném sống xuống hố. Nhiều trẻ nhỏ bị nện vào đầu.

Biên bản về việc thủ tiêu hàng loạt dân thành phố Mstislav, ngày 04/10/1943.

Tại khu định cư Dribin có nhiều gia đình Do Thái sinh sống. Khi quân Đức xuất hiện vào tháng 9/1941, tất cả những gia đình này đều bị đuổi vào kho cứu hỏa, ở đó chúng lột hết quấn áo của họ. Rồi giải đi bắn. Bằng cách đó chúng giết hết cư dân Do Thái trong khu định cư gồm 450 người, trong đó có phụ nữ, trẻ em, ông già bà lão. Vụ xử bắn đã diễn ra bên những cái hố trong khuôn viên sân nông trang. Rykin Riva, một phụ nữ Do Thái, bị cảnh sát hành hạ trong một thời gian dài, đã hét lên: “Giết tôi chết ngay đi!”

Biên bản thẩm vấn Snytko Nikolai Dedidovich về tội ác của quân chiếm đóng phát xít Đức tại khu định cư Dribin.

[1] Altman I. A., Gerber A. E.> Poltorak D. I. Lịch sử Holocaust trên lãnh thổ Liên Xô. M.: Quỹ Holocaust, 2001. Trang 45; Kuznetsov A. V. Thảm sát Babi Yar. Trang 60.

[2] Semiryaga M. I. Hợp tác với địch: Bản chất, hình thức và những biểu hiện trong Thế chiến thứ hai. M.: ROSSPEN, 2000. Trang 585-586.

[3] Kuznetsov A. Thảm sát Babi Yar. Trang 62-63.

[4] Brukhfeld s., Levin P. Hãy kể chuyện này cho con cái bạn…Trạng 89; Altman LA. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 290. Xem thêm chi tiết câu chuyện: A. Kuznetsov. Thảm sát Babi Yar. Trang 66-82; Smilyanskaya Yu. Thảm sát Babi Yar: Tài liệu và suy ngẫm II Holocaust và hiện đại (Kiev) 2002. Quyển 3. Trang 8.

[5] Brukhfeld s., Levin P. Hãy kể chuyện này cho con cái bạn…Trang 89; Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 290.

[6] Kuznetsov A. Thảm sát Babi Yar. Trang 6.

[7] Altman I. A Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 290.

[8] Như trên. Trang 290.

[9] MNP. Van 1. Tập 5. Trang 636-637.

[10] Lang J. Von. Biên bản Eichmann: băng ghi âm các cuộc thẩm vấn tại Israel / Lời bạt A. Less; Dịch từ tiếng Đức M. Chernenko. M.: Text, 2002. Trang 51-55.

[11] Như trên. Trang 62-67.

[12] Melnikov D. E., Chernaya L. B. Băng chuyên tử thần. Trang 322.

[13] MNP. Van 1. Tập 5. Trang 640, 642. Theo chỉ thị này, thành viên của các nhóm trừng giới đã được thông báo trong quá trình tuyển dụng rằng nhiệm vụ của họ sẽ bao gồm cách ly người Do Thái. Xem: Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 128.

[14] Shneer A. Tù binh… Trang 410.

[15] Padfield P. Thống chếss. Trang 310.

[16] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 198;ShneerA. Tù binh… Trang 410.

[17] Xem Knopp G. SS; Pháp đình đen. Trang 128.

[18] Như trên. Trang 131.

[19] Như trên. Trang 167.

[20] Evens S. Bầu trời đen như mực… Trang 58.

[21] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 107.

[22] Như trên. Trang 166.

[23] Như trên. Trang 180-181.

[24] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 218. Xem thêm tài liệu trong một bản dịch khác: Latvia dưới ách thống trị của chủ nghĩa phát xít. Trang 15-16. So sánh với chỉ thị của chỉ huy nhóm trừng giới “A”, được liệt kê trong cuốn: Krysin M. Yu. Quân đoàn Latvia của SS. Trang 31.

[25] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 563.

[26] Chernov V. E.) Shlyakhtunov A. G. Lực lượng SS tại các nước Baltic. Trang 73-74. Các vụ giết người đã được thực hiện trước mặt các sĩ quan Wehrmacht, những người thậm chí không nghĩ tới việc ngăn chặn thảm sát. Trong khi đó, các vụ hành quyết người Do Thái đã diễn ra cách tòa nhà trụ sở Quân đoàn 16 của Tướng Bush chỉ 200 m. – Wette W. Chiến tranh hủy diệt.

[27] OGB. Tập 2. Quyển 1. Trang 604.

[28] Như trên. Trang 563.

[29] Như trên. Quyển 1. Trang 613.

[30] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng câm thù… Trang 237.

[31] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 170.

[32] OGB. Tập 2. Quyển 2. Trang 561.

[33] Như trên. Trang 560-561; MNP. Var. 1. Tập 1. Trang 417-418; Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 244-245; Các đao phủ làm nhân chứng: Sự hủy diệt người Do Thái trên lãnh thổ bị chiếm đóng Belarus 1941-1944: Hồ sơ và tư liệu / Tập hợp. V. I. Adamushko, I. P. Gerasimova, V. D. Selemenev. Minsk: Cục lưu trữ quốc gia Cộng hòa Belarus, 2009. Trang 65-67.

[34] Hồ sơ buộc tội: Holocaust… Trang 51.

[35] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 174.

[36] Như trên. Trang 134.

[37] Altman I. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 203;Ermakov A. Wehrmacht chống lại người Do Thái. Trang 123-124.

[38] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 135.

[39] Như trên.

[40] Brukhfeld s., Levin P. Hãy kể chuyện này cho con cái bạn…Trang 86.

[41] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 201.

[42] Lang J. von. Biên bản Eichmann… Trang 72.

[43] Như trên. Trang 76-78.

[44] ZRG. Var. 2. Trang 107-108. Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 194.

[45] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh. Quyển 1. Trang 205.

[46] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 271.

[47] Những nhân chứng cuối cùng. Trang 37.

[48] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 249-250.

[49] Hồ sơ buộc tội. Holocaust…Trang 11.

[50] Melnikov D. E., Chyornaya L. B. Băng chuyền tử thần. Trang 384-385.

[51] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 88-89; Padfield P. Thống chế SS. Trang 324.

[52] Hồ sơ buộc tội. Holocaust… Trang 10.

[53] Vaupshasov S. A. Biên niên sử du kích’. Nxb Quân Đội, 1959. Trang 265.

[54] Knopp G. SS: Pháp đình đen. Trang 175.

[55] Plenkov O. Yu. Đệ tam Đế chế. Chiến tranh. Quyển 1. Trang 340; Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 201.

[56] Như trên. Trang 287.

[57] MNP. Var. 1. Tập 5. Trang 121; Var. 2. Tập 3. Trang 247.

[58] Hồ sơ buộc tội: Holocaust… Trang 81. Xem thêm: MNP Var. 1. Tập 5. Trang 97; Không dễ qua mau, không dễ lãng quên…Trang 30.

[59] Lang J. von. Biên bản Eichmann. Trang 86-87.

[60] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 208; Breininger V. Các đối thủ của Hitler. Trang 222.

[61] ZRG. Var 2. Trang 237-238.

[62] Streit c. Tù binh Soviet… Trang 240.

[63] Lang J. von. Biên bản Eichmann. Trang 88.

[64] Altman I. A. Những nạn nhân của lòng căm thù… Trang 262.

[65] Như trên. Trang 303.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận (1)

saomai1268
saomai1268 23.08.2026 05:41
🔗 Xem tác phẩm: Người Xô Viết Đã Chiến Đấu Vì Điều Gì

Một dân tộc đã trải qua tất cả những điều này đang làm một hành động tàn ác tương tự với chính anh em mình, trên mảnh đất cũng từng bị đức quốc xã giày xéo. Thật không hiểu tại sao họ lại hành xử như vậy? những cái chết trên đất ukraina và đất Nga trong thế kỉ 21 này thật vô nghĩa, chẳng biết họ nhân danh cái gì để hàng ngày, hàng đêm dội tên lửa vào đầu nhau và ngồi đếm chiến tích là sự tàn phá, chết chóc. Họ đang làm kiệt quệ chính mình, vả những cái tát vào chính những gì mà họ từng tự hào, gìn giữ... Đáng thương thay cho dân tộc Nga và Ukraina. Năm phút mặc niệm cho những người đã nằm xuống và sẽ nằm xuống vì cuộc chiến ngu xuẩn này.
Xem trên diễn đàn »
Đăng nhập để tham gia bình luận.